1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính của công ty cổ phần lương thực bình định

103 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 328,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công cụ dễ dàng để các nhà đầu tưhiểu rõ về tình hình tài chính của doanh nghiệp nhất là thông qua các báo cáotài chính của Công ty.Việc Phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp nhà quản lý d

Trang 1

BỘ GIAO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

TỪ NHƯ QUỲNH TRANG

HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN LƯƠNG THỰC

BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

• •

Trang 2

Bình Định - 2019

BỘ GIAO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

TỪ NHƯ QUỲNH TRANG

HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN LƯƠNG THỰC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là luận văn này là nghiên cứu của riêng tôi, toàn bộ nội dung nghiên cứu do tôi thực hiện

Các số liệu trong luận văn được điều tra trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận văn

TỪ NHƯ QUỲNH TRANG

3

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Mô hình phân tích tài chính bằng phương pháp Dupont 24Hình 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty CP Lương thực Bình Định 51

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Việt Nam nói riêng vàcác quốc gia trên thế giới nói chung đang đứng trước những cơ hội và tháchthức Đặc biệt, Việt Nam hiện đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO), điều này đã đem lại cho Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triểnhơn Ngoài ra, ngày 12/11/2018 là một ngày đặc biệt đối với nền kinh tế ViệtNam khi Quốc hội chính thức thông qua Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến

bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP hay TPP 11) CPTPP có 11 nước tham gia

có tổng giá trị GDP khoảng 10.000 tỷ USD, chiếm khoảng 13% GDP toàn cầu.Hiệp định CPTPP được hy vọng sẽ đem đến cho Việt Nam cơ hội lớn hơntrong thúc đẩy tiến trình cải cách về thể chế và nâng cao năng suất cho nềnkinh tế CPTPP sẽ làm thay đổi sự tương tác, đối thoại giữa Nhà nước và doanhnghiệp trong quá trình hoạch định chính sách liên quan tới cạnh tranh, muasắm công, doanh nghiệp nhà nước hay các lĩnh vực khác về hàng rào kỹ thuật,dịch vụ Từ đó làm thay đổi chất lượng văn bản pháp luật theo hướngminh bạch và phù hợp với thực tiễn phát triển Tuy nhiên, ở chiều ngược lại,CPTPP cũng đem lại cho Việt Nam nhiều thách thức không nhỏ Đó là sự thayđổi nhận thức của cơ quan quản lý về việc phải thay đổi tự thân để phù hợp vớicác chuẩn mực quốc tế Và đặc biệt doanh nghiệp phải chủ động nắm bắt thông

trước những thách thức của sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, khi chúng

ta phải từng bước thay đổi để hội nhập với các nước Điều này đặt ra cho cácdoanh nghiệp những yêu cầu và đòi hỏi đáp ứng kịp thời những thay đổi củanền kinh tế và tận dụng những cơ hội để phát triển doanh nghiệp Các chủdoanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư cần phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn khi

8

Trang 9

quyết định đầu tư vào một dự án nào đó với mong muốn đem lại lợi nhuận caonhất, doanh thu tốt nhất và vẫn đảm bảo đúng chủ trương của Đảng và Nhànước đề ra Để đáp ứng yêu cầu mang tính chiến lược của mình các doanhnghiệp cần tiến hành định kỳ phân tích, đánh giá tình hình tài chính thông quabáo cáo tài chính Phân tích báo cáo tài chính giúp doanh nghiệp khắc phụcđược những mặt hạn chế, phát huy những mặt tích cực và dự đoán tình hìnhphát triển của doanh nghiệp trong tương lai Công cụ dễ dàng để các nhà đầu tưhiểu rõ về tình hình tài chính của doanh nghiệp nhất là thông qua các báo cáotài chính của Công ty.

Việc Phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp nhà quản lý doanh nghiệp nắm rõthực trạng hoạt động tài chính, từ đó nhận ra những điểm mạnh, yếu của doanhnghiệp để làm căn cứ hoạch định các phương án chiến lược trong tương lai,đồng thời đề xuất những giải pháp để ổn định, tăng cường chất lượng hoạtđộng doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính là con đường ngắn nhất để tiếpcận bức tranh toàn cảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp doanhnghiệp thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, kết quả sản xuất kinh doanhcũng như những rủi ro và triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp

Công ty Cổ phần Lương thực Bình Định (BIDIFOOD) tiền thân là SởLương thực Nghĩa Bình được thành lập năm 1975 BIDIFOOD hoạt động kinhdoanh trong lĩnh vực chế biến các mặt hàng lương thực và nông sản phục vụcho xuất khẩu và nội địa, trong đó sản phẩm chính là gạo và sắn lát, đặc biệt làgạo nếp, gạo thơm, các loại nông sản như sắn lát, tinh bột sắn Địa bàn kinhdoanh của công ty chủ yếu tại các tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên, đồng bằngsông Cửu Long, Tp Hồ Chí Minh Ngoài ra, Sản phẩm của BIDIFOOD đãvươn tới hơn 16 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những thị trường đòihỏi nghiêm ngặt về chất lượng như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu Doanh thu từ

9

Trang 10

hoạt động xuất khẩu chiếm 85% tổng doanh thu thuần của Công ty năm 2015,

tỷ lệ này là 97% trong năm 2016, còn lại là doanh thu từ tiêu thụ nội địa Mặc

dù công ty đã được thành lập từ năm 1975, có lịch sử phát triển lâu dài nhưng

cổ phiếu của Công ty Cổ phần Lương thực Bình Định chỉ vừa mới lên sàn giaodịch vào tháng 7/2017 Việc phân tích báo cáo tài chính có vai trò rất quantrọng, nhất là một công ty mới niêm yết như Công ty Cổ phần Lương thựcBình Định Tuy nhiên, Công ty chưa quá chú trọng và quan tâm đúng mức màchủ yếu vẫn dừng lại ở những phân tích giản đơn và việc phân tích báo cáo tàichính cũng chưa được thực hiện thường xuyên và đầy đủ nên chưa thể hiệnđược vai trò là một công cụ quan trọng và không thể thiếu trong việc quản lýdoanh nghiệp nói chung và quản lý tài chính tại Công ty nói riêng

Nhìn nhận được tầm quan trọng của hoạt động phân tích báo cáo tàichính trong các doanh nghiệp và thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại

Công ty Cổ phần Lương thực Bình Định, tác giả đã lựa chọn để tài “Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Lương thực Bình Định” làm đề tài nghiên cứu của mình.

2

Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọngtrong công tác quản trị doanh nghiệp Việc phân tích báo cáo tài chính sẽ giúpcác doanh nghiệp và các cơ quan thấy được rõ thực trạng hoạt động tài chính,kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, từ đó giúpcho các nhà quản trị đánh giá khả năng sinh lời và triển vọng phát triển củadoanh nghiệp để đưa ra các quyết định kinh doanh và phát triển phù hợp

Nhận thấy được sức ảnh hưởng to lớn của việc phân tích báo cáo tàichính đối với doanh nghiệp, đã có rất nhiều các đề tài khoa học, luận án, luận

10

Trang 11

văn, bài báo, của nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này Chẳng hạn như:

- Phan Lê Thảo Trang (2012) “Phân tích báo cáo tài chính của Công ty

cổ phần bánh kẹo Bibica” đã vận dụng cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài

chính để đi sâu phân tích báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần bánh kẹoBibica Tác giả đã phân tích tốt về cấu trúc tài chính, khả năng thanh toán, tìnhhình lưu chuyển tiền tệ Từ đó, tác giả đã kiến nghị các giải pháp nâng caonăng lực tài chính của Công ty như: nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, nângcao khả năng thanh toán, kiểm soát chặt dòng tiền, Tuy nhiên, các chỉ tiêuphân tích chưa có sự so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành nghề kinhdoanh

- Nguyễn Huyền Trang (2012) “Phân tích báo cáo tài chính của Công ty

Cổ phần In Hàng không” đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận chung về phân

tích báo cáo tài chính để từ đó đưa ra được những kết quả đạt được và những,

đề xuất giải pháp khắc phục những mặt hạn chế nhằm nâng cao năng lực tàichính của doanh nghiệp Tuy nhiên, luận văn vẫn chưa có sự so sánh với vớicác doanh nghiệp cùng ngành in

- Luận văn thạc sỹ với đề tài “Phân tích báo cáo tài chính công ty cổ phầnVinaconex 25”(2015) của tác giả Bùi Văn Hoàng đã khái quát hóa những vấn

đề lý luận về phân tích báo cáo tài chính, tiến hành phân tích và 4 đề xuấtnhững giải pháp cụ thể hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính tạiCông ty cổ phần Vinaconex 25 Tuy nhiên, luận văn bị giới hạn bởi những hạnchế đã trình bày ở trên, luận văn nhằm phục vụ quản trị doanh nghiệp, hướngtới hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu để đánh giá, phân tích doanh nghiệp tốt hơn,chưa hướng tới phục vụ những đối tượng liên quan khác

- Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Phương Thảo (2010) “Hoàn thiện công

tác phân tích báo cáo tài chính tại Tổng Công ty xây dựng 5” Công trình

11

Trang 12

nghiên cứu đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận chung về phân tích báo cáo tàichính, khái quát được thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty và đưa

ra một số giải pháp để hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Tuynhiên, tác giả vẫn chưa chú trọng tới nội dung phân tích tình hình lưu chuyểntiền tệ

- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Tâm (2015) “Hoàn thiện phân

tích báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần sản xuất và xuất khẩu bao bì Thăng Long” Tác giả đã hệ thống hóa về phân tích báo cáo tài chính trong các doanh

nghiệp Sau đó, tác giả mô tả lại quá trình phân tích quá trình phân tích báo cáotài chính tại Công ty; đánh giá những ưu điểm, hạn chế tại đơn vị từ đó đưa racác giải pháp đề xuất hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại đơn vị

- Chu Thị Cẩm Hà (2014) “Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty nhựa

Thiếu niên Tiền Phong” đã phân tích tốt về cấu trúc tài chính, khả năng thanh

toán, đòn bẩy tài chính, hiệu quả kinh doanh Tuy nhiên, luận văn chưa đi sâuvào phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ để phân tích quá trình hình thành và

sử dụng lượng tiền của doanh nghiệp

Trên cơ sở kế thừa và phát huy những giá trị mà những công trình nghiêncứu trước mang lại Đồng thời trong phạm vi hiểu biết tốt nhất của tác giả khitìm hiểu và nhận ra chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về phân tích báocáo tài chính của Công ty Cổ phần Lương thực Bình Định, cũng như chưa cónghiên cứu chuyên sâu để đánh giá tình hình hoạt động của Công ty thông quacác cáo tài chính Thông qua việc kế thừa và tự nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề

lý luận về Phân tích báo cáo tài chính, đề tài “Hoàn thiện Phân tích báo cáo

tài chính của Công ty Cổ phần Lương thực Bình Định” của tác giả vừa là công

trình nghiên cứu đầu tiên về phân tích báo cáo tài chính của Công ty Cổ phầnLương thực Bình Định, đồng thời góp phần làm rõ hơn các vấn đề cơ bản trong

12

Trang 13

lý luận về Phân tích báo cáo tài chính, thực hiện Phân tích báo cáo tài chínhcủa Công ty và trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện phân tíchbáo cáo tài chính Công ty Cổ phần Lương thực Bình Định

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Mục tiêu cơ bản của đề tài là tìm ra giải pháp phù hợp để hoàn thiện hoạtđộng phân tích BCTC của Công ty Cổ phần Lương thực Bình Định, nhằm nângcao chất lượng thông tin cung cấp cho quản trị doanh nghiệp

Từ mục tiêu cơ bản đó, các mục tiêu nghiên cứu cụ thể được xác định là:

- Làm rõ bản chất và vai trò của phân tích BCTC;

- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng công tác phân tích BCTC tại Công ty

Cổ phần Lương thực Bình Định nhằm khẳng định những mặt đạt được và tồntại, hạn chế về hoạt động phân tích BCTC tại Công ty;

- Đề xuất các phương hướng có tính nguyên tắc và kiến nghị một số giảipháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác phân tích BCTC của Công ty Cổ phầnLương thực Bình Định, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin cung cấpcho quản trị tài chính tại Công ty

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phân tích báo cáo tài chính

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạngphân tích báo cáo tài chính nhằm tìm ra giải pháp hoàn thiện hoạt động phântích báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Lương thực Bình Định

+ Về không gian: giới hạn tại Công ty Cổ phần Lương thực Bình Định.+ Về thời gian: nghiên cứu năm 2017 và năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Phương pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu qua các báo cáo và tài liệu

13

Trang 14

của doanh nghiệp như Bảng cân đối kế toán, Bảng báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh, Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Bảng thuyết minh báo cáo tàichính và Báo cáo thường niên từ năm 2016 - 2018 của Công ty Bên cạnh đó,tác giả còn sử dụng các giáo trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, tạp chí liên quan đến vấn đề về phân tích báo cáo tài chính để tham khảo và làm cơ sở

lý luận trong quá trình phân tích

Phương pháp xử lý số liệu: tính toán dựa trên các số liệu đã thu thập được

từ báo cáo tài chính để phân tích, tổng hợp, so sánh và đánh giá các tỷ số tàichính để thấy được thực trạng tài chính tại Công ty, từ đó giúp các cá nhân, tổchức có nhu cầu thông tin hiểu rõ hơn tình hình Công ty

6 Ý nghĩa đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung vềphân tích báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp nhằm tạo nền tảng cho các

cơ sở khoa học để vận dụng phân tích báo cáo tài chính của Công ty Từ đóđưa ra được các nhận định, đánh giá và kết luận chính xác toàn diện tình hìnhtài chính của doanh nghiệp cần phân tích Qua những nhận định đó để có thể

đề ra các giải pháp quyết định kịp thời và phù hợp với mục đích của mình,đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, nguồn vốn, của doanh nghiệp

Đề tài đi vào nghiên cứu thực trạng tình hình tài chính của Công ty Cổphần Lương thực Bình Định, chỉ ra được các điểm mạnh và những tồn tại trongtình hình tài chính của Công ty Cổ phần Lương thực Bình Định Đề tài đã đưa

ra một số giải pháp nhằm nâng cao tình hình tài chính của Công ty Cổ phầnLương thực Bình Định, giúp Công ty đánh giá chính xác tình hình tài chính vàhướng các quyết định của Ban lãnh đạo Công ty theo chiều hướng phù hợp vớitình hình tài chính của doanh nghiệp như quyết định đầu tư, mở rộng kinhdoanh, tài trợ và phân phối lợi nhuận, trên cơ sở đó có những biện pháp hữu

14

Trang 15

hiệu và ra các quyết định cần thiết để nâng cao chất lượng công tác quản lýkinh doanh.

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, phụlục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính trong các doanh

nghiệp

Chương 2: Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần

Lương thực Bình Định

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính

của Công ty Cổ phần Lương thực Bình Định.

15

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG

CÁC DOANH NGHIỆP

1.1 Phân tích báo cáo tài chính và cơ sở dữ liệu phân tích báo cáo tài chính

1.1.1 Phân tích báo cáo tài chính

Phân tích báo cáo tài chính là quá trình phân chia, phân loại hệ thống chỉtiêu phản ánh trên các báo cáo tài chính theo nhiều hướng khác nhau rồi sửdụng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp nhằm cung cấpthông tin tài chính hữu ích cho quản lý Thông qua việc phân tích báo cáo tàichính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá thực trạng và an ninh tài chính,tình hình và khả năng thanh toán, xác định giá trị doanh nghiệp, tiềm năng vàhiệu quả kinh doanh cũng như dự báo được nhu cầu tài chính cùng những rủi

ro trong tương lai mà doanh nghiệp có thể phải đương đầu (Nguyễn Văn Công,2010)

Phân tích báo cáo tài chính là một hệ thống các phương pháp nhằm đánhgiá tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thờigian hoạt động nhất định Trên cơ sở đó, giúp cho các nhà quản trị doanhnghiệp đưa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh Trong điềukiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, có nhiều đối tượng quantâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: các nhà đầu tư, các nhà chovay, nhà cung cấp, khách hàng Tùy theo từng đối tượng sử dụng thông tin trênBCTC mà đưa ra các mục đích phân tích BCTC khác nhau:

- Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quantâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Vì vậy, chủdoanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tin để đánh giátình hình tài chính của doanh nghiệp thời gian qua, và đưa ra những quyết định

Trang 17

đúng đắn chỉ đạo tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Đối với các chủ nợ, thông qua phân tích BCTC giúp họ đánh giá đượctình hình và khả năng thanh toán của đơn vị cũng như khả năng sinh lời để biếtđược đơn vị có khả năng trả được nợ hay không khi quyết định cho vay haybán chịu cho đơn vị

Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ là mức sinh lợi, thời gianhoàn vốn đầu tư, mức thu hồi vốn, các nhà đầu tư cũng quan tâm đến các thôngtin về mức độ rủi ro, các dự án đầu tư Các nhà đầu tư tương lai cũng như cácchủ doanh nghiệp tìm kiếm các cơ hội đầu tư nhờ phân tích các thông tin trênbáo cáo tài chính

Đối với người lao động trong doanh nghiệp, họ là những người có nguồnthu nhập gắn với lợi ích của doanh nghiệp Họ quan tâm đến thông tin trên báocáo tài chính của doanh nghiệp để có định hướng cho công việc hiện tại vàtương lai Những người lao động đều có mong muốn làm việc ở những công ty

có triển vọng trong tương lai, có mức lương tương xứng và việc làm ổn định.Đối với các cơ quan chức năng, phân tích báo cáo tài chính giúp xác địnhcác khoản nghĩa vụ phải thực hiện với Nhà nước, xây dựng các kế hoạch quản

lý vĩ mô

Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là một công việc có ý nghĩa cực

kỳ quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp Nó không chỉ có ý nghĩađối với bản thân doanh nghiệp, mà còn cần thiết cho các chủ thể quản lý khác

có liên quan đến doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp

sẽ giúp nhà quản trị doanh nghiệp khắc phục được những thiếu sót, phát huynhững mặt tích cực và dự đoán tình hình phát triển của doanh nghiệp trongtương lai Trên cơ sở đó, quản trị doanh nghiệp đề ra những giải pháp hữu hiệunhằm lựa chọn quyết định phương án tối ưu cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 18

của doanh nghiệp (Nguyễn Năng Phúc, 2013).

1.1.2 Cơ sở dữ liệu phân tích báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ

kế toán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị.Theo đó, báo cáo tài chính chứa đựng những thông tin tổng hợp nhất về tìnhhình tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính,kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp (Nguyễn Văn Công, 2010).Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày báo cáo tài chính (IAS1),một hệ thống đầy đủ các báo cáo tài chính bao gồm:

- Bảng cân đối kế toán;

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;

- Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu;

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;

- Các thuyết minh Báo cáo tài chính, bao gồm thuyết minh về các chínhsách kế toán chủ yếu và các thuyết minh khác

Nội dung của các báo cáo tài chính cũng được chỉ ra nhưng không bắtbuộc phải tuân theo hoàn toàn những quy định đó:

Bảng cân đối kế toán (BCDKT): phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn và

các quan hệ tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định BCĐKTđược chia làm hai phần: Tài sản và Nguồn vốn

Đối với phần Tài sản: Phản ánh giá trị kế toán toàn bộ tài sản hiện có của

doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo Các chỉ tiêu phản ánh trong phần tàisản được sắp xếp theo nội dung kinh tế của các loại tài sản của doanh nghiệptrong quá trình tái sản xuất Có thể xét phần tài sản qua hai phương diện: vềmặt kinh tế và pháp lý Về mặt kinh tế, căn cứ vào nguồn số liệu từ các chỉtiêu, trên cơ sở tổng tài sản và kết cấu tài sản hiện có mà đánh giá một cách

Trang 19

tổng quát quy mô tài sản, năng lực và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Về mặt pháp lý, số liệu của các chỉ tiêu bên “Tài sản” phản ánh toàn bộ tài sảnhiện có đang thuộc quyền quản lý, quyền sử dụng của doanh nghiệp

Đối với phần Nguồn vốn: Phản ánh toàn bộ các nguồn vốn và cơ cấu

nguồn vốn của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo Tỷ lệ và kết cấu của từngnguồn vốn trong tổng số nguồn vốn hiện có phản ánh tính chất hoạt động, thựctrạng tài chính của doanh nghiệp Cũng tương tự như phần tài sản, phần nguồnvốn cũng được xét trên hai phương diện sau: về mặt kinh tế và pháp lý Về mặtkinh tế, số liệu phần “Nguồn vốn” của BCĐKT thể hiện quy mô tài chính, nộidung tài chính và thực trạng tài chính của doanh nghiệp Về mặt pháp lý, sốliệu của các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp về số tàisản đang quản lý, sử dụng đối với Nhà nước (về số vốn của Nhà nước), với cấptrên, với các nhà đầu tư, với cổ đông, vốn liên doanh, với ngân hàng, với các tổchức tín dụng (về các khoản vốn vay), với khách hàng, với các đơn vị kinh tếkhác, với người lao động

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (KQHĐKD), hay còn gọi là bảng

báo cáo lãi lỗ, chỉ ra sự cân bằng giữa thu nhập (doanh thu) và chi phí trongtừng kỳ kế toán Báo cáo KQHĐKD là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánhtổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ hoạt động của doanhnghiệp và chi tiết cho các hoạt động kinh doanh chính Nói cách khác báo cáoKQHĐKD là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, báo cáo này phần nào giúp cho việcquyết định xây dựng các kế hoạch cho tương lai được phù hợp

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (LCTT) hay báo cáo dòng tiền mặt là một báo

cáo tài chính cung cấp thông tin về những nghiệp vụ kinh tế có ảnh hưởng đếntình hình tiền tệ của doanh nghiệp Báo cáo LCTT được lập trên cơ sở cân đối

Trang 20

thu chi tiền mặt, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinhtrong kỳ báo cáo của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định(tháng, quý hay năm tài chính) Thực chất báo cáo này cho chúng ta biết cácluồng tiền vào và các luồng tiền ra trong một kỳ của đơn vị, từ đó so sánh đểbiết trong kỳ đơn vị đã tạo ra bao nhiêu tiền, đã sử dụng bao nhiêu tiền, tiềnđược tạo ra từ hoạt động nào và tiền được sử dụng vào hoạt động nào của đơn

vị Đây là một báo cáo mà các chủ nợ và các nhà đầu tư rất quan tâm, bởi vìđơn vị không chỉ cần hoạt động có lãi mà còn phải tạo ra tiền nữa, nếu khôngkhả năng thanh toán của đơn vị sẽ không đảm bảo Nếu hoạt động của đơn vịkhông tạo ra lợi nhuận thì sẽ làm giảm dần vốn kinh doanh, nếu đơn vị khôngtạo ra tiền thì dần dần đơn vị sẽ mất khả năng thanh toán và kết quả là trong cảhai trường hợp đơn vị đều sẽ có nguy cơ đi đến phá sản

Bảng báo cáo dòng tiền mặt thông thường gồm có:

- Dòng tiền vào: là các khoản thanh toán của khách hàng cho việc muasắm hàng hóa, dịch vụ; Lãi tiền gửi từ ngân hàng; Lãi tiết kiệm và lợi tức đầutư; Đầu tư của cổ đông

- Dòng tiền ra: là các khoản chi mua cổ phiếu, nguyên nhiên vật liệu thô,hàng hóa để kinh doanh hoặc các công cụ; Chi trả lương, tiền thuê và các chiphí hoạt động hàng ngày; Chi mua tài sản cố định - máy tính cá nhân, máymóc, thiết bị văn pliòiig, ; Chi trả lợi tức; Chi trả thuế thu nhập, thuế doanhnghiệp, thuế giá trị gia tăng và các khoản thuế và phí khác Nội dung báo cáoLCTT bao gồm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh; lưu chuyển tiền tệ

từ hoạt động đầu tư và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính

Thuyết minh Báo cáo tài chính: Cung cấp những thông tin chi tiết hơn về

tình hình sản xuất kinh doanh, về tình hình tài chính của doanh nghiệp giúpcho việc phân tích một cách cụ thể một số chỉ tiêu, phản ánh tình hình tài chính

Trang 21

mà các BCTC khác không thể trình bày được.

Như vậy, có thể nói hệ thống BCTC là “bức tranh sinh động nhất, đầy đủnhất” Nó cung cấp toàn bộ những thông tin kế toán hữu ích, giúp cho việcphân tích thực trạng tài chính của doanh nghiệp Đồng thời phản ánh khả nănghoạt động mọi nguồn vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệptrong tương lai

Trên cơ sở đánh giá và nhận định, quản trị doanh nghiệp có thể căn cứvào kết quả phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp để đề ra những quyếtđịnh trong quản lý kinh doanh nhằm đạt được kết quả cao nhất trong hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời cũng là quá trình thực hiệnviệc kiểm tra, kiểm soát đối với các hoạt động tài chính, đảm bảo mọi hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt kết quả cao, đúng hướng, đúngpháp luật

1.2 Tổ chức phân tích báo cáo tài chính

1.2.1 Chuẩn bị phân tích

Đây là giai đoạn đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng, nó ảnh hưởng nhiều đếnchất lượng, thời hạn và kết quả của công tác phân tích báo cáo tài chính(BCTC) Chuẩn bị phân tích bao gồm việc xây dựng chương trình (kế hoạch)phân tích và thu thập, xử lý tài liệu nhằm tạo ra tất cả tiền đề và điều kiện cụthể trước khi tiến hành phân tích BCTC

Kế hoạch phân tích gồm các nội dung chủ yếu như:

- Lựa chọn loại hình phân tích BCTC phù hợp, có thể lựa chọn theo thờiđiểm phân tích; theo chủ đề (hay đối tượng) tiến hành phân tích; theo nội dungphân tích; hoặc theo cách thức tiếp cận

- Xác định phạm vi phân tích theo không gian và thời gian của việc phântích Hay có thể phân tích bộ phận hoặc tổng thể

Trang 22

- Xác định nội dung phân tích, bởi nội dung phân tích BCTC cũng khácnhau giữa các đợt hay các đối tượng phân tích.

- Thời gian tiến hành phân tích BCTC bao gồm cả thời gian chuẩn bị vàthời gian thực hiện phân tích Kế hoạch phân tích phải chỉ rõ thời gian của từngkhâu, từng nội dung công việc cụ thể Đồng thời, kế hoạch phân tích cũng nêu

rõ việc phân công trách nhiệm cho các cá nhân, bộ phận và chuẩn bị các điềukiện vật chất cơ bản phục vụ cho từng đợt phân tích

Ngoài ra, cần phải sưu tầm các tài liệu từ tất cả các BCTC và nhữngthông tin liên quan đến tình hình tài chính doanh nghiệp Mặt khác, để đảmbảo chất lượng phân tích thì các tài liệu thu thập cần phải đảm bảo trung thực,chính xác, do vậy các thông tin sau khi thu thập cần được kiểm tra tính chínhxác, tính hợp pháp, kiểm tra các điều kiện có thể so sánh được rồi mới sử dụng

để tiến hành phân tích

1.2.2 Tiến hành phân tích

Sau khi đã thực hiện xong giai đoạn chuẩn bị phân tích thì tiến hành phântích Đây là khâu quan trọng nhất của công tác phân tích, kết quả của khâu nàyảnh hưởng lớn, quyết định đến cả quá trình phân tích cũng như kết quả phântích Do vậy, khi tiến hành phân tích phải tuyệt đối tuân thủ kế hoạch phân tích

đã đề ra và không được tự ý thay đổi kế hoạch Định kỳ phải tiến hành tổnghợp kết quả phân tích, đánh giá tiến độ thực hiện kế hoạch

Quy trình tiến hành phân tích báo cáo tài chính phụ thuộc vào mục đíchcung cấp thông tin cho đối tượng nào sử dụng, nhưng nhìn chung nội dung tiếnhành phân tích thường bao gồm:

- Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc nhà phân tích đưa ranhững nhận định sơ bộ ban đầu về tình hình phân tích bằng cách sử dụngphương pháp so sánh để đánh giá chung tình hình, so sánh kết quả đạt được

Trang 23

của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu giữa kỳ phân tích với kỳ gốc cả về

số tương đối và tuyệt đối Từ đó xác định kết quả, xu hướng phát triển và mốiquan hệ biện chứng giữa các hoạt động kinh doanh với nhau

- Sau khi đánh giá khái quát tình hình tài chính, nhà phân tích sẽ xác địnhnhân tố ảnh hưởng, xu hướng và mức độ ảnh hưởng của kỳ phân tích và kỳ gốccủa chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu Khi xác định lượng nhân tố cầnthiết ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích sẽ vận dụngphương pháp thích hợp (so sánh, loại trừ, dupont, thay thế liên hoàn ) để phảnánh chính xác nhất về sự thay đổi của đối tượng nghiên cứu

- Tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, kết luận và đánh giá sự biến động củachỉ tiêu nghiên cứu Từ đó, rút ra các nhận xét chỉ rõ những tồn tại, nguyênnhân dẫn đến thiếu sót, sai lầm; đồng thời, vạch ra các tiềm năng chưa đượckhai thác, sử dụng để có các quyết định phù hợp với mục tiêu đặt ra

đề đã phân tích

Sau khi đã hoàn thiện báo cáo phân tích, hồ sơ sẽ được lưu trữ để phục vụcông tác phân tích, lập kế hoạch và làm cơ sở để dự báo, dự toán BCTC, tìnhhình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong những năm tiếp theo

1.3 Phương pháp nghiệp vụ - kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính

Phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp bao gồm hệ thốngcác công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng,

Trang 24

các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổitình hình hoạt động tài chính doanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêuchi tiết, các chỉ tiêu tổng quát chung, các chỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằmđánh giá toàn diện thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp (NguyễnNăng Phúc, 2013).

vị trí, xu hướng, biến động của các chỉ tiêu phân tích

Để có thể áp dụng được phương pháp so sánh, trước hết chỉ tiêu phản ánhđối tượng nghiên cứu phải đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, về phươngpháp phân tích, về đơn vị đo lường

Ngoài ra, chỉ tiêu muốn so sánh được cần phải xác định kỳ gốc hay còngọi là tiêu chuẩn so sánh, có thể là số liệu của kỳ trước, năm trước hay kỳ kếhoạch nhằm đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu trung bình ngành Các chỉ tiêu của kỳ được chọn để so sánh với kỳ gốc được gọi là chỉ tiêu thựchiện và là kết quả kinh doanh đã đạt được

Mục tiêu so sánh trong phân tích BCTC là nhằm xác định mức biến độngtuyệt đối và mức biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêuphân tích

Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể thực hiện bằng bahình thức: so sánh theo chiều ngang, so sánh theo chiều dọc, hoặc so sánh xácđịnh xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu

- So sánh ngang ở trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp chính là

Trang 25

việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đốitrên từng chỉ tiêu, trên từng báo cáo tài chính Thực chất của việc phân tích này

là phân tích sự biến động về quy mô của từng khoản mục, trên từng báo cáo tàichính của doanh nghiệp Qua đó, xác định được mức biến động về quy mô củachỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêuphân tích Chẳng hạn phân tích tình hình biến động về quy mô tài sản, nguồnhình thành tài sản, tình hình biến động về quy mô của từng khoản mục ở cả haibên tài sản và nguồn hình thành tài sản trên bảng cân đối kế toán của doanhnghiệp

- So sánh dọc trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp chính là việc sửdụng các tỉ lệ các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từngbáo cáo tài chính, giữa các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Thực chất củaviệc phân tích theo chiều dọc trên các báo cáo tài chính là phân tích sự biếnđộng về cơ cấu hay những quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thống báocáo tài chính doanh nghiệp

- So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu Điều

đó được thể hiện: Các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báocáo tài chính được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy

mô chung và chúng có thể được xem xét trong nhiều kỳ để phản ảnh rõ hơn xuhướng phát triển của các hiện tượng, kinh tế - tài chính của doanh nghiệp.Nội dung so sánh trong phân tích báo cáo tài chính bao gồm:

- So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh đểthấy rõ xu hướng thay đổi tình hình tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự tăngtrưởng hay giảm đi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch để thấy rõ mức

độ phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch của doanh nghiệp

Trang 26

- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số trung bình của ngành củacác doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình

là tốt hay xấu, được hay chưa được

Phương pháp so sánh là một trong những phương pháp rất quan trọng,nóđược sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong bất kỳ một hoạt động phân tíchnào của doanh nghiệp

1.3.2 Chi tiết chỉ tiêu phân tích

Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể chi tiết theo những hướngkhác nhau Thông thường trong phân tích, phương pháp chi tiết được thực hiệntheo những hướng sau:

- Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu:

Mọi kết quả kinh doanh biểu hiện trên các chỉ tiêu đều bao gồm nhiều bộphận Chi tiết các chỉ tiêu theo các bộ phận cùng với sự biểu hiện về lượngcủa các bộ phận đó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đánh giá chính xác kếtquả đạt được Với ý nghĩa đó, phương pháp chi tiết theo bộ phận cấu thànhđược sử dụng rộng rãi trong phân tích mọi mặt kết quả kinh doanh Trong phântích kết quả kinh doanh nói chung, chỉ tiêu giá trị sản lượng thường được chitiết theo các bộ phận có ý nghĩa kinh tế khác nhau

- Chi tiết theo thời gian:

Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình Do nhiềunguyên nhân chủ quan hoặc khách quan khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình

đó trong từng đơn vị thời gian xác định thường không đều Chi tiết theo thờigian sẽ giúp ích cho việc đánh giá kết quả kinh doanh được sát, đúng và tìmđược các giải pháp có hiệu lực cho công việc kinh doanh Tuỳ đặc tính của quátrình kinh doanh, tuỳ nội dung kinh tế của chỉ tiêu phân tích và tuỳ mục đíchphân tích, khác nhau có thể lựa chọn khoảng thời gian cần chi tiết khác nhau

Trang 27

và chỉ tiêu khác nhau phải chi tiết.

- Chi tiết theo địa điểm:

Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là do các bộ phận, cácphân xưởng, đội, tổ sản xuất kinh doanh thực hiện Bởi vậy, phương pháp nàythường được ứng dụng rộng rãi trong phân tích kinh doanh trong các trườnghợp sau:

+ Đánh giá kết quả thực hiện hạch toán kinh doanh nội bộ Trong trườnghợp này, tuỳ chỉ tiêu khoán khác nhau có thể chi tiết mức thực hiện khoán ởcác đơn vị có cùng nhiệm vụ như nhau

+ Phát hiện các đơn vị tiên tiến hoặc lạc hậu trong việc thực hiện các mụctiêu kinh doanh Tuỳ mục tiêu đề ra có thể chọn các chỉ tiêu chi tiết phụ hợp vềcác mặt: năng suất, chất lượng, giá thành

+ Khai thác các khả năng tiềm tàng về sử dụng vật tư, lao động, tiền tồn,đất đai.trong kinh doanh

1.3.3 Liên hệ cân đối

Cơ sở của phương pháp này là sự cân bằng về lượng giữa hai mặt của cácyếu tố và quá trình kinh doanh Theo phương pháp này, để xác định sự ảnhhưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích chỉ cầntính chênh lệch của từng nhân tố giữa hai kỳ (thực tế so với kế hoạch, hoặcthực tế so với các kỳ kinh doanh trước), giữa các nhân tố mang tính chất độclập (Nguyễn Năng Phúc, 2013)

Trên cơ sở xác định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tốđến chỉ tiêu phân tích cần rút ra những nguyên nhân và kiến nghị, những giảipháp nhằm đưa quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt đượcnhững kết quả cao hơn ở kỳ tiếp theo

Trang 28

Trong phương pháp thay thế liên hoàn, cần xác định ảnh hưởng của từngnhân tố bằng cách thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốcsang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi Sau

đó, so sánh trị số của chỉ tiêu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu chưa có biếnđổi của nhân tố cần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó.Điều kiện áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn là chỉ tiêu phản ánh đốitượng phân tích và các nhân tích ảnh hưởng phải ở dạng tích số, thương sốhoặc vừa tích số vừa thương số

Để quá trình phân tích mang lại thông tin đầy đủ, chính xác và đạt hiệuquả, các nhà phần tích cần tuân thủ các bước công việc sau:

- Bước 1: xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu

- Bước 2: xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượngnghiên cứu

- Bước 3: sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng

Trang 29

nghiên cứu trong một công thức toán học theo thứ tự từ nhân tố số lượng đếnnhân tố chất lượng.

- Bước 4: Tiến hành thay thế lần lượt các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêuphân tích

- Bước 5: Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉtiêu phân tích giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc và đưa ra các nhận xét, đánh giá

sự biến động của chỉ tiêu phân tích cũng như sự ảnh hưởng của các nhân tố tácđộng

Phương pháp số chênh lệch là một trường hợp đặc biệt của phương phápthay thế liên hoàn, cũng được dùng để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến

sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu Điều kiện, nội dung

và trình tự vận dụng của phương pháp số chênh lệch cũng giống như phươngpháp thay thế liên hoàn, chỉ khác nhau ở chỗ để xác định mức độ ảnh hưởngcủa nhân tố nào thì trực tiếp dùng số chênh lệch về giá trị kỳ phân tích so với

kỳ gốc của nhân tố đó Thực chất đây là phương pháp rút gọn của phương phápthay thế liên hoàn

Trang 30

Phương pháp thay thế liên hoàn được sử dụng rộng rãi, xác định đượcmức độ và chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố, sắp xếp các nhân tố theomức độ ảnh hưởng của chúng, từ đó sẽ có biện pháp nhằm khai thác, thúc đẩynhững nhân tố tích cực và hạn chế những nhân tố tiêu cực Tuy nhiên, phươngpháp nàykhông nêu lên được trình tự cụ thể về sự thay thế của các nhân tốcũng như tính quy ước của việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng thành cácnhân tố số lượng và các nhân tố chất lượng Điều này càng trở nên khó khănkhi có nhiều nhân tố trong tính toán phân tích Ngược lại, phương pháp sốchênh lệch được áp dụng hẹp hơn, chỉ thích hợp với trường hợp giữa các chỉtiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu và nhân tố ảnh hưởng thể hiện ở dạng tíchsố.

1.3.5 Dupont

Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phântích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kếtgiữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnhhưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định Phương pháp nàythường được các nhà quản lý trong nội bộ công ty sử dụng để có cái nhìn cụthể và ra quyết định cải thiện tình hình tài chính công ty

Mô hình Dupont thường được vận dụng trong phân tích tài chính, códạng:

Mô hình phân tích tài chính Dupont được biểu diễn bằng hình dưới đây:

Tỷ suất sinh lời

của tài sản

thuầnTổng tài sản

thuần xDoanh thu

thuần

Trang 31

Hình 1.1: Mô hình phân tích tài chính bằng phương pháp Dupont

(Nguồn: Nguyễn Năng Phúc, 2013)

Từ mô hình phân tích tài chính Dupont ở trên cho thấy, số vòng quay của tàisản càng cao, điều đó chứng tỏ rằng sức sản xuất tài sản của doanh nghiệp cànglớn Do vậy, làm cho tỉ lệ sinh lời của tài sản càng lớn Để nâng cao số vòng quaycủa tài sản, một mặt phải tăng quy mô về doanh thu thuần, mặt khác phải sử dụngtiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản Như vậy, tổng doanh thu thuần vàtổng tài sản bình quân có quan hệ mật thiết với nhau, thông thường chúng có quan

hệ cùng chiều Nghĩa là tổng tài sản tăng thì tổng doanh thu thuần cũng tăng

Từ mô hình phân tích trên cho thấy, tỉ lệ lãi theo doanh thu thuần lại phụthuộc vào hai nhân tố cơ bản: Tổng lợi nhuận thuần và doanh thu thuần Hai nhân

tố này lại có quan hệ cùng chiều Nghĩa là nếu doanh thu thuần tăng thì cũng làmcho lợi nhuận thuần tăng Để tăng quy mô về doanh thu thuần ngoài việc phải giảmcác khoản giảm trừ doanh thu, còn phải giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sảnphẩm, bao gồm cả chi phí ngoài sản xuất và chi phí sản xuất sản phẩm Đồng thời,cũng phải thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng giá bán, góp phần

Trang 32

nâng cao tổng mức lợi nhuận.

1.4 Nội dung phân tích báo cáo tài chính

1.4.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính

Theo tác giả Nguyễn Văn Công (2010), đánh giá khái quát tình hình tài chính

là việc dựa trên những dữ liệu tài chính trong quá khứ và hiện tại của doanh nghiệpphản ánh trên BCTC để tính toán và xác định các chỉ tiêu phản ánh thực trạng và

an ninh tài chính của doanh nghiệp Thông qua đó giúp các nhà quản lý nhìn nhậnđúng đắn về vị trí hiện tại và an ninh tài chính của doanh nghiệp nhằm đưa ra cácquyết định tài chính hữu hiệu

Để đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp được chính xác, cầnquán triệt các yêu cầu chủ yếu: chính xác và toàn diện Do đánh giá khái quát tìnhhình tài chính có ý nghĩa hết sức quan trọng là cơ sở ban đầu để các nhà quản lý đề

ra các quyết định tài chính hữu hiệu nên yêu cầu đặt ra khi đánh giá khái quát tìnhhình tài chính là phải hết sức chính xác Toàn diện là yêu cầu bổ sung khi đánh giákhái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, bảo đảm đảm cho việc nhìn nhận tìnhhình tài chính của doanh nghiệp được chính xác Nếu việc đánh giá phiến diện, chỉđánh giá trên một hay một vài mặt phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp mà

đã vội đưa ra kết luận thì kết luận đưa ra sẽ khó mà chính xác

Với mục đích trên, khi đánh giá khái quát tình hình tài chính, các nhà phântích chỉ dừng lại ở một số nội dung mang tính khái quát, tổng hợp, phản ánh nhữngnét chung nhất thực trạng hoạt động tài chính và an ninh tài chính của doanhnghiệp Từ đó, những người sử dụng thông tin sẽ có cái nhìn tổng quan nhất vềthực trạng tài chính, những thuận lợi có được và những khó khăn mà doanh nghiệpgặp phải

Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn:

Nhu cầu có vốn để đầu tư, sản xuất, kinh doanh là một vấn đề cấp thiết củadoanh nghiệp Tình hình biến động của tổng số vốn theo thời gian phản ánh rõ nét

Trang 33

kết quả tạo lập, tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn phục vụ cho các hoạt động củadoanh nghiệp Tổng số vốn của doanh nghiệp gồm hai bộ phận chính: nợ phải trả

và vốn chủ sở hữu Sự tăng trưởng hay giảm sút của từng bộ phận vốn, cũng như

tỷ trọng của từng bộ phận vốn chiếm trong tổng số vốn, và xu hướng biến động về

cơ cấu vốn không chỉ phản ánh nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả huy động vốn,

mà còn cho thấy chính sách huy động vốn của doanh nghiệp Do vậy, khi phântích, bên cạnh xem xét tình hình biến động của tổng số vốn, cần xem xét tình hìnhbiến động của từng bộ phận và xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn Qua đó,các nhà phân tích sẽ đánh giá được kết quả tạo lập và huy động vốn về quy môcùng nguyên nhân ảnh hưởng, đánh giá được tính hợp lý trong cơ cấu huy động,chính sách huy động và tổ chức nguồn vốn cũng như xu hướng biến động của cơcấu nguồn vốn huy động (Nguyễn Văn Công, 2013)

- Đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính:

Đánh giá mức độ độc lập tài chính là đánh giá trên hai góc độ là tự chủ tàichính và an ninh tài chính Mức độ độc lập tài chính được biểu hiện qua nhiều chỉtiêu khác nhau, song để khát quát mức độ độc lập về mặt tài chính của doanhnghiệp, thường hay sử dụng chỉ tiêu “Hệ số tài trợ”

Hệ số tài trợ: là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và

mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết trong tổng

số nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm mấy phần Trị sốcủa chỉ tiêu này lớn chứng tỏ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính của doanhnghiệp cao, mức độ độc lập tài chính tăng và ngược lại

Vốn chủ sỡ hữu

Hệ số tài trợ = , , , _

Tổng nguồn vốn

Hệ số tài trợ cho biết 1 đồng tài sản tài trợ bởi bao nhiêu đồng VCSH và chỉ

số chỉ tiêu này càng lớn thì mức độ tài trợ tài sản bằng VCSH càng cao, tự chủ tàichính càng cao và ngược lại

Trang 34

Để xem xét mức độ bảo đảm an ninh tài chính, các nhà phân tích sử dụng chỉtiêu như “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” và “ Hệ số tự tài trợ tài sản cố định”.

Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn phản ánh khả năng trang trải tài sản dài hạn

bằng nguồn tài trợ thường xuyên Khi trị số của chỉ tiêu này > 1, nghĩa là nguồn tàitrợ thường xuyên của doanh nghiệp có đủ và thừa để trang trải tài sản dài hạn, khi

đó doanh nghiệp sẽ ít gặp khó khăn trong thanh toán các khoản nợ, đặc biệt nợngắn hạn, và do vậy an ninh tài chính vẫn bảo đảm cho doanh nghiệp tiến hànhhoạt động kinh doanh bình thường để phát triển và ngược lại

Vốn chủ sỡ hữu

Hệ số tài trợ tài sản dài hạn

= -. -Tài sản dài hạnKhi trị số của chỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản cố định” > 1, nguồn tài trợthường xuyên của doanh nghiệp có đủ và thừa khả năng để trang trải tài sản cốđịnh, và sẽ ít gặp khó khăn khi các khoản nợ này đến hạn trả Ngược lại, khi trị sốnày < 1, doanh nghiệp đã sử dụng nguồn tài trợ tạm thời để đầu tư vào một bộphận tài sản cố định và các tài sản dài hạn khác, khi đó doanh nghiệp sẽ gặp khókhăn trong việc trả các khoản nợ ngắn hạn khi đáo hạn và tình hình an ninh tàichính không được bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Hệ số tự tài trợ tài sản cố định là chỉ tiêu phản ánh khả năng đáp ứng bộ phận

tài sản cố định (đã và đang đầu tư) bằng nguồn tài trợ thường xuyên Khi trị số củachỉ tiêu này >1 thì nguồn tài trợ thường xuyên đủ và thừa trang trải tài sản cố định.Khi trị số của chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng cả nguồntài trợ tạm thời để đầu tư vào một bộ phận tài sản cố định và tài sản dài hạn khác,khi đó doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đáo hạn

Vốn chủ sỡ hữu

Hệ số tài trợ tài sản cố định = , ' _

Tài sản cố định đã và đang đầu tư

- Đánh giá khái quát khả năng thanh toán:

Trang 35

Khả năng thanh toán là khả năng bảo đảm trả được các khoản nợ đến hạn bất

cứ lúc nào Khả năng thanh toán là kết quả của sự cân bằng giữa các luồng thu vàchi hay giữa nguồn vốn kinh tế và nguồn lực sẵn có Nếu khả năng thanh toán củadoanh nghiệp không đảm bảo, chắc chắn doanh nghiệp sẽ gặp phải khó khăn trongnhiều hoạt động, thậm chí có thế rơi vào tình trạng phá sản

Để đánh giá khái quát khả năng thanh toán, các nhà phân tích sử dụng chỉtiêu:

“Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh

toán chung của doanh nghiệp trong một kỳ báo cáo, nó thể hiện 1 đồng nợ phải trảđược đảm bảo bởi mấy đồng tổng tài sản

Về mặt lý thuyết, “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” lớn hơn 1, chứng tỏdoanh nghiệp có đủ và thừa khả năng thanh toán Ngược lại, hệ số này bé hơn 1,doanh nghiệp sẽ không đảm bảo được khả năng thanh toán Không nhắc đếntrường hợp hệ số này bằng 1, theo lý thuyết thì trường hợp này vẫn hợp lý, tuynhiên, khi điều này xảy ra thì tổng tài sản bằng tổng số nợ phải trả, có nghĩa công

ty sẽ giải thể vì không còn vốn để duy trì hoạt động, điều này đã vi phạm nguyêntắc hoạt động liên tục

Tổng tài sản

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = , - _

Tổng nợ phải trảNếu trị số chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” của doanh nghiệp >

1, doanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toán tổng quát và ngược lại; khi trị

số của chỉ tiêu này < 1, doanh nghiệp không bảo đảm được khả năng trang trải cáckhoản nợ Trị số của “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” càng nhỏ hơn 1, doanhnghiệp càng mất dần khả năng thanh toán

- Đánh giá khái quát khả năng sinh lợi:

Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận màdoanh nghiệp thu được trên một đơn vị chi phí hay yếu tố đầu vào hay trên một

Trang 36

đơn vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất Có nhiều chỉ tiêu khác nhau được sử dụng

để đánh giá khái quát khả năng sinh lợi của doanh nghiệp như:

“Sức sinh lợi của tài sản” là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của

doanh nghiệp, thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản Chỉ tiêu này cho biết, 1đơn vị tài sản đưa vào kinh doanh đem lại mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế Trị sốcủa chỉ tiêu càng lớn, sức sinh lợi của tài sản càng cao, hiệu quả kinh doanh càngcao và ngược lại

Lợi nhuận sau thuế Sức sinh lợi củatài sản (ROA) = _, _’ _

Tổng tài sản bình quân

“Sức sinh lợi của Vốn chủ sở hữu” là chỉ tiêu phản ánh khái quát nhất hiệu

quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, được chủ sở hữu doanh nghiệp quan tâm hàngđầu chỉ tiêu này cho biết, 1 đơn vị vốn chủ sở hữu đưa vào kinh doanh đem lạimấy đơn vị lợi nhuận sau thuế Trị số của chỉ tiêu càng lớn, sức sinh lợi của vốnchủ sở hữu càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại

Lợi nhuận sau thuếSức sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE) = _, _, _’ _

Tổng vốn chủ sở hữu bình quân

“Sức sinh lợi của doanh thu thuần” phản ánh sự biến động về hiệu quả hay

ảnh hưởng của các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm Chỉ tiêu nàycho biết, 1 đơn vị doanh thu thuần thu được từ kinh doanh đem lại mấy đơn vị lợinhuận sau thuế Trị số của chỉ tiêu càng lớn, sức sinh lợi của doanh thu thuần kinhdoanh càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại

Lợi nhuận sau thuếSức sinh lợi của doanh thu thuần (ROS) = ' _' , _

Doanh thu thuầnChỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu thuần, thì thu được bao nhiêuđồng LNST Trị số chỉ tiêu này có giá trị càng lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanhcàng cao và ngược lại

Với hệ thống các chỉ tiêu trên, chúng ta có thể xác định được tình hình thực

Trang 37

trạng về mặt tài chính cũng như những khó khăn mà doanh nghiệp đang gặp phải

để giúp các nhà quản lý có thể đề ra quyết định cần thiết về đầu tư, hợp tác, liêndoanh, liên kết

1.4.2 Phân tích cấu trúc tài chính

Phân tích cấu trúc tài chính là việc phân tích tình hình huy động, sử dụng vốn

và mối quan hệ giữa tình hình huy động với tình hình sử dụng vốn của doanhnghiệp Qua đó, giúp các nhà quản lý nắm được tình hình phân bổ tài sản và cácnguồn tài trợ tài sản, biết được nguyên nhân cũng như các dấu hiệu ảnh hưởng đếncân bằng tài chính (Nguyễn Văn Công, 2010)

Phân tích cấu trúc tài chính bao gồm các nội dụng sau: phân tích cơ cấu tàisản, phân tích cơ cấu nguồn vốn và phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồnvốn

- Phân tích cơ cấu tài sản:

Qua phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, các nhà quản lý sẽ nắm đượctình hình đầu tư (sử dụng) số vốn đã huy động, biết được doanh nghiệp mình đã sửdụng số vốn này có phù hợp với lĩnh vực kinh doanh và có phục vụ tích cực chomục đích kinh doanh của doanh nghiệp mình hay không Để từ đó đưa ra nhữngquyết sách hợp lý để phát triển doanh nghiệp trong tương lai

Khi sử dụng vốn vào hoạt động kinh doanh có nghĩa là doanh nghiệp sẽ tiếnhành đầu tư về cả chiều rộng và chiều sâu Sử dụng vốn hợp lý thể hiện ở chỗ sốvốn mà doanh nghiệp đã huy động được đầu tư vào bộ phận tài sản nào Vì thế khiphân tích tình hình sử dụng vốn bao giờ người ta cũng phải phân tích cơ cấu tài sảnđầu tiên

Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra

và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng

bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản Tỷ trọng của từng bộ phận tài sảnchiếm trong tổng số tài sản được xác định như sau:

Trang 38

Giá trị của từng bộ phận tài sản

Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản = -,—_ - x 100

Tổng tài sản

Việc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếmtrong tổng số tài sản mặc dùcho phép các nhà quản lý đánh giá được khái quát tìnhhình sử dụng vốn nhưng lại không cho biết các nhân tố tác động đến sự thay đổi cơcấu tài sản của doanh nghiệp Vì vậy, để biết được chính xác tình hình sử dụngvốn, nắm được các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến

sự biến động về cơ cấu tài sản, các nhà phân tích còn kết hợp cả việc phân tíchngang, tức là so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (cả về số tuyệt đối

và số tương đối) trên tổng số tài sản cũng như theo từng loại tài sản Trong điềukiện cho phép, có thể xem xét và so sánh sự biến động về tỷ trọng của từng bộphận tài sản chiếm trong tổng số tài sản của doanh nghiệp qua nhiều năm và sosánh cơ cấu chung của ngành để đánh giá

- Phân tích cơ cấu nguồn vốn:

Nguồn vốn của doanh nghiệp có thể quy về hai nguồn chính là VCSH và nợphải trả VCSH là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp ban đầu và

bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh (vốn đầu tư của chủ sở hữu) Ngoài ra,VCSH còn bao gồm một số khoản khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinhdoanh như: chênh lệch tỷ giá hối đoái, chênh lệch đánh giá lại tài sản, LNST chưaphân phối, các quỹ doanh nghiệp Còn nợ phải trả phản ánh số vốn mà doanhnghiệp đi chiếm dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh Trong nợ phải trả củadoanh nghiệp bao gồm: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn

Phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương tự như phân tích cơ cấu tàisản Ngoài việc so sánh tổng số vốn cuối kỳ so với đầu năm, cần phải xem xét từngkhoản vốn của doanh nghiệp chiếm trong tổng số tài sản, để thấy được mức độđảm bảo và xu hướng biến động của chúng nhằm đánh giá được khả năng tự chủ

về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ chủ động trong kinh doanh

Trang 39

Qua việc phân tích cơ cấu nguồn vốn, các nhà quản lý sẽ thấy được những đặctrưng trong cơ cấu huy động vốn của doanh nghiệp, xác định được tính hợp lý và

an toàn của việc huy động vốn, quyết định huy động nguồn vốn nào với mức độbao nhiêu là hợp lý, bảo đảm hiệu quả kinh doanh cao nhất

Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn đượcxác định như sau:

Để xác định được chính xác tình hình huy động vốn, nắm bắt được các nhân

tố ảnh hưởng, các nhà phân tích sẽ kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh

sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về cả số tuyệt đối và số tương đối trêntổng số nguồn vốn Qua việc phân tích cơ cấu nguồn vốn sẽ cho các nhà phân tíchnắm được trị số và sự biến động của các chỉ tiêu như: Hệ số tài trợ, hệ số nợ so vớivốn chủ sở hữu, Hệ số nợ so với tổng nguồn vốn và các chỉ tiêu này đều cho thấyđược mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp

- Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn:

Phân tích cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp nếu chỉ dừng lại ở phântích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn sẽ không bao giờ thể hiện được chính sách

sử dụng vốn của doanh nghiệp Chính sách sử dụng vốn của một doanh nghiệpkhông chỉ phản ánh nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh mà còn có quan hệ trựctiếp đến an ninh tài chính, đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và do vậy,tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro kinh doanh của doanhnghiệp Vì vậy, cần thiết phải phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn hình

Trang 40

thành tài sản để thấy được chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp (Nguyễn VănCông, 2010).

Để phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, các nhà phân tích sửdụng các chỉ tiêu sau:

Hệ số nợ so với tài sản là chỉ tiêu phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh

nghiệp bằng các khoản nợ Trị số này càng cao chứng tỏ mức độ phụ thuộc củadoanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn nghĩa là mức độ độc lập về tài chính của doanhnghiệp càng thấp và càng ít có cơ hội để tiếp cận các cơ hội đầu tư

Nợ phải trả

Hệ số nợ so với tài sản = , _

Tổng tài sản

Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu phản ánh mức độ đầu tư tài sản của

doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn và lớn hơn 1,chứng tỏ mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp càng giảm dần và ngược lại

Tài sản

Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu = ,

Vốn chủ sở hữu

1.4.3 Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh

Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh chính là việc xemxét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp.Mối quan hệ này phản ánh cân bằng tài chính của doanh nghiệp Vì thế, phân tíchtình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính là phân tíchcân bằng tài chính của doanh nghiệp Việc bảo đảm đầy đủ nhu cầu về tài sản làmột vấn đề cốt yếu để đảm bảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục và

có hiệu quả Quá trình phân tích dựa theo hai quan điểm: phân tích cân bằng tàichính theo mức độ an toàn của nguồn tài trợ và phân tích cân bằng tài chính theomức độ ổn định của nguồn tài trợ

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều cần phải

Ngày đăng: 16/08/2021, 11:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w