1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần xây dựng 47

106 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 314,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiệp vụ - kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính Phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp bao gồm hệ thống cáccông cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

NGUYỄN THỊ THANH NHÀNG

HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG 47

• •

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

• • TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Bình Định - 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ THANH NHÀNG

HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG 47

• •

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN VĂN CÔNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Bình Định - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là luận văn này là nghiên cứu của riêng tôi, toàn bộ nội dung nghiên cứu do tôi thực hiện

Các số liệu trong luận văn được điều tra trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Nhàng

1

Trang 4

MỤC LỤC

• •

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

*? _ _ ĩ 2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4

6 Ý nghĩa đề tài nghiên cứu 5

7 Kết cấu của đề tài 5

Chương 1 7

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 7

1.1 Báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính 7

1.1.1 Báo cáo tài chính 7

1.1.2 Phân tích báo cáo tài chính 8

1.2 Tổ chức phân tích báo cáo tài chính 10

1.2.1 Chuẩn bị phân tích 10

1.2.2 Tiến hành phân tích 10

1.2.3 Kết thúc phân tích 11

1.3 Phương pháp nghiệp vụ - kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính 11

1.3.1 So sánh 11

1.3.2 Loại trừ 13

1.3.3 Dupont 14

1.3.4 Đồ thị 16

1.3.5 Phương pháp phân tích khác 17

1.4 Nội dung phân tích báo cáo tài chính 17

1.4.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính 17

1.4.2 Phân tích cấu trúc tài chính 22

1.4.3 Phân tích cân bằng tài chính 24

1.4.4 Phân tích tình hình thanh toán 27

1.4.5 Phân tích khả năng thanh toán 29

1.4.6 Phân tích đòn bẩy tài chính 31

1.4.7 Phân tích hiệu quả kinh doanh 32

Trang 5

1.4.8 Phân tích tình hình lưu chuyển tiền tệ 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39

Chương 2 40

THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DựNG 47 40

2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Xây dựng 47 40

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 40

2.1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý 41

2.2 Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Xây dựng 47 44 2.2.1 Tổ chức phân tích 44

2.2.2 Phương pháp phân tích 45

2.2.3 Nội dung phân tích 45

2.3 Đánh giá thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Xây dựng 47 57

2.3.1 Thành tựu đạt được 57

2.3.2 Tồn tại, hạn chế 58

2.3.3 Nguyên nhân 59

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61

Chương 3 62

HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG 47 62

3.1 Quan điểm hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Xây dựng 47 62

3.1.1 Quan điểm toàn diện 62

3.1.2 Quan điểm phù hợp 63

3.1.3 Quan điểm hội nhập và phát triển 63

3.2 Giải pháp hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Xây dựng 47 63

3.2.1 Hoàn thiện tổ chức phân tích 63

3.2.2 Hoàn thiện phương pháp phân tích 64

3.2.3 Hoàn thiện nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh 68

3.2.4 Bổ sung nội dung phân tích cân bằng tài chính 76

3.2.5 Bổ sung nội dung phân tích tình hình thanh toán 77

3.2.6 Bổ sung nội dung phân tích đòn bẩy tài chính 80

Trang 6

3.2.7 Bổ sung nội dung phân tích tình hình lưu chuyển tiền tệ 82

3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp 83

3.3.1 Về phía Nhà nước 83

3.3.2 Về phía Hiệp hội Xây dựng 84

3.3.3 Về phía Công ty 84

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86

KẾT LUẬN CHUNG 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 90

Phụ lục 1: Bảng cân đối kế toán hợp nhất của Công ty Cổ phần Xây dựng 47 năm 2015 90

Phụ lục 2: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất của Công ty Cổ phần Xây dựng 47 năm 2015 92

Phụ lục 3: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất của Công ty Cổ phần Xây dựng 47 năm 2015 93

Phụ lục 4: Bảng cân đối kế toán hợp nhất của Công ty Cổ phần Xây dựng 47 năm 2016 94

Phụ lục 5: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất của Công ty Cổ phần Xây dựng 47 năm 2016 96

Phụ lục 6: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất của Công ty Cổ phần Xây dựng 47 năm 2016 97 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Mô hình phân tích bằng phương pháp Dupont 15Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Xây dựng 47 44Hình 3.1: Mô hình Dupont phân tích ROE năm 2016 75

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng 47

năm 2014 - 2016 41

Bảng 2.2: Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn 46

Bảng 2.3: Đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính 47

Bảng 2.4: Đánh giá khái quát khả năng thanh toán 48

Bảng 2.5: Đánh giá khái quát khả năng sinh lợi 49

Bảng 2.6: Phân tích cơ cấu tài sản 51

Bảng 2.7: Phân tích cơ cấu nguồn vốn 53

Bảng 2.8: Phân tích khả năng thanh toán 55

Bảng 2.9: Phân tích năng lực hoạt động 56

Bảng 3.1: Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn 65

Bảng 3.2: Phân tích hiệu suất sử dụng các yếu tố đầu vào 69

Bảng 3.3: Phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào 7

1 Bảng 3.4: So sánh hiệu quả kinh doanh năm 2016 74

Bảng 3.5: Phân tích cân bằng tài chính theo mức độ ổn định của nguồn tài trợ tài sản tài Công ty năm 2015 - 2016 76

Bảng 3.6: Phân tích tình hình thanh toán nợ phải thu 78

Bảng 3.7: Phân tích tình hình thanh toán nợ phải trả 79

Bảng 3.8: Phân tích tốc độ thanh toán 80

Bảng 3.9: Phân tích tình hình biến động đòn bẩy tài chính 81

Bảng 3.10: Phân tích cơ cấu dòng tiền thuần 83

Trang 11

1

Trang 12

+ Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2015 đến 2016.

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để phục vụ cho việc thực hiện đề tài tác giả thu thập dữ liệu chủ yếu là dữliệu thứ cấp là các báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập, báo cáo thường niên

từ các năm 2015 - 2016 của Công ty Bên cạnh đó, tác giả các sử dụng các giáo trình,luận văn thạc sĩ, tạp chí liên quan đến vấn đề về phân tích báo cáo tài chính để thamkhảo và làm cơ sở lý luận trong quá trình phân tích

Sau khi thu thập đủ dữ liệu cần thiết, tác giả sử dụng phương pháp phân loại

và hệ thống hóa lý thuyết làm cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính tại doanhnghiệp Bên cạnh đó, tác giả tiến hành mô tả lại thực trạng phân tích báo cáo tàichính tại Công ty Cổ phần Xây dựng 47 Từ thực trạng phân tích báo cáo tài chínhcủa Công ty, tác giả đưa ra các giải pháp nhằm bổ sung và hoàn thiện nội dung phântích báo cáo tài chính tại Công ty

Trong quá trình hoàn thiện và bổ sung nội dung phân tích báo cáo tài chínhcủa Công ty, tác giả sử dụng phương pháp so sánh kỳ này với kỳ trước để thấy nộidung phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Ngoài ra, tác giả sử dụng phương phápDupont để thấy được mối liên hệ giữa từng chỉ tiêu trong phân tích để từ đó đưa ranhững giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty

Bên cạnh đó, tác giả còn tiến hành thu thập dữ liệu trung bình ngành trêntrang web www.cophieu68.com nhóm ngành Xây dựng để tiến hành so sánh một sốchỉ tiêu chính của Công ty với trung bình ngành để thấy được vị thế, những ưu điểm

và tồn tại của Công ty so với chỉ tiêu trung bình ngành

6 Ý nghĩa đề tài nghiên cứu

Trên phương diện khoa học: Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận chung vềphân tích báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp

Trên phương diện thực tiễn: Từ thực trạng phân tích báo cáo tài chính tạiCông ty Cổ phần Xây dựng 47 và những lý luận khoa học đã được hệ thống hóa,luận văn đánh giá thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Đây là cơ sởđưa ra các giải pháp bổ sung, hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính củaCông ty trong thời gian tới

7 Kết cấu của đề tài

2

Trang 13

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, phụ lục vàdanh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính trong các doanh

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1 Báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính

1.1.1 Báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kếtoán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị Theo đó,báo cáo tài chính chứa đựng những thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài sản,nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanhtrong kỳ của doanh nghiệp (Nguyễn Văn Công, 2010)

Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày báo cáo tài chính (IAS1), một

hệ thống đầy đủ các báo cáo tài chính bao gồm [23]:

a) Bảng cân đối kế toán;

b) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;

c) Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu;

d) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và

e) Các thuyết minh Báo cáo tài chính, bao gồm thuyết minh về các chính sách

kế toán chủ yếu và các thuyết minh khác

Nội dung của các báo cáo tài chính cũng được chỉ ra nhưng không bắt buộcphải tuân theo hoàn toàn những quy định đó:

- Bảng cân đối kế toán cung cấp thông tin về tình trạng tài chính của đơn vị.Doanh nghiệp có thể lựa chọn trình bày hoặc không trình bày riêng biệt tài sản và nợphải trả thành ngắn hạn và dài hạn Trường hợp doanh nghiệp không trình bày riêngbiệt thì các tài sản và nợ phải trả phải được trình bày theo tính thanh khoản giảm dần.IAS1 không đưa ra mẫu Bảng cân đối kế toán nhưng lại quy định cụ thể về thông tintối thiểu cần phải thể hiện trên báo cáo và những thông tin khác có thể phản ánh

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cung cấp thông tin về kết quả hoạtđộng của doanh nghiệp Thông tin tối thiểu phải thể hiện trên báo cáo thu nhập gồm:doanh thu, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí tài chính, chi phí thuế,phân chia lãi/lỗ của các đơn vị liên kết và liên doanh theo vốn chủ sở hữu; lỗ, lãi từcác hoạt động thông thường, các khoản bất thường, lợi ích thiểu số, lỗ hoặc lãi ròng

Trang 15

của cả kỳ.

- Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu phải phản ánh thông tin về việc tăng/giảmtài sản thuần Thông tin tối thiểu trên báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu phải thể hiệnđược về lãi/lỗ ròng trong kỳ, thu nhập, chi phí, lãi lỗ tính trực tiếp vào vốn chủ sởhữu, ảnh hưởng của những thay đổi trong chế độ kế toán, ảnh hưởng của việc chỉnhsửa các lỗi cơ bản và một số thông tin khác

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh luồng lưu chuyển tiền tệ trong doanhnghiệp gồm luồng thu và luồng chi của cả tiền mặt và các tài sản tương đương tiềnmặt được chi tiết theo: dòng tiền từ các hoạt động kinh doanh, dòng tiền từ các hoạtđộng đầu tư và dòng tiền từ hoạt động tài chính

- Các chế độ kế toán và các thuyết minh cung cấp thông tin về các nội dungkhác không được thể hiện ở các báo cáo trên hoặc có thể hiện nhưng cần phải chi tiếtcác thông tin bổ sung như cơ sở lập và các chế độ kế toán được lựa chọn thông tintheo yêu cầu của IAS nhưng không được trình bày trong các báo cáo tài chính, đốichiếu các khoản giữa báo cáo tài chính và trong bản thuyết minh,

1.1.2 Phân tích báo cáo tài chính

Phân tích báo cáo tài chính là quá trình phân chia, phân loại hệ thống chỉ tiêuphản ánh trên các báo cáo tài chính theo nhiều hướng khác nhau rồi sử dụng cácphương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp nhằm cung cấp thông tin tàichính hữu ích cho quản lý Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính, người sử dụngthông tin có thể đánh giá thực trạng và an ninh tài chính, tình hình và khả năng thanhtoán, xác định giá trị doanh nghiệp, tiềm năng và hiệu quả kinh doanh cũng như dựbáo được nhu cầu tài chính cùng những rủi ro trong tương lai mà doanh nghiệp có thểphải đương đầu (Nguyễn Văn Công, 2010)

Mỗi đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính có mối quan tâm khácnhau về tình hình tài chính của doanh nghiệp

Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp mối quan tâmhàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Vì vậy, chủ doanh nghiệp

và các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tin để đánh giá tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp thời gian qua, và đưa ra những quyết định đúng đắn chỉ đạo tìnhhình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp như ngân hàng, tổ chức cho vay tín dụng

Trang 16

mối quan tâm của họ đó là khả năng trả nợ của doanh nghiệp Không ai cho doanhnghiệp vay nếu doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán nợ đến hạn Vì vậycác chủ nợ của doanh nghiệp thường chú ý tới số lượng tiền và các tài sản có tínhthanh khoản cao Ngoài ra, người cho vay cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi củadoanh nghiệp, vì đó là cơ sở để doanh nghiệp có thể hoàn trả các khoản nợ và lãi vaydài hạn.

Đối với các nhà đầu tư thì mối quan tâm của họ là mức sinh lợi, thời gian hoànvốn đầu tư, mức thu hồi vốn, các nhà đầu tư cũng quan tâm đến các thông tin về mức

độ rủi ro, các dự án đầu tư Các nhà đầu tư tương lai cũng như các chủ doanh nghiệptìm kiếm các cơ hội đầu tư nhờ phân tích các thông tin trên báo cáo tài chính

Đối với người lao động trong doanh nghiệp: Họ là những người có nguồn thunhập gắn với lợi ích của doanh nghiệp Họ quan tâm đến thông tin trên báo cáo tàichính của doanh nghiệp để có định hướng cho công việc hiện tại và tương lai Nhữngngười lao động đều có mong muốn làm việc ở những công ty có triển vọng trongtương lai, có mức lương tương xứng và việc làm ổn định

Đối với các cơ quan chức năng, phân tích báo cáo tài chính giúp xác định cáckhoản nghĩa vụ phải thực hiện với Nhà nước, xây dựng các kế hoạch quản lý vĩ mô

Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là một công việc có ý nghĩacực kỳ quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp Nó không chỉ có ý nghĩa đốivới bản thân doanh nghiệp, mà còn cần thiết cho các chủ thể quản lý khác có liênquan đến doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp nhàquản trị doanh nghiệp khắc phục được những thiếu sót, phát huy những mặt tích cực

và dự đoán tình hình phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Trên cơ sở đó, quảntrị doanh nghiệp đề ra những giải pháp hữu hiệu nhằm lựa chọn quyết định phương

án tối ưu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Năng Phúc,2013)

1.2 Tổ chức phân tích báo cáo tài chính

1.2.1 Chuẩn bị phân tích

Đây là giai đoạn đầu tiên của tổ chức phân tích báo cáo tài chính có ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng, thời gian và tác dụng của công tác phân tích báo cáotài chính Theo tác giả Nguyễn Văn Công (2010) công tác chuẩn bị phân tích baogồm việc lập kế hoạch phân tích và thu thập, xử lý tài liệu phục vụ cho phân tích báo

Trang 17

cáo tài chính.

Lập kế hoạch phân tích gồm:

- Lựa chọn loại hình phân tích báo cáo tài chính

- Xác định phạm vi phân tích

- Xác định nội dung phân tích

- Xác định thời gian tiến hành phân tích và phân công trách nhiệm

Bên cạnh việc lập kế hoạch phân tích, trong quá trình chuẩn bị phân tích phảitiến hành thu thập tài liệu đảm bảo yêu cầu đủ, không thiếu hay thừa tài liệu phân tích

để quá trình phân tích và đưa ra kết luận được chính xác, tiết kiệm được thời gian, chiphí

1.2.2 Tiến hành phân tích

Sau khi đã thực hiện xong giai đoạn chuẩn bị phân tích thì tiến hành phân tích.Khi tiến hành phân tích phải tuyệt đối tuân thủ kế hoạch phân tích đã đề ra và khôngđược tự ý thay đổi kế hoạch, đồng thời định kỳ nhóm phân tích phải tiến hành tổnghợp kết quả phân tích, đánh giá tiến độ thực hiện kế hoạch

Quy trình tiến hành phân tích báo cáo tài chính phụ thuộc vào mục đích cungcấp thông tin cho đối tượng nào sử dụng, nhưng nhìn chung nội dung tiến hành phântích thường bao gồm [3]:

- Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc nhà phân tích nêu lên nhữngnhận định sơ bộ ban đầu về tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng phương pháp

so sánh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc cả về số tương đối và số tuyệt đối

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến

sự biến động giữa kỳ phân tích và kỳ gốc của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu

- Tổng hợp kết quả phân tích, rút ra nhận xét, kết luận về chất lượng hoạt độngcủa doanh nghiệp

1.2.3 Kết thúc phân tích

Giai đoạn cuối cùng của quá trình phân tích báo cáo tài chính là kết thúc phântích Ở giai đoạn này các nhà phân tích phải nêu lên được kết luận phân tích, viết báocáo phân tích và hoàn thiện hồ sơ phân tích Báo cáo phân tích là bản tổng hợp nhữngkết quả phân tích từ việc tiến hành phân tích các báo cáo hoặc một số chỉ tiêu trênbáo cáo tài chính Từ đó, đề xuất, kiến nghị các giải pháp để có thể khắc phục nhữngđiểm yếu, phát huy những điểm mạnh, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của

Trang 18

doanh nghiệp Báo cáo phân tích sẽ được đưa vào lưu trữ để làm căn cứ để dự báo, dựđoán báo cáo tài chính của những năm tiếp theo.

1.3 Phương pháp nghiệp vụ - kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính

Phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp bao gồm hệ thống cáccông cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mốiquan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tình hình hoạtđộng tài chính doanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêutổng quát chung, các chỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh giá toàn diện thực trạnghoạt động tài chính của doanh nghiệp (Nguyễn Năng Phúc, 2013)

1.3.1 So sánh

So sánh là một phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định mức

độ biến động của chỉ tiêu phân tích (Nguyễn Năng Phúc, 2013)

Để áp dụng phương pháp so sánh vào phân tích báo cáo tài chính của doanhnghiệp, trước hết phải xác định số gốc để so sánh Việc xác định số gốc để so sánh làtùy thuộc mục đích cụ thể của phân tích Gốc để so sánh được chọn là gốc về mặtthời gian và không gian Kỳ phân tích được chọn là kỳ thực hiện hoặc là kỳ kế hoạch,hoặc là kỳ kinh doanh trước Giá trị so sánh có thể chọn là số tuyệt đối, số tương đối,hoặc là số bình quân

Để đảm bảo tính chất so sánh được chỉ tiêu qua thời gian, cần đảm bảo thỏamãn các điều kiện so sánh sau đây: phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung kinh tếcủa chỉ tiêu, về phương pháp tính các chỉ tiêu, về đơn vị tính các chỉ tiêu (kể cả hiệnvật, giá trị và thời gian)

Ngoài các điều kiện nêu trên, khi so sánh mức đạt được trên các chỉ tiêu ở cácđơn vị khác nhau, cần đảm bảo các điều kiện khác, như: cùng phương hướng kinhdoanh, điều kiện kinh doanh tương tự như nhau

Ngoài ra, cần xác định mục tiêu so sánh trong phân tích báo cáo tài chính.Mục tiêu so sánh trong phân tích là nhằm xác định mức biến động tuyệt đối và mứcbiến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích (năng suất tăng,giá thành giảm) (Nguyễn Năng Phúc, 2013)

- Mức biến động tuyệt đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ Kỳthực tế với kỳ kế hoạch, hoặc kỳ thực tế với kỳ kinh doanh trước,

- Mức biến động tương đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu ở kỳ này với

Trang 19

trị số chỉ tiêu ở kỳ gốc, nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu liênquan, mà chỉ tiêu liên quan này quyết định quy mô của chỉ tiêu phân tích.

Nội dung so sánh trong phân tích báo cáo tài chính bao gồm:

- So sánh giữa số kỳ thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanhtrước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của doanhnghiệp Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạt động tài chính củadoanh nghiệp

- So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mứcphấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt hoạt động tài chính của doanhnghiệp

- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình tiên tiến củangành, của doanh nghiệp khác nhằm đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp tốt hay xấu, khả quan hay không khả quan

Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể được thực hiện bằng 3hình thức: so sánh theo chiều ngang, so sánh theo chiều dọc, so sánh xác định xuhướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu

- So sánh ngang trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp chính là việc sosánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉtiêu, trên từng báo cáo tài chính

- So sánh dọc trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp chính là việc sử dụng tỷ

lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính,giữa các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Thực chất của việc phân tích theo chiềudọc trên các báo cáo tài chính là phân tích sự biến động về cơ cấu hay những quan hệ

tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp

- So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu Điều đóđược thể hiện: Các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo tài chínhđược xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung và chúng cóthể được xem xét trong nhiều kỳ để phản ánh nhiều hơn xu hướng phát triển của cáchiện tượng, kinh tế - tài chính của doanh nghiệp

Nhìn chung, phương pháp so sánh là một trong những phương pháp rất quantrọng Phương pháp này được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong bất kỳ mộthoạt động phân tích của doanh nghiệp Phương pháp so sánh được sử dụng rất đa

Trang 20

dạng và linh hoạt trong phân tích tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp Tuynhiên, để có cái nhìn toàn diện hơn, hiểu sâu hơn về tình hình tài chính của doanhnghiệp thì cần phải kết hợp với các phương pháp khác.

1.3.2 Loại trừ

Phương pháp loại trừ được sử dụng phổ biến để xác định xu hướng và mức độảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉtiêu phản ánh đối tượng phân tích Loại trừ là một phương pháp nhằm xác định mức

độ ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích và được thực hiện bằngcách: khi xác định sự ảnh hưởng của nhân tố này thì phải loại trừ ảnh hưởng của cácnhân tố khác (Nguyễn Năng Phúc, 2013)

Phương pháp loại trừ có 2 dạng là: phương pháp thay thế liên hoàn và phươngpháp số chênh lệch Phương pháp thay thế liên hoàn được thực hiện bằng cách thaythế giá trị của từng nhân tố theo một trình tự nhất định (từ kỳ gốc sang kỳ phân tích)

để xác định trị số của chỉ tiêu phân tích khi trị số của nhân tố thay đổi [3], [4] Sau đótính chênh lệch giữa kết quả thay thế nhân tố lần sau với kết quả thay thế nhân tố lầntrước để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích Điều kiện

áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn là chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích vàcác nhân tích ảnh hưởng phải ở dạng tích số, thương số hoặc vừa tích số vừa thươngsố

Phương pháp thay thế liên hoàn được thực hiện qua các bước như: xác địnhchỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêuphản ánh đối tượng nghiên cứu, sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánhđối tượng nghiên cứu trong một công thức toán học theo thứ tự từ nhân tố số lượngđến nhân tố chất lượng, tiến hành thay thế lần lượt các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêuphân tích, tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phântích giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc và đưa ra các nhận xét, đánh giá sự biến độngcủa chỉ tiêu phân tích cũng như sự ảnh hưởng của các nhân tố tác động

Phương pháp số chênh lệch là một trường hợp đặc biệt của phương pháp thaythế liên hoàn [3], [15] Do đó phương pháp này có nội dung, điều kiện áp dụng, cácbước tiến hành tương tự như phương pháp thay thế liên hoàn chỉ khác là để xác địnhmức độ ảnh hưởng của nhân tố nào thì trực tiếp sử dụng số chênh lệch về giá trị của

kỳ phân tích so với kỳ gốc của nhân tố đó để xác định mức độ ảnh hưởng

Trang 21

1.3.3 Dupont

Trong phân tích tài chính, người ta thường vận dụng mô hình Dupont để phântích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữacác chỉ tiêu mà người ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêuphân tích theo một trình tự logic chặt chẽ Chẳng hạn, vận dụng mô hình Dupontphân tích hiệu quả kinh doanh trong mối liên hệ giữa các yếu tố đầu vào và kết quảđầu ra của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh nhất định (Nguyễn Năng Phúc,2013)

Chi phí đầu vào của doanh nghiệp có thể là tổng tài sản, tổng chi phí sản xuấtkinh doanh chi ra trong kỳ, vốn ngắn hạn, vốn dài hạn, vốn chủ sở hữu,

Kết quả đầu ra của doanh nghiệp có thể là doanh thu bán hàng và cung cấpdịch vụ, doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận gộp về bán hàng

và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh hoặc tổng lợi nhuậnsau thuế thu nhập doanh nghiệp,

Mô hình Dupont thường được vận dụng trong phân tích tài chính, có dạng:

Trang 22

Hình 1.1: Mô hình phân tích bằng phương pháp Dupont

(Nguồn: Nguyễn Năng Phúc, 2013)

Từ mô hình phân tích Dupont ở trên cho thấy để nâng cao số vòng quay củatài sản, một mặt phải tăng quy mô về doanh thu thuần, mặt khác phải sử dụng tiếtkiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản Như vậy tổng doanh thu thuần và tổng tàisản bình quân có quan hệ mật thiết với nhau, thông thường chúng có quan hệ cùngchiều Nghĩa là tổng tài sản tăng thì tổng doanh thu thuần cũng tăng

Từ mô hình phân tích trên cho thấy, tỷ lệ lãi theo doanh thu thuần lại phụthuộc vào hai nhân tố cơ bản: tổng lợi nhuận thuần và doanh thu thuần Hai nhân tốnày có quan hệ cùng chiều Nếu doanh thu thuần tăng thì cũng làm cho lợi nhuậntăng Để tăng quy mô về doanh thu thuần ngoài việc phải giảm các khoản giảm trừdoanh thu, còn phải giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, bao gồm cả chi phí

Tỷ suất sinh

lời của tài sản

Lợi nhuận thuầnTổng tài sản

Lợi nhuận thuần Doanh thu thuần -’ - x -' -Doanh thu thuần Tổng tài sản (1.1)

Mô hình phân tích tài chính Dupont được biểu diễn bằng hình dưới đây:

Trang 23

ngoài sản xuất và chi phí sản xuất sản phẩm Đồng thời cũng phải thường xuyên nângcao chất lượng sản phẩm để tăng giá bán, góp phần nâng cao mức tổng lợi nhuận.

Phân tích báo cáo tài chính dựa vào mô hình Dupont có ý nghĩa rất lớn đối vớiquản trị doanh nghiệp Điều đó không chỉ được biểu hiện ở chỗ: Có thể đánh giá hiệuquả kinh doanh một cách sâu sắc và toàn diện Đồng thời đánh giá đầy đủ và kháchquan đến những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Từ

đó, đề ra được hệ thống các biện pháp tỉ mỉ và xác thực nhằm tăng cường công tác cảitiến tổ chức quản lý doanh nghiệp, góp phần không ngừng nâng cao hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp ở các kỳ kinh doanh tiếp theo (Nguyễn Năng Phúc, 2013)

1.3.4 Đồ thị

Đồ thị là phương pháp nhằm phản ánh trực quan các số liệu phân tích bằngbiểu đồ hoặc đồ thị Qua đó, mô tả xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phântích, hoặc thể hiện mối quan hệ kết cấu của các bộ phận trong một tổng thể nhất định(Nguyễn Năng Phúc, 2013)

Như vậy, phương pháp đồ thị có tác dụng minh họa kết quả tài chính đã tínhtoán được và được biểu thị bằng biểu đồ hay đồ thị, giúp cho việc đánh giá bằng trựcquan, thể hiện rõ ràng và mạch lạc diễn biến của chỉ tiêu phân tích qua từng thời kỳ.Trên cơ sở đó, xác định rõ những nguyên nhân biến động của chỉ tiêu phân tích Từ

đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính doanh nghiệp

Chính trên ý nghĩa đó, phương pháp đồ thị ngày nay đã được vận dụng kháphổ biến trong các doanh nghiệp nhằm biểu hiện tính đa dạng và phức tạp của nộidung phân tích Phương pháp đồ thị có thể phản ánh dưới những góc độ sau:

- Biểu thị quy mô (độ lớn) các chỉ tiêu phân tích qua thời gian, như: Tổng tàisản, tổng doanh thu, sản lượng, hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng chi phí, tỷsuất lợi nhuận, hoặc có thể biểu hiện tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu phân tích quathời gian, như: tốc độ tăng tài sản, tốc độ tăng vốn chủ sở hữu, tốc độ tăng hiệu quả

sử dụng vốn, tốc độ tăng vốn đầu tư,

- Biểu hiện mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các chỉ tiêu nhân tố như:

Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản chịu ảnh hưởng của tỷ suất sinh lời của tổng doanhthu thuần và tốc độ chu chuyển của tổng tài sản hoặc sức sinh lời của tài sản dài hạnphụ thuộc vào hệ số của tài sản dài hạn với sinh lời của vốn chủ sở hữu

Trang 24

số để miêu tả mối liên hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng.

- Phương pháp hồi quy: là phương pháp được sử dụng chủ yếu để ước lượng,

dự báo các sự kiện xảy ra trong tương lai trên cơ sở nghiên cứu những dữ liệu đãphản ánh các sự kiện diễn ra trong quá khứ để tìm qua quy luật về mối quan hệ giữachúng Thông thường, phương pháp này thường được dùng để dự báo kết quả trongtương lai dựa vào dữ liệu sẵn có

- Phương pháp kết hợp: nhà phân tích sử dụng kết hợp một số phương phápphân tích với nhau Chẳng hạn, kết hợp phương pháp so sánh với phương pháp đồ thị,phương pháp loại trừ với phương pháp liên hệ cân đối, phương pháp Dupont vớiphương pháp loại trừ, Khi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp với nhau sẽ đưa rađược những đánh giá toàn diện nhất về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

1.4 Nội dung phân tích báo cáo tài chính

1.4.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính

Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc dựa trên những dữ liệu tài chínhtrong quá khứ và hiện tại của doanh nghiệp để tính toán và xác định các chỉ tiêu phảnánh thực trạng và an ninh tài chính của doanh nghiệp Từ đó, giúp cho các nhà quản

lý nhìn nhận đúng đắn về vị trí hiện tại và an ninh tài chính của doanh nghiệp nhằmđưa ra các quyết định tài chính hữu hiệu phù hợp với tình trạng hiện tại và địnhhướng phát triển trong tương lai cũng như đề ra các quyết sách phù hợp để nâng caonăng lực tài chính, năng lực kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp(Nguyễn Văn Công, 2010)

Để giúp các nhà quản lý nắm được mức độ độc lập về mặt tài chính; về anninh tài chính cũng những khó khăn mà doanh nghiệp đang phải đối mặt thì mục đíchđánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp là đưa ra những nhận định sơ

bộ, ban đầu về thực trạng tài chính và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp

Để đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp được chính xác, cần

Trang 25

quán triệt các yêu cầu chủ yếu: chính xác và toàn diện Do đánh giá khái quát tìnhhình tài chính có ý nghĩa hết sức quan trọng là cơ sở ban đầu để các nhà quản lý đề racác quyết định tài chính hữu hiệu nên yêu cầu đặt ra khi đánh giá khái quát tình hìnhtài chính là phải hết sức chính xác Toàn diện là yêu cầu bổ sung khi đánh giá kháiquát tình hình tài chính doanh nghiệp, bảo đảm đảm cho việc nhìn nhận tình hình tàichính của doanh nghiệp được chính xác Nếu việc đánh giá phiến diện, chỉ đánh giátrên một hay một vài mặt phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp mà đã vội đưa rakết luận thì kết luận đưa ra sẽ khó mà chính xác.

Với mục đích và yêu cầu trên, khi đánh giá khái quát tình hình tài chính, cácnhà phân tích chỉ dừng lại ở một số nội dung mang tính khái quát, tổng hợp, phản ánhnhững nét chung nhất phản ánh thực trạng tài chính và an ninh tài chính của doanhnghiệp như: đánh giá tình hình huy động vốn, đánh giá mức độ độc lập tài chính,đánh giá khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Phương phápphân tích được sử dụng để đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp làphương pháp so sánh

Đánh giá khái quát tình hình huy động vốn:

Số vốn mà doanh nghiệp huy động trong kỳ vừa phản ánh kết quả hoạt độngtrực tiếp của hoạt động tài chính vừa phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp(Nguyễn Văn Công, 2010)

Khi phân tích, đánh giá khái quát tình hình huy động vốn, bên cạnh việc xemxét tình hình biến động của tổng nguồn vốn, cần xem xét tình hình biến động củatừng bộ phận nguồn vốn trong tổng nguồn vốn và xu hướng biến động của cơ cấunguồn vốn Sự tăng trưởng hay giảm sút của từng bộ phận nguồn vốn của doanhnghiệp cũng như tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng nguồn vốn và xu hướngbiến động của cơ cấu nguồn vốn cho biết nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả huyđộng vốn và chính sách huy động vốn của doanh nghiệp

Đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính:

Mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp thể hiện qua mức độ tự chủ tàichính và mức độ bảo đảm an ninh tài chính Vì thế, khi đánh giá mức độ độc lập tàichính, phải xem xét mức độ tự chủ tài chính và mức độ đảm bảo an ninh tài chính chohoạt động của doanh nghiệp (Nguyễn Văn Công, 2013)

Trang 26

Để đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính, các nhà phân tích thườngdùng chỉ tiêu:

- “Hệ số tài trợ” là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính

và mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sảnđược tài trợ bằng mấy đồng vốn chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu càng lớn thì mức độ

tự tài trợ bằng vốn chủ sở hữu càng cao, chứng tỏ khả năng tự bảo đảm về mặt tàichính càng cao, mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngượclại Hệ số tài trợ được xác định theo công thức:

VCSH

Hệ số tài trợ = -■"- -■' - (1.2)

Tổng số tài sản

- “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” là chỉ tiêu phản ánh khả năng trang trải tài

sản dài hạn bằng nguồn tài trợ thường xuyên Khi trị số của chỉ tiêu này lớn hơn hoặcbằng 1 (> 1), nguồn tài trợ thường xuyên đủ và thừa để trang trải tài sản dài hạn.Trong trường hợp này nguồn tài trợ thường xuyên đủ bù đắp, rủi ro tài chính có thểcao nhưng an ninh tài chính vẫn đảm bảo, doanh nghiệp hoạt động bình thường Khitrị số của chỉ tiêu này nhỏ hơn 1, nguồn tài trợ thường xuyên không đủ tài tài trợ tàisản dài hạn, doanh nghiệp trong tình trạng mất khả năng thanh toán trầm trọng, nguy

cơ phá sản cao, khi đó phải xem xét chỉ tiêu thứ 3 Chỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản

dài hạn”được xác định như sau:

Nguồn tài trợ thường xuyên

Hệ số tự tài trợ

,— - (1.3)

- “Hệ số tự tài trợ tài sản cố định” là chỉ tiêu phản ánh khả năng đáp ứng bộ

phận tài sản cố định (đã và đang đầu tư) bằng nguồn tài trợ thường xuyên Khi trị sốcủa chỉ tiêu này >1 thì nguồn tài trợ thường xuyên đủ và thừa trang trải tài sản cốđịnh Khi trị số của chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng cảnguồn tài trợ tạm thời để đầu tư vào một bộ phận tài sản cố định và tài sản dài hạnkhác, khi đó doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đáohạn

Nguồn tài trợ thường xuyên

J số _ r = — —-— (1.4)trợ TSCĐ TSCĐ đã và đang đầu tư

Trang 27

Đánh giá khái quát khả năng thanh toán:

Khả năng thanh toán phản ánh năng lực đáp ứng các khoản nợ phải trả củadoanh nghiệp Khả năng đo lường bằng giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp sovới tổng số nợ mà doanh nghiệp đang gánh chịu (Nguyễn Văn Công, 2013)

Để đánh giá khái quát khả năng thanh toán, các nhà phân tích sử dụng chỉtiêu:

- “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” cho biết với tổng số tài sản hiện có,

doanh nghiệp có bảo đảm trang trải được các khoản nợ hay không Về mặt lý thuyết,

nếu trị số chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” của doanh nghiệp > 1,doanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toán tổng quát và ngược lại; khi trị sốcủa chỉ tiêu này < 1, doanh nghiệp không bảo đảm được khả năng trang trải cáckhoản nợ Trị số của “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” càng nhỏ hơn 1, doanhnghiệp càng mất dần khả năng thanh toán

Tổng số tài sản

Hệ số khả năng thanh

LLZ LL = “3—7 -, (1.5)toán tổng quát Tổng số nợ phải trả

- “Hệ số khả năng thanh khoản của dòng tiền” cho biết một đồng nợ ngắn

hạn bình quân được bảo đảm bằng mấy đồng dòng tiền lưu chuyển thuần từ hoạtđộng kinh doanh

Dòng tiền thuần lưu chuyển

Hệ số khả năng

từ hoạt động kinh doanhthanh khoản của = -; - (1.6)

Tổng số nợ ngắn hạn bìnhdòng tiền

quân

Đánh giá khái quát khả năng sinh lợi:

Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận màdoanh nghiệp thu được trên một đơn vị chi phí hay yếu tố đầu vào hay trên một đơn

vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất

- “Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu” là chỉ tiêu cho biết một đồng vốn chủ sở

hữu đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Trị số của chỉ tiêu càng lớn, sứcsinh lợi của vốn chủ sở hữu càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại trị

Trang 28

số chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu càng thấp, hiệu quả kinhdoanh càng thấp.

Lợi nhuận sau thuếSức sinh lợi của vốn

- “Sức sinh lợi của vốn dài hạn (ROCE)” là chỉ tiêu cho biết một đồng vốn dài

hạn đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay Trị số của chỉ tiêucàng lớn, sức sinh lợi của vốn dài hạn càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao vàngược lại

Sức sinh lợi của Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Vốn dài hạn bình quân(ROCE)

Vốn dài hạn bao gồm 2 bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn

- “Sức sinh lợi cơ bản của tài sản” (BEPR) cho biết: một đồng tài sản đưa vào

kinh doanh đem lại mấy đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay Trị số của chỉ tiêu cànglớn, sức sinh lợi kinh tế của tài sản càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngượclại; trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng sinh lợi cơ bản của tài sản càng thấp, hiệuquả kinh doanh càng thấp

Sức sinh lợi cơ Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Tổng tài sản bình quân(BEPR)

1.4.2 Phân tích cấu trúc tài chính

Phân tích cấu trúc tài chính là việc phân tích tình hình huy động, sử dụng vốn

và mối quan hệ giữa tình hình huy động với tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp.Qua đó, giúp các nhà quản lý nắm được tình hình phân bổ tài sản và các nguồn tài trợtài sản, biết được nguyên nhân cũng như các dấu hiệu ảnh hưởng đến cân bằng tàichính (Nguyễn Văn Công, 2010)

Về thực chất, phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp bao gồm các nội

Trang 29

dung như: phân tích cơ cấu tài sản, phân tích cơ cấu nguồn vốn và phân tích mối quan

hệ giữa tài sản và nguồn vốn

Phân tích cơ cấu tài sản:

Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra và

so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộphận tài sản chiếm trong tổng số tài sản Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếmtrong tổng số tài sản được xác định như sau:

Tỷ trọng của từng bộ Giá trị của từng bộ phận tài sản

phận tài sản chiếm = - x 100 (1.11)

trong tổng số tài sảnTổng số tài sản

Bên cạnh việc so sánh sự biến động trên tổng số tài sản cũng như từng loại tàisản giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phân tích còn phải xem xét tỷ trọngchiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng theo thời gian để thấy đượcmức độ hợp lý của việc phân bổ Việc đánh giá phải dựa trên tính chất kinh doanh vàtình hình biến động của từng bộ phận Trong điều kiện cho phép, có thể xem xét và sosánh sự biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sảncủa doanh nghiệp qua nhiều năm và so sánh với cơ cấu của ngành để đánh giá(Nguyễn Văn Công, 2010)

Phân tích cơ cấu nguồn vốn:

Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương tự như phân tích cơcấu tài sản Trước hết, các nhà phân tích cần tính ra và so sánh tình hình biến độnggiữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trongtổng nguồn vốn Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng nguồn vốnđược xác định như sau:

Trang 30

Tỷ trọng của từng bộ Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn

phận nguồn vốn chiếm = - x 100 (1.12)

trong tổng nguồn vốnTổng số nguồn vốn

Để biết được chính xác tình hình huy động vốn, nắm được các nhân tố ảnhhưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động về cơ cấu nguồn vốn,các nhà phân tích còn kết hợp việc phân tích ngang, tức là so sánh sự biến động giữa

kỳ phân tích với kỳ gốc (cả về số tuyệt đối và số tương đối) trên tổng số nguồn vốncũng như từng loại nguồn vốn Bên cạnh đó, để thấy được mức độ hợp lý và an ninhtài chính của doanh nghiệp trong việc huy động vốn, các nhà phân tích còn phải xemxét tỷ trọng từng loại nguồn vốn trong tổng số và xu hướng biến động của chúng theothời gian Trong điều kiện cho phép có thể so sánh qua nhiều năm và so sánh với cơcấu chung của ngành để đánh giá

Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn:

Phân tích cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp nếu chỉ dừng lại ở phân tích

cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn sẽ không bao giờ thể hiện được chính sách sửdụng vốn của doanh nghiệp Chính sách sử dụng vốn của một doanh nghiệp khôngchỉ phản ánh nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh mà còn có quan hệ trực tiếp đến

an ninh tài chính, đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và do vậy, tác độngtrực tiếp đến hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp Vìvậy, cần thiết phải phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản đểthấy được chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp (Nguyễn Văn Công, 2010)

Để phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, các nhà phân tích sửdụng các chỉ tiêu sau:

- “Hệ số nợ so với tài sản” là chỉ tiêu phản ánh mức độ tài trợ tài sản của

doanh nghiệp bằng các khoản nợ Trị số của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức độphụ thuộc vào chủ nợ càng lớn, mức độ độc lập về mặt tài chính càng thấp và ngượclại

Nợ phải trả

- “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” sử dụng trong trường hợp này có

mục đích đánh giá chính sử dụng vốn của doanh nghiệp, khác với mục đích khi đánhgiá khái quát khả năng thanh toán Khi trị số của chỉ tiêu này = 1, toàn bộ tài sản của

Hệ số nợ so với tài sản

Tài sản (1.13)

Trang 31

doanh nghiệp được tài trợ bằng nợ phải trả và khi đó, vốn chủ sở hữu của doanhnghiệp bằng (=0); còn khi trị số của chỉ tiêu này > 1, doanh nghiệp sử dụng cả nợphải trả và vốn chủ sở hữu để tài trợ tài sản Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1,mức độ tham gia tài trợ tài sản của doanh nghiệp từ nợ phải trả càng giảm và ngượclại.

- “Hệ số tài sản so với VCSH” là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tài sản của

doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu” Trị số của chỉ tiêu này càng lớn và lớn hơn 1chứng tỏ mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp càng thấp và ngược lại

Tổng số tài sản

Hệ số tài sản so với

ZT = (1.14)

VCSH Vốn chủ sở hữu

1.4.3 Phân tích cân bằng tài chính

Phân tích cân bằng tài chính của doanh nghiệp thực chất chính là phân tíchtình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh Phân tích tình hình bảo đảm vốncho hoạt động kinh doanh chính là xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản vànguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp Mối quan hệ này phản ánh cân bằng tàichính của doanh nghiệp

Khi phân tích cân bằng tài chính, các nhà phân tích thường xem xét trên haikhía cạnh sau:

Phân tích cân bằng tài chính theo mức độ an toàn của nguồn tài trợ:

Xét theo quan điểm luân chuyển vốn, tài sản ban đầu (gồm tài sản ngắn hạnban đầu và tài sản dài hạn ban đầu) của doanh nghiệp được hình thành trước hết bằngvốn chủ sở hữu; nghĩa là, doanh nghiệp sử dụng vốn chủ sở hữu của mình để tài trợtài sản ban đầu phục vụ cho hoạt động kinh doanh Số tài sản ban đầu được tài trợbằng vốn chủ sở hữu này không bao gồm số tài sản trong thanh toán (Nguyễn VănCông, 2013)

Khi đó, cân bằng tài chính thể hiện qua đẳng thức sau:

Vốn chủ sở hữu = Tài sản ban đầu (1.15)Cân đối (1.15) chỉ là cân đối mang tính lý thuyết vì trong quá trình thành lậpdoanh nghiệp chúng ta sử dụng các quan hệ mua chịu, bán chịu Trong thực tế,thường xảy ra một trong hai trường hợp: doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn hoặc đichiếm dụng vốn của các đơn vị khác Do đó để đảm bảo tính chất cân đối của bảng

Trang 32

cân đối kế toán, ta có quan hệ sau:

Vốn vay Tài sản ban Nợ phảiVCSH + + Nợ phải trả = + (1.16) hợp pháp đầu thu

Nợ phải trả của doanh nghiệp là toàn bộ số vốn mà doanh nghiệp đi chiếmdụng của các tổ chức, cá nhân, công ty trong quan hệ thanh toán và doanh nghiệp cótrách nhiệm phải trả Nợ phải thu là số tài sản của doanh nghiệp bị các đối tác chiếmdụng, doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi để đảm bảo khả năng thanh toán, tìnhhình tài chính của mình

Phân tích cân bằng tài chính theo mức độ ổn định của nguồn tài trợ tài sản:

Xét theo góc độ ổn định về nguồn tài trợ tài sản, toàn bộ nguồn tài trợ tài sản(nguồn vốn) của doanh nghiệp được chia thành nguồn tài trợ thường xuyên và nguồntài trợ tạm thời Nguồn tài trợ thường xuyên là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp sửdụng thường xuyên và liên tục Nguồn tài trợ thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu

và nợ dài hạn Nguồn tài trợ tạm thời là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp tạm thời sửdụng vào hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian ngắn Nguồn tài trợ tạmthời bao gồm nguồn tài trợ tạm thời hợp pháp như các khoản vay ngắn hạn, vay tronghạn; và nguồn tài trợ bất hợp pháp như các khoản vay, nợ quá hạn

Dưới góc độ này, cân bằng tài chính được thể hiện qua đẳng thức:

+ = + (1.17) ngắn hạn dài hạn thường xuyên tạm thờiNếu tổng số nguồn tài trợ thường xuyên đủ hoặc lớn hơn tổng số nhu cầu vềtài sản thì doanh nghiệp cần sử dụng số thừa này một cách hợp lý để tránh bị chiếmdụng vốn Ngược lại, khi nguồn tài trợ thường xuyên không đáp ứng đủ nhu cầu vềtài sản, doanh nghiệp cần phải có biện pháp huy động và sử dụng phù hợp

Trang 33

Về thực chất nguồn tài trợ tạm thời chính là nợ ngắn hạn Từ đây ta xác địnhđược vốn hoạt động thuần của doanh nghiệp bằng cách biến đổi cân bằng trên tađược:

Tài sản Nợ ngắn Nguồn tài trợ

- = - Tài sản dài hạn (1.18) ngắn hạn hạn thường xuyênVốn hoạt động thuần của doanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khảnăng thanh toán của doanh nghiệp, qua đó phản ánh mức độ ổn định về nguồn tài trợcũng như mức độ ổn định trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vốn hoạtđộng thuần được tính là sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn haychênh lệch giữa nguồn tài trợ thường xuyên với tài sản dài hạn

Nếu vốn hoạt động thuần bằng 0 (=0) khi tài sản ngắn hạn bằng nợ ngắn hạnhoặc khi nguồn tài trợ thường xuyên bằng tài sản dài hạn Khi đó, nguy cơ mất khảnăng thanh toán luôn tiềm ẩn, tính ổn định của nguồn tài trợ thấp

Nếu vốn hoạt động thuần lớn hơn 0 (>0) thì khả năng thanh toán cao, tính ổnđịnh của nguồn tài trợ cao, doanh nghiệp đảm bảo an ninh tài chính để phát triển bềnvững Vì khi đó, nguồn tài trợ thường xuyên của doanh nghiệp không những được sửdụng để tài trợ cho tài sản dài hạn mà còn tài trợ một phần tài sản ngắn hạn

Nếu vốn hoạt động thuần nhỏ hơn 0 (<0) thì doanh nghiệp mất khả năng thanhtoán, tính ổn định của nguồn tài trợ thấp Vì khi đó, nguồn tài trợ thường xuyên củadoanh nghiệp không đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn và doanh nghiệp còn phải sửdụng một phần nợ ngắn hạn để bù đắp phần thiếu hụt

Bên cạnh đó, để đánh giá chính xác về tình hình bảo đảm vốn, các nhà phântích còn sử dụng các chỉ tiêu sau (Nguyễn Văn Công, 2010):

- Hệ số tài trợ thường xuyên: cho biết so với tổng số nguồn tài trợ tài sản của

doanh nghiệp, nguồn tài trợ thường xuyên chiếm mấy phần Trị số chỉ tiêu này cànglớn, tính ổn định, cân bằng tài chính càng cao và ngược lại

Nguồn tài trợ thường xuyên

Hệ số tài trợ thường

xuyên

- Hệ số tài trợ tạm thời là hệ số cho biết so với tổng nguồn tài trợ tài sản của

doanh nghiệp, nguồn tài trợ tạm thời chiếm mấy phần Trị số chỉ tiêu này càng nhỏ,tính ổn định và cân bằng tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại

(1.19)

Tổng số nguồn vốn

Trang 34

Nguồn tài trợ tạm thời

Hệ số tài trợ tạm thời = -■" ; -; -■' - (1.20)

Tổng số nguồn vốn

- Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn là hệ số cho biết mức độ tài sản dài hạn

bằng nguồn vốn thường xuyên Trị số chỉ số này càng lớn hơn một, tính ổn định vàbền vững và tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại

Nguồn vốn thường xuyên

Hệ số tự tài trợ tài sản

’ = (1.21)

- Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn: hệ số cho biết mức độ tài

trợ tài sản ngắn hạn bằng nợ ngắn hạn là cao hay thấp Trị số chỉ tiêu này càng lớnhơn một, tính ổn định và bền vững và tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngượclại

Tài sản ngắn hạn

Hệ số giữa tài sản ngắn

, L 7 , = -“ - - - (1.22)

hạn so với nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn

1.4.4 Phân tích tình hình thanh toán

Phân tích tình hình thanh toán chính là phân tích tình hình công nợ phải thu vàcông nợ phải trả và mối quan hệ giữa công nợ phải thu và công nợ phải trả Việc phântích này nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị thấy được cơ cấu các khoản nợchiếm dụng và bị chiếm dụng Bên cạnh đó, xây dựng kế hoạch thu hồi nợ, trả nợ kịpthời mà vẫn phát huy được tối đa hiệu quả sử dụng vốn đồng thời tạo ấn tượng, niềmtin cho nhà cung cấp tránh trường hợp bị đối tác đánh giá là khoản nợ xấu, dây dưakéo dài Phân tích tình hình thanh toán bao gồm (Nguyễn Văn Công, 2010):

- Phân tích tình hình thanh toán các khoản phải thu: Đây chính là việc sắp

xếp, phân loại các khoản nợ của doanh nghiệp theo thời gian rồi xem xét biến dộngcủa các khoản nợ phải thu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc kể cả số tương đối và sốtuyệt đối từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá giúp cho nhà quản trị nắm được tình

Trang 35

- hình, thực trạng thanh toán của các đối tác kinhdoanh đối với các doanh nghiệp nhằm đưa ra các quyết địnhkinh doanh phù hợp.

- Phân tích tình hình thanh toán các khoản nợ phải trả: Tương tự như phân

tích thanh toán các khoản nợ phải thu, phân tích tình hình thanh toán các khoản nợphải trả cũng tiến hành phân loại, sắp xếp các khoản nợ phải trả theo thời gian sau đóxem xét biến động cả về số tương đối lẫn tuyệt đối giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc để

từ đó xem xét, đánh giá nguyên nhân, đưa ra các giải pháp thanh toán hợp lý, đúnghạn, tạo niềm tin cho các đối tác kinh doanh của doanh nghiệp

- Phân tích tốc độ thanh toán: Tốc độ thanh toán được hiểu là khả năng hoạt

động thanh toán mà doanh nghiệp có thể đạt được trong điều kiện hiện tại Tốc độthanh toán cao là một trong những điều kiện cần thiết để bảo đảm cho hoạt động củadoanh nghiệp có hiệu quả Tốc độ thanh toán được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:

- Số lần thu hồi tiền hàng (lần): chỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh bán

hàng thu tiền được mấy lần Chỉ tiêu này lớn chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền càngtốt, ít bị chiếm dụng vốn tuy nhiên doanh nghiệp đang gây áp lực lên khách hàngtrong việc thu hồi nợ và ngược lại nếu chỉ tiêu này thấp dẫn tới việc doanh nghiệp bịchiếm dụng vốn cao

Tổng số tiền hàng bán chịu

Số lần thu hồi tiền (Doanh thu hoặc doanh thu thuần)

, , J s = -■ -■ - (1.23)hàng (lần)

Nợ phải thu người mua bình quânTrong đó:

Nợ phải thu người Số dư phải thu khách hàng đầu kỳ và cuối kỳ

ợ "'/.'th ' = -r - (1.24)

- Thời gian thu hồi tiền hàng (ngày) là thời gian cần thiết bình quân để thu hồ'

t'ền hàng Chỉ t'êu này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồ' t'ền hàng càng nhanh, ít bịchiếm dụng vốn và ngược lại

Thời gian của kỳ nghiên cứu

Thời gian thu hồi tiền

hàng (ngày) Số lần thu hồi tiền hàng (1.25)

Trang 36

Thời gian kỳ nghiên cứu có thể là tháng 30 ngày, quý 90 ngày, năm 360 ngày.

- Số lần thanh toán tiền hàng (lần) chỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh

mua hàng thanh toán tiền được mấy lần Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệpthanh toán hàng kịp thời, tạo niềm tin cho người bán, ít đi chiếm dụng vốn Ngượclại, nếu chỉ tiêu này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp đang chiếm dụng vốn tuy nhiên nănglực thanh toán của doanh nghiệp thấp, mất uy tín với người bán

Tổng số tiền mua chịu (Giá vốn hàng bán)

Nợ phải trả người bán bình quân

Trong đó:

Nợ phải trả người

bán bình quân

- Thời gian thanh toán tiền hàng (ngày) là thời gian cần thiết bình quân để

thanh toán tiền hàng Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ khả năng thanh toán tiền hàngcàng nhanh, doanh nghiệp ít đi chiếm dụng vốn của các đối tác và ngược lại

1.4.5 Phân tích khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là một nội dung quan trọng để đánhgiá chất lượng tài chính và hiệu quả hoạt động Đây cũng là những thông tin hữu ích

mà các tổ chức tín dụng, nhà đầu tư, cơ quan kiểm toán thường hay quan tâm

Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn:

Nợ ngắn hạn đó là các khoản nợ mà doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toántrong thời hạn dưới một năm kể từ ngày phát sinh Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn

có vai trò rất quan trọng đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp Các khả năngthanh toán nợ ngắn hạn thấp, kéo dài thường xuất hiện dấu hiệu rủi ro tài chính, nguy

cơ phá sản có thể xảy ra kể cả trong điều kiện chỉ tiêu thanh toán tổng quát cao(Nguyễn Văn Công, 2010)

Để phân tích khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, các nhà phân tích thường sửdụng các chỉ tiêu tài chính sau:

- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:

Thời gian của kỳ nghiên cứu

Số lần thanh toán tiền hàng (1.28)

Trang 37

Chỉ tiêu này cho biết với tổng giá trị của tài sản ngắn hạn hiện có doanhnghiệp có đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không Chỉ tiêu nàycàng cao khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại.Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ một bộ phận của tài sản ngắn hạn được đầu tư từnguồn vốn ổn định Chỉ tiêu thấp, kéo dài có thể dẫn đến doanh nghiệp phụ thuộc tàichính, ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh.

- “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” cho biết khả năng thanh toán nhanh của

các tài sản dễ chuyển đổi thành tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này caoquá, kéo dài cũng không tốt, có thể dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn giảm Chỉ tiêu nàythấp quá, kéo dài càng không tốt có thể dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơphá sản có thể xảy ra

II/ „Á 1.1 Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho

Hệ số khả năng

= -“ -TT - (1.30)

Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho được gọi là các tài sản dễ chuyển đổi thànhtiền

- “Hệ số khả năng thanh toán tức thời” cho biết khả năng thanh toán nhanh

của tiền và các khoản tương đương tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn Chỉ tiêu nàycao quá, kéo dài chứng tỏ khả năng thanh toán nhanh tốt, tuy nhiên chỉ tiêu này quácao có thể dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn giảm Chỉ tiêu này thấp quá, kéo dài chứng

tỏ doanh nghiệp không có đủ khả năng thanh toán các khoản công nợ ngắn hạn, dấuhiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản có thể xảy ra

Tiền và các khoản tương đương tiền

Hệ số khả năng thanh

, , = -“ -TT - (1.31)

Phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn:

Trang 38

Nợ dài hạn đó là các khoản nợ mà đơn vị có nghĩa vụ thanh toán trong thờihạn trên một năm kể từ ngày phát sinh Nợ dài hạn của doanh nghiệp là một bộ phậncủa nguồn vốn ổn định dùng để đầu tư các tài sản sản dài hạn như tài sản cố định, bấtđộng sản đầu tư, chứng khoán dài hạn

Khi phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn ta thường sử dụng những chỉtiêu sau:

- “Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn” cho biết khả năng thanh toán nợ dài

hạn đối với toàn bộ giá trị thuần của tài sản cố định và đầu tư dài hạn , chỉ tiêu nàycàng cao khả năng thanh toán dài hạn trong tương lai của doanh nghiệp càng tốt sẽgóp phần ổn định tình hình tài chính Chỉ tiêu này thường được xác định như sau:

Tài sản dài hạn

Hệ số khả năng thanh_ = - - (1.32)toán nợ dài hạn Nợ dài hạn

1.4.6 Phân tích đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính về bản chất có quan hệ cùng chiều với nợ phải trả, khi nợphải trả tăng thì đòn bẩy tài chính tăng và ngược lại Đòn bẩy tài chính sẽ rất lớntrong các doanh nghiệp có tỷ trọng nợ phải trả cao hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu.Ngược lại, đòn bẩy tài chính sẽ thấp khi tỷ trọng nợ phải trả nhỏ hơn vốn chủ sở hữu.Như vậy, thực chất chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp là chính sách sử dụngđòn bẩy tài chính hay chính sách sử dụng nợ phải trả

Đòn bẩy tài chính là khái niệm được dùng để phản ánh cấu trúc nguồn vốn củadoanh nghiệp nên tùy theo mục đích xem xét, đòn bẩy tài chính có thể được xác địnhtheo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn: theo quan hệ giữa tổng nguồn vốn với vốn chủ

sở hữu, theo quan hệ giữa nợ phải trả với vốn chủ sở hữu hoặc theo quan hệ giữa nợphải trả với tổng số nguồn vốn (Nguyễn Văn Công, 2010)

- Theo mối quan hệ giữa tổng nguồn vốn với vốn chủ sở hữu, đòn bẩy tàichính được xác định theo công thức sau:

Tổng nguồn vốn

- Theo mối quan hệ giữa nợ phải trả với vốn chủ sở hữu, đòn bẩy tài chínhđược xác định theo công thức sau:

Nợ phải trảĐòn bẩy tài chính = - (1.34)Đòn bẩy tài chính

Vốn chủ sở hữu (1.33)

Trang 39

Vốn chủ sở hữu

- Theo mối quan hệ giữa nợ phải trả với tổng số nguồn vốn, đòn bẩy tài chínhđược xác định theo công thức sau:

Nợ phải trảĐòn bẩy tài chính = -; - (1.35)

1.4.7 Phân tích hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phảnảnh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất Hiệu quả kinh doanh còn thểhiện sự vận dụng khéo léo của các nhà quản trị doanh nghiệp giữa lý luận và thực tếnhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất như máy móc thiết bị, nguyênvật liệu, nhân công để nâng cao lợi nhuận Vậy hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêukinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của doanhnghiệp để đạt hiệu quả cao nhất (Nguyễn Ngọc Quang, 2013)

Phân tích hiệu quả kinh doanh cần phải kết hợp nhiều chỉ tiêu hiệu quả ở các

bộ phận, các mặt của quá trình kinh doanh như hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn, tàisản ngắn hạn, nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay, chi phí, Ta cũng có thể điphân tích từ chỉ tiêu tổng hợp đến chỉ tiêu chi tiết, từ đó khái quát hóa để đưa ra cácthông tin hữu ích là cơ sở đưa ra các quyết định phục vụ quá trình kinh doanh

♦ Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh:

Để có những nhận định, đánh giá sơ bộ về hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp, các nhà phân tích thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây để đánh giá khái quáthiệu quả kinh doanh:

- “Sức sinh lợi của vốn đầu tư” là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị vốn đầu tư

của chủ sở hữu đem lại mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế Trị số của chỉ tiêu này càng

Trang 40

lớn, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao, càng hấp dẫn các nhà đầu tư vàngược lại.

Lợi nhuận sau thuếSức sinh lợi của

.A . -“ (1.36)vốn đầu tư Vốn đầu tư bình quân

Trong đó:

Vốn đầu tư Số vốn đầu tư hiện có đầu kỳ và cuối kỳ

Vốn _ 2 = -1 - - (1.37)bình quân 2

- “ Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu” phản ánh khá rõ nét hiệu quả kinh

doanh của doanh nghiệp, vì mục đích của hoạt động kinh doanh là tìm kiếm lợinhuận, mục đích cuối cùng của các nhà đầu tư là đem lại lợi nhuận lớn nhất trên đồngvốn mình bỏ ra Chỉ tiêu này đã được đề cập ở phần trước

- “Sức sinh lợi của doanh thu (ROS): chỉ tiêu này cho biết một đơn vị doanh

thu thuần đem lại mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế Trị số của chỉ tiêu này càng caohiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại

Lợi nhuận sau thuếSức sinh lợi của

, ,, = - - - (1.38)doanh thu Doanh thu thuần

♦ Phân tích hiệu suất sử dụng chi phí và hiệu suất sử dụng các yếu tố đầu

vào:

Để phân tích hiệu suất (hay năng suất) sử dụng chi phí, sử dụng các yếu tốđầu vào của quá trình kinh doanh, các nhà phân tích phải dựa vào các chỉ tiêu phảnánh hiệu suất hoạt động như: Sức sản xuất của yếu tố đầu vào (hay hiệu suất sử dụngyếu tố đầu vào), sức sản xuất của chi phí đầu vào (hay hiệu suất sử dụng chi phí đầuvào) Hiệu suất sử dụng chi phí hay hiệu suất sử dụng yếu tố đầu vào càng lớn, doanhnghiệp càng có điều kiện để nâng cao hiệu quả sử dụng, góp phần tăng hiệu quả kinhdoanh và ngược lại (Nguyễn Văn Công, 2010)

Hiệu suất sử dụng chi phí và hiệu suất sử dụng các yếu tố đầu vào được xácđịnh qua công thức:

Hiệu suất sử dụng các yếu Đầu ra phản ánh kết quả sản xuất

Yếu tố đầu vào hay chi phí đầu vào

Ngày đăng: 16/08/2021, 11:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w