A 1 Khãa luËn tèt nghiÖp §ç Thu Hµ A PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 1 1 Văn Cao là một nghệ sĩ đa tài Tài năng của ông bộc lộ trên nhiều phương diện âm nhạc, hội hoạ, thơ ca Có thể nói, trong bất cứ[.]
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn Cao là một nghệ sĩ đa tài Tài năng của ông bộc lộ trên nhiềuphương diện: âm nhạc, hội hoạ, thơ ca…Có thể nói, trong bất cứ lĩnh vựcnào, Văn Cao cũng để lại những tác phẩm có giá trị Nếu như ở âm nhạc,Văn Cao khẳng định mình bởi một dòng chảy bất tận những ca khúc trữ tình
ngọt ngào đằm thắm, bởi một Tiến quân ca mang hồn thiêng sông núi và
dáng dấp của một dân tộc bất khuất, kiên cường; thì trong hội hoạ người ta
lại ngạc nhiên trước “sức mạnh lạ lùng tiềm ẩn trong đôi bàn tay gầy guộc của ông đã tạo ra muôn ngàn cái đẹp khi chạm vào thế giới” (Hoàng Phủ
Ngọc Tường) Còn đến với thơ ca - mảnh đất nghệ thuật mà suốt đời VănCao luôn trăn trở, người ta lại thấy ở đó những sáng tác mang tính đột phá
như trường ca Những người trên cửa biển đã khiến Văn Cao trở thành một
trong số những người đi tiên phong, góp phần tạo nên sự phát triển mạnh mẽ
của thể trường ca Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám và cả Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc – một bài thơ với giọng siêu thực đến ngột ngạt đã
gây một tiếng vang lớn khi mới ra đời và sau này được bình chọn là mộttrong một trăm bài thơ trữ tình hay nhất thế kỷ XX Như vậy, có thể thấyrằng, với những đóng góp của mình, Văn Cao đã trở thành một gương mặttiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam hiện đại và những sáng tác thơ của ông có
ý nghĩa quan trọng trong tiến trình hiện đại hoá thơ ca nước nhà
1.2 Như đã nói ở trên, bên cạnh một Văn Cao nhà thơ còn có mộtVăn Cao nhạc sĩ, một Văn Cao hoạ sĩ Phải chăng vì thế mà những nét ưutrội của âm nhạc và hội hoạ đã thẩm thấu, hoà quyện và kết tinh thànhnhững điểm sáng trong thơ Văn Cao khiến cho độc giả khi tìm đến với thơông cũng đồng nghĩa với việc sẽ được thưởng hoạ, được lắng nghe nhữnggiai điệu trữ tình Và rất tự nhiên, thơ ca trở thành địa hạt thẩm mĩ kỳ thú
Trang 2để Văn Cao thể hiện sâu đậm nhất, tinh tế nhất sự tài hoa của mình cũngnhư khẳng định phong cách nghệ sĩ độc đáo của riêng nhà thơ Xuất phát từđiều này, có thể khẳng định rằng: nghiên cứu chất hội hoạ trong thơ VănCao chính là đi vào tìm hiểu những đặc trưng bản chất và giá trị thẩm mĩcủa thế giới nghệ thuật thơ ông
1.3 Thơ ca là nghệ thuật tổng hợp từ trong bản chất Từ xa xưa, các
nhà phê bình nghiên cứu đã cùng thống nhất quan điểm: “Thi trung hữu hoạ, thi trung hữu nhạc” (trong thơ có hoạ, trong thơ có nhạc) Chính điều
này đã tạo cho thơ ca có khả năng vô hạn trong việc nhận thức và phản ánhđời sống con người cũng như nhân lên gấp bội những giá trị thẩm mĩ củaloại hình nghệ thuật này Đến với thơ, người ta sẽ cảm thấy thú vị bởinhững lời lẽ tràn đầy màu sắc, ánh sáng… như một bức tranh và sự uyểnchuyển, nhịp nhàng của một ca khúc Vì vậy, nghiên cứu chất hội hoạ trongthơ Văn Cao một mặt là đi vào tìm hiểu những nét đặc sắc nghệ thuật trongthế giới thơ ông, mặt khác gợi mở hướng nghiên cứu chất hội hoạ trong thơ
ca nói chung
Những lý do trên đã thôi thúc người viết lựa chọn đề tài Chất hội hoạ trong thơ Văn Cao để nghiên cứu.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu về “chất hội hoạ trong thơ”
“Chất hội họa trong thơ” là một vấn đề lý thú, từ trước đến nay đã
được khá nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đặt vấn đề tìm hiểu Tuy nhiên
đa phần là những bài viết nhỏ, lẻ mà chúng tôi có thể điểm qua như sau:
Tính chất tạo hình của Nguyễn Du qua Truyện Kiều (Nguyễn Tiến Chung), Con mắt tạo hình của Nguyễn Du trong Truyện Kiều (Nguyễn Trân), Trong thơ có hoạ (Đỗ Văn Hỷ), Thơ Bà Huyện Thanh Quan - niềm vui và nỗi buồn (Trần Thị Băng Thanh),…Khảo sát các công trình
này, chúng tôi nhận thấy các điểm như sau:
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 3Thứ nhất, các nhà phê bình nghiên cứu mặc dù nhận thấy rõ ràng hộihoạ và thơ ca có mối quan hệ mật thiết nhưng do việc hình thành cơ sở đểnghiên cứu vấn đề này còn gặp nhiều khó khăn cho nên họ chỉ đưa ra một
nhận định có tính chất khái quát “Thi trung hữu hoạ”mà chưa hề có nhữngkiến giải cụ thể để làm rõ và khẳng định phẩm chất này Bên cạnh đó, vẫncòn tồn tại những sai lệch và sự không thống nhất trong lý luận về hội hoạ
và thơ ca, vì vậy các nhà nghiên cứu mới chỉ “chạm” đến vấn đề chứ không
có ý thức hình thành những căn cứ để nghiên cứu “chất hội hoạ trong thơ”.
Thứ hai, khảo sát những công trình ít nhiều đề cập về vấn đề này,chúng tôi thấy rằng hầu hết các tác giả mới chỉ viết dựa trên những cảmthức chủ quan mà không đưa ra những phân tích thuyết phục cũng như
không nêu được phương thức thể hiện và giá trị của “chất hội họa trong
thơ” Chẳng hạn, trong bài viết Trong thơ có hoạ, Đỗ Văn Hỷ cho rằng:
“Để gây ấn tượng trong lòng người, thơ phải tìm cho nó một phương thức biểu đạt mang tính chất tạo hình cả về hai mặt: ngôn ngữ và ý cảnh Nắm
được phương thức này tác giả Khởi thượng phú sao đã viết: “ Thơ mà vẽ
ảnh vẽ thanh, thực đúng như hư như thực; thơ hoặc theo vang theo bóng cũng là nên đạm nên nồng” Muốn đạt mục đích này thơ phải nhờ tới phương thức biểu hiện của hội hoạ” [17;25] Ở đây, Đỗ Văn Hỷ đã chỉ ra
vận dụng phẩm chất của hội hoạ sẽ khiến những bài thơ gây được ấn tượngmạnh trong lòng bạn đọc, song không hề có thêm những dẫn chứng, nhữngphân tích cụ thể vì vậy nhận định vẫn chưa đạt đến độ hoàn chỉnh mà chỉ là
sự nửa vời Hay như trong Thơ Bà Huyện Thanh Quan - niềm vui và nỗi buồn, PGS TS Trần Thị Băng Thanh cũng mới chỉ dừng lại ở những cảm
nhận ban đầu về chất hội hoạ: “Nhìn lại, cả sáu bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan đều thuộc thể loại thơ vịnh Đó là mấy bức tranh thuỷ mặc
Trang 4chấm phá mà bằng tài hoa riêng nữ sĩ đã nêu lên được những nét đặc trưng tiêu biểu”[50;38]
Thứ ba, một vài tác giả lại cho rằng ngôn ngữ tiếng Việt phong phú,
có nhiều từ chỉ màu sắc và các sắc thái của màu, ví dụ như màu trắng cótrắng ngà, trắng tinh, trắng sữa …; màu đỏ có đỏ son, đỏ chói, đỏ rực, đỏcam ; màu xanh có xanh lá cây, xanh lơ, xanh thẫm, xanh da trời, xanhbiếc … Ngôn từ đa dạng, giàu sức gợi tả nên việc thơ có chất hoạ là đươngnhiên, không phải bàn cãi Nhưng điều đó chỉ đúng ở một khía cạnh đó làngôn ngữ tiếng Việt tạo ra sự thuận lợi cho công việc sáng tác thơ, chứchưa chỉ ra được chất hội hoạ trong thơ là gì Hoặc một số người lại chorằng bài thơ cứ nhiều màu sắc ấy là có chất hội hoạ Đó thực sự là mộtnhận định phiến diện, sai lầm bởi có nhiều bài thơ mặc dù cả bài chỉ có một
từ chỉ màu sắc hay thậm chí không có một từ nào song vẫn đậm chất hộihoạ giống như những bức tranh thuỷ mặc của Trung Quốc tuy được vẽbằng mực Tàu nhưng lại là những hoạ phẩm trác tuyệt
Trong số các tài liệu đã khảo sát, chúng tôi đặc biệt chú ý đến các
công trình: Văn học và các loại hình nghệ thuật (Lê Lưu Oanh), Luận văn Thạc sĩ ngành Ngữ Văn - Một số đặc trưng cảnh giới nghệ thuật trong thơ Vương Duy của tác giả Trần Thị Thu Hương và Luận án Tiến sĩ ngành Lịch sử mỹ thuật - Chất hội hoạ trong thơ và chất thơ trong hội hoạ Việt Nam của tác giả Lê Văn Sửu Chúng tôi nhận thấy ở các công trình kể trên
những nét ưu trội như sau:
- Trong Văn học và các loại hình nghệ thuật, tác giả Lê Lưu Oanh
đã viết về mối quan hệ giữa văn học và nghệ thuật tạo hình, trong đó có đềcập đến mối quan hệ giữa văn học nói chung và thơ ca nói riêng với hội
hoạ Từ đó, tiến hành khảo sát về bút pháp tạo hình trong bài Tràng giang
(Huy Cận) và bút pháp hội hoạ trong một số bài thơ của Vương Duy Ởđây, tác giả đã soi chiếu thơ ca từ góc nhìn hội hoạ rồi bước đầu chỉ ranhững phẩm chất của hội hoạ đã ảnh hưởng đến thơ ca như: cách xử lý các
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 5chiều không gian để tạo dựng cảnh vật, bút pháp vẽ mây nảy trăng, cách xử
lý thời gian, bố cục, màu sắc…
- Đến Một số đặc trưng cảnh giới nghệ thuật trong thơ Vương Duy, Trần Thị Thu Hương đã dành một phần nội dung để trình bày những
kiến giải về chất hội hoạ trong thơ Vương Duy Trên cơ sở lý luận hội hoạnhư luật viễn cận, màu sắc, bố cục không gian, … tác giả đã chỉ ra rất rõràng, hệ thống biểu hiện chất hội hoạ và giá trị thẩm mĩ của chất hội hoạtrong các sáng tác thơ của nhà thơ – nhà hoạ sĩ tài ba này
- Còn trong Chất hội hoạ trong thơ và chất thơ trong hội hoạ Việt Nam, tác giả Lê Văn Sửu lần đầu tiên đã đưa ra được những luận điểm có
tính hệ thống và hết sức sâu sắc về chất hội họa trong thơ Luận án đãkhắc phục được những hạn chế của các công trình đi trước, đồng thời hệthống hoá vấn đề theo một hướng tiếp cận khoa học, đúng đắn, đó lànghiên cứu chất hội hoạ trong thơ đặt trong mối quan hệ của hội hoạ vàthơ ca và dưới ánh sáng của lý luận hội hoạ Từ đó, luận án đã nêu lênđược khái niệm, chỉ ra được những phương thức biểu hiện cụ thể của chấthội hoạ trong thơ như đặc điểm về không gian, màu sắc, cảm quan hộihoạ, … và đánh giá được giá trị của chất hội hoạ trong thơ qua việc phântích một số tác phẩm thơ trung đại tiêu biểu như chùm thơ của Bà Huyện
Thanh Quan, một số trích đoạn trong Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm), Truyện Kiều (Nguyễn Du) … và một số tác phẩm thơ Mới như: Tràng giang (Huy Cận), Mùa xuân xanh (Nguyễn Bính), Chợ Tết (Đoàn Văn Cừ) …
Nhìn chung, trong phạm vi tư liệu chúng tôi bao quát được, chúngtôi nhận thấy rằng: hiện nay lý thuyết về chất hội hoạ trong thơ nói chung
vô cùng ít ỏi và còn có nhiều hạn chế song một số công trình nghiên cứu,bằng cách này hay cách khác, đã đề cập và đưa ra được những kiến giải khásâu sắc, hệ thống về chất hội hoạ trong thơ Chúng tôi sử dụng những công
Trang 6trình này như một tài liệu tham khảo hữu ích, trong đó cũng có gợi ý khoahọc vững chắc cho suốt quá trình thực hiện đề tài của chúng tôi
2.2 Về chất hội hoạ trong thơ Văn Cao
Văn Cao là một tài năng hiếm có của lịch sử nghệ thuật nước nhànhưng dường như thơ ông vẫn là một góc khuất trầm lặng, một khoảngtrống mênh mông còn đang bỏ ngỏ Bởi nếu như số lượng các công trìnhnghiên cứu về thơ Văn Cao đã rất ít ỏi (chủ yếu là do những người bạn thânthiết của ông như Phùng Quán, Nguyễn Thuỵ Kha, Thanh Thảo… vì muốnlưu giữ một tài thơ lỡ thời, lỡ vận mà viết nên) thì số lượng các công trình
đề cập đến chất hội hoạ trong thơ Văn Cao lại hầu như không có
Chúng tôi nhận thấy rằng trong số các tài liệu về tác giả, chỉ thấy đâu
đó lẩn khuất một vài nhận định ngắn có liên quan đến vấn đề chất hội hoạtrong thơ ông mà chúng tôi có thể kể ra như sau:
- Trong Văn Cao thơ, Thanh Thảo cho rằng: “Cái nhìn của Văn Cao
trong thơ, nhiều lúc, là cái nhìn của một hoạ sĩ, nó bắt được cái thần của đối tượng chỉ qua một vài nét phác Sự giản lược tối đa, những khoảng trống, những dấu lặng, tự làm khô lại như một củ huệ lan chờ lúc bật mầm …”
- Ở Như một viên gạch kỳ cựu nung ở độ lửa già, Thái Bá Vân lại
đưa ra nhận định: “ Trên thơ ca anh, đời sống chữ nghĩa được sử dụng theo quy luật hội hoạ khá nhiều Ta dễ dàng nhận thấy những sáng tối tương phản, những đậm nhạt thầm lặng, những đường viền nặng nề rồi bỏ quãng trôi chìm vào bóng tối, những chữ sắc nét như dao trổ, hình tượng đẩy dồn về phía trước, những không gian tượng trưng…”
Như vậy, có thể thấy rằng, bước đầu các tác giả khi nghiên cứu vềVăn Cao đã nhận thấy và nêu lên được một trong những nét lớn, đặc sắcnhất về nghệ thuật thơ Văn Cao, đó là dấu ấn của cảm quan hội hoạ trongthơ ông Đây cũng chính là một gợi ý có giá trị cho đề tài khoa học củachúng tôi
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 7Như vậy, sau một quá trình khảo sát và thống kê tài liệu, chúng tôinhận thấy rằng cho đến nay chưa có bất cứ một bài viết hay một công trình
nào lấy Chất hội hoạ trong thơ Văn Cao làm đề tài nghiên cứu Có thể nói,
khoá luận của chúng tôi là công trình đầu tiên trực tiếp đặt vấn đề nghiêncứu chất hội hoạ trong thơ Văn Cao Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện
đề tài, chúng tôi không hề có tham vọng sẽ trình bày một cách triệt để toàndiện, sâu sắc nhất vấn đề mà trong khuôn khổ có hạn của một khoá luận tốtnghiệp chỉ có thể đưa ra một số kiến giải, gợi ý với hi vọng sẽ góp phầnlàm sáng tỏ một trong những đặc trưng cơ bản, đặc sắc của thế giới nghệthuật thơ Văn Cao đó là chất hội hoạ trong thơ ông
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Sáng tác của Văn Cao gồm có thơ và trường ca và chất hội hoạ đượcbiểu hiện trong toàn bộ sáng tác của ông Nhưng do điều kiện khảo sát còngặp nhiều khó khăn nên trong khoá luận này, chúng tôi chỉ tiến hànhnghiên cứu chất hội hoạ trong thơ Văn Cao mà chưa thể tiến hành vớitrường ca
Chúng tôi sử dụng văn bản Tuyển tập thơ Văn Cao, NXB Văn học,
H, 1994 để khảo sát 59 bài thơ được tuyển chọn nhằm tìm hiểu những biểuhiện của chất hội hoạ trong thơ Văn Cao, từ đó thấy được những nét tinh tế,độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ của tác giả này
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong khoá luận này, chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phương phápnghiên cứu khác nhau: phương pháp liên ngành, phương pháp hệ thống,phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, phân loại …
- Phương pháp liên ngành: phương pháp này sử dụng khi đưa ra cơ sở
lý luận về hội hoạ và soi chiếu tác phẩm thơ của Văn Cao dưới ánh sáng của
lý luận này để tìm ra những biểu hiện cụ thể của chất hội hoạ trong thơ ông
Trang 8- Phương pháp hệ thống: phương pháp này sử dụng nhằm mục đíchchỉ ra chất hội hoạ là một đặc điểm lớn, đặc sắc trong hệ thống thơ VănCao nói chung
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: phương pháp này được sửdụng để phân tích những đặc điểm cụ thể của chất hội hoạ biểu hiện trongthơ Văn Cao, từ đó khái quát thành những luận điểm chính
- Phương pháp thống kê, so sánh: thống kê, so sánh là cơ sở để rút ranhững nhận xét, đánh giá về giá trị, ý nghĩa của việc sử dụng chất hội hoạtrong thơ Văn Cao Đồng thời đưa ra những cứ liệu cụ thể, tăng sức thuyếtphục cho những nhận xét, nhận định của khoá luận
Việc sử dụng kết hợp nhiều phương pháp trong một khoá luận giúp chongười viết có thể trình bày vấn đề vừa cặn kẽ, chi tiết lại vừa khái quát, tổnghợp Từ đó làm sáng tỏ nội dung và nêu bật được tính khoa học của đề tài
5 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận và tài liệu tham khảo, khoá luậncủa chúng tôi có cấu trúc như sau:
Chương I: Giới thuyết khái niệm - Những tiền đề của chất hội hoạ
trong thơ Văn Cao
Chương II: Chất hội hoạ phương Đông cổ điển trong thơ Văn Cao Chương III: Chất hội họa phương Tây hiện đại trong thơ Văn Cao
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 9B PHẦN NỘI DUNGChương I: Giới thuyết khái niệm - Những tiền đề của chất hội
hoạ trong thơ Văn Cao
1 Chất hội hoạ trong thơ
Để đưa ra được khái niệm về chất hội hoạ trong thơ, trước hết chúng
ta cần phải hiểu hai thuật ngữ “hội hoạ” và “chất hội hoạ”, bởi đây sẽ là
tiền đề cho việc định nghĩa chất hội hoạ trong thơ
1.1 Khái niệm “hội hoạ”
Hội hoạ là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời Trải qua thời gian,lịch sử hội hoạ đã có những bước phát triển vượt bậc làm phong phú, đadạng cả về lý luận và sáng tác Nghiên cứu về hội hoạ, các tác giả từ nhiềuthế kỷ trước đã đưa ra những định nghĩa về loại hình nghệ thuật này Sauđây, chúng tôi sẽ đưa ra một vài định nghĩa mà chúng tôi cho là xác đáng vì
đã nêu lên được một số đặc trưng của hội hoạ
- Phương Đông:
+ Trương Ngạn Viễn trong cuốn Lý Đài minh hoạ chí cho rằng:
“Hoạ nghĩa là đường biên, như vạch ra đường biên của các thửa ruộng và trang trại”.
+ Sách Từ Minh lại nói: “Hoạ tức là chồng lên, nghĩa là lấy màu
mà chồng lên hình của sự vật”
+ Trong Lâm tuyền cảo chí, Quách Hy khi bàn về nguồn gốc hội
hoạ lại cho rằng hình ảnh là cái làm ra hội hoạ: “Hoạ nghĩa là hình ảnh”.
+ Hoạ sĩ Thẩm Tông Khiên trong trước tác Giới Châu học hoạ phiên lại coi nguyên tắc tượng hình như kiểu của văn tự Trung Hoa mới là
Trang 10cái gốc của hội hoạ Theo ông, “chữ hoạ có nghĩa là một nét bút Nó nắm bắt hình dạng của sự vật, đi từ cổ tay xuống giấy lụa, và với sự tự nhiên tuyệt đối, nó bắt được cả hình dạng và tinh thần của một chuyển động thật trôi chảy Đó là cái nghĩa gốc của từ hoạ”.
- Ở phương Tây:
+ Platon quan niệm, đại ý: Hội hoạ là nghệ thuật sao chép và là nghệ thuật tưởng tượng.
+ Lê – ô – na Đờ Vanh – xi, trên cơ sở xác lập mối quan hệ giữa
nghệ thuật và các khoa học khác, đã đưa ra quan niệm: “Hội hoạ là một khoa học, là đứa con chân chính của thiên nhiên, vì nó chính là con đẻ của thiên nhiên”.
+ An – đơ – rơ Phơ – li – biêng trong Ý niệm hội hoạ hoàn hảo định
nghĩa: “Hội hoạ là một nghệ thuật, nhờ phương tiện hình vẽ và màu sắc nó giới hạn trên mặt phẳng những vật nhìn thấy được”.
+ Ét – ga Đơ – ga cho rằng: “Hội hoạ là nghệ thuật thông thái, nghệ thuật của quy ước”.
- Ở Việt Nam:
+ Theo Từ điển tiếng Việt, hội hoạ là: “Nghệ thuật dùng đường nét,
màu sắc để phản ánh thế giới hình thể lên mặt phẳng”.
+ GS Phạm Công Thành trong cuốn Luật xa gần lại định nghĩa:
“Hội hoạ là một bộ môn nghệ thuật tạo hình, đặc trưng bởi sự biểu hiện không gian trên bề mặt Đấy là một thứ không gian ảo, chỉ có thể ghi nhận bằng thị giác nhờ sự kết hợp của các yếu tố tạo hình như: đường nét, hình thể, màu sắc, sắc độ … tuỳ theo cách vận dụng của cá nhân mỗi hoạ sĩ”.
Các định nghĩa trên dù ít dù nhiều đã nêu được những đặc trưng cơbản của hội hoạ: nghệ thuật của đường nét, sắc màu, mặt phẳng, khônggian … Trong đó, định nghĩa của GS Phạm Công Thành có thể coi là đầy
đủ và toàn diện nhất, bởi định nghĩa đã khái quát được bốn phương diện cơ
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 11bản của hội hoạ, đó là: nghệ thuật không gian, nghệ thuật mặt phẳng, nghệthuật thị giác, nghệ thuật tạo hình Đồng thời, khẳng định được dấu ấn chủquan của người nghệ sĩ Trong khoá luận này, chúng tôi đi theo quan điểmcủa GS Phạm Công Thành.
1.2 Khái niệm “chất hội hoạ”
Ở Việt Nam, cụm từ “chất hội hoạ” được sử dụng trong nghiên cứu
và bình phẩm văn chương, nhưng nó thường được đưa ra như một lời khenngợi mà thiếu một khái niệm cụ thể, chính xác Cho đến nay, khái niệm nàymới chỉ duy nhất được đề cập trong Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Văn Sửu,
năm 2007 Theo ông, “chất hội hoạ là một khái niệm trừu tượng, được cảm nhận thông qua những biểu hiện về các quan hệ của đường nét hay hình mảng, ở những tương quan của màu sắc và sắc độ, ở những hiệu quả không gian do kết hợp các yếu tố tạo hình”.
Trong khoá luận này, chúng tôi lấy nhận định trên của tác giả LêVăn Sửu làm cơ sở khoa học để nghiên cứu
1.3 Khái niệm “chất hội hoạ trong thơ”
Trong nghiên cứu thơ, nhiều người cùng thừa nhận “trong thơ có hoạ”
và điều này làm tăng sức hấp dẫn cho thơ Nhận định này được xem như bắtnguồn từ Tô Đông Pha – nhà thơ, nhà lý luận nghệ thuật xuất sắc nhất thờiTống (Trung Quốc) khi ông xem và thẩm bình những sáng tác của Vương
Duy Tô Đông Pha đã phát hiện ra rằng: “Trong thơ Ma Cật có hoạ, trong hoạ Ma Cật có thơ”.
Theo thời gian, tuy không nghiên cứu sâu sắc và toàn diện nhưng cácnhà phê bình, nghiên cứu cũng đã rất có ý thức lý giải về nhận định trongthơ có hoạ Đến luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử mỹ thuật năm 2007,lần đầu tiên tác giả Lê Văn Sửu đưa ra định nghĩa về chất hội hoạ trong thơ
như sau: “Khái niệm chất hội hoạ trong thơ là chỉ những đặc điểm của phương thức tạo hình trong câu thơ hay trong bài thơ cụ thể khiến người ta
Trang 12liên tưởng đến nghệ thuật hội hoạ, nói cách khác chất hội hoạ trong thơ là những phẩm chất của nghệ thuật hội hoạ được biểu hiện trong nghệ thuật thơ gián tiếp qua ngôn từ.” Chúng tôi đánh giá rất cao định nghĩa trên bởi
tác giả đã dựa trên lý luận về thơ và hội hoạ cũng như mối quan hệ của hailoại hình nghệ thuật này để xây dựng quan niệm đúng đắn, khái quát nhất
về chất hội hoạ trong thơ, từ đó tạo thành cơ sở khoa học vững chắc chochúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài
2 Những tiền đề của chất hội hoạ trong thơ Văn Cao
2.1 Mối quan hệ giữa hội hoạ và thơ ca
2.1.1. Trong mối quan hệ với hiện thực, nghệ thuật được xem nhưmột chỉnh thể thống nhất Nghệ thuật tồn tại dưới dạng hệ thống, gồmnhiều loại hình như: hội hoạ, điêu khắc, văn học, sân khấu, điện ảnh …trong đó, mỗi loại hình nghệ thuật vừa có đặc thù riêng lại vừa có mốiquan hệ qua lại với nhau để cùng thực hiện những nhiệm vụ nghệ thuậtchung của mỗi thời đại Trải qua từng thời kỳ, khi phát triển đến một mức
độ nhất định, người ta nhận thấy rằng, hệ thống phương tiện của một loạihình nghệ thuật không phải bao giờ cũng nguyện vẹn, bất biến mà thườngpha trộn hay vay mượn ở những mức độ khác nhau trong quá trình vậnđộng và phát triển nhằm hoàn thiện mình
Hội hoạ và thơ ca là hai loại hình nghệ thuật hiện hữu sớm nhất vàphổ biến nhất trong lịch sử nhân loại Tuy nhiên hai loại hình này khôngphải cùng phát triển đồng đều, song song mà theo từng thời kỳ lịch sử cókhi loại hình này chiếm ưu thế hơn và ngược lại
Ở phương Tây, thời Trung cổ và Phục hưng, vai trò của hội hoạ lànổi bật và phát triển rực rỡ với những sự tìm tòi về nghệ thuật có giá trịcao, trong khi văn học nói chung và thơ ca nói riêng chưa có được nhữngthành tựu xuất sắc mang tính bứt phá Sang thế kỷ XVII, ở những nước cónghệ thuật tạo hình phát triển, hội hoạ vẫn chiếm ưu thế, người ta quy chiếu
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 13văn học dưới cái nhìn hội hoạ và có khi những quy tắc của hội hoạ đượcchuyển thành quy tắc sáng tạo văn học, thơ ca Đến thế kỷ XIX, khi vănhọc đặc biệt là thơ ca dần dần chiếm lĩnh vị trí độc tôn trong đời sống tinhthần của con người thì nó bắt đầu quay ngược lại chi phối hội hoạ Rấtnhiều những tác phẩm văn, thơ đã trở thành gợi ý quý báu cho các nhà hoạ
sĩ khi sáng tác Chẳng hạn như Gửi Xibêri - một bài thơ của Puskin với nội
dung tố cáo chế độ Nga hoàng tàn bạo đã gợi ý cho Lêvitan vẽ bức tranh
Đường Vlađimia miêu tả con đường dẫn tù khổ sai nổi tiếng của nước Nga
thế kỷ XIX Đến đây, hội hoạ - một lĩnh vực nghệ thuật tạo hình đã “bắt đầu sử dụng những nguyên tắc của nghệ thuật ngôn từ” (Lê Lưu Oanh).
Nhà hoạ sĩ bắt đầu có ý thức tư duy như nhà văn, theo đó, màu sắc, đườngnét, hình mảng … trong một hoạ phẩm không còn đơn thuần chỉ những yếu
tố vật chất nữa mà giống như một “ký hiệu ngôn từ” Bên cạnh đó, hội hoạ
cũng tác động ngược lại và để lại những dấu ấn đậm nét trong thơ ca Đó làcách sử dụng màu sắc, điểm nhìn, tạo bố cục không gian … cho một bàithơ theo lăng kính hội hoạ hay thậm chí cực đoan đến mức: cách tổ chứchình thức câu chữ của một bài thơ cũng tựa như một bức tranh Điều này có
thể bắt gặp trong bài thơ Mưa của Apôlinaine với “các chữ trong các
dòng thơ bị rải tung, nối tiếp nhau từng chữ một theo năm vệt mưa bay”
(Lê Lưu Oanh) Sau đó, đến đầu thế kỷ XX, khi các nghệ sĩ không cònbằng lòng với các quy tắc truyền thống, họ muốn phá vỡ tất cả để giảiphóng văn học, nghệ thuật, hội hoạ và thơ ca đã nỗ lực tìm kiếm một tiếngnói chung để có thể kết hợp những nét ưu việt của hai loại hình nghệ thuậtnày trong một tác phẩm Từ đó, nhân đôi giá trị thẩm mỹ của mỗi loại hình
Ở phương Đông, điển hình là ở Trung Quốc, từ lâu hội hoạ và thơ ca
đã được kết hợp với nhau theo quan niệm “thi hoạ đồng nguyên, hoạ thi thư hợp nhất” Thơ và hoạ cùng chung nguồn gốc xuất phát, đó là những
quan niệm triết học về thế giới, về cái nhìn vũ trụ (coi thiên nhiên là trung
Trang 14tâm, là đại vũ trụ và nhìn nhận con người trong mối quan hệ với thiênnhiên) Thơ và hoạ có chung những nguyên tắc thẩm mỹ (gợi tả, điểmxuyết, ước lệ, chấm phá, tạo dựng các mối quan hệ …) và các khái niệm(thần khí, ý cảnh, thực – hư, …) Chính điều này đã tạo ra một kiểu nhà thơ
- hoạ sĩ nghĩa là người làm thơ am tường hội hoạ và người hoạ sĩ đồng thờicũng là nhà thơ Theo đó, các nguyên tắc tư duy, tạo hình của thơ ca và hộihoạ luôn được kết hợp và bổ sung cho nhau
Như vậy, có thể thấy rằng, dù là ở phương Đông hay phương Tây, thìhội hoạ và thơ ca cũng đều có mối quan hệ gắn bó, mật thiết và điều nàythể hiện rõ nét qua các thời kì trong lịch sử phát triển của hội hoạ và thơ ca
2.1.2 Nếu “vẽ là sự tước bỏ” là nguyên tắc của hội hoạ thì “thơ là gợi” là nguyên tắc của nghệ thuật thơ ca Có lẽ vì cùng chung bản chất coi
sáng tạo là sự giản lược tối đa, điều cốt nhất là gợi được liên tưởng sâu sắctrong lòng người thưởng thức cho nên trong quá trình phát triển, hội hoạ vàthơ ca đã nhanh chóng tìm đến nhau, học tập những đặc trưng cơ bản củanhau để làm giàu thêm cho phương thức phản ánh thế giới của mình
Nếu như hội hoạ tiếp thu ở thơ ca chất trữ tình giàu liên tưởng thì thơ
ca lại tiếp thu ở hội hoạ cách dùng màu sắc, cách phối cảnh, tạo bố cụckhông gian, … khiến cho đọc bài thơ mà người ta có cảm giác như đangđược ngắm một bức hoạ bằng nghệ thuật ngôn từ Chính điều này khiếncho các tác phẩm của mỗi một loại hình trở nên mới mẻ, quyến rũ và hấpdẫn người đọc hơn bao giờ hết Pha trộn đặc tính của hai thể loại sẽ khơigợi rộng và sâu hơn những nhận thức về thế giới hiện thực khách quan, từ
đó làm thoả mãn trí liên tưởng, sáng tạo, nhu cầu khám phá và thẩm mỹcủa con người
Hội hoạ và thơ ca có mối quan hệ gắn bó còn được thể hiện ở chỗnghệ thuật này tác động, gợi nguồn cảm hứng cho người nghệ sĩ sáng tạo ratác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật kia Cụ thể là, khi thưởng thức tranh,
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 15trước vẻ đẹp của bức hoạ, có những nhà thơ đã cao hứng vịnh ngay một bàithơ Ngược lại, có những nhà hoạ sĩ lại phóng bút ứng tác ngay một bứctranh trước những hưng phấn mà một bài thơ mang lại Kết quả là khi hoạ
và thơ cùng kết hợp cộng hưởng, bổ trợ cho nhau thì hiệu quả thẩm mỹ đạtđược ở phía người thưởng thức được nhân gấp bội phần
Như vậy, hội hoạ và thơ ca là hai loại hình nghệ thuật có mối quan
hệ gắn bó mật thiết không thể tách rời Nếu như hội hoạ ảnh hưởng đến thơkhiến cho bài thơ hiện lên sinh động, cụ thể như một bức tranh; thì đến lượtmình, thơ tác động trở lại hội hoạ, khiến cho những bức hoạ trào dâng cảmxúc, khơi gợi những rung cảm sâu sắc nơi người xem
2.2 Văn Cao – nhà thơ, nhà họa sĩ
Văn Cao lúc sinh thời là một nghệ sĩ đa tài Người ta biết đến tên
tuổi Văn Cao không chỉ bởi ông là tác giả bài Tiến quân ca và nhiều giai
điệu đẹp đẽ khác mà còn bởi tài năng hội hoạ cũng như thơ ca của ông
“Văn Cao nhập cuộc không phải bằng tài năng đơn độc mà bằng một thác
lũ nghệ thuật, trùm lấp vòm trời Kinh Đô Văn Nghệ” [36;185] Đến với
thơ, Văn Cao đồng thời cũng đến với hoạ Ông dường như muốn hànhhương về mọi nẻo đường của nghệ thuật để ôm trọn thế giới cho riêngmình Tranh của Văn Cao luôn khiến người xem phải sững sờ, kinh ngạctrước sự hứng khởi để lại dấu ấn rất mạnh mẽ trong các hoạ phẩm của ông.Văn Cao ưa dùng những nét vẽ ấn tượng, giàu chất liên tưởng, suy tư và
luôn muốn phá tan mọi biên giới Văn Cao “vẽ nhanh, và nét bút vung rất mạnh, rất thần, rất thiền” [20;67] “Ông sử dụng cọ và màu cũng sắc sảo mặn nồng không thua gì các hoạ sĩ chuyên nghiệp” [36;192] Có lẽ vì thế
mà bức hoạ Cuộc khiêu vũ của những người tự tử mà Văn Cao đưa đi
tham dự triển lãm tại Salon Unique đã làm giới mỹ thuật không khỏi ngạcnhiên bởi cách sáng tạo mới mẻ trong bút pháp và màu sắc của ông VănCao còn thường tự vẽ tranh minh hoạ cho các nhạc phẩm và thi phẩm của
Trang 16mình Chính điều này đã làm tăng sức hấp dẫn cho những sáng tạo nghệthuật của ông và hơn cả là tạo thành phong cách của riêng tác giả Có thểnói những hiểu biết và cảm quan về hội hoạ có sẵn trong con người VănCao đã thẩm thấu một cách rất tự nhiên vào trong những vần thơ của ngườinghệ sĩ tài hoa này Và kinh nghiệm hội hoạ rõ ràng đã có ảnh hưởng rất
sâu sắc đến cách tổ chức những kí hiệu trong thơ ông “Ta dễ dàng nhận ra những sáng tối tương phản, những đậm nhạt thầm lặng, những đường viền nặng nề rồi bỏ quãng trôi chìm vào bóng tối, những chữ sắc nét như dao trổ, những hình tượng đẩy dồn về phía trước, những không gian tượng trưng …” [36;159] Có lẽ vì thế, khi đọc thơ Văn Cao, người ta thường có
cảm giác đang đứng chiêm ngưỡng một bức hoạ với tất cả những nét vẽ ấntượng và những con chữ như muốn phá tung mọi biên giới để hoà lẫn thơ
ca - hội hoạ của ông lại làm một Cứ như thế, Văn Cao ôm trọn một vùngsáng nghệ thuật cho riêng mình – vùng sáng của những bức hoạ như trôitrong một thế giới huyền hoặc giàu chất thơ và của những bài thơ đậm chấthội hoạ mà đầy dư vị sâu lắng
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 17Chương II: Chất hội hoạ phương Đông cổ điển
trong thơ Văn Cao
Trong khoá luận này, chúng tôi vận dụng lý thuyết về vùng văn hoá
và hệ qui chiếu khu vực, lấy Trung Quốc làm toạ độ qui chiếu Từ đó coinghệ thuật hội hoạ Trung Quốc là điển hình cho hội hoạ phương Đông cổđiển với đỉnh cao là nghệ thuật vẽ tranh thuỷ mặc và tranh cuộn để xemxét, soi chiếu đối tượng nghiên cứu dưới ánh sáng của hệ qui chiếu này
1 Không gian trong thơ Văn Cao
1.1 Hội hoạ là nghệ thuật không gian
Hội hoạ được xem là nghệ thuật không gian, dựa trên những đặcđiểm phản ánh bằng ngôn ngữ nghệ thuật và khả năng tác động đến côngchúng Xét chung, tính chất không gian của hội hoạ biểu hiện ở hai yếu tố:không gian của bức tranh và nghệ thuật diễn tả không gian trên mặt phẳng.Không gian của bức tranh là không gian vật lý tính từ bốn cạnh khungtranh trở ra, còn nghệ thuật diễn tả không gian là không gian nghệ thuật
tính từ bốn cạnh khung trở vào “Trong khoảng không gian được giới hạn bởi bốn khung tranh, hội hoạ mở ra trước trí tưởng tượng của chúng ta một không gian thuần khiết nghệ thuật, nơi đó sự mơ tưởng của chúng ta
có thể trải rộng trong thanh bình” [47;56]
Không gian trong tác phẩm hội hoạ được trình bày dưới nhiều hìnhthức khác nhau với các dạng thức không gian cơ bản: không gian cảm giác,không gian ý niệm và không gian phối hợp Trong đó, mỗi loại không gianđược tạo nên từ các kiểu điểm nhìn khác nhau Không gian cảm giác gợicho ta một sự liên tưởng về thế giới hiện thực, các sự vật và hiện tượngtrong tranh ít nhiều gần giống như chúng ta có thể nhận ra chúng trongcuộc sống hằng ngày Loại không gian này được tạo nên bởi điểm nhìn duynhất có tính chất tĩnh của bức tranh, nghĩa là người quan sát đứng yên,
Trang 18“đóng đinh” vào tâm điểm viễn cận, quy chiếu mọi vật về một điểm tụ.
Ngược lại với không gian cảm giác, không gian ý niệm của hội hoạ lạikhông hề dựng lên một khung cảnh giống với thực tế mà thường mang nhiềuyếu tố ám thị, tượng trưng và chỉ có thể được tiếp nhận bằng sự suy tưởng Ởđây, điểm nhìn không theo quy luật viễn cận thông thường, cách nhìn của tácgiả nhằm thể hiện mối quan hệ của hình tượng nghệ thuật với chủ đề tácphẩm, kích cỡ nhân vật trong tranh vì thế được quy định bởi thứ bậc địa vịcủa nhân vật trong xã hội chứ không phải khoảng cách trong không gian.Khác với hai loại không gian trên, không gian phối hợp là không gian hội
hoạ mang nhiều nét thẩm mỹ độc đáo, đặc sắc nhất Nó không phải là “hình thức chiết trung sinh ra từ hai loại trên dù nó mang đặc điểm của cả hai”.
Phối cảnh ước lệ thể hiện cách nhìn và lối nghĩ trước đối tượng khác với hailoại phối cảnh trên Nó không miêu tả sự vật, hiện tượng theo một điểm nhìnnhư không gian cảm giác, cũng không loại bỏ hoàn toàn chiều sâu và khoảngcách như trong không gian ý niệm mà là sự kết hợp nhiều chiều của khônggian. Ở đây, điểm nhìn di động, linh hoạt và sáng tạo trong cách chiếm lĩnhhiện thực khách quan Vì vậy, mặc dù có thể bức tranh là sự lắp ghép, đồnghiện của nhiều tình tiết, lớp cảnh khác nhau cả về không gian lẫn thời giannhưng vẫn ăn nhập với nhau thành một chỉnh thể
Theo những điều đã trình bày ở trên, không gian trong hội hoạ khôngnhất thiết phải tái hiện lại đúng không gian hiện thực mà có thể là khônggian ý niệm, không gian phối cảnh ước lệ Mỗi loại không gian với những
ưu điểm khác nhau đã đem lại những hiệu quả nghệ thuật khác nhau chocác sáng tác hội hoạ và suy cho cùng cũng là để thể hiện thế giới nội tâm,tình cảm của con người Trên thực tế, tuỳ thuộc vào yêu cầu của trường
phái hội hoạ cũng như hệ ý thức tư tưởng, “gu thẩm mĩ” nhất định của mỗi
người nghệ sĩ mà các tác giả sẽ lựa chọn không gian hội hoạ thích hợp choriêng mình
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 191.2 Không gian trong hội hoạ phương Đông cổ điển
Tranh cuộn được coi là đỉnh cao của hội hoạ phương Đông cổ điển.Những hoạ phẩm thuộc thể loại tranh này không chỉ hấp dẫn ở nội dungchủ đề mà đặc biệt hơn là ở nghệ thuật diễn tả không gian tranh để làmsáng tỏ nội dung chủ đề ấy của người nghệ sĩ Không gian trong tranh cuộnthường là không gian phối hợp Để làm bật chủ đề, nhà hoạ sĩ thường tậptrung vào các tình tiết, là những hình ảnh cụ thể về hoạt động của conngười trong những bối cảnh thiên nhiên, xã hội và lịch sử Trong một bứctranh nhưng người xem có cảm tưởng tác giả dường như phân thân để thựchiện nhiều cái nhìn, không bị giới hạn bởi khoảng cách, biên giới để táihiện cảnh không cùng một thời điểm, bất chấp logic không gian và thờigian mà biến hoá vô cùng linh động
Hoạ gia Trung Quốc không chấp nhận luật viễn cận theo lẽ thôngthường, nghĩa là họ không quan tâm nhiều đến tính chính xác khoa học củaluật viễn cận mà đặc biệt ưa thích sử dụng kĩ pháp điểm nhìn di động
Người ngắm nhìn có “cái nhìn thần thánh” tức là có nhiều cái nhìn cùng
lúc, có khả năng phân thân và thâm nhập mạnh mẽ Điểm nhìn di động vìthế vừa có tính chất không gian vừa có tính chất thời gian Nó phù hợp đặcbiệt với các bức tranh cuộn - những bức tranh mà khi lần giở đến đâu, tabắt gặp đến đó một không gian mới, một thời gian mới
Không gian trong hội hoạ, vì thế, không nhất thiết phải tái hiện đúngnhư hiện thực, như con mắt nhận biết thông thường mà có thể là sự phốicảnh ước lệ giúp thể hiện thế giới nội tâm, tình cảm của con người Chínhđiều đó mới làm nên linh hồn và sức sống của một tác phẩm hội hoạ cũngnhư tạo cho chúng những hiệu quả thẩm mỹ sâu sắc
1.3 Không gian hội hoạ phương Đông cổ điển trong thơ Văn Cao
Khác với hội hoạ, không gian nghệ thuật trong tác phẩm thơ cũng cónhững nét đặc thù riêng biệt Nếu hội hoạ, đặc biệt là hội hoạ cổ điển
Trang 20phương Đông, với nghệ thuật diễn tả không gian phối hợp có thể tái hiệnđồng thời tương quan của các vật trong không gian lên trên một mặt phẳng
dễ dàng bao nhiêu, thì điều đó lại khó khăn và không thể thực hiện nổi ởthơ bấy nhiêu Do đặc điểm là cấu tạo bằng chất liệu ngôn ngữ nên thơ chỉ
có thể diễn đạt các sự vật, hiện tượng theo một trình tự trước – sau, trên dưới, phải – trái theo chiều của không gian và trình tự của thời gian Songcũng chính vì cấu tạo bằng ngôn ngữ nên thơ lại có khả năng biểu hiệnkhông gian trong tính vận động và trong quan niệm của con người, đồngthời có thể chuyển dời không gian hay kết dính nhiều mảng không giankhác nhau mà không tạo cảm giác vô lý, phi logic Theo đó, không giantrong thơ được tái hiện bằng những tưởng tượng, liên tưởng thị giác gợi lêntrực tiếp từ hệ thống ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm.Và không gian nàycũng có những dạng thức như không gian hội hoạ
-Thơ Văn Cao nên hoạ trước hết bởi yếu tố không gian với phối cảnhước lệ rất đặc trưng của nghệ thuật hội hoạ cổ phương Đông Điều nàyđược thể hiện rõ nét nhất ở điểm nhìn trong thơ ông Điểm nhìn trong thơVăn Cao là điểm nhìn dàn trải, không tập trung, cố định mà linh hoạt diđộng để có thể quan sát được kỹ tất cả các đối tượng ở những khoảng cáchkhác nhau, trong những thời điểm khác nhau
Đó là một Đêm mưa với điểm nhìn di động từ xa đến gần, từ viễn
cảnh đến cận cảnh và đặt trong sự vận động của tạo vật, con người đã tạonên một không gian khoáng đạt, thanh bình nơi sông nước Rồi không gian
của Đêm ngàn khi nhìn từ trên xuống thì trùng điệp rừng, nương, đồi:
Vi vu … Rừng lại sang rừng
Xa xôi tiếng đáp cũng ngừng xa xôi Nương nương qua tiếp đồi đồi
Còn khi nhìn lên trên cao, nhìn ra xa thì lại có:
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 21Cầu mây treo giữa gió ngàn Mây bông giăng giữa trăng ngàn đêm sương Sương buông chừng núi vấn vương
Tiếng chim lạ cất tiêu thương buồn trời
Điểm nhìn trong Đêm ngàn khiến người đọc liên tưởng đến phép
“tam viễn” trong hội hoạ Trung Hoa cổ điển Ở bài thơ này, Văn Cao đã đạt đến độ tinh tế trong cách nhìn Đầu tiên là “thâm viễn” khi tác giả miêu
tả sự trùng điệp, hùng vĩ của núi rừng, kế tiếp đến “cao viễn” khi miêu tả cầu mây, gió ngàn, trăng sương và cuối cùng là “bình viễn” để thấy
“sương buông chừng núi vấn vương” Phép “tam viễn” đã đem lại cho
Đêm ngàn của Văn Cao một cảm giác về sự trùng điệp, hùng vĩ cũng như
sự mở rộng, mênh mang, bồng bềnh mờ ảo của cảnh núi rừng Tây Bắc vềđêm Không gian của bài thơ vì vậy mà trở nên khoáng đạt, nên thơ songvẫn đầy bí ẩn
Văn Cao sáng tác thơ rất tự do, phóng khoáng và không hề theo mộtkhuôn khổ nào Có những bài thơ ngắn đến không ngờ, chỉ vẻn vẹn có hai
dòng thơ nhưng lại có những bài thơ dài như một “tiểu trường ca” Đó là
những Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Ngoại ô mùa đông năm 1946, Năm buổi sáng không có trong sự thật, Ba biến khúc tuổi 65 … Và chính
ở những bài thơ dài này, người đọc có thể nhận thấy rất rõ ràng không giantrong thơ Văn Cao là sự kết hợp của đủ mọi góc độ, đủ mọi điểm nhìn – nhìnngang theo không gian, điểm nhìn trên - dưới, điểm nhìn phân tán … rồicuối cùng ghép lại với nhau linh hoạt, chỉn chu như một bức tranh cuộn hài
hoà của nghệ thuật hội hoạ Trung Hoa cổ điển
Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc – tác phẩm tiêu biểu trong giai
đoạn thơ đầu tiên của tác giả và cũng là bài thơ được bình chọn là một trongmột trăm bài thơ hay nhất thế kỷ XX được coi là minh chứng điển hình chokiểu diễn tả không gian nghệ thuật trong thơ Văn Cao Bài thơ gồm có ba
Trang 22đoạn và mỗi đoạn đều được mở đầu bằng hình ảnh “ngã tư nghiêng nghiêng” giống như một điệp khúc đầy ám ảnh Nhịp điệu bài thơ một mặt
vừa gợi nên sự ghê rợn, não nề mặt khác lại gợi liên tưởng về hình ảnh mộtngười đi qua những ngã tư kinh hoàng ấy để chầm chậm thu vào tầm mắtkhung cảnh tang tóc, quằn quại của đường phố đầy rẫy những xác ngườichết Điểm nhìn dịch chuyển, di động giúp nhà thơ bao quát rộng nhất, sâunhất hiện thực khách quan trước mắt
Đầu tiên, trong căn gác, qua cửa sổ, tác giả nhìn về phía “Ô Cầu Rền” để thấy một ngã tư chìm trong “bóng tối âm thầm” chỉ nhìn rõ những đốm lửa chập chờn hư ảo như “hoá tà ma” của những ngọn đèn dầu tù mù treo ở phía sau những chiếc xe chở xác đi qua ngã tư Rồi từ viễn cảnh, tác
giả bắt đầu tập trung điểm nhìn vào cận cảnh để phác hoạ nên khung cảnhthê thảm nơi ngã tư đường phố - không khác gì một địa ngục chốn trần gian
với hình ảnh những con người đầu tóc “rũ rượi” đi lại vật vờ, những tiếng khóc than “não nuột”, tiếng xe chở ma đi vội trong những trận mưa tiền
vàng âm phủ Nhưng oái oăm thay, những hình hài địa ngục mà tác giảquan sát được ấy lại là cảnh ăn chơi đàng điếm, cuồng lạc:
Đôi dãy hồng lâu cửa mở phấn sa
Rũ rượi tóc những hình hài địa ngục Lạnh ngắt tiếng ca nhi phách giục Tình tang… Não nuột khóc tàn sương
Áo thế hoa rũ rượi lượn đêm trường Từng mỹ thể rạc hơi đèn phù thể
Không gian phường Dạ Lạc hiện lên đúng với tên gọi của nó vànhững hình ảnh con người không còn là người nữa mà chẳng khác nào lũquỷ nhảy múa nơi âm ty, địa ngục Không gian ấy khiến tác giả phải định
thần lại, xem mình ở đâu rồi tự khẳng định: “Ta đi giữa đường dương thế” Thế nhưng, nhìn đi nhìn lại tất cả xung quanh, tác giả chỉ nhìn thấy,
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 23nghe thấy, cảm thấy những hình ảnh, âm thanh của sự chết chóc và bản
thân mình như “chiếc - đảo - sống cô độc giữa biển chết chóc bao la”
[36;162]:
Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây…
Tiếng xe ma chở vội một đêm gầy Xác trụy lạc rũ bên thềm lá phủ…
Ai hát khúc thanh xuân hờ ơi phấn nữ Thanh xuân hờ thanh xuân
Bước gần ta thêm chút nữa thêm gần Khoảng giữa tuổi xuân nghe loạn trùng hút tuỷ
Ai huỷ đời trên tang trống nhỉ?
Hay ác thần gõ quách nạo mồ khuya!
Đảo điên… mê say… Thể phách chia lìa, Nghe gieo mạnh chuỗi tiền cười lạnh lẽo!
Tiền rơi! Tiền rơi! Chùm sao huyền diệu Lấp lánh hằng hà gạo rơi! Tiền rơi!
Vàng mấy lá thừa đãi thây phủ chiếu
Tất cả không gian đượm mùi chết chóc, cái chết xâm lấn dần sự sống
và tuổi thanh xuân Người đọc cảm thấy dường như điểm nhìn của tác giả
dừng lại ở đâu thì nơi đó sự sống kết thúc để nhường chỗ cho “ác thần gõ quách nạo mồ khuya” Sự chết chóc không im lặng mà thật ma quái, rùng
rợn Từ khung cảnh ngã tư cụ thể, điểm nhìn lại toả ra khắp nơi trong đoạn
thơ thứ hai Điểm nhìn của tác giả lướt qua những “cửa ô đau khổ”, qua
“bốn ngả âm u”, qua “đài canh”, qua khắp các ngả đường rồi cuối cùng trở
về bên “gác chiếu chăn” để đọng lại nơi tâm thức mỗi người bằng hình ảnh:
Kiếp người tang tóc Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương Một nửa kêu than, ma đói sa trường
Trang 24Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc
Không chỉ dừng lại ở điểm nhìn cận - viễn, di động mà trong bài thơ,
tác giả còn vận dụng điểm nhìn “thấu thị” của hội hoạ để tạo nên chiều sâu
khôn cùng, hun hút cho bức tranh thơ đầy khắc nghiệt Để rồi từ đó dựng
lên một khoảng không ngập chìm trong mưa, “trong phố lội đìu hiu”, trong
“hang tối gục tiêu điều” Tất cả trở thành một con đường “du địa phủ”
quái đản, rợn người Nếu khép lại bài thơ ở đây, chắc chắn không gian thơ
sẽ hoàn toàn trĩu xuống, rơi vào cõi âm huyễn hoặc yêu ma Song Văn Caodường như không chấp nhận cái kết không có hậu ấy, thêm một lần dichuyển điểm nhìn, tập trung tinh lực vào một sự vật mang mầm sống đãkhiến cho không gian bài thơ bớt đi vẻ u ám vốn có mà thay bằng một dựcảm tốt đẹp hơn về tương lai, đó là khi tiếng gà gáy đầu ô báo hiệu đêm đãtàn và một ngày mới đang đến trên khắp phố phường:
Tiếng xe dần xa lánh Khi gà đầu ô kêu
Mọi thứ như được hồi sinh khi điểm nhìn của tác giả chạm vào tiếng
gà gáy đầu ô “Trời sáng! Tất cả những sự ma quái nhờ có bóng tối mà tồn tại, mà hoành hành, mà thắng lợi, vừa gặp ánh sáng ban ngày lập tức tan biến” [36;166] Và cũng vào thời khắc đó, người đọc dường như bừng tỉnh,
như thoát ra khỏi mê lộ của bức tranh thơ đầy rẫy những ám ảnh, nhữngcảnh tượng, những khoảng không ma quái, … dồn dập, liên tiếp mở ra nhưkhi lần giở bức tranh cuộn của hội hoạ Trung Hoa cổ điển - bức tranh diễn
tả địa ngục cõi trần với hình ảnh con người vật vờ như những “linh hồn cô liêu” bởi thể xác đã gửi lại trên chiếc “xe ma chở vội một đêm gầy”.
Với Ngoại ô mùa đông 1946, độc giả lại được chiêm ngưỡng một
bức tranh cuộn là sự lắp ghép tài tình của ba thời điểm, ba không gian khác
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 25nhau Đầu tiên là ký ức về những cái đẹp ngày xưa – cái đẹp của chốn Kinh
kỳ trong thời quá khứ:
Xưa đây lối xóm cầm ca Biêng biếc đèn xanh ngõ khói Vạn cổ thôn hào hoa
Thương nữ Kinh kỳ tụ hội Đàn đáy lạc âm ba
Nơi xưa tối đèn, trăng che lấp rãnh…
Kinh kỳ hôm nay đang mất dần vẻ hoa lệ của ngày xưa, thay vào đó
là cuộc sống ngắc ngoải, leo lét, ảm đạm của mùa đông, cảnh tượng phơibày ra giống như cái chết Đứng ở ngã tư đời, tác giả nhìn xuyên từ quákhứ tới hiện tại và dựng lên một sự chuyển hoá của cảnh sống: vừa đây là
Kinh kỳ hào hoa vậy mà thoắt cái đã trở thành “phố chết” Hà thành qua
cuộc phù hoa nhân thế, như một cánh hoa ném vào ngọn lửa, khô tàn, vỡ
vụn Nhưng “chết” để mà “sinh”, để mà “tái tạo” Tác giả lại đưa điểm
nhìn của mình chạm vào cuộc sinh thành dữ dội của thủ đô Ngoại ô mùađông 46 đã được ngọn lửa kháng chiến làm thành tinh khiết, những kiếpsống leo lét, bần cùng bỗng chốc có một cuộc hoá thân kỳ diệu thành
Trang 26những chiến sĩ anh dũng bảo vệ quê hương Mùa đông ảm đạm cũng nhờthế mà trở nên huy hoàng hơn bao giờ hết:
Ngã tư, chợ Dừa, Khâm Thiên phá đổ Tay thợ thuyền níu giữ xóm thân yêu Ngõ Sầm Công sau mặt phố tiêu điều Nơi nằm nghỉ hơi thở người mỏi sức Ráo mồ hôi nơi cuộc đời tàn lực Nơi say mê tranh đấu của thợ thuyền
Cờ BÚA LIỀM Treo giữa đài Văn Miếu
Ga Hàng Cỏ màu khinh thanh phiến điểu Hàng vạn bó truyền đơn
Sở tan tầm đoàn lũ xéo hoàng hôn Bạn của tôi qua tường voi thắc mắc Nắng sớm chiều người bước lại, kẻ qua…
Nhật lệnh đêm nao Lời gọi của Cha Già
Ôi đoàn thể Bấy nhiêu người đói khổ đã vươn cao Cửa ô cần lao
Cửa ô trụy lạc Cửa ô trầm mặc
Ơi cửa ô, cửa dài dằng dặc Bấy nhiêu người đói khổ đã vươn cao
Ngoại ô mùa đông 46 điêu tàn, lam lũ, nghèo khó, bệnh tật bỗngchốc vụt sáng, vươn cao Bắt đầu từ đây, cuộc sống nảy mầm, hồi sinh trở
lại Cùng một lúc, tác giả nhìn thấu hai thời gian quá khứ “bóng tối ngày
cũ lạnh” và tương lai tràn ngập “ánh nắng ngày mai” cùng tranh tối tranh
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 27sáng Rồi từ đó, mùa đông ngoại ô 46 trở thành nhịp cầu nối sang một mùaxuân mới Ngoại ô sống trở lại nhưng không phải cuộc sống như trước kia
mà là cuộc sống đích thực với những con người mới:
cửa ô!
cửa ô!
cửa ô!
Sôi nổi Oai hùng
Dữ dội
Và dường như là để so sánh, nhắc nhở, điểm nhìn của tác giả lạidành một góc nhỏ dõi về ngoại ô xưa để rồi một lần nữa khẳng định mùaxuân đang đến:
Xưa đây lối xóm cầm ca Bốn mùa ngả nghiêng sa đoạ Phường cũ tan tành vùi xóm lá Mùa xuân về giữa chiến hào xa
Đi hết Ngoại ô mùa đông 46, người đọc dường như được chiêm
ngưỡng một bức tranh cuộn là sự lắp ghép tài tình từng mảng không gian,thời gian của cuộc sống chốn Kinh kỳ Chính cách phối cảnh kết hợp này
đã giúp Văn Cao dựng lại chân thực, sinh động, toàn cảnh một bức tranh
lịch sử hào hùng - bức tranh Ngoại ô mùa đông 46.
Có thể nói rằng, với việc vận dụng một cách tài tình, phóng khoángđiểm nhìn trong hội hoạ cổ điển phương Đông vào trong các sáng tácthơ,Văn Cao đã dựng lên một kiểu không gian phối hợp chuẩn mực khiếncho người đọc luôn có cảm giác được chiêm ngưỡng một bức tranh cuộnTrung Hoa sống động với đủ mọi khuôn hình không gian, thời gian Chínhđiều đó đã tạo nên nét phong cách độc đáo trong sáng tạo nghệ thuật củangười nghệ sĩ đa tài này
Trang 282 Màu sắc trong thơ Văn Cao
2.1 Màu sắc trong hội hoạ
Màu sắc là yếu tố linh hồn của hội hoạ và sức mạnh biểu đạt của
màu sắc đối với hội hoạ là vô tận “Nhờ việc dùng màu sắc mà làm cho các
sự vật dường như có tâm hồn và có sức sống” (Hê – ghen) Vì vậy, nhà hoạ
sĩ phải kết hợp màu thật sinh động, độc đáo để gây những hiệu quả thị giácđầu tiên cho người xem tranh, thưởng hoạ Cần lưu ý rằng giai màu của tựnhiên và của tranh vẽ không trùng nhau, do vậy hoạ sĩ không được quyềnsao chép mà phải biểu hiện để truyền đạt sự hài hoà màu sắc trong tự nhiênbằng các thuốc vẽ trên tranh Màu sắc trong tranh vì thế là một phương tiệnnghệ thuật, một yếu tố ngôn ngữ của hội hoạ Sử dụng những thành tố cơ
bản của hội hoạ như “sắc điệu, màu” là để thể hiện những cảm xúc vui, bình thản hoặc buồn … “Màu sắc, cũng rung động lòng người như âm nhạc, có thể đạt tới cái khái quát nhất và có thể đi từ cái mơ hồ nhất trong
tự nhiên - sức mạnh nội tâm” (Gô – Ganh) Màu sắc trong hội hoạ không
tồn tại cho tự thân nó mà tồn tại để truyền đạt tư tưởng, tình cảm của ngườinghệ sĩ thông qua hình tượng một cách hết sức chân thực Cùng với đườngnét, màu sắc là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất trong việc cấuthành ngôn ngữ của hội hoạ
2.2 Màu sắc trong hội hoạ phương Đông cổ điển
Nhắc đến hội hoạ phương Đông, người ta không thể không nhắc đếntranh thuỷ mặc sơn thuỷ - thứ tranh gây ấn tượng mạnh nơi người thưởnghoạ bởi phong cách dùng màu vẽ hết sức độc đáo của người nghệ sĩ Nghệnhân vẽ tranh thuỷ mặc có thể vẽ nhạt (đạm thái) với kiểu sử dụng màunhạt, đạm bạc hoặc phổ biến hơn là vẽ không (bạch miêu) - kiểu tranh vớinhững sự vật, hiện tượng thường không màu, sơn thuỷ đạm bạc, thanh
Líp: K55A - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi
Trang 29không Màu sắc của tranh chỉ đơn giản là sự kết hợp hài hoà giữa màu đencủa mực Tàu và màu trắng của những khoảng trống
Từ xa xưa, người Trung Quốc đã quan niệm rằng: điều quan trọngnhất của một người nghệ sĩ khi vẽ tranh là phải nắm bắt được vũ trụ ở sựthống nhất, toàn vẹn của nó và việc vẽ một bức hoạ giống như hành đạo,
tập Thiền, phải giữ lấy cái tâm trong sáng, “tĩnh lự” để dễ nắm bắt tinh
thần tạo vật Chính vì vậy, họ e ngại màu sắc sẽ làm rối loạn mắt nhìn,
huyễn hoặc cái tâm con người mà mất đi sự “tĩnh lự” Do đó, tranh thuỷ
mặc không cần tới màu sắc loè loẹt mà chỉ cần một màu mực Nho kín đáo,thâm trầm, hoặc giả có màu thì cũng vô cùng mờ nhạt Chỉ với mực đen màmàu sắc trong tranh thuỷ mặc biến ảo khôn lường và có sức biểu đạt kỳ lạ.Mảng đặc trong tranh có ý nghĩa riêng của nó nhưng sự kỳ diệu của tranhthuỷ mặc lại nằm ở những khoảng trống không có mực, không có màu sắctrong tranh Khoảng trống ấy là nơi người nghệ sĩ và người thưởng lãmđồng sáng tạo để hướng tới sự hoà đồng giữa cái hư và cái thực, giữa conngười và cái vĩnh hằng tuyệt đối Theo đó, thiên nhiên trong tranh thuỷ mặc
đạt tới cao độ của vẻ “tự nhiên thi nhiên” và người thưởng hoạ chỉ có thể
cảm nhận ý vị của bức tranh bằng kinh nghiệm và chiều sâu văn hoá
Như vậy, màu sắc trong tranh thuỷ mặc phương Đông cổ điểnkhông hề rực rỡ, chói chang, ngược lại vô cùng nhạt màu, đạm bạc.Chính quy tắc phối màu đặc biệt này khiến cho sự vật, hiện tượng tìm về
cái bản chất “sắc sắc không không” đậm chất Thiền và tranh thuỷ mặc
nặng về sức gợi tả
2.3 Màu sắc hội hoạ phương Đông cổ điển trong thơ Văn Cao
2.3.1 Như đã nói ở trên, trong Văn Cao nhà thơ có một Văn Cao hoạ
sĩ Có lẽ vì thế mà những kiến thức về hội hoạ được ông vận dụng hết sứcsáng tạo và phóng khoáng trong sáng tác thơ ca của mình Điều đặc biệt làmàu sắc trong thơ Văn Cao thường gợi cho người đọc những liên tưởng
Trang 30đến cách phối màu tranh thuỷ mặc của nghệ thuật hội hoạ phương Đông cổđiển, đó là cách vẽ nhạt màu (đạm thái) và vẽ không màu (bạch miêu)
Khảo sát thơ Văn Cao, chúng tôi nhận thấy rằng màu sắc xuất hiệntrong bức tranh thơ của ông thường là những tông màu nhạt như xanh,vàng, trắng, … Cũng có khi màu sắc không được gọi đích danh mà hiện lênthông qua cảm nhận của độc giả về màu sắc của sự vật trong thực tại kháchquan Có những bài thơ, màu sắc lại bị hư hoá hoàn toàn khiến cho ngườiđọc có cảm giác như rơi vào khoảng trống hư vô, ảo ảnh
Sau đây là bảng số liệu mà chúng tôi đã khảo sát được về yếu tố màusắc trong thơ Văn Cao
Bảng 1: BẢNG THỐNG KÊ VỀ VIỆC SỬ DỤNG MÀU SẮC
TRONG THƠ VĂN CAOSTT Về việc sử dụng màu sắc Số lượng (bài) Tỉ lệ (%)
Bảng 2: ẦN SỐ XUẤT HIỆN CỦA CÁC LOẠI MÀU SẮC
TRONG THƠ VĂN CAOST
Trang 31những bài thơ có sử dụng màu sắc Nhà thơ không ưa dùng màu sắc, màu
mè loè loẹt mà chỉ ưa những gam màu lạnh, màu nhạt, thậm chí là không
hề sử dụng màu sắc một cách trực tiếp mà qua miêu tả, nắm bắt thần tháicủa đối tượng để gợi lên những liên tưởng về màu (sự hư hoá màu sắctrong thơ) Cách dùng màu sắc như vậy khiến cho những bài thơ của VănCao giống như những bức tranh thuỷ mặc được vẽ theo lối bạch miêu hoặcđạm thái của nghệ thuật hội hoạ cổ điển phương Đông
2.3.2 Trong hội hoạ, màu sắc không phải chỉ đơn thuần là màu sắc
mà quan trọng hơn là những cái được gợi lên từ cách dùng màu của ngườihoạ sĩ Đối với Văn Cao, cách dùng màu của ông gợi lên một lối tư duy thơgiàu tính triết lý, suy tưởng đến khắc nghiệt và thậm chí có cả những dấu
ấn của sự “khổ đau, quằn quại, trăn trở của một đời người” Trong thơ,
Văn Cao ưa thích đến kì lạ những tông màu lạnh như vàng, xám gợi nỗibuồn u hoài, màu xanh, màu trắng gợi chiều sâu hun hút của nỗi cô đơnkhông cùng, màu đen của những góc tối … Những màu sắc tuy chỉ làchấm phá song lại là những điểm nhấn ám ảnh, xoáy sâu vào tâm khảm conngười, để rồi vương lại trong không gian hình ảnh cô độc, u buồn của mộtngười nghệ sĩ
Đọc Ai về Kinh Bắc, người ta có cảm giác bị nhấn chìm trong cái sắc
vàng úa tràn ngập không gian thu muôn thuở của đất trời:
Trông qua song cửa: trời vàng úa Mấy lá bàng rơi nhắc nhở thu Chiều ốm cũng đang chầm chậm xuống Sương mù chìm lẫn lá vàng thưa
Bầu trời mùa thu trong thơ Văn Cao không hề có cái cao xanh, khoángđạt mà lại mang một màu vàng tang thương Mấy là bàng rơi điểm xuyếtkhông gian cũng gợi liên tưởng đến một màu vàng úa như dệt tiếp vào khônggian đất trời màu sắc đặc trưng của mùa thu Hơn nữa, màu vàng tập trung ở