Lãng mạn và đa cảm là vậy, Thiên Bình dễ dàng có được những thể nghiệm tìnhyêu phong phú: đó là lí do đã không ít người đến và đi trong cuộc đời Xuân Quỳnh.Cũng có người cho rằng, Thiên
Khái quát chung
Tìm hiểu chung về nhà thơ Xuân Quỳnh
Xuân Quỳnh tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10 năm
1942 tại xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là phường La Khê, quận Hà Đông, Hà Nội), Xuân Quỳnh sinh ra trong một gia đình công chức Mẹ mất sớm, bố thường xuyên công tác xa, nên cô được bà nội nuôi dưỡng từ nhỏ đến khi trưởng thành Cô được thừa hưởng nhan sắc, phẩm hạnh từ người mẹ và tình yêu văn chương của người cha, nhưng cuộc đời sớm chịu nhiều thiệt thòi, tuổi thơ bị đánh cắp Khi lên hai tuổi, Xuân Quỳnh mồ côi mẹ, cha có gia đình mới và chuyển vào miền Nam sinh sống; Xuân Quỳnh cùng chị gái Đông Mai nương tựa vào bà nội.
Tháng 2 năm 1956, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa Bà đã nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới năm 1959 tại Vienna (Áo) Nhưng say mê thơ, bà đã quyết định từ bỏ ánh đèn sân khấu để chuyên tâm sáng tác Xuân Quỳnh theo đuổi nghiệp văn chương khi chỉ có vốn văn hoá lớp 6, bà đã cần mẫn học tập trong suốt cuộc đời cầm bút Sau khi tốt nghiệp lớp bồi dưỡng viết văn của Hội nhà văn ở Quảng Bá, bà đã trải qua nhiều công việc khác nhau, cuối cùng về làm biên tập thơ ở báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt Nam và nhà xuất bản Tác phẩm mới Xuân Quỳnh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1967.
Xuân Quỳnh tham gia kháng chiến chống Mỹ tại tuyến lửa Vĩnh Linh, Quảng Trị, và cho ra đời hai tập thơ Hoa dọc chiến hào và Gió Lào cát trắng, được xem là gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ trẻ thời chống Mỹ Dù đạt được nhiều thành công với văn chương, hạnh phúc gia đình của bà sớm tan vỡ Năm 1973, bà tái hôn với nhà viết kịch Lưu Quang Vũ và sống hạnh phúc cho đến ngày 29/8/1988, khi cả gia đình nhỏ của Xuân Quỳnh thiệt mạng trong một tai nạn giao thông ở cầu Phú Lương – Hải Dương.
Xuân Quỳnh đã ra đi nhưng để lại cho đời một cõi tình thơ ngọt ngào và sâu lắng, làm nhớ thương biết bao thế hệ độc giả Những thi phẩm của chị mang giá trị vượt thời gian, được bén rễ từ một tâm hồn đầy yêu thương, vị tha và bao dung với đời Di sản và tài năng của Xuân Quỳnh hứa hẹn đóng góp vĩ đại cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam.
Xuân Quỳnh – Thiên Bình dịu dàng nhưng đầy bản lĩnh
Xuân Quỳnh sinh ngày đầu tháng 10 năm 1942, là một nữ sĩ mang đúng chất Thiên Bình với những đặc điểm thường được nhắc đến: xinh đẹp, tài hoa, lôi cuốn Tuy không phải tuyệt sắc giai nhân, nhưng vẻ đẹp của cô thể hiện qua sự bình dị, giản đơn, luôn ngợi lên những điều ngọt ngào và hấp dẫn mà khó gọi tên Mồ côi mẹ từ nhỏ, Xuân Quỳnh mang theo khát vọng được vòng tay che chở và một mái ấm đầy hạnh phúc Chính vì vậy, người đời sau nhận ra sự dịu dàng, đằm thắm của cô không chỉ hiện diện trong từng bài thơ mà còn lan tỏa trong cách cô vun vén tổ ấm, hết lòng và tận tâm với gia đình.
Thiên Bình mang tới lãng mạn và sự đa cảm, dễ có những trải nghiệm tình yêu phong phú và khiến cuộc đời Xuân Quỳnh chứng kiến nhiều người đến đi Có ý kiến cho rằng Thiên Bình không phải kẻ hết mình với tình yêu vì hay lưỡng lự và hời hợt, nhưng với Xuân Quỳnh thì khác: họ sẵn sàng đáp lại câu hỏi muôn thuở "Khi nào ta yêu nhau" bằng sự mở lòng, và không ngại buông bỏ những mối tình không hiểu nổi chính mình Bản lĩnh của một Thiên Bình, hay chỉ là khát khao chân ái, khiến họ dám hòa mình vào biển lớn và cam lòng thức tỉnh giữa nỗi nhớ mong bồi hồi.
Bất chấp cả dự cảm chia lìa, không trọn vẹn:
“Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa…”
Lửa đam mê cũng có lúc tàn phai
Nếu tình yêu giữa Quỳnh và Vũ kéo dài vĩnh viễn, có lẽ định mệnh đau đớn đã không ghé thăm họ sớm như vậy, nhưng đời không như mơ Trong hôn nhân đầu, Vũ chỉ là người “biết làm thơ”, chưa thực sự có gì trong tay; khi bước vào cuộc sống cùng Quỳnh, anh được khai phá với kịch, và sự nghiệp thăng hoa đã làm mái ấm bình yên trước đó bước sang trang mới Đỉnh cao nghề nghiệp càng tới, ham muốn chinh phục và cống hiến của người thuộc cung Bạch Dương càng được thúc đẩy: Vũ muốn đưa kịch nói Việt Nam lên tầm cao mới và mang đời sống nghệ thuật đến gần độc giả hơn Quỳnh hiểu và đồng cảm, ủng hộ chồng hết lòng, bởi trong thời kỳ Thiên Bình ấy, gia đình luôn đứng trên hết và cô đã hi sinh nhiều Tuy vậy, khi Vũ càng tỏa sáng thì Quỳnh càng bơ vơ, còn Vũ càng lớn mạnh thì Quỳnh càng mỏi mệt; trong thư gửi cho chồng, cô thẳng thắn thừa nhận cảm giác già đi về thể chất và về sự yên phận của người phụ nữ, thấy mình không xứng đáng với anh Dự cảm mất mát dần trở thành nỗi ám ảnh đeo bám.
Quỳnh hiểu lòng vợ, nhưng ý chí và tham vọng vẫn đẩy Bạch Dương ra khơi, khiến mối tình ngày càng xa rời những mặn nồng thuở ban đầu Cục diện giữa Lửa và Khí thay đổi: Bạch Dương nóng bỏng nhưng không tìm được động lực từ Thiên Bình yếu ớt; Thiên Bình u hoài và ngày càng ngột ngạt, lạc lõng trong vầng quang của Bạch Dương Dù ở bên nhau, hai người dường như không còn tiếng nói chung, và Quỳnh cùng Vũ cũng nhận ra rìa của một mối quan hệ đang rạn nứt.
Vũ đều cảm thấy bất lực trước thực tại tình yêu chua chát này.
Cái kết cho tình yêu định mệnh
Cuối cùng, họ rời đi cùng nhau để làm một phép thử cho tình yêu và xem đam mê ngày xưa có thể cứu vớt thực tại héo mòn hay không Chuyến đi định mệnh của gia đình Vũ – Quỳnh được xem như một hành trình mà Quỳnh quyết ý theo chồng đến một vùng đất khác, mang theo hy vọng tìm lại chút gì còn sót lại của mối tình đẹp đã trải qua nhiều tổn thất Quỳnh và có lẽ cả Vũ cũng mong cho chính mình và đối phương có cơ hội, để tìm lại nhịp nối và sự gắn kết, để những gì đã mất, còn lại, và những gì còn nguyên vẹn không bị rơi vào hư không Thật đáng tiếc, một chuyện tình vốn như chuyện cổ tích dường như khép lại: tận cùng của chuyến đi không mang lại câu trả lời cho hai kẻ sĩ — hai người tình đã từng quấn quýt ấm áp Họ quyết định lìa xa nhau, trả tự do cho nhau, buông tay.
Vẫn là không gì có thể chia cắt nổi Thiên Bình, Bạch Dương và những điều thuộc về chúng ta ngày ấy Định mệnh đến đúng lúc, mang theo Quỳnh và cả những ký ức chưa phai nhạt, gắn kết lại mọi cảm xúc, để mở ra một chương mới đầy ý nghĩa.
Vũ và Xuân Quỳnh để lại cho hậu thế một chuyện tình được kể bằng những giai thoại buồn và đẹp; ở độ chín của sự nghiệp, Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh để lại những áng thơ và ký ức khiến người đọc tiếc nuối, và cả đứa con nhỏ phải lìa đời cùng bố mẹ Tuy nhiên, người ta vẫn nghĩ rằng ở một thế giới khác, Vũ và Quỳnh có thể tìm lại được tình yêu của chính mình, tìm lại được nỗi nhớ mong “cả trong mơ còn thức” đã vô tình đánh mất.
1.1.2.1 Sáng tác của Xuân Quỳnh trước 1975
Xuân Quỳnh bắt đầu đăng thơ trên báo Văn nghệ từ năm 1962 Năm 1963, để đánh dấu thời gian học tập của cô ở Quảng Bá, tập thơ Tơ tằm – Chồi biếc được in và công bố Chồi biếc là sáng tác của Xuân Quỳnh Tập thơ mang một cái nhìn trong trẻo, trẻ trung, có khi bồng bột nhưng rất đằm thắm, chân thành trước cuộc đời.
"Hoa dọc chiến hào" (1968, 29 bài) ghi dấu sự trưởng thành của hồn thơ Xuân Quỳnh và khẳng định sự bất diệt của cái đẹp ngay cả trong hủy diệt, vang lên như một tiếng nói của thời kỳ chiến tranh chống Mỹ Tập thơ phản ánh bền bỉ ý chí và cảm xúc sâu sắc trước mất mát của chiến tranh, đồng thời tôn vinh vẻ đẹp nội tâm vượt lên mọi hiểm nguy Những bài thơ thể hiện sự trưởng thành nghệ thuật, nhịp điệu tinh tế và hình ảnh sắc bén, khắc họa sự kiên cường của con người giữa bom đạn Hoa dọc chiến hào không chỉ ghi lại hiện thực chiến tranh mà còn khẳng định sự vĩnh hằng của cái đẹp, một tuyên ngôn cảm xúc trước sự hủy diệt.
Gió Lào cát trắng, tập thơ của Xuân Quỳnh (1974) gồm 33 bài, ghi lại cảm xúc và suy tư về chiến tranh khi tác giả thực tế ở Quảng Trị Qua những bài thơ ấy, Xuân Quỳnh bộc lộ tình yêu đất nước và sự đồng cảm sâu sắc với con người Việt Nam giữa lửa đạn Tác phẩm nổi bật ở khả năng khắc họa tâm trạng người trong chiến tranh và niềm tin kiên cường của dân tộc Việt Nam trước những thử thách dữ dội.
1.1.2.2 Sáng tác của Xuân Quỳnh sau 1975
Sau 1975, cảm hứng sử thi trong thơ Xuân Quỳnh dần bị thay thế bằng cảm hứng thế sự đời thường, thể hiện qua nỗi niềm lo toan về thế thái nhân tình, sự hữu hạn của đời người và dự cảm mong manh về hạnh phúc; giọng điệu trữ tình đằm thắm, da diết và đầy lo âu là đặc điểm nổi bật nhất của giai đoạn này.
Khái niệm lạ hóa
Chủ nghĩa hình thức Nga là một trường phái nghiên cứu và phê bình văn học có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của cả tư tưởng khoa học lẫn ý thức nghệ thuật, vừa sâu rộng vừa lâu bền, với phạm vi tác động trên toàn thế giới Trường phái này hình thành từ hai nhóm chủ chốt: Nhóm Nghiên cứu văn học, thành lập ở Mát-xcơva năm 1914, do R Ia-cốp-xơn dẫn đầu cùng với các trụ cột như G Vi-nô-cua (1896-1947), O Bríc và B Tô-ma-sép-xki (1890-1957); và Nhóm Hội nghiên cứu ngôn ngữ thơ, cũng thành lập năm 1914 ở Pê-téc-bua, do V Sơ-clốp-xki (1893-) dẫn đầu.
1984) đứng đầu với các thành viên chủ chốt như B Ây-khen-ba-um (1886-1959), L.P. I-a-cu-bin-xki (1892-1945),….
Khái niệm lạ hóa (tiếng Nga: ottrannenie) là tổng hợp các thủ pháp nghệ thuật như nghịch dị, nghịch lí nhằm đạt tới một kết quả nghệ thuật theo đó hiện tượng được miêu tả không còn quen thuộc hay hiển nhiên mà xuất hiện như một cái gì mới mẻ, khác lạ Trường phái hình thức Nga những năm hai mươi đầu thế kỉ XX (Sơ-clốp-xki, I-a-cu-bin-xki, Vi-nô-cua, I-a- cốp-xơn, Tư-nha-nốp và các nhà lý thuyết đi cùng) đã xem lạ hóa như một nguyên tắc nghệ thuật phổ quát, hiện diện ở mọi cấp độ của cấu trúc tác phẩm và có tác dụng phá vỡ tính tự động của cảm thụ bằng cách tạo ra một “cái nhìn mới” đối với sự vật và hiện tượng quen thuộc, thay vì chỉ nhận ra cái đã biết Nói cách khác, lạ hóa là cách tác giả làm cho mọi thứ trở nên khác so với cái cũ, mở ra các ý nghĩa mới và phá vỡ các khuôn hình quen để thấu hiểu sâu sắc sự vật và nhân sinh Kiểu tư duy này không chỉ xuất phát từ nhu cầu đổi mới và sáng tạo của nhà thơ mà còn từ các cơ sở khoa học, bản chất của sự sống và nghệ thuật; con người tìm cái khác không phải để lập dị hay làm phiền người khác mà vì cái khác chính là sự sống.
Đặc điểm của thơ lạ hóa
Các nhà hình thức luận Nga mà tiêu biểu là Shkovski cho rằng “lạ hóa” là một trong những thủ pháp rất quan trọng, rất cần thiết để tăng cường chất thơ, cảm xúc của các nhà thơ Thủ pháp lạ hóa được hiểu theo nghĩa là: những điều khác lạ, những điều khác xa với các quy phạm bình thường trong sáng tác văn chương, khiến người tiếp nhận cảm thấy khó tiếp nhận, khó hiểu không thể hiểu được điều nhà thơ muốn bày tỏ là gì, nhà thơ muốn nói gì, đề cập đến vấn đề gì, đọc trong trạng thái mơ hồ, khó hiểu,người đọc thưởng thức tác phẩm trong sự thắc mắc, từ đó thúc đẩy nhu cầu tìm hiểu,khám phá tác phẩm Thủ pháp lạ hóa còn khiến xảy ra sự khác nhau trong cách cảm nhận của người tiếp nhận: mỗi người tiếp nhận sẽ hiểu tác phẩm theo cách tiếp nhận của riêng mình, người tiếp nhận này sẽ có cách hiểu khác với người tiếp nhận kia, mỗi người sẽ có cách hiểu khác nhau, không giống nhau Chính những điều ấy đã khiến thủ pháp lạ hóa trở thành thủ pháp đặc biệt, được sử dụng rộng rãi trong các tác phẩm thuộc trường phái thơ tượng trưng siêu thực Ta có thể thấy thủ pháp lạ hóa trong bài thơ kết hợp đi chệch chuẩn mực ngữ pháp thông thường, lạ hóa, bất ngờ, nhưng đóng vai trò tạo ý nghĩa cho câu thơ, tạo một liên tưởng mới, thì lúc đó "lạ hóa" mới có giá trị, có sức hút đối với người đọc.
Dấu ấn của yếu tố lạ hóa trong thơ Xuân Quỳnh trên thi đàn Việt Nam
Để đáp ứng kịp thời nhu cầu thẩm mỹ của người đọc và nhu cầu hiện đại hóa của thơ, thơ của thời kỳ này không chỉ tiếp nối những thành tựu thơ ca trước đó mà còn khám phá, sáng tạo những nội dung và hình thức mới Sự đổi mới độc đáo được công chúng đón nhận, đánh giá cao xuất phát từ đổi mới quan niệm thơ và tư duy thơ là tiền đề quan trọng cho sự phát triển và đổi mới của thơ Đặc biệt, yếu tố lạ hóa trong thơ Xuân Quỳnh là một minh chứng cho dấu ấn đậm nét trên thi đàn thơ ca Việt Nam từ
Cùng với các thi nhân như Nguyễn Duy, Xuân Diệu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Quỳnh đã mang đến cho thi đàn Việt Nam một tiếng nói của tình yêu và nhu cầu tinh thần trong đời sống con người, đồng thời vẫn tràn ngập cảm xúc và sâu lắng Thơ Xuân Quỳnh được coi là tiếng thơ trữ tình dịu dàng, đằm thắm, dạt dào nữ tính và luôn phản chiếu một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, đầy yêu thương Người phụ nữ là nguồn cảm hứng để Xuân Quỳnh sáng tác nên sắc điệu độc đáo, in đậm dấu ấn trong lòng người đọc, bên cạnh đó ngôn từ của bà vừa dung dị vừa điêu luyện, khiến trái tim bồi hồi khó tả Với giọng điệu da diết, bộc bạch và giãi bày, Xuân Quỳnh gợi lên hình ảnh tinh tế bằng những từ ngữ dễ hiểu, dễ cảm.
“Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”
Hình ảnh trái tim ai ai cũng có là điều bình thường nhưng lại khác thường ở chỗ
“Biết yêu anh cả khi chết đi rồi” là câu mở đầu cho tình yêu vô cùng thiêng liêng nhưng giản dị, bởi nó luôn ở quanh ta và được cảm nhận bằng nhịp đập của trái tim chứ không chỉ nhờ mắt nhìn; thơ ca thời hiện đại trở về với cuộc sống riêng tư, đời thường với những suy tư và trăn trở của một tâm hồn đầy bí ẩn, và hồn thơ dung dị tự nhiên là tiếng nói âm vang từ đời sống rất thực của Xuân Quỳnh.
“Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ Không gian xao xuyến chuyển sang mùa
Tên mình ai gọi sau vòm lá
Lối cũ em về nay đã thu”
(Hoa cỏ may – Xuân Quỳnh)
Thơ Xuân Quỳnh được xây dựng trên những câu chữ giàu hình ảnh nhưng ít âm thanh, với không gian mênh mông mà yên ắng, nơi sông có nước nhưng không gợn tiếng sóng và cây có lá nhưng không xào xạc Những cảnh vật ấy khiến người đọc cảm nhận sự nhẹ nhàng và ký ức ùa về chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi Nàng nhìn thế giới bằng nhãn quan bay bổng, mang lý tưởng phong phú và một tính cách phóng khoáng, yêu đời sâu sắc Lòng người được liên tưởng với trời trong xanh và màu xanh của niềm tin cùng hy vọng, mở ra những rung động tinh tế trong trái tim độc giả Màu sắc trong thơ Xuân Quỳnh có ngôn ngữ riêng, giúp chúng ta suy ngẫm và nghiền ngẫm những khúc mắc của tâm hồn.
Thơ Xuân Quỳnh đẹp như một bông hoa xanh tràn đầy hy vọng giữa muôn sắc hương của thi đàn Việt Nam Sự đơn giản và chân thực được gợi qua từng hình ảnh, vẫn mang đậm nét riêng độc đáo, bộc bạch bằng sự say mê, sôi nổi của trái tim và nốt vang của từng cảm xúc Không cầu kỳ hay khó hiểu trong ngôn ngữ và hình ảnh; kết cấu mạch lạc cùng tư duy sáng tạo chính là yếu tố làm nên sức sống bền bỉ của thơ Xuân Quỳnh trong lòng người đọc.
Đặc trưng thi pháp lạ hóa trong thơ Xuân Quỳnh sau 1975
Lạ hóa về cấu trúc thơ
Thơ là những xúc cảm mạnh mẽ mà nhà thơ có được trước cuộc đời, như nhịp đập của trái tim khi rung cảm; ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó Một bài thơ hay là sự hài hòa giữa âm thanh, nhịp điệu của từ với ý nghĩa, hình ảnh của từ ngữ ấy Khi nhận xét về mối quan hệ giữa ý và nhạc trong thơ, nhà thơ Chế Lan Viên từng nói: “Nếu thơ rơi vào cái vực ý thì thơ sẽ sâu nhưng rất dễ khô khan Rơi vào cái vực nhạc thì thơ dễ làm say lòng người nhưng dễ nông cạn” Một trong những yếu tố tạo nên nhạc tính trong thơ chính là vần Vần là bộ phận chủ yếu của âm tiết, là âm tiết trừ đi thanh điệu và phụ âm đầu Hiện tượng lặp lại vần hoặc có vần nghe giống nhau giữa những âm tiết có vị trí nhất định trong câu.
Thơ truyền thống thường tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc gieo vần để tạo nhịp điệu và tăng sức gợi cảm cho lời ca Đến thơ hiện đại và thơ mới, hiệp vần không còn bị bắt buộc nhưng vần vẫn được dùng như một yếu tố biểu cảm, nhằm tăng vẻ đẹp của thơ và tạo nhạc cho ngôn từ, mô phỏng nhịp sống và tâm hồn người viết Nhờ sự độc đáo trong ngôn ngữ và sự táo bạo trong đổi mới, Xuân Diệu đã tạo nên nhạc tính đặc trưng cho thơ và một thế giới nghệ thuật riêng biệt; trong khi ở Xuân Quỳnh nhạc tính trong thơ được thể hiện bằng một cách tiếp cận khác, vẫn giữ được nhịp điệu và nhạc tính của ngôn từ để nói lên cảm xúc và suy tư của người viết.
Xuân Quỳnh dùng đồng thời thể thơ tự do và yêu thích các thể thơ truyền thống, từ đó tạo nên sự đan xen giữa truyền thống và hiện đại trong thơ, làm mạch thơ trữ tình trở nên tươi tắn và có nhạc điệu độc đáo Khi lần đầu tiếp xúc, người đọc có thể cảm thấy thơ quen thuộc như đã gặp ở đâu đó, nhưng vẫn xuất hiện những cảm nhận mới lạ bên trong Ví dụ điển hình cho sự hòa quyện này là bài Thơ viết tặng anh, thể hiện cách cô mở rộng giới hạn hình thức để diễn đạt những rung động chân thành của mình.
Tháng mười trời trải nắng hanh
Có cô hàng phố phơi chăn trước thềm Gió qua lay động bức rèm Tấm gương trong suốt ánh đèn nê-ông
Việc sử dụng thể thơ lục bát đã làm cho bài thơ của Xuân Quỳnh mang âm điệu du dương, nhẹ nhàng và đậm đà màu sắc dân tộc Mặc dù Xuân Quỳnh thuộc thế hệ nhà thơ mới, bà không quá chú trọng đến niêm luật, cho phép cảm xúc được tự do trong thơ, nhưng nhờ đó thể thơ lục bát vẫn giữ được vẻ mềm mại vốn có Âm điệu không trúc trắc mà êm ái như một lời thì thầm, cho thấy thơ Xuân Quỳnh vẫn uyển chuyển và dễ đọc, dễ thuộc như thể thơ truyền thống.
Thành công nổi bật của Xuân Quỳnh là sự khắc họa thể thơ ngũ ngôn qua các tác phẩm tiêu biểu như Sóng, Thuyền và biển và Thơ tình cuối mùa thu Bên cạnh việc tạo dựng những hình tượng nghệ thuật điển hình cho phong cách thơ riêng, bà còn chinh phục người đọc bằng nhịp điệu thơ quen thuộc, gần gũi, kéo gần khoảng cách giữa người sáng tác và người tiếp nhận thơ ca Thông qua nhịp điệu ấy, Xuân Quỳnh vừa thể hiện nhịp tim của mình vừa làm cho ngôn từ trở nên nhẹ nhàng, duyên dáng nhưng cũng sắc sảo, nồng nàn và da diết.
Ngôi xưng trong thơ Xuân Quỳnh rất gần gũi với cách gọi thân mật hằng ngày: ở ngôi thứ nhất bà xưng “tôi”, “em”, “mẹ”, “ta”, “chúng tôi”; ngôi thứ hai được bà dùng “anh”, “con”, “các anh”; còn ngôi thứ ba, bà dùng “cha tôi”, “anh ta”, “cỏ”, “thuyền”, “sóng” Đặc biệt, trong bài thơ Chị, Xuân Quỳnh đã đưa cả tên mình vào: “Đi qua đường là phải trông xe”, “Chị biết Quỳnh rất hay vô ý”.
Qua những vần thơ tinh tế, Xuân Quỳnh hiện lên như một hình ảnh người phụ nữ nữ tính và giàu cảm xúc, không chỉ dành tình yêu cho chồng và cho con mà còn thể hiện sự dịu dàng và tôn trọng với mẹ chồng, cho thấy lòng thấu cảm và khả năng dung hòa các mối quan hệ gia đình trong thơ ca Việt Nam Những câu thơ của bà vừa đi sâu vào nhịp đập đời sống vợ chồng, vừa mở rộng vòng tay chăm sóc mẹ chồng bằng ngôn ngữ giản dị mà sâu sắc, khắc họa một hình ảnh phụ nữ Việt Nam đầy tình cảm và mạnh mẽ.
Chắt chiu tự những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em
Với từ "chắt chiu", Xuân Quỳnh đã nói lên trọn vẹn tình cảm người mẹ dành cho con và sự biết ơn của người con dâu đối với mẹ chồng Xuân Quỳnh là một giọng thơ trữ tình, linh hoạt, tự nhiên và đầy cá tính Người ta nhận ra sự đằm thắm, sâu lắng trong mảng thơ tình; sự hồn nhiên, dí dỏm trong thơ thiếu nhi; và sự lạc quan, mạnh mẽ trong thơ viết về cuộc sống Những cảm xúc tươi mới kết hợp với kỹ thuật viết tài hoa đã tạo nên một Xuân Quỳnh rất đời mà cũng rất thơ.
Điểm nổi bật của đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Xuân Quỳnh là cách dùng từ ngữ chỉ màu sắc để tạo hình ảnh sống động Với nhãn quan bay bổng và lý tưởng, Xuân Quỳnh vẽ nên những bức tranh thi ca đầy màu sắc và mê hoặc lòng người Gam màu bà thường chọn là những màu sáng bắt nguồn từ thực tế như xanh, trắng, vàng, đỏ, giúp câu chữ hiện lên sinh động và gần gũi Tần suất xuất hiện của từ ngữ chỉ màu sắc trong thơ Xuân Quỳnh rất cao, khiến người đọc dễ nhận ra yếu tố họa trong thơ và cảm nhận được nhịp điệu mơ mộng của bà.
Ở quầy rau hôm nay, hàng bí ngô đứng cạnh hàng bầu tạo nên một dải màu sống động của mùa vụ, trong khi xanh mướt màu xanh rau muống làm nền cho những loại rau củ tươi ngon khác Những bắp cải tròn vo đẫm nước bung tỏa sự tươi mới, lớp rau cần óng ả được xếp đầy ngăn nắp quanh quầy Đỏ ối cà chua chín mọng và vàng rực đậu vàng tỏa sáng giữa sắc xanh và cam, tạo nên một khung chợ đầy sức sống và hương vị tươi ngon cho thực khách lựa chọn cho bữa ăn gia đình.
Trong thơ Xuân Quỳnh, màu xanh được nữ thi sĩ hay sử dụng nhất Màu xanh không chỉ biểu thị sắc màu của thiên nhiên và các tạo vật mà còn là biểu tượng của ước mơ và hi vọng, thể hiện một tâm hồn thơ đầy mơ ước và luôn tươi mới của Xuân Quỳnh.
Nắng đùa mái tóc Chồi biếc trên cây
Lá vàng bay bay Như ngàn cánh bướm
Đa phần màu sắc trong thơ Xuân Quỳnh là những màu cụ thể phản ánh thế giới thực, mang lại cảm giác gần gũi cho người đọc và tạo nên sự khác biệt so với Xuân Diệu, người có một thế giới màu sắc đa dạng, vừa thực vừa hư, thường pha trộn các màu của cảm xúc; trong khi Xuân Quỳnh hầu như không dùng màu mang tính ước lệ, tập trung vào màu chuẩn của sự vật và ít khi pha trộn Thực tế cho thấy các gam màu chuẩn thường không đủ để diễn đạt mọi sắc thái của sự vật nên người ta hay thêm màu pha, một nét tiêu biểu của thơ cổ, và sự thiếu vắng màu pha chính là yếu tố làm nổi bật khác biệt giữa thơ Xuân Quỳnh và thơ Xuân Diệu Bên cạnh khác biệt về lựa chọn từ ngữ, đôi khi hai nhà thơ vẫn dùng những từ giống nhau nhưng mang ý nghĩa và hiệu quả thẩm mỹ khác nhau Cùng xây dựng hình tượng biển để viết về tình yêu, các nhà thơ có thể sử dụng lại từ ngữ tương đồng, nhưng mỗi tác giả lại có cách cảm nhận riêng về biển và tình yêu được thể hiện qua cách diễn đạt và nhịp điệu riêng.
Động từ 'tan' của Xuân Diệu được dùng như biểu tượng cho một tình yêu mãnh liệt, dồn nén và ước muốn cháy bỏng, khiến người đọc cảm nhận sức nóng của một người đàn ông muốn chinh phục và làm tan chảy mọi rào chắn quanh mình Trong bài Sóng của Xuân Quỳnh, động từ ấy vẫn xuất hiện, nhưng cảm xúc mà nó gợi mở lại hoàn toàn khác: 'tan' ở đây mở ra nhịp điệu mềm mại, sự hòa quyện và kiên nhẫn giữa hai tâm hồn, gắn với hình ảnh biển và sóng để nói về sự đồng cảm và bền bỉ của tình yêu Nhờ sự khác biệt này, người đọc thấy sự đa chiều của tình yêu trong thơ Việt Nam: một bên là nhiệt huyết và xâm chiếm, một bên là thấu hiểu, đồng hành và chấp nhận.
Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Ðể ngàn năm còn vỗ.
Trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, động từ “tan” được đặt trong câu “Làm sao được tan ra”, nghe như một câu hỏi tu từ diễn đạt khát vọng được yêu trong một tình yêu rộng lớn và vĩnh cửu Cách thể hiện của Xuân Quỳnh kín đáo, nhẹ nhàng và đằm thắm hơn, tạo nên một nhịp điệu tinh tế và sâu lắng khi diễn đạt khát vọng tình yêu Nữ thi sĩ dùng sự tự hỏi để khẳng định mong muốn được yêu, chứ không bộc lộ một cách trực tiếp và mạnh mẽ như Xuân Diệu, mà vẫn thể hiện tình yêu rộng lớn thông qua sự tế nhị và cảm xúc giấu kín.
Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng tha thiết của một tâm hồn gắn bó với cuộc đời và con người, đồng thời thể hiện khát khao yêu và sự trân trọng hạnh phúc bình dị của đời sống thường nhật Khát vọng sống và khát vọng yêu được gắn với những dự cảm về sự bất trắc của tình yêu và của cuộc đời, làm nổi bật tính mong manh và ý nghĩa của mỗi khoảnh khắc Trong thơ, tình yêu được xem như mái ấm che chở, là cứu cánh nâng đỡ đời người và là động lực để đối mặt với thử thách Đó là tình yêu em muốn nói cùng khát vọng, nguồn gốc của muôn vàn khát vọng và cốt lõi để duy trì sự sống, giúp con người thực sự trở nên người hơn.
Lạ hóa về không gian và thời gian nghệ thuật
Lạ hóa về không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật là nơi tác giả cảm thụ mọi cảnh vật xung quanh, nhập vào đời sống và mọi mặt không gian để hòa nhịp với dòng tư tưởng, cảm xúc và trạng thái tâm hồn, từ đó cất lên những rung động mãnh liệt khi cảnh và người cùng thở Tác phẩm tái hiện thế giới vật chất lẫn tinh thần, khiến người đọc như sống trong không gian của bài thơ, một không gian không chỉ là địa điểm xác định mà còn là một không gian tâm lý mang tính trừu tượng Khi ta đọc thơ, ta đồng hành với nhịp thở và cảm xúc của tác giả, mở rộng nhận thức và cảm nhận sự giao thoa giữa thực tại và sự thâm nhập nội tâm Chính vì vậy, không gian nghệ thuật đóng vai trò là cầu nối giữa thế giới ngoại vật và thế giới nội tâm, nơi hình ảnh và ngôn từ đồng hành để tái hiện đời sống tinh thần một cách sâu sắc và giàu ý nghĩa.
Trong quá trình sáng tác, mỗi nhà thơ khó bỏ qua việc khắc họa không gian nghệ thuật; phong cách riêng biệt giúp họ thâm nhập vào đời sống từ nhiều góc độ, khai thác các vấn đề khác nhau để tạo nên những bài thơ có giá trị và sức hút Không gian làm tăng tính biểu cảm và trữ tình của bài thơ, đồng thời trở thành công cụ nhấn mạnh nhịp cảm xúc Với Xuân Quỳnh, được xem là nữ hoàng thơ ca tình yêu, sự vừa sâu lắng vừa nóng bỏng đã để lại dấu ấn khó phai trong lòng độc giả Đến với vườn thơ của bà, ta cảm nhận một không gian luôn đồng hành với tình yêu và hạnh phúc trọn vẹn, vừa gần gũi quen thuộc vừa sâu thẳm, độc đáo và khác biệt ở mức độ cao Đặc biệt từ sau năm 1975, thơ Xuân Quỳnh có những biểu hiện cách tân và lạ hoá trên nhiều phương diện, trong đó không gian nghệ thuật được làm mới và làm nổi bật hơn.
Một hành trình dài miệt mài khám phá tình yêu và cuộc sống đã làm nổi bật phong cách sáng tạo của nhà thơ Qua từng câu chữ, người nghệ sĩ không chỉ miêu tả không gian mà còn lồng ghép sắc thái tâm trạng, biến bối cảnh thành một biểu tượng của cảm xúc Sự kết hợp này mở ra cách nhìn mới về thế giới và con người, đồng thời làm giàu kho tàng ngôn từ bằng hình ảnh sống động Nhờ vậy, nhà thơ đóng góp cho đời sống văn học sự tinh tế trong việc tái hiện không gian như một phương tiện thể hiện tình yêu, thời gian và những biến đổi của cuộc sống Văn bản vừa ghi nhận hành trình vừa mời độc giả cảm nhận sự giao thoa giữa không gian và nội tâm, mang đến một trải nghiệm thẩm mỹ sâu sắc.
Thơ Xuân Quỳnh đa dạng về không gian, từ những hình ảnh quen thuộc của căn phòng và ngôi nhà cho tới những khoảnh khắc giản dị nơi gia đình sum họp Không gian nhà ở trở thành nơi ấm áp gắn kết tình cảm gia đình, nơi tình yêu được bồi đắp và nuôi dưỡng qua từng câu chữ Những bức hình trong căn phòng, chiếc bàn nhỏ, hay góc sân đều hiện lên như chứng nhân của sự gần gũi và an yên Trong thơ, tình yêu dành cho người thương luôn vượt qua mọi ngăn cách, làm cho mỗi không gian trở nên ý nghĩa và thi vị hơn Chính vì thế, không gian gia đình và tình yêu được xem là nhịp cầu giúp con người cảm nhận sự ấm áp và sự gắn kết bền vững.
Xuân Quỳnh miêu tả hóm hỉnh, đáng yêu nhân rộng ra thành những con đường hướng tới phố phường, hướng đến không gian xã hội rộng lớn hơn:
“Những người đàn ông các anh có bao nhiêu điều to lớn Vượt qua ô của cỏn con,văn phòng hẹp hàng ngày [ ]
Anh là mặt trời, em chỉ là hạt muối Một chút mặn giữa đại dương vời vợi Loài rong rêu ai biết đến bao giờ
(Thơ vui về phái yếu)
Không gian thiên nhiên, từ mái phố đến núi Hoàng Liên, từ gió Lào đến mùa hạ, từ màn đêm đến vịnh, nay trở nên tương thông, tương cảm với con người Sau thời chiến, thơ Xuân ghi nhận và mở rộng sự giao hòa ấy thành hình ảnh sống động của đất nước và tâm hồn, nơi thiên nhiên và con người đồng hành, sẻ chia trong mỗi câu chữ.
Quỳnh biến đổi không gian thơ từ đại dương rộng lớn thành một không gian đa dạng, linh hoạt và gần gũi với nhịp sống hàng ngày Nàng thường lùi lại để quan sát, lắng nghe và cảm nhận thiên nhiên như một người bạn thân thiết, thay vì ép buộc mình hòa nhập một cách gượng gạo Đọc thơ Xuân Quỳnh cho thấy sự hài hòa trong từng dòng chữ, khi thiên nhiên được thể hiện một cách tự nhiên mà không mất đi nhịp điệu và chất thơ riêng Dù qua nhiều thập niên và trước cuộc sống rối ren, phức tạp, cô vẫn giữ được những biến tấu về không gian theo hướng tích cực và lạc quan, mở ra hình ảnh thiên nhiên bình yên, đầy hi vọng.
“ Chỉ có cát và gió Lào quạt lửa Ngọn gió bỏng khi đi thành nỗi nhớ Cát khô cằn ở mãi hoá yêu thương.”
“Mùa hoa phượng chắc rơi hồng mái phố
Những phố phường lầm lụi với lo toan ”
“Bình yên trên những mái nhà Vịnh xanh nước lặng, buồm xa cuối trời
Biết ơn hạt muối mặn mòi Với gừng cay để cho người nhớ nhau”
(Tình ca trong lòng vịnh)
Bài thơ Hoa cỏ may là một tác phẩm hướng ngoại, dựa vào không gian thiên nhiên và sự chuyển mùa từ thu sang để quay về cái tôi và bộc lộ tâm trạng Những mảng màu từ cuộc sống được ghép lại thành một hồn thơ dung dị mà cháy bỏng, phản ánh đúng vẻ đẹp của Xuân Quỳnh – người luôn không ngừng khao khát yêu thương.
“Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ Không gian xao xuyến chuyển sang mùa
Tên mình ai gọi sau vòm lá Lối cũ em về nay đã thu.
Mây trắng bay đi cùng với gióLòng trời như biếc lúc nguyên sơ Đắng cay gửi lại bao mùa cũThơ viết đôi dòng theo gió xa.
Trước khoảng không vô định đầy cỏ may, nhân vật trữ tình cất lên một câu hỏi không cần lời đáp, thể hiện nỗi cô đơn và sự lạc lõng của tâm hồn như chính khoảng không ấy; người kể bộc bạch với đất trời, cây cỏ và sự im lặng của thiên nhiên, mang đến hình ảnh thơ về cô độc và hành trình tìm kiếm ý nghĩa trong vẻ đẹp của cảnh vật.
Khắp nẻo giăng đầy hoa cỏ may Áo em sơ ý cỏ găm dầy Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết lòng anh có đổi thay?”
Khi ta sống hết mình với khát vọng tuổi trẻ và sống có ý nghĩa, mùa hạ vẫn ở bên ta, cho thấy dòng chảy của thời gian và không gian là quy luật tất yếu Tuy vậy, ta vẫn có thể sống như những tháng năm tuổi trẻ, bởi không gian và cảnh vật vẫn giữ nguyên vẻ sáng soi miễn là lòng người tích cực và yêu thương Không gian với bầu không khí tươi vui đầy hy vọng sẽ nâng đỡ tâm trạng người đọc, và cảm hứng thơ Xuân Quỳnh vì thế mang tính nhân văn, mới mẻ, là khúc hát yêu thương dành cho đất nước, con người và cảnh sắc thiên nhiên.
“Trời xanh biếc, nắng trào trên khắp ngả Đất thành cây, mật trào lên vị quả Bước chân người bỗng mở những đường đi [ ]
Cả vạn vật đều phơi trần dưới nắng Biển xanh thẳm, cánh buồn lồng lộng trắng
Từ miền cay đắng hóa thành thơ [ ] Đó là mùa của những ước mơ
Những dục vọng muôn đời không xiết kể Gió bão hòa, mưa thành sông thành bể Một thoáng nhìn có thể hóa tình yêu”
Trong thơ Xuân Quỳnh, chiều dài và chiều sâu của không gian được dùng làm thước đo cho nỗi nhớ và khát khao cháy bỏng Trước năm 1975, bà thường mô tả không gian vô tận, mênh mông qua những hình ảnh như Sóng và Thuyền và Biển để thể hiện sự dạt dào cảm xúc và ước muốn mạnh mẽ.
Vào năm 1975, để đo đạc tình yêu dành cho một người, tác giả vẫn nâng niu và trân trọng ví nó với sự vĩnh hằng, vô hạn của thiên nhiên— một không gian vùng miền, nơi chốn, con nước và đường đi; tình yêu được trình bày như một bản đồ sống của đời người, nơi mỗi vùng miền, mỗi nơi chốn, mỗi nhịp nước và mỗi con đường hiện lên như những dấu hiệu của sự tồn tại bất diệt.
“Sân ga chiều em đi Mênh mang màu nắng nhạt [ ]
Lòng đã Nam có Bắc Anh thương nơi em qua Những sương chiều mưa tối Dặm đường xa nắng dãi Chuyến phà con nước dâng ”
(Sân ga chiều em đi)
Không gian nghệ thuật mà nhà thơ mô tả luôn rộng mở vô hạn và sâu thẳm, giúp người đọc cảm nhận các sắc thái tình cảm trong thơ Xuân Quỳnh ở mức lắng đọng, vang vọng và nặng tình Dù đã ở bên nhau trong tình yêu, trong trái tim người phụ nữ Xuân Quỳnh vẫn hiện lên một niềm riêng, một chút lo lắng và bất an, gợi nên cảm hứng về thời gian và không gian như bị nhói buốt Sự thảng thốt trước sự đổi thay của ngoại cảnh làm lòng nhân vật chạnh lòng, chơi vơi, cho thấy sự nhạy cảm tinh tế đầy nữ tính Đây là cách thể hiện cảm xúc, không gian và thời gian trong thơ Xuân Quỳnh, giúp người đọc cảm nhận được khả năng đối thoại giữa yêu thương và nỗi ngập ngừng của người phụ nữ.
“Mùa thu nay sao bão mưa nhiều Những cửa sổ con tàu chằn đóng Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm
Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh”
Trải qua nhiều thăng trầm của đời người, đặc biệt sau chiến tranh, Xuân Quỳnh để lộ sự khắc khoải và trạng thái luôn băn khoăn xao động, phấp phỏng lo âu; nhưng người phụ nữ ấy dần trưởng thành và mạnh mẽ hơn Trong thời chiến, thơ của bà mang đến cho người đọc niềm phơi phới lạc quan và vẻ trẻ trung, tươi mới qua những hình ảnh nghệ thuật sống động Khi hòa bình trở lại và cuộc sống thường nhật đang tiếp diễn, người phụ nữ ấy vẫn đối mặt với một nỗi lo tiềm ẩn nhưng vẫn nuôi dưỡng một tình yêu đằm thắm, giản dị mà sâu sắc.
“Chẳng có gì quan trọng lắm đâu Như không khí, như màu xanh lá cỏ Nhiều đến mức tưởng như chẳng có Trước cuộc đời rộng lớn mênh mang.
Em hiểu rằng mỗi lúc đi xa Tình anh đối với em là xứ sở
Là bóng rợp trên con đường nắng lửa
Trái cây thơm trên miền đất khô cằn.”
Không gian nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh phong phú và đa dạng, mang tính lạ hóa và gắn với nhiều sắc thái cũng như cung bậc tình cảm, đồng thời chứa đựng những ý nghĩa sâu xa đòi hỏi người đọc cảm nhận tinh tế để thấu hiểu Sau năm 1975, Xuân Quỳnh có sự phá cách trong sáng tác, mang lại những cách tân độc đáo về không gian nghệ thuật, nhưng chất thơ vẫn duy trì vị men say ngây ngất lòng người.
Lạ hóa về thời gian nghệ thuật
Trong các sáng tác của Xuân Quỳnh, thời gian là một hình tượng nghệ thuật vô cùng độc đáo, gắn liền với cách nhìn nhân văn của nữ thi sĩ về con người và cuộc sống Thời gian được nàng sử dụng như một nhịp điệu riêng, vừa là thước đo vừa là chứng nhân cho những biến đổi trong tâm hồn và những trải nghiệm của đời người Với giọng điệu dịu dàng, nhạy cảm, Xuân Quỳnh khắc họa sự mong manh và đồng thời bền vững của thời gian, từ đó phản chiếu các chiều kích của tình yêu, mất mát và hy vọng Hình tượng này không chỉ làm giàu hình ảnh mà còn mở rộng chiều sâu triết lý về con người và cuộc sống, giúp thơ của bà vừa gần gũi vừa mang tính khái niệm, dễ nhớ và tối ưu cho SEO với những từ khóa như thời gian trong thơ Xuân Quỳnh, hình tượng thời gian, nữ thi sĩ, con người, cuộc sống.
Lạ hóa về hình ảnh thơ
Ngay sau năm 1975, thơ Xuân Quỳnh tiếp tục hướng tới sự cách tân, đan xen và giao thoa giữa truyền thống và hiện đại Yếu tố lạ hóa hiện đại được thể hiện rõ, làm cho thơ của nữ sĩ càng tăng sức gợi và hấp dẫn với độc giả yêu thơ.
Bài thơ Cây bàng, trong bài cây bàng được tác giả nhân hóa thành một người bạn che nắng cho nhân vật trữ tình
“Khi vào mùa nóngTán lá xoè raNhư cái ô to Đang làm bóng mát
Bóng bàng tròn lắm Tròn như cái nong
Em ngồi vào trong Mát ơi là mát!”
Những hình ảnh nhân hóa của cây bàng như một con người khiến người đọc cảm nhận rõ sự rét lạnh và sự che chắn của bóng mát qua câu “Lá cành rụng hết; Chắc là nó rét!” và câu “Đang làm bóng mát” Đây phác họa một cây bàng vừa thân thiện vừa cô đơn, hiện lên sinh động trong tâm trí người đọc.
“Lá cành rụng hết Chắc là nó rét!”;
“A bàng tốt lắm Bàng che cho em Nhưng ai che bàng Cho bàng khỏi nắng!”
Đây cũng là một hình ảnh lạ hóa của cây bàng, mở ra hai lớp ý nghĩa trong bài viết Lúc ban đầu, người đọc dễ nhận ra một bài thơ dễ thương và ấm áp Tuy nhiên khi suy ngẫm sâu hơn, hình ảnh cây bàng lại lộ ra sự cô đơn, một nét trống trải đằng sau vẻ dịu dàng Sự đối lập giữa ngọt ngào và cô độc tạo nên chiều sâu nghệ thuật, khiến người đọc vừa mỉm cười vừa phải suy ngẫm về những khoảng trống đằng sau bề mặt giản dị.
Hay trong bài thơ Mùa đông nắng ở đâu?, cũng có nhân hóa hình ảnh nắng
“Nắng thương chúng em giá rét.”; “Nắng làm chúng em ấm tay.”; “Thế mà nắng cũng sợ rét.”; “Nắng chui vào chăn cùng em.”; “Nên nắng vào áo em dày.” Hình ảnh của nắng có ở khắp mọi nơi, nắng tưởng chừng như rất bình thường nhưng nó luôn hiện hữu trong những nét sinh hoạt đời thường của con người
"Mùa đông nắng ở đâu" của Xuân Quỳnh mang lại một cách nhìn mới về nắng, khi trước đây chưa ai nói về nắng như bà và hình ảnh này trở nên lạ mà suốt bài thơ vẫn tỏa sáng Những câu như “Nắng ở xung quanh bình tích”, “Nắng vào quả cam nắng ngọt”, “Nắng lặn vào trong mùi thơm”, “Nắng chui vào chăn cùng em” và “Mà nắng cũng hay làm nũng” tạo nên những hình ảnh hiện thực, trong sáng và rất đời, khiến người đọc cảm nhận sự gần gũi của nắng quanh ta và sức mạnh ấm áp mà nó mang lại cho loài người Nữ thi sĩ đã nhân cách hóa hình ảnh nắng, biến nó thành một con người với cảm xúc và nhu cầu được yêu thương, từ đó nhấn mạnh rằng nắng và tình yêu thương liên kết với nhau để tạo ra sự ấm áp thực sự Bài thơ vì thế vừa tinh tế vừa mạnh mẽ ở chỗ nắng dù giản dị vẫn có sức lan tỏa lớn, nhắc ta nhận ra nguồn ấm áp từ thiên nhiên luôn hiện diện quanh ta.
“- Mùa hè nắng ở nhà ta Mùa đông nắng đi đâu mất?
- Nắng ở xung quanh bình tích Ủ nước chè tươi cho bà
Bà nhấp một ngụm rồi: “khà”
Nắng trong nước chè chan chát
Nắng vào quả cam nắng ngọtTrong suốt mùa đông vườn emNắng lặn vào trong mùi thơmCủa trăm ngàn bông hoa cúc
Nắng thương chúng em giá rét Nên nắng vào áo em dày Nắng làm chúng em ấm tay Mỗi lần chúng em nhúng nước
Thế mà nắng cũng sợ rét Nắng chui vào chăn cùng em Các bạn để ý mà xem Trong chăn bao nhiêu là nắng
Mà nắng cũng hay làm nũng Ở trong lòng mẹ rất nhiều Mỗi lần ôm mẹ, mẹ yêu
Em thấy ấm ơi là ấm!”
Trong thơ Xuân Quỳnh, nhiều hình ảnh lạ được hình thành nhờ nhân hóa các sự vật hiện tượng như trăng, nắng, thiên nhiên và cây cỏ, từ đó gợi lên những hình ảnh mới mẻ cho người đọc Câu hỏi "Mùa đông nắng ở đâu?" mở ra không gian đối thoại với ánh sáng và bóng tối, thể hiện tâm trạng và suy tư của nhân vật thơ bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh Dù dựa trên các biểu tượng quen thuộc, Xuân Quỳnh biến chúng thành những hình ảnh độc đáo, mang lại nhịp điệu mới và sự tinh tế trong tự nhiên và đời sống Những hình ảnh ấy vừa gợi sự gần gũi vừa mở rộng liên tưởng, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về mùa, thời tiết và nguồn sáng trong thơ Việt Nam.
"Chờ trăng" của Xuân Quỳnh dùng phép nhân hóa để tạo ra hình ảnh ông trăng mới lạ, khác biệt so với những gì trước đây từng nhắc đến mặt trăng Nữ thi sĩ miêu tả trạng thái của trăng khi đến rằm và câu thơ "Đi đâu mồng một, ba mươi, mồng hai" cho thấy đêm tối quá khiến trăng như biến mất, câu chữ đảo ngược thứ tự ngày tháng thông thường để tăng sắc thái biểu cảm ngay từ đầu bài Những câu tiếp theo mở rộng hình ảnh mặt trăng bằng phép nhân hóa và so sánh với khuôn mặt con người, gợi lên trạng thái tâm lý của người trữ tình từ bồn chồn chờ đợi đến khi nhìn thấy trăng Bài thơ mang sắc thái vui tươi, mới lạ và nằm trong chùm thơ thiếu nhi của Xuân Quỳnh; nhờ các hình ảnh nhân hóa, bài thơ trở nên sinh động, kích thích trí tưởng tượng của trẻ thơ và hình ảnh một ông trăng giúp các em chờ đợi được cùng chơi.
“Lạy trời trong sáng cho ông trăng về
Dẫu xa xin chớ ngại gì
Có cơn gió mát dẫn đường cho đêm nay, khi tất cả chúng em chờ ông về dưới ánh sao đèn và cùng vui Khi ông trăng đã lên, mọi thứ vừa trong sáng, lại tròn ơi là tròn.
Những hình ảnh thơ trong bài rất gần gũi với độc giả yêu thơ, đồng thời nhờ sự kết hợp lạ hóa hiện đại mà mở ra nhiều hình ảnh mới lạ, không bị bó buộc hay rập khuôn cứng nhắc Hình ảnh thơ lạ hóa tăng sắc thái sinh động cho bài thơ, làm cho ngôn từ và hình ảnh hòa quyện, mang lại trải nghiệm đọc thơ vừa thân thuộc vừa giàu tính sáng tạo.
Hình ảnh trong thơ Xuân Quỳnh vừa mộc mạc vừa mang tính mới lạ, thể hiện sâu sắc cảm xúc và nhịp điệu đặc trưng của nhà thơ Với hành trình sáng tác ngắn ngủi nhưng đầy nhiệt huyết, Xuân Quỳnh đã để lại cho thơ ca Việt Nam một di sản đầy giá trị, làm giàu ngôn ngữ và cảm xúc của văn học nước nhà.
Lạ hóa về ngôn từ và giọng điệu nghệ thuật
Lạ hóa về ngôn từ thơ
Xuân Quỳnh sử dụng ngôn từ đậm chất nữ tính và dạt dào cảm xúc để thể hiện những khía cạnh của tình yêu Những từ ngữ của bà tuy có lúc tưởng chừng vô lý nhưng chứa đựng nỗi niềm suy tư sâu sắc của người con gái khi yêu Có lúc tình yêu mãnh liệt đến mức như làm rung chuyển cả đất trời, có lúc tình yêu trong thơ nữ sĩ nhẹ nhàng, ý nhị mà vẫn tha thiết Nét tình đặc sắc này được thể hiện rõ trong bài thơ Trời trở rét, sáng tác năm 1983, nơi ngôn từ và hình ảnh thi ca gợi lên những cảm xúc tinh tế và sâu sắc về tình yêu Qua đó, độc giả nhận thấy sự giao thoa giữa nữ tính và sức mạnh diễn đạt cảm xúc trong thi ca Việt Nam.
Tác giả sử dụng các từ gợi hình ảnh rất lạ để miêu tả, sự băn khoăn, dậy sóng trong tâm hồn khi yêu:
“Em từ nhà ra tới ngã tư Gặp đèn đỏ trước hàng đinh thứ nhất Chờ sang đường đèn xanh vừa bật
Em lại quay về, thành phố mùa đông
Em đi qua hiệu sách ngoại văn
Cô bán sách ngồi sau quầy lặng lẽ Trong tủ kính sách nằm yên tĩnh thế Nào ai hay bão táp ở từng trang”
Trời Rét (1983) có thể đọc như một ghi nhận giản dị về hình ảnh thành phố và những nỗi niềm của người phụ nữ, nhưng thực chất nó soi chiếu một xáo trộn nội tâm khó nhận diện qua những động tác tưởng như vô nghĩa: người trữ tình đi từ nhà ra ngã tư, gặp đèn đỏ, chờ đèn xanh rồi quay về Hành động ấy thể hiện tâm trạng rối bời và sự khác biệt giữa ngày thường và những suy nghĩ đang dậy lên khi mùa lạnh ghé thăm Dưới vẻ ngoài bình yên, ẩn chứa những điều khó tìm hiểu Khi nhìn những quyển sách trong hiệu sách, nhà thơ thốt lên về sự im lặng của tủ kính và sự nổi trội của những “bão tố” ẩn trong từng trang, cho thấy ngôn ngữ hình ảnh mang tính đột phá khi dùng hình ảnh sách để diễn đạt nội tâm Tuy vậy, cách thể hiện vẫn mang sắc thái mới mẻ và mơ hồ, khiến người đọc phải suy ngẫm về sự đối lập giữa cái nhìn bên ngoài và thế giới riêng tư của nhân vật.
“Bão táp ở từng trang” không chỉ là hình ảnh gợi lên sự dữ dội mà còn là cảm xúc ẩn chứa đằng sau mỗi dòng chữ, buộc người đọc dừng lại suy ngẫm Tác giả không chỉ nhắc đến một cuốn sách đầy sóng gió mà ngụ ý lòng người cũng giống như những trang giấy: không phải lúc nào cũng yên ả, và không phải ai cũng hiểu được những bão táp đang ẩn chứa bên trong Miêu tả cảm xúc của nhân vật trữ tình cho thấy sự bất an thường trực, luôn bị thao thức và suy nghĩ về một điều gì đó, khiến câu chuyện trở nên sâu sắc và giàu nhịp điệu nội tâm.
Ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh giản dị mà tinh tế, vừa gợi cảm vừa mở rộng sức biểu đạt cho người đọc Nhà thơ dùng thủ pháp lạ hóa trong cách diễn đạt, biến những hình ảnh đời thường thành biểu đạt độc đáo và đầy sức gợi, từ đó tạo nên nét đặc trưng riêng cho phong cách sáng tác Sự kết hợp giữa sự chân thành và hình ảnh giàu tính tượng hình giúp ngôn ngữ của bà chạm tới cảm xúc người đọc một cách sâu sắc, đồng thời làm nổi bật tính mộc mạc mà vẫn bay bổng của thơ Nhờ vậy, phong cách Xuân Quỳnh mang đậm dấu ấn trong văn học Việt Nam, vừa dễ tiếp cận vừa có chiều sâu nghệ thuật.
Lạ hóa về giọng điệu thơ
Giọng điệu trong thơ Xuân Quỳnh đặc biệt vì xuất phát từ khao khát tìm kiếm những tâm hồn đồng điệu, nên luôn mang tính chất giải bày và bộc bạch một cách chân thành Giọng thơ da diết lắng sâu, được coi là “giọng điệu của tâm hồn” bởi nhiều nhà phê bình như Lưu Khánh Thơ, mở ra một hành trình cảm xúc chân thật Có lúc Xuân Quỳnh mềm mại, dịu nhẹ; có lúc hóm hỉnh, nao nức; và đôi khi thẳng thắn phô bày cảm xúc, khi trầm lắng và suy tư.
Trong bài thơ Tiếng gà trưa, giọng thơ vui tươi và hóng hỉnh mở ra một khung cảnh kỷ niệm về người lính trên đường hành quân gian khổ Tiếng gà báo hiệu nghỉ trưa giữa cảnh chiến đấu, mang lại niềm vui nhỏ nhoi và sự ấm áp, đồng thời phản chiếu tinh thần lạc quan và sự kiên cường của người lính Qua những hình ảnh giản dị mà sống động—tiếng bước chân, tiếng cười rạn giữa bụi đường, ánh nắng buổi trưa và tiếng gà gáy—bài thơ ghi lại ký ức về những ngày hành quân gian nan, đồng thời tôn vinh ý chí chiến đấu và niềm tin vào ngày mai Với giọng thơ dí dỏm và gần gũi, tác phẩm không chỉ kể lại khó khăn của chiến tranh mà còn làm nổi bật sự bền bỉ của con người trước mọi thử thách.
“Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà ai nhảy ổ:
“Cục cục tác cục ta”
Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ”
Trong sáng tác của Xuân Quỳnh đâu đó ta thường bắt gặp giọng thơ nhẹ nhàn và sâu lắng:
“Bình yên trên những mái nhà Vịnh xanh nước lặng, buồm xa cuối trời
Biết ơn hạt muối mặn mòi và vị cay của gừng để giúp người ta nhớ nhau và giữ mãi những cảm xúc bình yên Xin đừng nhắc chuyện xưa, hãy vui cùng sóng biển, tàu bè và người thương bên cạnh Vịnh này là vịnh của con tim, nơi tình yêu và sự ấm êm của cuộc đời hòa quyện Nhìn đâu cũng thấy nụ cười và tiếng hàng phi lao hát lên những lời mát xanh Một bên là biển, một bên là anh.
Em yêu giây phút chúng mình có nhauNgàn xưa cho tới mai sau
Vịnh xanh như buổi ban đầu tình yêu.”
(Tình ca trong lòng vịnh) Giọng thơ ngọt ngào, sâu lắng, trân trọng phút giây hạnh phúc, tình yêu, tuổi trẻ.
Với giọng thơ trữ tình, giàu cảm xúc cũng được thể đậm nét trong sáng tác của Xuân Quỳnh:
“Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”
Bài thơ khắc họa tình yêu mãnh liệt qua nhịp điệu cắt ngắt độc đáo, khiến cảm xúc như thấm đẫm trong từng câu chữ và trở thành máu thịt của lời nói Tình yêu được thể hiện khi nó nhập vào đời sống thường nhật, biến những điều bình dị mà ai cũng có thành hình ảnh sống động và có sức mạnh lay động Qua đó cho thấy tình yêu không tách rời thực tại mà hòa quyện với nó, làm cho sự hiện diện của cảm xúc trở nên mãnh liệt và tự nhiên hơn khi yêu Cách diễn đạt này mang lại cái nhìn sâu sắc về cách thơ khắc họa tình yêu: vừa dữ dội vừa gần gũi với đời sống của mỗi người.
Nét lạ trong thơ Xuân Quỳnh thể hiện rất rõ qua giọng điệu triết lí suy ngẫm.
Giọng điệu triết lý suy tưởng được thể hiện trước hết qua những dòng suy nghĩ của nhân vật trữ tình, mở ra hành trình suy ngẫm về cuộc sống, về tình yêu và về mối quan hệ cá nhân-tập thể Những suy tư ấy đặt trọng tâm vào cái chung và cái riêng, cho thấy sự gặp gỡ giữa trải nghiệm cá nhân và bức tranh xã hội rộng lớn Qua việc khám phá mối quan hệ giữa con người và cộng đồng, tác phẩm làm nổi bật sự hòa quyện giữa đời sống nội tâm và thực tại tập thể, khiến giọng điệu vừa sâu sắc vừa gần gũi Kết quả là bài viết không chỉ kể chuyện mà còn dẫn dắt người đọc đến những suy ngẫm sâu sắc về ý nghĩa tồn tại và cách chúng ta giao thoa với thế giới quanh mình.
“Giây phút này em nghĩ về anh
Em chợt hiểu chính mình, mình chưa biết Giữa lúc chống kẻ thù cái chết Mình mới đi được hết lòng mình”
Trong bài viết "Xuân Quỳnh- Viết trên đương 20", những câu thơ thể hiện tình yêu của nhân vật trữ tình nhưng đồng thời để lại triết lý sâu sắc trong lòng người đọc, đưa người đọc vào một suy ngẫm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Đó là một hệ tư tưởng về sống cho bản thân hay sống cho mọi người, được thể hiện bằng ngôn từ tinh tế, hình ảnh sống động và nhịp điệu dịu nhẹ Bài thơ mở ra cuộc đối thoại giữa mong muốn cá nhân và trách nhiệm với cộng đồng, gợi lên sự cân bằng giữa tự do cá nhân và sự gắn kết xã hội Triết lý được khắc họa rõ qua sự đối chiếu giữa cái tôi và tập thể, khiến người đọc vừa yêu vừa suy ngẫm về ý nghĩa của sự hi sinh, sẻ chia và lựa chọn sống có ý nghĩa trong đời sống hàng ngày.