NỘI DUNG 1 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 3 CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUỸ BHXH VÀ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH 3 I TỔNG QUAN VỀ BHXH 3 1 Khái niệm BHXH 3 2 Bản chất của BHXH 4 3 Đối tượng[.]
Trang 1MỤC LỤC Trang
LỜI MỞ ĐẦU……… 1
NỘI DUNG……… 3
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUỸ BHXH VÀ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH……… 3
I TỔNG QUAN VỀ BHXH ……… 3
1 Khái niệm BHXH……… 3
2 Bản chất của BHXH……… 4
3 Đối tượng và chức năng của BHXH……… .5
4 Những nguyên tắc cơ bản của BHXH……… 7
5 Hệ thống các chế độ BHXH……… 8
II LÝ LUÂN CHUNG VỀ QUỸ BHXH ……… 9
1 Khái niệm quỹ BHXH……… 9
2 Đặc trưng của quỹ BHXH………10
3 Vai trò của quỹ BHXH……….12
4 Nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH………14
5 Mô hình quỹ BHXH……….17
6 Các nhân tố tác động đến quỹ BHXH……… 18
7 Các nguyên tắc cân đối quỹ BHXH……… 20
III VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH ……… 21
1 Sự cần thiết của đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH ……… 21
2 Đặc điểm của đầu tư quỹ BHXH……… 22
3 Nguyên tắc cơ bản đầu tư quỹ BHXH……… 23
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư quỹ BHXH……….25
5 Sử dụng vốn đầu tư từ quỹBHXH………..26
6 Đánh giá hiệu quả đầu tư quỹ BHXH……… 30
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TĂNG TRƯỞNG QUỸ BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA……… 33
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BHXH VIỆT NAM……… 33
1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của BHXH Việt Nam………… 33
2 Chức năng và nhiệm vụ của BHXH Việt Nam………35
3 Hệ thống tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam……… 37
Trang 2II THỰC TRẠNG QUỸ BHXH VIỆT NAM………40
1 Quỹ BHXH Việt Nam giai đoạn từ trước năm 1995……… 40
2 Quỹ BHXH Việt Nam giai đoạn từ năm 1995 đến nay………
43 3 Quỹ BHXH Việt Nam và nguy cơ mất cân đối quỹ……….54
III THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH VIỆT NAM……… 57
1 Các quy định pháp lý……… 57
2 Thực trạng hoạt động đầu tư quỹ BHXH……… 58
3 Kinh nghiệm đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH ở một số nước và một số trung gian tài chính khác……… 64
CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TĂNG TRƯỞNG QUỸ BHXH VIỆT NAM……….70
I MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN BHXH VIỆT NAM………… 70
1 Mục tiêu phát triển BHXH Việt Nam ……….70
2 Phương hướng phát triển BHXH của Đảng và Nhà nước……… 71
II NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH VIỆT NAM……… 72
1 Đầu tư quỹ BHXH phải đứng trên lợi ích của người lao động, của Nhà nước và của xã hội……… … 72
2 Đầu tư vào các tài sản tài chính là chiến lược lâu dài và quan trọng nhất trong hoạt động đầu tư quỹ BHXH……….73
3 Tham gia vào thị trường chứng khoán……… 74
III GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH VIỆT NAM…… 75
1 Giải pháp nâng cao hiệu quả tạo lập nguồn vốn……… 75
2 Giải pháp tổ chức quản lý nguồn vốn đầu tư……… 79
3 Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư quỹ BHXH ……….79
VI ĐIỀU KIỆN CHO VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH …… 81
1 Về phía Nhà nước……….81
2 Về phía Bảo hiểm xã hội Việt Nam……… 82
KẾT LUẬN………84 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới, BHXH đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm Ngày nay, BHXH đãtrở thành một công cụ bảo vệ hữu hiệu mang tính nhân văn sâu sắc, giúp con người vượtqua được những khó khăn rủi ro phát sinh trong cuộc sống và trong quá trình lao độngnhư: ốm đau, chăm sóc y tế, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất việc làm,tuổi già…Vì thế BHXH ngày càng trở thành nền tảng cơ bản cho ASXH của mỗi quốcgia và được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới
Ở Việt Nam, từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến nay,Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến đời sống cán bộ, công nhân viên cũng như toàndân; cụ thể là luôn quan tâm đến phát triển chế độ chính sách BHXH, trong đó vấn đềđầu tư tăng trưởng quỹ BHXH ngày càng được quan tâm đặc biệt
Kể từ năm 1995 đến nay, số dư quỹ BHXH liên tục tăng; nhưng nếu xét trongtrạng thái “động”, cân đối trong thời gian dài khoản 50 năm thì nguy cơ mất cân đốiquỹ BHXH đã được các nhà hoạch định chính sách và quản lý BHXH dự báo: Nếutính toán theo như chế độ hiện hành thì khoảng năm 2020 thu sẽ cân đối chi, sau đóquỹ giảm dần và đến năm 2030 thì quỹ BHXH sẽ phải đối mặt với nguy cơ mất khảnăng chi trả
Để khắc phục tình trạng thiếu hụt của quỹ xảy ra trong tương lai, tăng tiềm lực tàichính cho quỹ và để giảm nhẹ gánh nặng cho NSNN, thì việc đẩy mạnh hiệu quả đầu tưtăng trưởng quỹ BHXH là giải pháp quan trọng và cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu trên và khắc phục những thiếu hụt quỹ, em đã chọn đề tài:
“Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ Bảo hiểm xã hội ViệtNam trong thời gian tới”
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót,nên em rất mong được sự góp ý đánh giá quý báu của các thầy cô để giúp em nhận thứcsâu sắc hơn về vấn đề này
Để hoàn thành được đề tài này, em đã nhận được rất nhiều sụ giúp đỡ tận tình củagiáo viên hướng dẫn, của các cán bộ đang làm việc tại BHXH Việt Nam nói chung và tạiBan Kế hoạch - Tài chính nói riêng Qua đây cho phép em gủi lời cảm ơn đến Thạc sỹ
Trang 5Nguyễn Ngọc Hương và các cô chú anh chị đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốtquá trình thực tập tốt nghiệp, hoàn thiện chuyên đề này
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh sách tài liệu tham khảo, nội dung chính củachuyên đề gồm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận về quỹ BHXH và đầu tư quỹ BHXH
- Chương II: Thực trạng hiệu quả của hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH
Việt Nam trong thời gian qua
- Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư tăng trưởng
quỹ BHXH Việt Nam
Hà nội, tháng 4 năm 2007 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Huyền Thu
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUỸ BHXH VÀ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH
I TỔNG QUAN VỀ BHXH
1 Khái niệm BHXH
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở và đi lại…Để thoảmãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để làm ra những sản phẩm cầnthiết Khi sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủ
và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn Như vậy, việc thoả mãn những nhu cầusinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ.Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thunhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khănbất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặccác điều kiện sống khác Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đâu hay bị tai nạn lao động, mất việclàm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm…Khi rơi vànhững trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, tráilại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: Cần đượckhám chữa bệnh và điều trị ốm đâu, tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sócnuôi dưỡng…Bởi vậy muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài ngườiphải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫnnhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước…Rõràng, những cách đó hoàn toàn thụ động và không chắc chắn
Khi nền kinh tế phát triển thì quan hệ thuê mướn cũng ngày càng phổ biến và quan
hệ chủ thợ cũng hình thành Để đảm bảo lợi ích của người lao động Chính phủ đã xâydựng lên một quỹ chung do Chính phủ đứng ra tổ chức và yêu cầu:
- Giới chủ phải trích từ phần lợi nhuận thu được một khoản tiền nhất định để đónggóp vào quỹ này;
Trang 7- Giới thợ phải trích từ tiền công, tiên lương hàng tháng một khoản nhỏ để nộp vàoquỹ này;
- Chính phủ hứa sẽ bảo trợ cho quỹ và thậm chí bù thiếu cho quỹ
Quỹ này được sử dụng với mục đích để phân phối lại cho những người lao độngkhông may bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động…Mối quan hệ ràng buộc như vậy đượcthế giới gọi là BHXH đối với người lao động
Cho đến nay vẫn chưa có được một khái niệm chính thống về BHXH Trong đề tàinày chỉ xin đưa ra hai khái niệm khá phổ biến về BHXH:
- “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người laođộng khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làmtrên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống chongười lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội”
- “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua mộtloạt các biệm pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của chính phủ ) để chống lạitình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm mất thu nhập gây ra bởi ốmđau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết Hơn nữa, BHXH còn phải bảo vệcho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết” Đây là kháiniệm về BHXH của tổ chức lao động quốc tế ILO, phản ánh một các tổng quát về mụctiêu, bản chất và chức năng của BHXH đối với mỗi quốc gia Mục tiêu cuối của BHXH làhướng tới sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội, thể hiện sự gắn kết quyền lợi vàtrách nhiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng và của toàn xã hội đối với mỗi người
2 Bản chất của BHXH
Cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người, BHXH được coi là một chínhsách xã hội quan trọng của bất kì Nhà nước nào, nhằm bảo đảm an toàn cho sản xuất, chođời sống vật chất và tinh thần cho mọi người trong xã hội Với cách hiểu như vậy, bảnchất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu:
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xãhội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn laođộng phát triển đến một mức độ nào đó Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng
và hoàn thiện Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượtqua trạng thái kinh tế của mỗi nước
Trang 8- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động vàdiễn ra giữa ba bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH Bên tham giaBHXH có thể chỉ là người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động.Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhànước lập ra và bảo trợ Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ cácđiều kiện ràng buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH
có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: Ốm đau,tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra khônghoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản…Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra
cả trong và ngoài quá trình lao động
- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến
cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tíchlại Nguồn quỹ này do các bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được
sự hỗ trợ từ phía Nhà nước
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người laođộng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm Mục tiêu này đã được tổchức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá :
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầusinh sống thiết yếu của họ;
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật;
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặcbiệt của người già, người tàn tật và trẻ em
Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong những quyền con người
và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thừa nhận
3 Đối tượng và chức năng của BHXH
3.1 Đối tượng của BHXH
BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19, khi nền công nghiệp và kinh tế hànghoá đã bắt đầu phát triển mạnh ở các nước châu Âu Tuy ra đời lâu như vậy, nhưng đốitượng của BHXH vẫn có nhiều điểm chưa thống nhất, đôi khi còn có sự nhầm lẫn giữađối tượng BHXH với đối tượng tham gia BHXH
Trang 9BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi do ngườilao động bị giảm hoặc bị mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyên nhân như
ốm đau, tai nạn, già yếu…Chính vì vậy, đối tượng của BHXH chính là thu nhập củangười lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động,mất việc làm của những người lao động tham gia BHXH
Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng lao động Tuynhiên, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nứoc mà đối tượng này có thể
là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó
3.2 Chức năng của BHXH
Với đối tượng nói trên, BHXH có những chức năng chủ yếu sau:
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểmkhi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Đây làchức năng cơ bản nhất, nó liên quan đến toàn bộ hoạt động BHXH nói chung Sở dĩ nhưvậy vì:
+ Nó góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ từ một nguồnthu nhập khác là BHXH;
+ Việc thay thế hoặc bù đắp ở đây liên quan đến toàn bộ quá trình lao động vàngười lao động, quá trình này thể hiện chủ yếu ở tiền lương tiền công;
+ Việc thay thế hoặc bù đắp ở đây lại phụ thuộc chủ yếu ở quỹ BHXH
- Phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Chứcnăng này góp phần trực tiếp đảm bảo tính công bằng xã hội
- Góp phần kích thích người lao động hăng hái tham gia lao động sản xuất để từ
đó nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội
- Gắn bó lợi ích giữa người lao động - người sử dụng lao động - xã hội Sở dĩ nhưvậy là vì:
+ Cả ba bên đều thấy mình có lợi;
+ Chính sách BHXH ra đời góp phần thực hiện an sinh xã hội không chỉ trongphạm vi quốc gia mà trong phạm vi quốc tế
Trang 104 Những nguyên tắc cơ bản của BHXH
BHXH phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Điều này cũng cónghĩa là khó có thể có những nguyên tắc chung thống nhất áp dụng cho mọi thời kỳ, mọiquốc gia Tuy nhiên BHXH cũng có những nguyên tắc hoạt động cơ bản:
- Nguyên tắc: “Số đông bù số ít”.
Đây là nguyên tắc bất di bất dịch của BHXH nói riêng và của bảo hiểm nói chung
Nó được quán triệt trong quá trình lập quỹ dự trù và chi trả bảo hiểm
- Nguyên tắc: “Đảm bảo mọi thành viên trong xã hội đều có quyền tham gia và được hưởng quyền lợi từ BHXH”;
BHXH là một trong những quyền con người được Đại hội đồng Liên hợp quốcthừa nhận và ghi trong tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/1948 như sau: “Tất cả mọingười với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặttrên cơ sở sự thoả mãn các quyền về kinh tế,xã hội và văn hoá, nhu cầu cho nhân cách và
sự tự do phát triển của con người”
- Nguyên tắc: “ BHXH vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện”;
BHXH bắt buộc là cơ sở để tiến tới thực hiện BHXH toàn dân và tiến tới xây dựng
hệ thống chế độ BHXH tối ưu nhất Tính bắt buộc được thực hiện trong các nghĩa vụtham gia và nghĩa vụ đóng góp, gồm mức đóng góp về tiền và thời gian cần thiết của việctham gia đối với từng chế độ BHXH cụ thể Hơn nữa, tính bắt buộc này được thể hiệnhoá ở hầu hết các nước dưới hình thức các chính sách, chế độ BHXH, cụ thể là nhữngquy định của Chính phủ hay luật BHXH
Tính tự nguyện trong BHXH chính là việc cho phép người lao động tham giaBHXH có quyền lựa chọn hình thức và chế độ tham gia cho phù hợp với nhu cầu và khảnăng của bản thân
- Nguyên tắc: “ Đảm bảo tính công bằng trong xã hội”;
Tính công bằng trong BHXH gồm công bằng trong cơ hội tham gia BHXH, trong
tỷ lệ hợp lý giữa mức đóng và mức hưởng, tất cả nhằm mục đích chủ yếu vì lợi ích của sốđông cộng đồng Mặc dù vậy, tính công bằng tuyệt đối là không thể có vì BHXH cònhoạt động theo một nguyên tắc chung của bảo hiểm đó là nguyên tắc: “Số đông bù số ít”
- Nguyên tắc: “ Xác định mức đóng và hưởng hợp lý”;
Trang 11Đóng và hưởng phải hợp lý thì chính sách BHXH đó mới đảm bảo được tính côngbằng Mặt khác, sự hợp lý này còn ảnh hưởng trực tiếp tới số lượng người tham gia thực
tế, quyết định sự thành công của chính sách BHXH đối với mỗi quốc gia; có như vậyngười lao động mới tự giác đóng góp vào quỹ BHXH theo quy định
- Nguyên tắc: “ BHXH phải đảm bảo chi trả bù đắp được thu nhập cho người lao động để họ có thể duy trì được cuộc sống ở mức tối thiểu khi họ bị mất sức lao động tạm thời cũng như nghỉ hưu”.
5 Hệ thống các chế độ BHXH
Chính sách BHXH là một trong những chính sách cơ bản nhất của mỗi quốc gia,thường được Nhà nước luật hoá căn cứ vào điều kiện kinh tế, xã hội của quốc gia trongmỗi thời kỳ cũng như đặc điểm của nguồn lao động xã hội và việc phân ngành kinh tế xãhội…Còn chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH của mỗi nước; cụ thể hoámục đích của từng chế độ, đối tượng hưởng, điều kiện hưởng, mức hưởng và thời gianhưởng trợ cấp BHXH
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1919), tổ chức lao động quốc tế được thànhlập ( viết tắt là ILO) Sự kiện này đã góp một phần rất quan trọng trong việc phát triểnchính sách BHXH Năm 1952, ILO có khuyến cáo các nước trên thế giới tham gia côngước 102 (Tháng 6 năm 1952 tại Giơne vơ - Thụy Sỹ) Tại công ước này, hệ thống các chế
Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH Tuỳ điều kiện kinh
tế - xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ
Trang 12khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 chế độ Trong đó, ít nhất phải có mộttrong năm chế độ: (3); (4); (5); (8); (9).
Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:
+ Các chế độ được xây dựng theo luật pháp các nước;
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất san sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính;
+ Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bêntham gia BHXH và quỹ dự trữ Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thìmức chi trả sẽ cao và ổn định;
II LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUỸ BHXH
1 Khái niệm quỹ BHXH
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước.Quỹ có mục đích và chủ thể riêng Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng để chi trả chongười lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp những biến cố hoặc rủi ro Chủ thểcủa quỹ BHXH chính là những người tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ, do đó cóthể bao gồm cả: Người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước
Ngân sách Nhà nước và quỹ BHXH có nhiều điểm tương đồng trong quá trình tạolập và sử dụng Hoạt động của NSNN và quỹ BHXH đều không nhằm mục đích kiếm lời.Quá trình hình thành và sử dụng của mỗi loại đều được biểu hiện dưới hình thức giái trị
Trang 13(tiền tệ) Việc thu - chi ngân sách và quỹ BHXH đều được quy định bằng pháp luật và cơchế quản lý phải tuân theo nguyên tắc cân đối nguồn thu và chi …
Tuy nhiên, giữa NSNN và quỹ BHXH có những điểm khác nhau cơ bản NSNN rađời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và thựchiện chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước Bộ máy Nhà nước càng lớn, chức năng vànhiệm vụ càng mở rộng thì thu chi ngân sách càng lớn Quan hệ phân phối của nhà nướcmang tính pháp lý rất cao và dựa vào quyền lực chính trị, kinh tế của Nhà nước Quan hệphân phối này chủ yếu là phân phối lại, không mang tính chất hoàn trả và phản ánh lợiích xã hội, lợi ích quốc gia, nó chi phối các quan hệ, các lợi ích bộ phận và cá nhân nhằmđảm bảo cho nền kinh tế - xã hội được phát triển ổn định Trong khi đó, quỹ BHXH rađời, tồn tại và phát triển với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, các quan hệ thuêmướn nhân công Mặc dù thu - chi BHXH đều được Nhà nước quy định bằng các vănbản pháp luật, nhưng chủ yếu dựa vào quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích giữa các bên thamgia theo nguyên tắc có tham gia thì mới được hưởng quyền lợi BHXH Quan hệ phânphối của quỹ BHXH có tính chất pháp lý thấp hơn NSNN và mối quan hệ này trước hếtphản ánh lợi ích của các bên tham gia BHXH, sau đó mới đến lợi ích xã hội
Như vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng đồng thời là một quỹ dự phòng; nó vừamang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quantrọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển
2 Đặc trưng của quỹ BHXH
Mặc dù là một quỹ tài chính nhưng phục vụ cho mục tiêu xã hội, vì vậy quỹBHXH có những nét đặc trưng riêng khác với những loại quỹ tài chính khác.Cụ thể:
- Việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận
Mục đích khi hình thành quỹ BHXH là nhằm huy động sự đóng góp của người laođộng,người sử dụng lao động, Nhà nước trong một số trường hợp và các nguồn thu hợppháp khác để có một lượng tiền đủ lớn, đảm bảo đủ chi trả các trợ cấp BHXH cho cáctrường hợp bị giảm hoặc bị mất hẳn các khoản thu nhập thường xuyên từ lao động do gặpphải những sự kiện hoặc những “rủi ro xã hội” đã nêu và những chi phí cho hoạt độngthường xuyên của bộ máy BHXH Khác với bảo hiểm thương mại, trong kết cấu phíBHXH không tính phần lợi nhuận của bên bảo hiểm (cơ quan BHXH) Trong tổng phíBHXH chỉ bao gồm phí thuần và phụ phí (bao gồm quản lý phí và phí dự phòng - nếu
Trang 14có) Trong quá trình sử dụng quỹ, các chi phí chi trả trợ cấp BHXH chiếm phần lớn trongtổng chi, phần chi quản lý thường chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp và những chi phí này là nhữngchi phí thực sự cần thiết đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động bình thường.
- Quỹ BHXH vừa có tính chất hoàn trả vừa có tính chất không hoàn trả:
Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ: người lao động vừa là đối tượng tham gia và đónggóp BHXH, đồng thời họ cũng là đối tượng nhận trợ cấp, được chi trả từ quỹ BHXH cho
dù chế độ, thời gian trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi người khác nhau tuỳ thuộc vàonhững biến cố, rủi ro mà họ phải gặp, cũng như mức đóng góp và thời gian đóng gópBHXH của họ
Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ: cùng tham gia và đóng góp BHXH, nhưng cóngười được hưởng trợ cấp nhiều lần và nhiều chế độ khác nhau, nhưng có những ngườiđược ít lần hơn thậm chí không được hưởng Chính từ đặc điểm này nên một số đốitượng được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH thường lớn hơn nhiều so với mức đóng góp của
họ và ngược lại Điều đó thể hiện tính chất xã hội của toàn bộ hoạt động BHXH
- Quỹ BHXH có quá trình tích luỹ để bảo tồn giá trị và bảo đảm an toàn về tài chính Đặc trưng này xuất phát từ chức năng cơ bản nhất của BHXH là đảm bảo an toàn
về thu nhập cho người lao động Vì vậy, đến lượt mình BHXH phải tự bảo vệ mình trướcnguy cơ mất an toàn về tài chính Nhiều nhà kinh tế cho rằng: Quỹ BHXH là “của đểgiành” của người lao động phòng khi ốm đau tai nạn, tuổi già… Nguồn quỹ này đượcđóng góp và tích luỹ lại trong suốt quá trình lao động Nếu xem xét tại một thời điểm cụthể nào đó, quỹ BHXH luôn tồn tại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi để chi trả trongtương lai Lượng tiền này có thể biến động tăng cũng có thể biến động giảm do mất antoàn, giảm giá trị do yếu tố lạm phát Do đó, bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH đãtrở thành yêu cầu mang tính nguyên tắc trong quá trình hoạt động của BHXH
- Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chính BHXH.
Quỹ BHXH là khâu tài chính trung gian cùng với NSNN và tài chính doanhnghiệp hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia Tuy nhiên, mỗi khâu tài chính đượctạo lập, sử dụng cho một mục đích riêng và gắn với một chủ thể nhất định Vì vậy, chúngluôn độc lập với nhau trong quản lý và sử dụng Thế nhưng tài chính BHXH, NSNN vàtài chính doanh nghiệp lại có quan hệ chặt chẽ với nhau và đều chịu sự chi phối của phápluật Nhà nước
Trang 15- Sự ra đời, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào trình độ phát triển kinhtế-xã hội của mỗi quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ nhất định của đất nước.
Kinh tế - xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực hiện đầy đủ các chế độBHXH, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao động càng được nâng cao Đồngthời khi kinh tế - xã hội ngày càng phát triển người lao động và người sử dụng lao động
sẽ có thu nhập cao hơn, do đó họ càng có điều kiện tham gia và đóng góp BHXH…
3 Vai trò của quỹ BHXH
- Vai trò đối với bản thân hệ thống BHXH
Quỹ BHXH được coi là “xương sống” của hệ thống BHXH Hệ thống BHXH có
ổn định và phát triển được hay không phụ thuộc vào sự hoạt động của quỹ BHXH QuỹBHXH là một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham giabảo hiểm bao gồm: người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước; trong một sốtrường hợp còn có các nguồn thu khác được dùng để chi trả cho những trường hợp đượchưởng trợ cấp BHXH theo quy định của pháp luật về BHXH và chi phí cho các hoạt độngnghiệp vụ BHXH Như vậy, vai trò của quỹ BHXH được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, đối với người lao động: người lao động khi tham gia BHXH, nếu gặp
những biến cố hay những “rủi ro xã hội” như thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, thấtnghiệp …, thông qua hệ thống trợ cấp BHXH được nhận những khoản tiền bảo hiểm đểtrang trải cho những chi phí do những biến cố hoặc rủi ro xã hội này gây ra Ở đây, quỹBHXH có vai trò rất lớn là bù đắp hỗ trợ cho những thiếu hụt về thu nhập của người laođộng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất thunhập từ lao động nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động do những biến cốhoặc “rủi ro xã hội” nêu trên Nói cách khác¸quỹ BHXH giữ vai trò góp phần đảm bảo antoàn cho người lao động và gia đình họ Tuy nhiên, mức độ đảm bảo thu nhập đến đâu vàđược thực hiện như thế nào phụ thuộc vào khả năng thanh toán của quỹ BHXH và phụthuộc vào chính sách BHXH của quốc gia trong mỗi thời kỳ, trên cơ sở nguyên tắc trợcấp BHXH không được cao hơn so với tiền lương thu nhập từng nghề nghiệp trước khinghỉ hưởng trợ cấp BHXH, nhưng không được thấp hơn tiền lương tối thiểu do nhà nướcquy định Nếu như quỹ BHXH thu được nhiều (thu đúng, thu đủ và đầu tư tăng trưởngtốt) và số người bị rủi ro ít (số người thụ hưởng ít) thì mức độ đáp ứng của quỹ BHXHcao hơn Ngược lại, nếu như nguồn thu của quỹ thấp (thu không được đủ, đầu tư tăng
Trang 16trưởng quỹ kém…)và số người bị rủi ro nhiều… thì mức độ đáp ứng của quỹ sẽ bị thấp
đi Tuy nhiên như đã nêu ở trên, quỹ BHXH không chỉ là một quỹ xã hội, nên dù muốnhay không, trợ cấp BHXH cũng phải đảm bảo ở mức độ nhất định cho người lao động.Đây là vai trò nổi trội, hơn hẳn của quỹ BHXH so với các loại quỹ tài chính khác
Thứ hai, đối với hệ thống BHXH: Để cả hệ thống BHXH hoạt động được bình
thường, các hoạt động nghiệp vụ và các hoạt động quản lý đòi hỏi phải có những chi phínhất định Ở hầu hết các nước, các chi phí này tuỳ theo từng nước được tính bằng một tỷ
lệ nhất định trên tổng thu của quỹ BHXH, hoặc được ấn định bằng một mức nào đó trên
cơ sở những chi phí của những năm trước đó Tuy nhiên, dù tính theo cách nào thì nhữngchi phí này đều do quỹ BHXH đảm bảo Như vậy, hiệu quả hoạt động của bộ máyBHXH, đời sống của các nhân viên ngành BHXH, ở mức độ nào đó phụ thuộc vào tìnhhình hoạt động (bao gồm cả hoạt động đầu tư) của quỹ BHXH Mặt khác, quỹ BHXH dotính đặc thù của hoạt động BHXH nên có một bộ phận của quỹ tạm thời nhàn rỗi Phầnnhàn rỗi này của quỹ BHXH được đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau cảu nền kinh tế.Thông qua hoạt động đầu tư của quỹ BHXH tạo thêm nguồn lực tài chính để duy trì vàphát triển hệ thống BHXH; đồng thời việc đầu tư tăng trưởng quỹ sẽ tăng cường khảnăng chi trả thường xuyên cho các đối tượng được hưởng chế độ BHXH
- Vai trò của quỹ BHXH đối với nền tài chính quốc gia
Như đã nêu, với tư cách là một quỹ tài chính, dòng tiền của quỹ BHXH luôn luônđược lưu thông và vì vậy ảnh hưởng đến nền tài chính chung của quốc gia Hoạt động củaQuỹ BHXH được thể hiện ở hai dòng di chuyển của tiền tệ là dòng di chuyển vào vàdòng di chuyển ra
Dòng di chuyển vào thông qua sự đóng góp của người lao động, người sử dụng laođộng và các nguồn thu khác Dòng di chuyển này về cơ bản là một phần thu nhập của dân
cư, của doanh nghiệp đưa vào BHXH (trên cơ sở đóng phí) Nói cách khác, quỹ BHXH(từ giác độ dòng tiền vào) đã thúc đẩy quá trình lưu thông tiền tệ trong dân cư - mọi sựlưu thông có chủ định và vì vậy có vai trò điều chỉnh nhất định dòng tài chính quốc gia
Dòng di chuyển ra của BHXH là các chi phí BHXH bao gồm chi trả các trợ cấpBHXH và các chi phí cho hoạt động nội bộ BHXH Các chi phí này rất lớn và như vậyquỹ BHXH có vai trò máy bơm tiền vào lưu thông tạo ra cơ cấu về tiêu dùng Mặt khácthông qua việc đầu tư vốn vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế, quỹ BHXH
Trang 17cũng cung cấp một lượng vốn lớn và đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy vàtăng trưởng kinh tế Đặc biệt, trong điều kiện nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tếkhông ngừng tăng lên, thì việc cung ứng vốn cho nội bộ nền kinh tế thông qua các tụđiểm tài chính như quỹ BHXH có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nói cách khác thông quadòng di chuyển ra, quỹ BHXH đã làm tăng quy mô tài chính cho nền kinh tế; khôngnhững thế, quỹ BHXH còn góp phần điều chỉnh cơ cấu tài chính, cơ cấu đầu tư, thúc đẩy
sự phát triển kinh tế của đất nước… Ngoài ra, thông qua việc đầu tư như mua tín phiếu,trái phiếu kho bạc nhà nước, công trái xây dựng tổ quốc hoặc cho ngân hàng và các tổchức tín dụng vay…, quỹ BHXH đã tham gia một cách đắc lực vào việc thực hiện cácchính sách tiền tệ, giữ vững sự ổn định tiền tệ và góp phần kiểm soát lạm phát
- Vai trò đối với chính trị - xã hội:
Việc hình thành quỹ BHXH tạo ra hệ thống an toàn xã hội, thông qua quá trình
phân phối lại quỹ BHXH góp phần thực hiện mục tiêu đảm bảo an toàn xã hội về kinh tếcho mọi thành viên trong xã hội
Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao độnghiện vẫn còn hai quan điểm Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mức thu nhập
cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xácđịnh mức đóng góp
Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịutoàn bộ chi phí cho chế đọ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình,
Trang 18các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bênmột phần bằng nhau Một số nước khác quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXHhoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH …
Mức đóng BHXH thực chất là phí BHXH, phí BHXH là yếu tố quyết định sự cânđối thu chi quỹ BHXH Vì vậy, quỹ này phải được tính toán một cách khoa học Trongthực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường
sử dụng các phương pháp toán học khác nhau để xác định Khi tính phí BHXH, có thế cónhững căn cứ tính toán khác nhau:
- Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có cơ
sở xác định mức phí đóng
- Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó xác định mức hưởng
- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng, rồi từ
có phí dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn
4.2 Sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu để chi trả cho các mục đích sau đây:
- Chi trợ cấp cho các chế độ bh
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
- Chi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH
Trong đó, chi trợ cấp BHXH theo các chế độ là lớn nhất và quan trọng nhất, khoảnchi này thường được thực hiện theo luật định và phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng
hệ thống BHXH Về nguyên tắc, có thu mới có chi, thu trước chi sau Vì vậy, quỹ chỉ chicho các chế độ trong phạm vi có nguồn thu Thu ở chế độ nào thì chi ở chế độ đó
Trang 19Tuy nhiên, quá trình sử dụng quỹ BHXH mà phần sử dụng nhiều nhất là chi trảcác chế độ còn phụ thuộc vào việc thành lập quỹ BHXH theo phương thức nào:
- Nếu chỉ thành lập một quỹ BHXH tập trung thống nhất thì việc chi trả cũng phảiđảm bảo tính thống nhất theo các nội dung chi
- Nếu quỹ BHXH được hình thành theo 2 loại: Quỹ BHXH ngắn hạn và quỹBHXH dài hạn thì việc chi trả và quản lý chi sẽ cụ thể hơn Phương thức này đảm bảocho công tác chi trả sát thực tế và đúng mục đích hơn Đồng thời tạo điều kiện cho mọithành phần kinh tế tham gia các chế độ BHXH dài hạn
- Nếu quỹ BHXH được thành lập theo từng chế độ (còn gọi là quỹ BHXH thànhphần) thì việc chi trả sẽ càng trở nên đơn giản và đảm bảo đúng mục đích
Nội dung chi trả: gắn liền với nội dung kinh tế - xã hội của từng chế độ hoặc từng
nhóm chế độ Cụ thể:
+ Đối với chế độ hưu trí và tử tuất
Việc chi trả bắt nguồn từ việc bảo hiểm thu nhập cho người lao động bị già yếuhết tuổi lao động và qua đời mà bất kỳ người lao động nào cũng phải trải qua Muốnđược chi trả, người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia đóng góp Quyềnlợi được hưởng tương ứng với mức đóng góp phí BHXH của từng người lao động PhíBHXH nộp cho các chế độ hưu trí và tử tuất được cơ cấu vào tiền lương, tiền công
+ Đối với chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Nội dung chi trả bắt nguồn từ việc ổn định sản xuất kinh doanh, ổn định kinh tếcho người sử dụng lao động và ổn định cuộc sống cho người lao động khi họ bị ốm đau,tai nạn hoặc thai sản Để có quỹ chi trả, người sử dụng lao động và người lao động đềuphải có trách nhiệm đóng phí Số phí này cũng phải được hạch toán đầy đủ vào giá thànhsản phẩm để tạo nguồn tài chính nộp phí bảo hiểm Phương thức này có ưu điểm là dễdàng cân đối thu chi, từ đó góp phần xác định mức đóng và mức hưởng trong từng chế độmột các chính xác
Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH, quỹ BHXH còn được sử dụngcho chi quản lý như: Tiền lương cho những người làm việc trong hệ thống BHXH, khấuhao tài sản cố định,văn phòng phẩm,…Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lời,mục đích đầu tư quỹ BHXH là nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ
Trang 20- Quỹ BHXH hỗn hợp (Mô hình quỹ BHXH theo nền kinh tế thị trường): Ở mô
hình này quỹ BHXH có 3 loại:
+ Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của chủ sử dụng lao động, ngườilao động, Nhà nước đóng góp và hỗ trợ
+ Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của chủ sử dụng lao động và củangười tham gia BHXH
+ Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của chủ sử dụng lao động, Nhànước đóng và hỗ trợ Người tham gia bảo hiểm không phải đóng góp vào quỹ
- Quỹ BHXH cá nhân (Quỹ BHXH tự nguyện).
Theo mô hình này, quỹ BHXH có nguồn hình thành duy nhất từ sự đóng góp của
cá nhân người tham gia BHXH
Xét dưới góc độ hình thức tham gia thì quỹ BHXH có hai mô hình:
- Quỹ BHXH bắt buộc: Nhà nước ban hành chính sách, chế độ tạo lập và sử dụng
quỹ để bắt buộc một số đối tượng tham gia BHXH Sự đóng góp của họ hình thành nênquỹ BHXH bắt buộc.Đối tượng tham gia gồm người sử dụng lao động và người lao động
- Quỹ BHXH tự nguyện: Trên cơ sở Nhà nước ban hành chính sách, chế độ tạo
lập và sử dụng quỹ để cho đối tượng được quyền tự lựa chọn tham gia phù hợp vớiđiều kiện và nhu cầu của họ Ở mô hình này, đối tượng tham gia thường là cá nhânkhông thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc hoặc là đối tượng tham gia BHXHbắt buộc nhưng họ tham gia bổ sung để được hưởng quyền lợi ngoài chế độ BHXHbắt buộc
Xét dưới góc độ thời gian hưởng chế độ BHXH thì quỹ có 2 mô hình:
- Quỹ BHXH ngắn hạn: Quỹ được hình thành từ sự đóng góp của đối tượng tham
gia BHXH, dùng để chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn như: ốm đau, thai sản, nghỉdưỡng sức, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hưởng một lần
Trang 21- Quỹ BHXH dài hạn: Quỹ được hình thành từ sự đóng góp của đối tượng tham gia
BHXH, dùng để chi trả các chế độ BHXH dài hạn như: Hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp trả hàng tháng
Xét dưới góc độ cân đối thu - chi thì quỹ có 2 mô hình cơ bản:
- Mô hình toạ thu - toạ chi: Cân đối quỹ được xác định hàng năm, thu không đủ
chi thì Ngân sách Nhà nước cấp bù (giống như mô hình quỹ nước tha trước năm 1995)
- Mô hình tồn tích: Cân đối quỹ BHXH được xác định dài hạn; dựa vào các
phương pháp tính toán thống kê, xác suất theo quy luật số lớn để xác định tổng nguồn thuvào quỹ BHXH và tổng số chi ra từ quỹ BHXH, để tính cân đối thu - chi dài hạn khoảng
10, 20 và 30 năm Trong mô hình này có hai loại là tồn tích cá nhân và tồn tích cộngđồng Với mô hình tồn tích cá nhân thì mọi sự đóng góp của chủ sử dụng lao động, củangười lao động, khoản tiền lãi đầu tư trong năm được lưu giữ và tồn tích vào một tàikhoản cá nhân cho từng người, thuộc quyền sở hữu của cá nhân họ; Ở mô hình này thìkhông sợ mất cân đối quỹ, nhưng lại làm mất bản chất của BHXH là chia sẻ rủi ro, thựcchất là “khoản tiết kiệm bắt buộc” Quỹ BHXH theo mô hình tồn tích cộng đồng (giốngcủa nước ta hiện nay) đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng, mang đúng bản chấtcủa BHXH; quỹ được dùng chung cho tất cả mọi người tham gia BHXH nên tính nhânvăn và xã hội cao; có thể hình dung, quỹ BHXH như một ngôi nhà chung của mọi ngườitham gia BHXH, dùng che trở cho họ khi gặp rủi ro, ngôi nhà này càng to càng vữngchắc thì khả năng che trở càng tốt
6 Các nhân tố tác động đến quỹ BHXH
- Chính sách tiền lương - tiền công: Thu nhập của người lao động là đối tượng của
BHXH Vì vậy, chính sách tiền lương là nhân tố đầu tiên tác động đến quy mô của quỹBHXH Giữa chính sách tiền công - tiền lương và chính sách BHXH nói chung và việctăng giảm quỹ BHXH nói riêng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chính sách tiền lương làtiền đề và là cơ sở cho việc thực hiện chính sách BHXH, trên cơ sở tính toán mức đóng vàmức hưởng BHXH lại phụ thuộc vào tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định Như vậy,khi Nhà nước nâng mức lương tối thiểu lên thì mức đóng BHXH cũng tăng lên và đươngnhiên số thu BHXH cũng tăng lên tương ứng với sự tăng lên của quỹ BHXH
- Lực lượng lao động: Người lao động là đối tượng tham gia BHXH, họ là những
người trong độ tuổi lao động, là những người trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội Như vậy,
Trang 22nếu một quốc gia có dân số “già”- tức là số người trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ thấptrong tổng số dân số - sẽ dẫn đến mất cân đối quỹ BHXH bởi vì số người tham gia đónggóp vào quỹ ngày càng ít đi trong khi số người hưởng chế độ BHXH đặc biềt là chế độhưu trí ngày càng tăng Mặt khác, do nguyên tắc của BHXH là “số đông bù số ít”, nếu sốngười tham gia BHXH ngày càng nhiều thì sự rủi ro đến với mỗi người lao động sẽ đượcdàn trải rất rộng, từ đó tính chất xã hội của bảo hiểm sẽ ngày càng được thể hiện rõ nét,quỹ BHXH sẽ càng vững mạnh, khả năng chi trả tăng lên và làm tăng phần quỹ nhàn rỗi.
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phản ánh khả năng tiết kiệm tiêudùng và đầu tư của Nhà nước, vì thế nếu quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và
ổn định thì chắc chắn đời sống của người dân sẽ cao dần lên, tình hình sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi, là điều kiện để người lao động thamgia BHXH được nhiều hơn, để các chủ doanh nghiệp sẵn sàng tham gia BHXH chongười lao động và làm giảm tình trạng trốn đóng góp BHXH của họ Thêm nữa, khi đờisống kinh tế cao thì nhận thức của người lao động cũng cao lên, ngoài việc ý thức bảođảm cuộc sống hàng ngày cho bản thân và gia đình, họ còn mong muốn có khoản trợgiúp trong tương lai khi không may gặp rủi ro xã hội khiến họ bị mất hoặc bị giảm thunhập Tất cả những yếu tố trên tác động tích cực làm tăng thu BHXH
- Mức chi trả các chế độ BHXH: Mức chi trả các chế độ BHXH phụ thuộc vào: số
lượng các chế độ BHXH được áp dụng, số người hưởng và tỉ lệ hưởng các chế độ BHXH
Nếu một quốc gia triển khai và áp dụng nhiều các chế độ trong số 9 chế độ thì sốthu BHXH ngày càng lớn Mặt khác, tỉ lệ hưởng càng cao có nghĩa là số tiền chi trả chocác chế độ càng lớn, chính điều này đặt ra yêu cầu thu BHXH ngày càng chặt chẽ hơn đểtránh tình trạng mất cân đối quỹ BHXH Khi tuổi nghỉ hưu càng tăng lên thì mức chi trảlương hưu sẽ giảm, mức thu lại càng tăng nên sẽ giảm nguy cơ mất cân đối quỹ
- Nguồn lãi từ hoạt động đầu tư quỹ BHXH: Nếu quỹ BHXH được thiết kế theo
mô hình toạ thu - toạ chi thì quỹ luôn được cân đối ngay trong năm và không có kết dư.Nếu quỹ được thiết kế theo mô hình tồn tích thì hàng năm đều có kết dư, đây là nguồnvốn rất quan trọng để đầu tư vào các lĩnh vực có độ rủi ro thấp Nếu hoạt động đầu tư cóhiệu quả thì tiền lãi từ hoạt động này sẽ làm quy mô quỹ vững mạnh, đảm bảo cân bằngtrong thời gian dài
Trang 237 Các nguyên tắc cân đối quỹ BHXH
Để quỹ BHXH tồn tại và hoạt động độc lập, về nguyên tắc quỹ phải được cân đối
có nghĩa là các khoản thu BHXH tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu chi trả các chế độBHXH và chi quản lý bộ máy Cân đối quỹ BHXH được hiểu là mối quan hệ tươngđương về lượng và sự bằng nhau giữa hai đại lượng thu - chi, ngoài ra cân đối quỹBHXH còn thể hiện ở việc bố trí cơ cấu và quan hệ số lượng giữa các yếu tố trong cơ cấuthu - chi quỹ BHXH
Cân đối quỹ BHXH về hình thức là cân đối giữa thu và chi Về thực chất, cân đốiquỹ BHXH phản ánh nguồn lực tài chính có thể chi phối trực tiếp, nó thể hiện sự cân đốitài chính trong phạm vi của một quỹ Cũng giống như sự phát triển của mọi sự vật, cânđối thu - chi quỹ BHXH là tương đối chứ không tuyệt đối, luôn ở trạng thái vận động,cân đối và không cân đối chuyển hoá lẫn nhau Cân đối quỹ BHXH được thể hiện trongsuốt quá trình phát sinh giải quyết mâu thuẫn giữa thu và chi, do đó ít nhiều có số dư cóthâm hụt (trong phạm vi cho phép) Các trường hợp đó đều phải coi là phạm vi cân đối cơbản, đều là hình thức biểu hiện của cân đối quỹ BHXH
Từ sự vận động thu - chi của quỹ BHXH, về nguyên tắc cân đối phải đảm bảo:
Tổng số tiền Tổng chi Tổng chi Tổng thu + sinh lời từ = các chế độ + phí cho + Chi khác
đầu tư BHXH quản lý
Từ đó cho biết nguyên nhân chính làm mất cân đối quỹ BHXH:
- Mức độ phát triển của nền kinh tế
- Hiệu quả của hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH
- Cơ cấu hợp lý giữa các khoảng thu- chi BHXH
- Cơ chế quản lý tài chính BHXH kém hiệu quả
Các nguyên tắc cân đối quỹ BHXH: Để đảm bảo cho quỹ BHXH tồn tại độc lập
với NSNN trong nền kinh tế thị trường và trở thành một bộ phận của hệ thống tài chínhquốc gia, một tụ điểm của thị trường tài chính thì nguyên tắc cân đối quỹ BHXH là:
- Tổng số thu từ người lao động và chủ sử dụng lao động phải lớn hơn tổng số chi chocác chế độ BHXH và phần tích luỹ ngày càng cao làm gia tăng khoản chi đầu tư tăng trưởng
- Trong trường hợp bội chi quỹ BHXH thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tưtăng trưởng quỹ để đảm bảo quỹ luôn được cân đối
Trang 24- Tổng số chi cho các chế độ BHXH dài hạn và ngắn hạn không vượt quá tổng sốthu vào các quỹ BHXH dài hạn và ngắn hạn.
- Lợi nhuận đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH mang lại phải đảm bảo nguyên tắc:không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích tăng trưởng quỹ BHXH
III VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ QUỸ BHXH
1 Sự cần thiết của đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH
Trong hoạt động của quỹ BHXH, do tính đặc thù của quá trình thu - chi BHXHnên quỹ BHXH luôn có một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi, phần tiền này với tư cách làmột bộ phận tài chính cần phải được đem đầu tư Có rất nhiều lý do dẫn đến cần phải đầu
tư tăng trưởng quỹ BHXH, nhưng chủ yếu là các lý do sau:
- Trong các nguồn thu của quỹ thì có một bộ phận được dụng ngay (cho các trợcấp BHXH ngắn hạn); nhưng phần lớn dùng để chi trả cho các trợ cấp BHXH dài hạn màtính từ khi đóng phải hàng chục năm sau mới phải chi (nếu chỉ tính riêng cho từng cánhân) Đối với những hệ thống BHXH trẻ (như Việt Nam), số người đóng góp hiện tạilớn hơn nhiều so với số người hưởng BHXH hiện tại, thì số tiền chưa được dùng đếnngay rất lớn Đây được gọi là phần nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH Theo quy luật tiền
tệ, phần nhàn rỗi của quỹ BHXH không được để đóng băng mà phải được đưa vào lưuthông, phải được đầu tư để tránh những rủi ro về tiền tệ như lạm phát và các rủi ro khác
Do vậy, đầu tư trước hết là để đảm bảo giá trị của phần vốn này, mặt khác phần sinh lờithực tế (sau khi đã trừ đi lạm phát) sẽ làm tăng quy mô của quỹ BHXH, góp phần cảithiện cho các trợ cấp ngắn hạn; đồng thời đảm bảo cho các hoạt động của BHXH đượctốt hơn cả trong hiện tại và tương lai
- Do thiết kế kỹ thuật, có tính tới yếu tố thu nhập hiện thời của người lao động,nên phí BHXH chỉ là phí tối thiểu Nếu tính riêng cho một người lao động thì phần đónggóp của họ không đủ chi trả cho họ từ sau khi nghỉ hưu cho đến khi chết Vì vậy, trong
kỹ thuật tính phí BHXH phải dựa trên số đông bù số ít và có tính đến các yếu tố đầu tư
Do vậy, nếu không đầu tư tăng trưởng quỹ thì quỹ BHXH không thể chi dùng đủ chotương lai, trong khi nhu cầu thụ hưởng của người lao động ngày càng cao theo thời gian
- Là một bộ phận của tài chính quốc gia, muốn nền kinh tế tăng trưởng, cải thiệnđời sống chung cho nhân dân, các nguồn lực tài chính phải được huy động tối đa, do vậy
Trang 25sự huy động phần nhàn rỗi của quỹ BHXH vào nền kinh tế là yêu cầu có tính khách quan,vừa góp phần tăng trưởng quỹ, vừa góp phần tăng vốn cho nền kinh tế Thông qua việcđầu tư vốn vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội hoặc các thị trường tàichính ( thông qua mua cổ phiếu, trái phiếu…), quỹ BHXH đã cung cấp một lượng vốnlớn và đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và tăng trưởng nền kinh tế; gópphần lành mạnh hoá thị trường tài chính của đất nước.
- Khi quỹ BHXH ổn định và tăng trưởng, phần chi từ NSNN cho BHXH sẽ giảm
đi và NSNN sẽ có điều kiện để tập trung chi vào các mục tiêu trọng yếu khác
- Hiện nay, mặc dù các chế độ ngắn hạn luôn có kết dư, song các chế độ dài hạnnhư hưu trí và tử tuất thì tốc độ tăng thu luôn thấp hơn tốc độ tăng chi, như vậy trongvòng 30 năm tới nếu chỉ dựa vào các khoản thu thì quỹ có nguy cơ mất cân đối Vì vậy,phải có biệm pháp bảo toàn và tăng trưởng quỹ
2 Đặc điểm của đầu tư quỹ BHXH
Ở mỗi quốc gia, công tác đầu tư quỹ BHXH đều có những nét riêng, nhưng hầuhết đều có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Quỹ BHXH được hình thành trên cơ sở chủ yếu là đóng góp của các bên thamgia BHXH, vốn đầu tư của quỹ không phải là vốn kinh doanh mà là khoản tiền tạm thờinhàn rỗi dự trữ cho tương lai nhằm để chi trả các trợ cấp BHXH cho người lao động khitham gia BHXH Do đó không có khái niệm kinh doanh quỹ BHXH mà chỉ là các hoạtđộng đầu tư phần nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH
- Sự chuyển quyền sử dụng vốn trong công tác đầu tư quỹ BHXH chủ yếu đượctiến hành dưới các hình thức mua bán vốn như: mua cổ phiếu, trái phiếu, công trái, tínphiếu, cho vay, mua bất động sản…
- Ở hầu hết các nước, Chính phủ đều quy định danh mục đầu tư, hoặc phân cấp rõràng danh mục đầu tư gắn liền với trách nhiệm của các cấp, các ngành để hạn chế rủi rocủa quỹ
- Quỹ BHXH là thuộc sở hữu của các bên tham gia đóng góp, đó là quỹ của xã hộidùng để chi cho các chế độ BHXH theo quy định Vì vậy, việc đầu tư của quỹ phải đảmbảo yêu cầu thu hồi vốn thuận tiện, hết thời hạn đầu tư phải thu hồi được cả vốn và lãi, dễdàng chuyển đổi các nguồn vốn đem đầu tư thành tiền mặt khi cần
Trang 26- Hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH cũng phải tuân thủ yêu cầu khách quancủa các quy luật kinh tế trên thị trường vốn.
3 Nguyên tắc cơ bản đầu tư quỹ BHXH
Do quỹ BHXH có những đặc trưng riêng, khác với những tổ chức tài chính khác,nên việc đầu tư tăng trưởng quỹ phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc: “Đảm bảo an toàn khi đầu tư”
Mục tiêu hình thành quỹ BHXH là để góp phần đảm bảo an toàn thu nhập chongười lao động và sâu sa hơn là đảm bảo an sinh xã hội cho dân cư Vì vậy, an toàn lànguyên tắc hàng đầu trong việc đầu tư quỹ BHXH Có thể nói, quỹ BHXH về bản chất làtài sản của nhiều thế hệ lao động, luôn luôn gắn liền với đời sống của hàng triệu ngườitham gia BHXH và gia đình họ Quỹ BHXH được bảo toàn và tăng trưởng tốt sẽ đáp ứngtốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của người lao động tham gia BHXH và góp phần thựchiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần ổn định và phát triển đất nước.Ngược lại, nếu quỹ BHXH không được sử dụng đúng, không đảm bảo được giá trị, mất
an toàn ( thâm hụt) thì đời sống của người tham gia và thụ hưởng sẽ bị ảnh hưởng đầutiên; hậu quả là sé dẫn đến rối loạn xã hội nghiêm trọng Nhiều Chính phủ đã phải sụp đổ
do những vấn đề có liên quan đến lợi ích của người tham gia BHXH
- Nguyên tắc: “khả năng thanh toán thường xuyên”
Mục tiêu lập quỹ BHXH là để đáp ứng được những chi trả các trợ cấp BHXH ởbất cứ thời điểm nào và ở bất cứ đâu Nói cách khác, quỹ BHXH phải luôn ở chế độ sẵnsàng có tiền để chi trả trợ cấp BHXH định kỳ hoặc đột suất Chính vì vậy, phần chưadùng đến của quỹ BHXH mới được gọi là phần nhàn rỗi tương đối Do đó, nguyên tắc cơbản khi tổ chức các hoạt động đầu tư của quỹ BHXH là dù đầu tư quỹ vào lĩnh vực nào,dưới hình thức nào cũng phải đảm bảo khả năng chuyển đổi các tài sản đầu tư thành tiền
và có thể thu hồi được dễ dàng Chính phủ nhiều quốc gia thường quản lý danh mục đầu
tư chặt chẽ ILO khuyến cáo trong cơ quan BHXH nên có bộ phận đầu tư và phải cóchuyên gia đánh giá đầu tư chuyên nghiệp Việc đánh giá này phải nêu lên được những
ưu nhược điểm của các danh mục dự định đầu tư để có lựa chọn những danh mục hợp lýnhất, đảm bảo nguyên tắc có khả năng thanh toán này
Trang 27- Nguyên tắc: “ Hiệu quả”.
Yêu cầu của nguyên tắc này là đầu tư tiền nhàn rỗi của quỹ BHXH phải mang lạilợi nhuận Đây cũng là yêu cầu tất yếu của hoạt động đầu tư, bởi vì mọi đầu tư vốn đềunhằm tối đa hoá lợi nhuận Khoản lợi nhuận này phải được thực hiện qua từng dự án đầu
tư trong từng giai đoạn cụ thể Nghĩa là kết quả của hoạt động đầu tư phải cao hơn chi phí
đã bỏ ra Để thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải tuân thủ quy luật lãi suất dương và lãisuất phải được điều chỉnh kịp thời theo sự biến động của chỉ số lạm phát và lãi suất thịtrường; mặt khác, phải có chiến lược đầu tư tổng thể và có lộ trình đầu tư trên cơ sở xácđịnh được danh mục đầu tư, các lĩnh vực đầu tư chủ yếu
- Nguyên tắc: “Đảm bảo phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội”.
Quỹ BHXH được dùng để chi trả trả trợ cấp các chế độ BHXH và chi hoạt độngnội bộ BHXH; ngoài ra vẫn còn một phần quỹ nhàn rỗi, khoản tiền này khá lớn được tồntích qua nhiều năm nhiều thế hệ; vì vậy không thể để ứ đọng một chỗ mà phải đem đi đầu
tư tăng trưởng quỹ Đây là một hoạt động rất quan trọng, nó như một “cỗ máy” có vai tròbơm tiền vào lưu thông góp phần phát triển kinh tế Nói cách khác, quỹ BHXH là mộtquỹ tài chính nên thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế là hoàn toàn đúng đắn Yêu cầucủa nguyên tắc này là việc đầu tư phải hướng vào sự phát triển bền vững, vì vậy cần có
sự đánh giá về hiệu quả đầu tư tăng trưởng quỹ để đảm bảo cân đối thu chi, góp phần vào
sự phát triển kinh tế chung của đất nước, đồng thời hoạt động đầu tư quỹ phải gắn với cácchính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước như: đầu tư vào các côngtrình giao thông, các ngành kinh tế trọng điểm của khu vực, tạo thêm công ăn việc làmcho người lao động…
- Nguyên tắc: “Đảm bảo lợi ích xã hội”.
BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Nhà nước Mục đíchcủa BHXH là đảm bảo thu nhập cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo ansinh xã hội và mục đích xa hơn của BHXH là nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội pháttriển, nâng cao mức sống chung của dân cư Vì vậy, song song với các yêu cầu về hiệu quảkinh tế nhằm tăng trưởng quỹ, việc đầu tư quỹ BHXH phải đạt hiệu quả về mặt xã hội, đảmbảo được các lợi ích xã hội, cần chú trọng tới các dự án phục vụ công cộng và các mục tiêu
xã hội thực sự cho dù hiệu quả kinh tế đầu tư có thể thấp Đầu tư quỹ BHXH phải luôn gắnliền với các chính sách về xã hội như dân số, lao động và môi trường sống… Nguyên tắc
Trang 28này phải được vận dụng trong tất cả các nghiệp vụ đầu tư, từ việc xác định danh mục hạnmức đến xác định mức lãi đầu tư vốn, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, đồng thời tuânthủ một cách nghiêm túc yêu cầu khách quan của các quy luật.
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư quỹ BHXH
4.1 Các nhân tố khách quan
- Môi trường đầu tư: Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả đầu tư quỹ.
Môi trường đầu tư thuận lợi tạo điều kiện cho cơ quan BHXH đưa luồng tiền tạm thờinhàn rỗi vào hoạt động một cách nhanh chóng nhất, tránh hiện tượng ứ đọng vốn; từ đótác động tới lợi suất của việc đầu tư, tạo điều kiện lựa chọn danh mục đầu tư ít rủi ro và
có lợi suất tối ưu
- Cơ chế pháp lý về đầu tư quỹ: Những định chế pháp lý về đầu tư quỹ BHXH đầy
đủ và đồng bộ là yếu tố có tính quyết định tới hiệu quả đầu tư quỹl Những quy định pháp
lý bắt buộc phải được thể chế hoá như: Nguyên tắc đầu tư, danh mục đầu tư, tỉ lệ phân bổnguồn vốn đầu tư, phân phối lợi nhuận từ hoạt động đầu tư…
Một hệ thống định chế pháp đầy đủ và đồng bộ sẽ là cơ sở tạo điều kiện thuận lợicho quỹ BHXH tham gia đầu tư trên thị trường đồng thời nó cũng tác động tích cực đếnlợi tức và rủi ro mong đợi của hoạt động đầu tư
- Chính sách tài chính tiền tệ quốc gia: Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ
tác động mạnh mẽ đến hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô từ đó tác động đến hiệu quả đầu
tư Đối với chính sách tài khoá, nếu Chính phủ kiểm soát được thâm hụt NSNN, xácđịnh được nguồn bù đắp bội chi cho NSNN làm lành mạnh hoá động NSNN, sẽ là cơ sở
để cơ quan BHXH định hướng hoạt động đầu tư Đối với chính sách tiền tệ, nếu Chínhphủ kiểm soát được tỷ lệ lạm phát ở một tỷ lệ thích hợp cũng là cơ sở để cơ quan BHXHxác định một lợi suất mong đợi hợp lý nhằm đảm bảo giá trị thực của quỹ trong tương lai
4.2 Nhân tố chủ quan
- Hiệu quả hoạt động của tổ chức đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH: Đây là yếu tố
quyết định đến hiệu quả đầu tư quỹ BHXH Để đảm bảo lợi ích người lao động thì việcnâng cao hiệu quả đầu tư quỹ BHXH luôn được thực hiện bởi một tổ chức chuyên trách
về đầu tư có trình độ chuyên môn
- Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động đầu tư: Hoạt động đầu tư quỹ BHXH là
một hoạt động đầu tư phức tạp đòi hỏi nhiều thông tin từ nhiều phía Đế cơ quan bảo
Trang 29hiểm ra quyết định đúng đắn thì việc trang bị cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ đầu tưhiện đại là một việc làm thiết yếu trong hoạt động đầu tư quỹ BHXH.
- Sự phối kết hợp với các tổ chức tài chính tín dụng khác: BHXH là một trung gian
tài chính phi ngân hàng, hoạt động đầu tư quỹ BHXH đặc biệt là đầu tư vào thị trường tàichính luôn luôn gặp phải sự cạnh tranh của các tổ chức tài chính như Ngân hàng, cáccông ty Bảo hiểm…, vì vậy hiệu quả của việc phối kết hợp của các tổ chức tài chínhtrung gian trong nền kinh tế thị trường sẽ tác động đến hiệu quả đầu tư quỹ BHXH đồngthời hạn chế những rủi ro đối với cơ quan BHXH
5 Sử dụng vốn đầu tư từ quỹ BHXH
5.1 Tiêu chuẩn lựa chọn tài sản đầu tư từ quỹ BHXH
Nhà đầu tư xem xét 5 yếu tố trọng điểm sau để làm căn cứ ra quyết định đầu tư:
- Của cải: là lượng tài sản có được để đem đi đầu tư và đây là yếu tố quan trọng
thể hiện tiềm lực của nhà đầu tư Đối với BHXH, lượng tài sản này chính là nguồn quỹtạm thời nhàn rỗi Thông thường, ở hầu hết các nước, khoản tiền này sẽ được đầu tư vàomột danh mục cụ thể theo quy định của pháp luật mỗi nước, tuy nhiên tỷ lệ đầu tư vàocác loại hình này lại phụ thuộc rất nhiều vào tiềm lực của nguồn vốn đầu tư Khi nguồnvốn này tăng lên thì có thể lựa chọn vào nhiều loại hình đầu tư khác nhau, trong đó có thể
sử dụng một lượng vốn nhất định để tham gia vào các lĩnh vực đầu tư có lợi nhuận caonhưng mức độ rủi ro khá lớn; theo tiêu chuẩn này thì tỉ lệ vốn đầu tư vào các loại chứngkhoán sẽ tăng cao hơn so với đầu tư vào tiền gửi ngân hàng Khi lượng tiền trong két tănglên đến một mức nào đó thì nó có thể đầu tư để kiếm lời, nếu lãi suất tăng lên thì số tiềnmặt được gửi để tiến hành giao dịch sẽ giảm xuống
- Lợi suất kỳ vọng: Là hiệu suất sinh lời mà nhà đầu tư mong muốn và dự kiến có
thể đạt được khi quyết định bỏ vốn đầu tư Trong cùng một môi trường đầu tư, Nhà đầu
tư sẽ lựa chọn tài sản nào có lợi suất kỳ vọng cao hơn Đối với BHXH thì tiêu chuẩn nàyhết sức quan trọng, đặc biệt đối với nghiệp vụ dài hạn với yêu cầu đầu tư phải đạt đượclãi suất nhất định BHXH chỉ có thể đầu tư vào loại tài sản có hiệu suất sinh lời cao nhấtkhi các yếu tố khác tương tự nhau
- Mức độ rủi ro: Rủi ro thường tương quan với lợi suất kỳ vọng, vì thế để đảm bảo
nguyên tắc “an toàn”, BHXH sẽ phải lựa chọn tài sản có mức độ rủi ro thấp chứ khôngthể ưu tiên loại tài sản có lợi suất kỳ vọng cao
Trang 30- Tính thanh khoản:Tính thanh khoảnlà khả năng chuyển đổi các loại tài sản đầu
tư thành tiền, nó sẽ giúp cho cơ quan BHXH ổn định chi tiêu và rút vốn trong các trườnghợp cần thiết Tính thanh khoản của các tài sản là khác nhau, tiền mặt có tính thanhkhoản cao nhất, sau đó đến trái phiếu, các loại cổ phiếu,…Khi các yếu tố khác khôngthay đổi, tính thanh khoản của một tài sản này cao hơn so với tài sản kia, dẫn tới lượngcầu về tài sản đó tăng
- Chi phí thông tin: BHXH sẽ phải giảm chi phí cho việc đánh giá TSCĐ Những
tài sản có chi phí thông tin ít như trái phiếu chính phủ, trái phiếu của các tổ chức tín dụngmạnh Ngược lại, cổ phiếu và trái phiếu công ty, khoản cho vay cho các tổ chức hoặc cánhân vay đòi hỏi chi phí thông tin lớn
Điều này được thể hiện ở bảng sau:
Bảng tiêu chuẩn lựa chọn tài sản đầu tư
Các yếu tố Lượng cầu
về tài sản
Lý do
Của cải Tăng Nhà đầu tư có nhiều tiềm lực hơn đểlựa chọnLợi suất kỳ vọng tài sản so với lợi
suất mong đợi của tài sản khác Tăng
Nhà đầu tư thu được nhiều lợi nhuậnhơn
Rủi ro đi liền với lợi tức mong đợi
của tài sản Giảm Nhà đầu tư không ưa rủi ro
Tính thanh khoản Tăng Tài sản dễ dàng chuyển thành tiền mặtđể ổn định chi tiêu
Chi phí thông tin Giảm Nhà đầu tư mất nhiều tiền để thulượm,phân tích lợi tức trên tài sản
5.2 Phương pháp trích lập nguồn vốn đầu tư từ quỹ BHXH
* Đặc trưng của nguồn vốn đầu tư (NVĐT)
- Là khoản tạm thời nhàn rỗi nhằm thực hiện nhiệm vụ của BHXH đối với ngườilao động chứ không phải là nguồn vốn kinh doanh
- Quy mô của NVĐT trong quỹ BHXH phụ thuộc vào số người tham gia BHXH,
số người hưởng trợ cấp BHXH và chính sách thu - chi quỹ bh
- Tỷ trọng vốn đầu tư chiếm trong tổng thể nguồn vốn của quỹ BHXH càng lớn thìkhả năng tài chính của quỹ càng vững mạnh
Trang 31- Nguồn vốn đầu tư trong quỹ BHXH là số tồn tích qua thời gian dài, đây là số vốnthực trong quỹ, điều này khác với nguồn vốn ngân sách.
* Phương pháp trích lập NVĐT từ quỹ BHXH
Để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi và phù hợp vớiđặc trưng của nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của quỹ BHXH thường chia ra làm NVĐTngắn hạn và NVĐT dài hạn
NVĐT ngắn hạn = Tổng thu quỹ BHXH - Tổng giá trị các khoản chi trả
ngắn hạn trong tháng BHXH ngắn hạn trong tháng
NVĐT dài hạn = Tổng thu quỹ BHXH - Tổng giá trị các khoản chi trả
dài hạn trong tháng BHXH dài hạn trong tháng
5.3 Danh mục tài sản đầu tư
Thông thường, danh mục tài sản đầu tư quỹ BHXH ở các nước bao gồm:
5.3.1 Cổ phiếu
- Lợi thế:
+ Mang lại thu nhập dưới dạng cổ tức có thể tái đầu tư để tối đa hoá lợi nhuận.+ Có khả năng tăng vốn trong dài hạn và cho phép người đầu tư chống lạm phát.+ Không chụi ảnh hưởng của thuế vì cổ tức được miễn thuế
+ Chi phí về thông tin cao
+ Ngoài ra còn một số nguy cơ: lạm phát, rủi ro về kinh tế vĩ mô, rủi ro về chínhtrị - xã hội
Chính vì vậy đầu tư vốn của BHXH vào cổ phiếu luôn bị pháp luật khống chếbằng một tỉ lệ hạn chế trên tổng số vốn đem đầu tư
5.3.2 Trái phiếu
- Lợi thế
Trang 32+ Thu nhập thường xuyên cao và đảm bảo, đặc biệt là các trái phiếu Chính phủ có
5.3.3 Các chứng khoán trên thị trường tiền tệ
Các chứng khoán trên thị trường tiền tệ là những chứng khoán ngắn hạn bao gồm:Tín phiếu kho bạc, các chứng chỉ tiền gửi, giấy chập nhận thanh toán của Ngân hàng,chứng thư thương mại, hợp đồng mua bán lại
Nhìn chung, các chứng khoán này có đặc tính chung là tính thanh khoản cao, thờihạn ngắn và ít rủi ro Đầu tư vốn ngắn hạn vào các tài sản này là thích hợp nhất
5.3.4 Cho vay
Khi tiến hành cho vay, BHXH phải tuân thủ những quy định của pháp luật liênquan đến hoạt động của các tổ chức tín dụng Để đảm bảo nguyên tắc an toàn, việc chovay phải được tiến hành theo hình thức “cho vay thế chấp” Với loại hình này, BHXH cóthể thu được lãi suất cao,an toàn về vốn cao và thời hạn đầu tư dài Tuy nhiên, khó có thểcạnh tranh được với các ngân hàng thương mại, những tổ chức cho vay chuyên nghiệp
5.3.5 Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng
Đây là hình thức đầu tư ngắn hạn và đơn giản nhất Nếu BHXH lựa chọn các ngânhàng thương mại có tiềm lực tài chính mạnh, uy tín thì khả năng không trả nợ là rất khóxảy ra Tuy nhiên BHXH cũng không tránh khỏi những rủi ro có tính hệ thống như: rủi rolãi suất, lạm phát, thời hạn đầu tư ngắn…
Trang 335.3.6 Bất động sản
- Lợi thế
+ Thời hạn đầu tư dài phù hợp với nguồn vốn dài hạn
+ Có khả năng chống lạm phát, làm tăng vốn của quỹ BHXH
Như vậy, mỗi loại trong danh mục tài sản đầu tư đều có những lợi thế và bất lợi
Để có thể nâng cao hiệu quả đầu tư quỹ BHXH thì BHXH Việt Nam cần phải đánh giácác loại tài sản đầu tư và xây dựng các chiến lược chính sách cụ thể
6 Đánh giá hiệu quả đầu tư quỹ BHXH
Hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư phản ánh trình độ sử dụng vốn đầu tưthông qua việc so sánh giữa thu nhập của nhà đầu tư với số vốn mà nhà đầu tư bỏ ra đểđạt được mức thu nhập đó
Để đánh giá hiệu quả đầu tư quỹ BHXH vào một dự án đầu tư nào đó, ta thường
sử dụng chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận bìnhquân năm tính trên một đồng vốn đầu tư, nói cách khác là một đồng vốn đầu tư hàng nămmang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận bình quân
R: tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư
π: lợi nhuận bình quân năm trong giai đoạn vận hành dự án
K: tổng số vốn đầu tư cho dự án
B: Tổng thu bình quân năm
C: Tổng chi phí vận hành bình quân năm
D
Trang 34Công thức trên thường được dùng để xác định tỷ suất lợi nhuận của một dự án đầu
tư trong quá khứ Ngoài công thức này, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn vào một tài sảnđược trong một giai đoạn bất kỳ, người ta có thể sử dụng công thức:
R t = ( D t + P t – P t-1 )/ P t-1
Trong đó:
Rt: lợi suất của tài sản đầu tư trong kỳ t
Dt: thu nhập từ hoạt động sử dụng tài sản trong kỳ t
Pt : giá bán của tài sản cuối kỳ t
Pt-1: giá bán của tài sản cuối kỳ t-1
Trong trường hợp quỹ BHXH đầu tư vào một danh mục gồm nhiều tài sản, dự ánkhác nhau thì lợi suất của cả danh mục được xác định theo công thức:
R p = (V 1 – V 0 ) / V 0
Trong đó: V1 và V0 lần lượt là giá trị đầu kỳ và cuối kỳ của danh mục đầu tư.Đối với hoạt động đầu tư trong tương lai, việc đánh giá hiệu quả đầu tư có phần phức tạphơn bởi vì quỹ BHXH phải tính đến sự không chắc chắn của lợi suất Chẳng hạn, người
ta không biết chắc chắn lợi suất có thể dự đầu tư trong tương lai là bao nhiêu, nhưng cóthể dự kiến khả năng đạt được lợi suất Ri là Pi Khi đó, người ta có thể tính được lợi suất
kỳ vọng như sau:
E(R) = ¿ n ¿(R i – P i )
Trong đó:
E(R): lợi suất kỳ vọng vốn đầu tư
Ri: các giá trị có thể của lợi suất
Pi: xác suất xuất hiện giá trị Ri
n: số giá trị có thể có của lợi suất
Đối với việc đầu tư theo danh mục thì người ta cũng có thể xác định lợi suất kỳvọng của danh mục căn cứ vào tỷ trọng của các khoản đầu tư trong tổng giá trị của danhmục và lợi suất của từng khoản đầu tư đó Theo các này, giả sử quỹ BHXH đầu tư vàomột danh mục gồm m tài sản với các tỷ trọng tương ứng là xj nhận các giá trị x1, x2,…xmthì lợi suất kỳ vọng của danh mục đầu tư này có thể được xác định theo công thức:
Trang 36CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TĂNG TRƯỞNG QUỸ BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BHXH VIỆT NAM
1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của BHXH Việt Nam
Bảo hiểm xã hội được thực hiện ở Việt Nam từ năm 1945 và đã trải qua nhiều lần
bổ sung, sửa đổi đặc biệt trong các năm 1961,1985, 1995,và 2006
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời, mặc dù với một nền tài chính hết sức eo hẹp, kinh
tế nghèo nàn và lạc hậu, nhưng Chính phủ đã cố gắng xây dựng chính sách cho côngchức về hưu, đồng thời trên cơ sở hiến pháp năm 1946, Chính phủ đã ban hành một loạtcác sắc lệnh: sắc lệnh 29/SLngày 12/3/1947, sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và sắc lệnh
77 ngày 22/5/1950 quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhânviên chức nhà nước Đây chính là bước đi đầu tiên của Nhà nước làm cơ sở hình thànhBHXH Việt Nam sau này
Năm 1961, một nghị định của Chính phủ được ban hành để cung cấp các dịch vụphúc lợi xã hội cho tất cả các cán bộ viên chức làm việc trong ngành nội chính, giáo dục,
y tế, các doanh nghiệp Nhà nước, nội vụ Hệ thống này chỉ chụi trách nhiệm bảo hiểmcho khoảng 600.000 đến 700.000 người trên tổng số dân là 17 triệu người của miền BắcViệt Nam (theo số liệu năm 1962) Năm 1964 ban hành Nghị định 218, thực hiện BHXHcho quân nhân Suốt trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lược, chính sáchBHXH nước ta đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhânviên chức, quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sứccủa cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước
Từ năm 1975 thì chính sách BHXH được thực hiện thống nhất trong cả nước.Chế
độ BHXH bao gồm: trợ cấp hưu trí, mất sức lao động và tử tuất, cùng với các chế độ trợcấp ốm đau, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp do cơ quan, đơn vị và doanhnghiệp đóng góp
Năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh tế từ cơchế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường Sự thay đổi mới về cơ chế kinh tế đòihỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH
Trang 37nói riêng Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: “Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối vớicông chức Nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thứcBHXH khác đối với người lao động”.
Trước năm 1995, BHXH do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội chịu tráchnhiệm quản lý thực hiện về các chế độ trợ cấp dài hạn (hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp đối với người nghỉ việc ), Tổng Liên đoàn Lao động chịu trách nhiệmquản lý thực hiện về các khoản trả trợ cấp ngắn hạn (trợ cập đau ốm, thai sản và tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp đối với người đang làm việc)
Trong văn kiện Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ, cần đổimới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc cácthành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏingân sách.Tiếp đến văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII cũng đã nêu lên “Mở rộng chế độBHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế” Như vậy, các văn bản trêncủa Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới chính sáchBHXH nước ta theo cơ chế thị trường.Từ tháng 1 năm 1995, Bộ Luật Lao động có hiệulực, trong đó có chương XII về BHXH để hướng dẫn thực hiện Bộ luật Lao động Ngày16/02/1995 Chính phủ ban hành Nghị định 19/CP thành lập hệ thống Bảo hiểm xã hộiViệt Nam để quản lý thực hiện chính sách BHXH và quản lý quỹ BHXH Ngày26/1/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP về điều lệ BHXH đối với dân sự với
5 chế độ bảo hiểm xã hội: chế độ trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn laođộng và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và trợ cấp tử tuất; và ngày 15/7/1995 ban hànhNghị định số 45 quy định về BHXH đối với quân sự (quân đội, công an) Trong 2 nghịđịnh của Chính phủ đã có quy định về hình thành quỹ BHXH trên cơ sở thu BHXH baogồm người sử dụng lao động đóng 15% quỹ tiền lương và người lao động đóng 5% tiềnlương hàng tháng Quỹ BHXH được bảo tồn, tăng trưởng và được Nhà nước bảo hộ
Ngày 24/1/2002 Chính phủ có quyết định số 20/2002/QĐTTg chuyển hệ thốngbảo hiểm y tế trực thuộc Bộ Y tế sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam và ngày 6 tháng 12năm 2002 Chính phủ ra quyết định 100/NĐCP quyết định chức năng nhiệm vụ , quyềnhạn và tổ chức bộ máy của BHXH (bao gồm cả bảo hiểm y tế)
Ngày 16/12/2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 100 quy định chức năng,nghiệp vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Trong đó khẳng định
Trang 38BHXH Việt Nam là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, có chức năng thực hiện chínhsách, chế độ BHXH, BHYT (gọi chung là BHXH) và quản lý quỹ BHXH theo quy địnhcủa pháp luật Đến tháng 1/2003 Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ra Quyết định số02/2003/QĐ-TTg ban hành về quy chế quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam.
Đặc biệt, từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 29 tháng 6 năm 2006, tại kỳ họp thứ 9 Quốchội khoá XI của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội đã thông qua luậtBảo hiểm xã hội Tại đây đã quy định rõ ràng cho từng chế độ, quyền và nghĩa vụ cho cácbên tham gia, mặt khác nhiều vấn đề đã được sửa đổi bổ sung để phù hợp với khả năngtài chính của quỹ và trình độ quản lý BHXH, tạo điều kiện cho BHXH không ngừng lớnmạnh, đáp ứng nhu cầu tham gia của mọi tầng lớp nhân dân
Như vậy, chỉ sau hơn 10 năm thành lập, một chặng đường chưa phải là dài so vớiquá trình hình thành và phát triển chính sách BHXH, BHYT của nước ta kể từ năm 1945,nhưng là khoảng thời gian hết sức quan trọng để BHXH Việt Nam bằng hành động thựctiễn và kết quả cụ thể khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của việc đổi mới chính sáchBHXH, BHYT của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2 Chức năng và nhiệm vụ của BHXH Việt Nam
2.1 Chức năng của Bảo hiểm xã hội Việt Nam:
BHXH Việt Nam là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, có chức năng thực hiệnchính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định củapháp luật
2.2 Nhiệm vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
+ Xây dựng, trình thủ tướng Chính phủ phê duyệt:
- Chiến lược phát triển ngành BHXH Việt Nam và kế hoạch dài hạn, năm năm vềthực hiện chính sách, chế độ BHXH
- Đề án bảo tồn giá trị và tăng trưởng Quỹ BHXH
+ Chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách, chế độ BHXH; thu các khoản đóngBHXH bắt buộc và tự nguyện; chi các khoản trợ cáp về BHXH cho đối tượng tham giaBHXH đầy đủ, thuận tiện, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật
+ Cấp các loại sổ thẻ bảo hiểm xã hội
+ Quản lý Quỹ BHXH theo nguyên tắc tập trung thống nhất theo chế độ tài chínhcủa Nhà nước, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ
Trang 39Kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng chính phủ và các cơ quan nhà nước có liên quan vềviệc sủa đổi bổ sung chính sách, chế độ về bảo hiểm xã hội; cơ chế quản lý quỹ, cơ chếquản lý tài chính (kể cả chi phí quản lý bộ máy của Bảo hiểm xã hội Việt Nam) và tổchức thực hiện sau khi được phê duyệt.
+ Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện việc giải quyết các chế độ bảo hiểm
xã hội và nghiệp vụ thu, chi bảo hiểm xã hội theo thẩm quyền; quản lý nội bộ ngànhBHXH Việt Nam
+Tổ chức hợp đồng với các cơ sở khám chữa bệnh hợp pháp để phục vụ người có
sổ, thẻ bảo hiểm theo quy định của pháp luật
+ Kiểm tra việc ký hợp đồng và việc thu, chi bảo hiểm xã hộiđối với cơ quan, đơn
vị, tổ chức sử dụng lao động, cá nhân, cơ sở khám chữa bệnh; kiến nghị với cơ quan Nhànước có thẩm quyền và cơ quan cấp trên của đơn vị sử dụng lao động, cơ sở khám chữabệnh để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội
+ Từ chối việc chi các chế độ BHXH khi đối tượng tham gia bảo hiểm không đủđiều kiện hưởng bảo hiểm theo quy định của pháp luật hoặc khi có căn cứ pháp lý về cáchành vi giả mạo, khai man hồ sơ để hưởng bảo hiểm
+ Bồi thường mọi khoản thu, chi sai quy định của pháp luật về chế độ BHXH chođối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức và cá nhân về việc thực hiện chính sách,chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật
+ Lưu trữ hồ sơ của đối tượng tham gia và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quyđịnh của pháp luật
+ Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học; ứng dụng công nghệ thông tin trongquản lý, điều hành hoạt động bảo hiểm xã hội
+ Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ bảo hiểm xã hội
+ Tổ chức công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội.+ Thực hiện hợp tác quốc tế về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.+ Chủ trì, phối hợp với các cơ quan Nhà nước,các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức
xã hội ở Trung ương và địa phương, với các bên tham gia BHXH để giải quyết các vấn
đề có liên quan đến việc thực hiện chính sách, chế độ BHXH theo quy định của pháp luật
Trang 40+ Quản lý tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước; tài chính và tài sảncủa BHXH Việt Nam theo quy định của pháp luật.
+ Thực hiện chế độ báo cáo với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quanNhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
3 Hệ thống tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam:
Căn cứ vào Nghị định số 19/CP ngày 16/02/2005 của Chính phủ về việc thành lậpBHXH Việt Nam,ngày 26/9/1995 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 606/TTgquy định tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam Theo Quyết định này, BHXH ViệtNam được tổ chức quản lý theo ngành dọc 3 cấp từ Trung ương đến cấp huyện
BHXH Việt Nam do Tổng Giám đốc trực tiếp quản lý, điều hành theo chế độ thủtrưởng và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản lý Giúp việc cho Tổng giám đốc là cácPhó Tổng giám đốc và các phòng ban nghiệp vụ chuyên môn
Bộ máy quản lý giúp việc cho Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam hiện nay, gồm có:
12.Trung tâm nghiên cứu khoa học BHXH
13.Trung tâm công nghệ thông tin
14.Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ BHXH
15.Trung tâm lưu trữ
16.Báo BHXH
17.Tạp chí BHXH