I/Khái niệm mẫu tính 1 Báo cáo khoa học Chu Thị Thu Hằng PHẦN MỞ ĐẦU I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1 Mẫu tính là một khái niệm xuất hiện nhiều trong các lĩnh vực văn hoá, văn học, đặc biệt là văn học dân gian N[.]
LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Hoàng Cầm là một tác giả nổi bật trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Có nhiều nghiên cứu và bài viết về Hoàng Cầm và thơ của ông, từ đó khẳng định vai trò quan trọng của ông trong tiến trình thơ ca Việt Nam Bài viết này sẽ điểm qua một số công trình và bài viết tiêu biểu có liên quan trực tiếp đến báo cáo này.
Trong bài viết “Hoàng Cầm – người dệt thơ từ những giấc mơ”, TS Nguyễn Đăng Điệp đã tập trung vào các yếu tố siêu thực, vô thức và nhục cảm trong tác phẩm “Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm.
Lớp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
2 Đỗ Đức Hiểu trong bài “ Thơ mới – cuộc nổi loạn ngôn từ” đã nhấn mạnh nhạc tính và nhịp điệu trong thơ Hoàng Cầm
3 Phạm Thị Hoài viết “Đọc Mưa Thuận Thành của Hoàng Cầm” thấy có nhiều tính nữ
Trần Thị Huyền Phương trong luận án thạc sĩ “Sự kết hợp giữa yếu tố thực và hư trong thơ Hoàng Cầm” đã phân tích vẻ đẹp siêu thực của người phụ nữ trong thơ của Hoàng Cầm.
5 GS Nguyễn Đăng Mạnh trong “ Mấy ý nghĩ nhân đọc Mưa Thuận
Thành” đã cho rằng thơ Hoàng Cầm là “siêu thơ”
6 TS Đỗ Lai Thúy lại tiếp cận thơ Hoàng Cầm ở khía cạnh tiểu sử và phân tâm học khi cho rằng “Về Kinh Bắc” như một giấc mơ.
Trong bài viết “Hoàng Cầm – gã phù du Kinh Bắc”, TS Chu Văn Sơn đã phân tích hệ thống hình tượng trong thơ Hoàng Cầm qua ba yếu tố: cái tôi bị trúng thương, người tình hờ hững và thế giới Kinh Bắc bị trúng thương Những bài viết này đã hỗ trợ đáng kể cho tác giả trong việc hoàn thành báo cáo này.
GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Thơ Hoàng Cầm là một thế giới “siêu thơ” phức tạp và sâu sắc Bài viết không nhằm mục đích khám phá toàn bộ thế giới thơ của ông, mà tập trung vào việc tìm hiểu “Vẻ đẹp mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm” Qua đó, bài viết sẽ đưa ra những nhận xét ban đầu về vai trò và giá trị của yếu tố này trong tác phẩm của Hoàng Cầm.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp thống kê, phân loại
2 Phương pháp phân tích tác phẩm
3 Phương pháp so sánh đối chiếu
CẤU TRÚC CỦA BÁO CÁO
Chương 1: Khái niệm mẫu tính
Lớp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Chương 2: Biểu hiện của tính mẫu trong thơ Hoàng Cầm
Chương 3: Nguồn gốc của mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm
Chương 4: Giá trị của mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm
Lớp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
KHÁI NIỆM MẪU TÍNH
Mẫu tính
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Hoàng Cầm là một tác giả nổi bật trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Có nhiều nghiên cứu và bài viết về Hoàng Cầm và thơ của ông, từ đó khẳng định vai trò quan trọng của ông trong tiến trình thơ ca Việt Nam Bài viết này sẽ điểm qua một số công trình và bài viết tiêu biểu có liên quan trực tiếp đến nội dung báo cáo.
1 TS Nguyễn Đăng Điệp trong bài “Hoàng Cầm – người dệt thơ từ những giấc mơ” đã chú ý nhiều đến yếu tố siêu thực, vô thức, nhục cảm trong “ Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm.
Lớp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
2 Đỗ Đức Hiểu trong bài “ Thơ mới – cuộc nổi loạn ngôn từ” đã nhấn mạnh nhạc tính và nhịp điệu trong thơ Hoàng Cầm
3 Phạm Thị Hoài viết “Đọc Mưa Thuận Thành của Hoàng Cầm” thấy có nhiều tính nữ
4 Trần Thị Huyền Phương trong luận án thạc sĩ “Sự kết hợp giữa yếu tố thực và hư trong thơ Hoàng Cầm” cũng nói đến vẻ đẹp siêu thực của người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm
5 GS Nguyễn Đăng Mạnh trong “ Mấy ý nghĩ nhân đọc Mưa Thuận
Thành” đã cho rằng thơ Hoàng Cầm là “siêu thơ”
6 TS Đỗ Lai Thúy lại tiếp cận thơ Hoàng Cầm ở khía cạnh tiểu sử và phân tâm học khi cho rằng “Về Kinh Bắc” như một giấc mơ.
7 TS Chu Văn Sơn trong bài “ Hoàng Cầm – gã phù du Kinh Bắc” tiếp cận hệ thống hình tượng trong thơ Hoàng Cầm với bộ ba : cái tôi bị trúng thương, người tình hờ hững và thế giới Kinh Bắc bị trúng thương. Các bài viết trên đã giúp ích rất nhiều cho người viết hoàn thành báo cáo này.
III GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Thơ Hoàng Cầm là một thế giới “siêu thơ” phức tạp và khó nắm bắt Bài viết không nhằm mục đích hiểu toàn bộ thế giới thơ ấy, mà tập trung vào việc khám phá “Vẻ đẹp mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm” Qua đó, bài viết sẽ đưa ra những nhận xét ban đầu về vai trò và giá trị của yếu tố này trong thơ của Hoàng Cầm.
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp thống kê, phân loại
2 Phương pháp phân tích tác phẩm
3 Phương pháp so sánh đối chiếu
V CẤU TRÚC CỦA BÁO CÁO
Chương 1: Khái niệm mẫu tính
Lớp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Chương 2: Biểu hiện của tính mẫu trong thơ Hoàng Cầm
Chương 3: Nguồn gốc của mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm
Chương 4: Giá trị của mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm
Lớp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM MẪU TÍNH
1 Tính nữ, thiên tính nữ, âm tính :
Tính nữ là một thuật ngữ quan trọng trong biểu tượng văn hóa thế giới, thường không được phân biệt rõ ràng với nữ tính Nữ tính thể hiện vẻ đẹp của phụ nữ qua nhiều biểu hiện phong phú, trong khi tính nữ là khái niệm phát triển cao hơn Theo Jean Chevalier và Alain Gheerbranta trong “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới”, tính nữ tượng trưng cho phương diện vô thức Anima Trong Thiên chúa giáo, Đức mẹ đồng trinh là biểu tượng cao cả của tính nữ, thể hiện sự hoàn hảo, vẻ đẹp và những phẩm chất của tình yêu nhục dục Tính nữ đã được kết tinh thành những biểu tượng văn hóa sâu sắc.
Thiên tính nữ được hiểu là nữ tính trong nghệ thuật, không nhất thiết phải đến từ tác giả nữ, mà thể hiện qua hình tượng nhân vật, ngôn ngữ và lối tư duy Hoàng Ngọc Hiến trong tác phẩm “Tính nữ, thiên tính nữ - đặc điểm trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp” nhấn mạnh rằng thiên tính nữ vượt lên trên nhân loại và có nguồn gốc cổ xưa Các nhân vật nữ trong tác phẩm thường là những người xuất sắc, nhiều người xứng đáng được gọi là liệt nữ, thể hiện nguyên tắc tư tưởng chủ đạo của tác giả, được gọi là nguyên tắc tính nữ hoặc thiên tính nữ.
Âm tính là khái niệm xuất phát từ cặp phạm trù triết học âm – dương, trong đó âm và dương tương tác lẫn nhau để tạo ra mọi vật Theo GS Trần Ngọc Thêm, tư tưởng âm – dương là sản phẩm của dân Nam Á - Bách Việt cổ đại, không phải từ Trung Hoa Thuật ngữ âm - dương có nguồn gốc từ Ina-yang trong tiếng Đông Nam Á cổ đại, mang ý nghĩa Mẹ - Cha/ Đất - Trời.
17] Tính nữ, thiên tính nữ đều thuộc âm tính, đối lập với phụ tính-dương tính.
1.1 Trong từ điển Hán Việt (Thiều Chửu, NXB Thanh Niên, 2004). Mẫu có nghĩa là Mẹ; “phàm vật gì làm cốt để sinh ra các cái đều gọi là
Mẫu” Trong tiếng Việt cổ, Mẹ còn được gọi là Mệ,Mạ
Trong triết học và văn hóa học, khái niệm nguyên lý tính Mẫu hay nguyên lý Mẹ thể hiện sự tôn vinh vai trò của phụ nữ trong xã hội Văn hóa tính Mẫu, khác với nền văn hóa phương bắc, nhấn mạnh rằng "thế giới tâm linh của người Việt Nam là do nữ giới cai quản." Sự coi trọng phụ nữ đã dẫn đến việc nhân dân sùng bái sự sinh sôi, nảy nở không chỉ của con người mà còn của tự nhiên, tạo nên tín ngưỡng phồn thực mang đậm bản sắc dân gian.
Khái niệm nguyên lý Mẹ, được GS Trần Quốc Vượng và sư Thích Nguyên Hiến nghiên cứu, được coi là nền tảng gốc của văn hóa Việt Nam Các công trình của họ, như "Tiếp cận văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm" (NXB VHTT, HN), đã làm rõ vai trò quan trọng của nguyên lý này trong việc hình thành và phát triển văn hóa dân tộc.
Theo TS Trần Văn Đoàn trong luận án tiến sĩ triết học phương Đông (tháng 6/2006), nguyên lý tính Mẫu bao gồm bốn yếu tố: sinh, dưỡng, dục, lạc Nền văn hóa Việt Nam đặc biệt coi trọng vai trò của người Mẹ, do đó, lối suy tư Mẫu tính đã trở thành một đặc trưng nổi bật trong văn hóa Việt.
Lớp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Tín ngưỡng thờ Mẫu, hay thờ Mẹ, được thể hiện rõ nét trong Đạo Mẫu, phản ánh ý thức sâu sắc của con người về sự sinh sản và sự sống từ thời nguyên thủy Sự tôn thờ này không chỉ là biểu hiện của lòng biết ơn mà còn là sự kết nối với nguồn cội và bản năng sinh tồn.
Mẹ là hình ảnh biểu trưng cho sự sinh sôi, nuôi dưỡng và che chở cho con cái, giúp con người vượt qua thiên tai và thú dữ Tất cả những gì mang lại sự sống và bảo vệ con người đều được coi là Mẹ.
Trần Văn Đoàn đã khái quát bốn giá trị của Mẫu tính trong nghiên cứu văn hóa học, bao gồm sinh, dưỡng, dục, và lạc Đạo Mẫu thể hiện tam tòa Thiên-Địa-Nhân qua các Mẫu như Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Liễu Hạnh Trong điện thờ Mẫu, có câu đối thể hiện sự tôn kính và ý nghĩa sâu sắc của các Mẫu.
Vô danh thiên địa chi thủy
Hữu danh vạn vật chi Mẫu
Trước khi trời đất hình thành, mọi vật đều bắt nguồn từ người Mẹ Điều này tôn vinh vai trò của người Mẹ, như một khởi thủy sinh ra vạn vật trong vũ trụ.
BIỂU HIỆN CỦA MẪU TÍNH TRONG THƠ HOÀNG CẦM
Mẫu tính thể hiện trong nội dung tư tưởng;
1.1 Quan niệm của Hoàng Cầm về mẫu tính
Văn học Việt Nam, qua các giai đoạn lịch sử, luôn mang vẻ đẹp mẫu tính với những sắc thái đa dạng Từ thời kỳ văn học dân gian với thần thoại, cổ tích và sử thi, mẫu tính đã trở thành đặc trưng của văn hóa dân tộc Nhân dân đã thể hiện sự tôn kính đối với các nữ thần như Nữ Oa, Thần Thủy, và các mẹ như Mẹ Cây, Mẹ Đất, Mẹ Trời, như một nghi thức thiêng liêng hướng về nguồn cội Trong thời kỳ văn học viết, dù trải qua hàng ngàn năm phong kiến và nhiều năm dân chủ, mẫu tính vẫn là nguồn mạch chảy trong văn học dân tộc, được các nhà văn thể hiện qua nhiều tác phẩm với những mức độ và góc độ khác nhau.
Nhìn từ góc độ đồng đại, các tác giả nổi bật cuối thế kỷ XX như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, và Phạm Thị Hoài, mặc dù không cùng thế hệ với Hoàng Cầm, đã thể hiện mẫu tính qua những tác phẩm đầy trải nghiệm và sáng tạo như Phẩm tiết, Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, và Thiên sứ Mỗi nhà văn mang đến một cái nhìn độc đáo và sâu sắc về chủ đề này.
Lớp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP thức lý thuyết và những quan niệm nghệ thuật thẩm mỹ riêng của mình về vấn đề này.
Hoàng Cầm thể hiện sự nhạy cảm đặc biệt với tính mẫu qua bài thơ “Theo dòng mẫu hệ” Ông không chỉ khẳng định “tôi theo dòng mẫu hệ” mà còn huyền thoại hóa những người phụ nữ trong quá khứ như Bà Trưng, Mỵ Châu, Ỷ Lan, Lý Chiêu Hoàng, Đặng Thị Huệ, Ngọc Hân, Trần Thị Tần Những nhân vật này xuất hiện trong lịch sử dân tộc, tạo nên một tính mẫu bao trùm với vẻ đẹp siêu thực, vượt lên trên thực tại Họ gợi nhớ đến cái hồn thiêng của dân tộc, khiến cho những nét đẹp diễm lệ của quá khứ vẫn sống mãi trong tâm trí chúng ta: “Mải theo dòng mẫu hệ Thắt yếm đào tuổi son Buộc bướm vào hoa lệ”.
Thế giới mẫu tính trong tác phẩm của Hoàng Cầm không chỉ ghi danh những trang liệt nữ vĩ đại mà còn tôn vinh những người mẹ, những người phụ nữ bình dị, gần gũi và quê mùa Họ mang trong mình khát khao và khả năng sản sinh, nảy nở, thể hiện vẻ đẹp tiềm ẩn của cuộc sống.
Thơ Hoàng Cầm thể hiện sự trở về cội nguồn và quê hương, gắn liền với kỷ niệm tuổi thơ Quan niệm của nhà thơ về mẫu tính được thể hiện qua câu nói: “Nói đến quê hương phải bắt đầu từ mẹ.” Mẹ không chỉ là điểm khởi đầu mà còn là điểm dừng, là nguồn cảm hứng và là sự trở về trong dòng thơ đầy ẩn ức của ông.
1.2 Tính mẫu trong thế giới hình tượng:
Theo TS Chu Văn Sơn, thế giới hình tượng của nhà thơ trữ tình xoay quanh ba yếu tố chính: Tôi - Người tình - Thế giới Trong đó, cái tôi thi sĩ đóng vai trò trung tâm, phản chiếu hình bóng của nó vào người tình và thế giới xung quanh.
Người tình trong thơ ca, đặc biệt là trong tác phẩm của sinh viên lớp K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP, chính là hình ảnh phản chiếu tâm hồn của thi nhân Đây là không gian để bộc lộ cảm xúc và thể hiện lý tưởng thẩm mỹ của nhà thơ.
1.2.1 Mẫu tính thể hiện qua hình tượng cái tôi trữ tình
Chủ thể trữ tình trong thơ Hoàng Cầm thể hiện qua hình ảnh người em trong tình yêu và người con trong tình mẫu tử, hai tâm thế này có thể tách biệt hoặc hòa quyện vào nhau Tình yêu dành cho chị không chỉ đơn thuần là tình yêu mà còn chứa đựng tình mẫu tử thiêng liêng Trong thế giới ấy, tôi luôn là kẻ kiếm tìm, nương tựa vào tình yêu của chị và mẹ Hình tượng Chị và Mẹ chính là đại diện cho thế giới Mẫu tính, tạo nên một cái tôi nhạy cảm và sâu sắc.
Cái tôi - người Em trong những bài thơ về mối tình Chị - Em, đặc biệt trong nhịp 5 – còn Em (Về Kinh Bắc), thể hiện một tình yêu trẻ thơ nhưng không ngại ngần những yếu tố nhục cảm Đây không chỉ là tình yêu của trò chơi con trẻ mà còn là sự thăng hoa của một tâm hồn đầy ẩn ức Tình yêu của Em dành cho Chị mang sắc màu mẫu tính, với cái nhìn thân thiết và thiêng liêng như người Mẹ Người Chị, với những bản năng của Mẹ, trở thành nơi vỗ về, che chở, và là nguồn yêu thương, hơi ấm của cuộc đời Em.
Tư thế của người Em trong tình yêu thể hiện sự bé nhỏ và đơn côi, lang thang trong không gian và thời gian để tìm kiếm tình yêu của Chị Em luôn phải chạy theo và níu giữ tình yêu ấy, bị ám ảnh bởi nỗi đau khi Chị bỏ đi Hành trình của Em có thể được ví như “hành trình đi tìm lá Diêu Bông” hay “kẻ đi tìm mộng” cho giấc mơ tình yêu không bao giờ thỏa mãn, dù biết rằng Diêu Bông không có thực Tại “cây tam cúc”, Em đã tìm kiếm hơi ấm tình yêu của Chị và nhận ra vẻ đẹp mà Em thầm khao khát từ nơi Chị.
“Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì” thể hiện khoảnh khắc hạnh phúc quý giá mà em đã nắm bắt, với ước mong ngây thơ “Em đừng lớn nữa, Chị đừng đi” Giống như nhân vật trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu, em khao khát “tắt nắng, buộc gió” để giữ mãi hạnh phúc, tuổi trẻ và tình yêu bên mình Mọi ước mong và khát vọng đều mang tính bồng bột, mê say và lãng mạn, thể hiện hành trình tìm kiếm hạnh phúc của em vượt qua mọi giới hạn không gian và thời gian.
Em cầm chiếc lá đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Lá Diêu bông tượng trưng cho một ảo tưởng tình yêu, nơi Em khao khát tìm kiếm tấm lòng yêu thương ngây thơ và nhiệt thành của cậu bé tám tuổi Dù biết rằng điều đó không có thực, Em vẫn tiếp tục hành trình cho đến khi "ngày tháng lụi", nhưng vẫn không thể tìm thấy "quả vườn ổi" của chính mình.
- Xin Chị một quả chín!
- Quả chín quá tầm tay
- Xin Chị một quả ương
- Quả ương chim khoét thủng (Quả vườn ổi) Lớp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Em và Chị đại diện cho hai thế giới khác nhau; Em luôn “lẽo đẽo” theo Chị, khao khát tình yêu nhưng lại bị ngăn cách bởi những chướng ngại vật Những hình ảnh như “cheo leo mỏm đá / trước vực / sau khe” thể hiện rõ sự khó khăn trong hành trình tìm kiếm tình yêu của Em Các biểu tượng như Lá Diêu bông, Cỏ Bồng Thi hay Cỏ Thiên Đồng chỉ là những ảo ảnh, những giấc mơ không thể chạm tới Giống như “quả vườn ổi” là thứ trái cấm mà Em không bao giờ có được, Em luôn cảm thấy lạc lõng khi theo sau “lẽo đẽo Em đi vườn mai sau / cúi nhặt chiều mưa dăm ba quả rụng”, bởi vì “Chị bỏ Em đi”.
Em luôn khao khát tình yêu từ Chị, nhưng Chị lại từ chối và ngăn cản Em, khiến Em mãi là chú bé lạc loài tìm kiếm hạnh phúc trong những ảo ảnh.
Sau mỗi cuộc hành trình, Em luôn trải qua bi kịch không lối thoát, với tâm trạng khổ đau và tuyệt vọng Em bị giày vò bởi tình yêu không được đáp đền, dẫn đến những cảm xúc thất bại và đổ vỡ Sự tan nát của trái tim non nớt đã tạo ra những khối đau thương và mặc cảm trong tình yêu Dù chơi tam cúc cùng Chị, nhưng tình cảm của Em không thể bộc lộ, chỉ còn lại khối tình nghẹn uất không thể tiêu tan Trong bi kịch tình yêu của Em, có đủ mọi cung bậc của nhớ thương, hờn giận.
Ngày Chị bảo Em quên
( ) Thương Em hay giận Em chả biết.
( ) Ngày Chị bảo Em quên
Tắm sông Thương không mát
Lên ngọn Kỳ Cùng vục nước rửa chân không mát
Về đuôi mắt xưa nước suối Cam Lồ không mát
Lớp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Thế giới thiếu vắng tình yêu của Chị là thế giới của sự đổ vỡ sự chắp vá của những mảnh rời rạc không còn nguyên trạng:
Tranh Tố Nữ long hồ gián nhấm mất chân đi má đội tổ tò vò
Cuốn chiếu xa rồi thơ thẩn vách chiêm bao
Biểu hiện của mẫu tính trong nghệ thuật thơ
2.1 Chất liệu dệt nên những bài thơ của Hoàng Cầm thấm đẫm tính mẫu từ kho văn hóa dân gian – lịch sử, thành ngữ, tục ngữ, ca dao viết về mẹ
Thế giới nghệ thuật trong thơ Hoàng Cầm phản ánh những câu chuyện xưa và huyền tích về những người phụ nữ vĩ đại của dân tộc Các nhân vật như Giáng Tiên, Đặng Thị Huệ, Ỷ Lan, Mị Châu, Tiên Dung, cùng Hai Bà Trưng và Bà Triệu không chỉ xuất hiện trong sử sách mà còn được huyền thoại hóa, trở thành biểu tượng linh thiêng trong đời sống tinh thần của người Việt Những vần thơ của Hoàng Cầm tôn vinh vẻ đẹp mẫu tính qua những hình ảnh sống động và ý nghĩa sâu sắc.
Dải yếm là hình tượng quen thuộc và biểu tượng ám ảnh trong thơ Hoàng Cầm, thể hiện khát khao yêu đương của những người con gái xưa Câu thơ “Ước gì sông rộng tày gang / Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi” gợi lên ước vọng kết nối và tình yêu sâu sắc.
Kho tàng thành ngữ, tục ngữ, ca dao của dân tộc ta về người phụ nữ và mẹ rất phong phú, thể hiện vẻ đẹp “chân quê” qua tác phẩm của Nguyễn Bính Hoàng Cầm đã khéo léo sử dụng chất liệu từ ca dao và thành ngữ trong đời sống để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật, chuyển tải cảm hứng về tính mẫu trong thơ.
Hoàng Cầm đã thể hiện nỗi đau xa mẹ qua những câu thơ sâu sắc như “Tìm trong lá bánh thấy gì / Mắt mẹ ơ hờ thoảng bóng mi” Cảm xúc nghẹn ngào được khắc họa rõ nét trong câu thơ “Trời mưa bong bóng phập phồng / Mẹ đi lấy chồng, con ở với ai”, thể hiện sự cô đơn và trống vắng khi phải sống xa mẹ Hình ảnh “Có giỗ bên sông chừng mưa xa / Phập phồng bong bóng” càng làm nổi bật nỗi nhớ và sự thiếu thốn tình cảm trong cuộc sống.
Bài thơ “Đi xa” của Hoàng Cầm khắc họa vẻ đẹp của quê hương với những địa danh nổi tiếng như Đồng Đăng và hình ảnh nàng Tô Thị, gợi nhớ về những kỷ niệm sâu sắc trong tâm thức cộng đồng Nỗi đau và thân phận người phụ nữ cũng được thể hiện rõ nét qua những câu thơ đầy hình ảnh và cảm xúc, như “Thân em như tấm lụa đào” hay “Đừng ví thân Em hạt gạo tám xoan”, phản ánh sự nhạy cảm và khát khao được trân trọng trong cuộc sống.
2.2 Cấu tứ chung của những bài thơ thường là cuộc đối thoại giữa Con và Mẹ
Thơ Hoàng Cầm, đặc biệt là trong tác phẩm “Về Kinh Bắc”, thường được xây dựng dưới hình thức đối thoại giữa Con và Mẹ Mở đầu bài thơ, hình ảnh người con cúi đầu thành kính trở về với mẹ và cội nguồn được thể hiện qua câu: “Cúi lạy Mẹ, con trở về Kinh Bắc” Tiếp theo là những tâm sự sâu lắng của Con dành cho Mẹ.
Mẹ: “Về Kinh Bắc phải đâu con nghẹn khóc”, “ Về Kinh Bắc phải đâu con hé miệng”, “Về Kinh Bắc phải đâu con nhắm mắt” Trong bài “Đứa trẻ”,
“Đợi mùa”, “Quà mẹ”, “Luân hồi”… tâm thế của cái tôi trữ tình chính là người Con trong cuộc đối thoại với Mẹ:
Con đã về Kinh Bắc
Luân lưu thụ thai qua chín đời Đằng đẵng Đến khi con lọt lòng
Lớp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP
Chính cái tâm thế ấy của cái tôi trữ tình đã tạo nên vẻ đẹp mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm.