Lãng mạn và đa cảm là vậy, Thiên Bình dễ dàng có được những thể nghiệm tìnhyêu phong phú: đó là lí do đã không ít người đến và đi trong cuộc đời Xuân Quỳnh.Cũng có người cho rằng, Thiên
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÁO CÁO MÔN VĂN HỌC VIỆT NĂM TỪ 1975 ĐẾN NAY
YẾU TỐ LẠ HÓA TRONG THƠ XUÂN QUỲNH SAU 1975
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện:
TS Lê Văn Phương Huỳnh Văn Hòa B1911802
Trần Thị Nhật Lan B1911811
Lê Thị Đan Thanh B1911851Nguyễn Phúc Khang B1911915Nguyễn Thị Kiều Oanh B1911949Lâm Thạch Thiên B1911962Sơn Minh Thư B1911968Nguyễn Thị Thanh Trúc B1911979
Hồ Thanh Xuân B1911990
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG THỰC HIỆN
hoàn thành
1 B1911802 Huỳnh Văn Hoà - Lạ hóa thời gian nghệ
2 B1911811 Trần Thị Nhật Lan - Lạ hóa về hình ảnh thơ 100%
3 B1911851 Lê Thị Đan Thanh - Lạ hóa về không gian
5 B1911949 Nguyễn Thị Kiều Oanh - Lạ hóa về cấu trúc thơ 100%
6 B1911962 Lâm Thạch Thiên - Sự kế thừa và tiếp biến 100%
7 B1911968 Sơn Minh Thư - Dấu ấn của yếu tố lạ hóa
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
1 Khái quát chung 4
1.1 Tìm hiểu chung về nhà thơ Xuân Quỳnh 4
1.1.1 Cuộc đời 4
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 7
1.2 Khái niệm lạ hóa 9
1.3 Đặc điểm của thơ lạ hóa 10
1.4 Dấu ấn của yếu tố lạ hóa trong thơ Xuân Quỳnh trên thi đàn Việt Nam 10
2 Đặc trưng thi pháp lạ hóa trong thơ Xuân Quỳnh sau 1975 12
2.1 Lạ hóa về cấu trúc thơ 12
2.2 Lạ hóa về không gian và thời gian nghệ thuật 18
2.3 Lạ hóa về hình ảnh thơ 28
2.4 Lạ hóa về ngôn từ và giọng điệu nghệ thuật 32
3 Sự kế thừa và tiếp biến của yếu tố lạ hóa trong thơ Xuân Quỳnh 36
3.1 Sự kế thừa yếu tố lạ hóa trước năm 1975 36
3.2 Sự tiếp biến của yếu tố lạ hóa sau 1975 39
4 Kết luận 41
5 Tài liệu tham khảo 41
Trang 41 Khái quát chung
1.1 Tìm hiểu chung về nhà thơ Xuân Quỳnh
1.1.1 Cuộc đời
Xuân Quỳnh tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10 năm
1942 tại xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là phường La Khê, quận HàĐông, Hà Nội) Xuất thân trong một gia đình công chức, mẹ mất sớm, bố thườngxuyên công tác xa gia đình, Xuân Quỳnh được bà nội nuôi dạy từ nhỏ đến khi trưởngthành Bà được thừa hưởng nhan sắc, phẩm hạnh của người mẹ và tình yêu văn chươngcủa người cha, nhưng cuộc đời sớm chịu thiệt thòi, tuổi thơ bị đánh cắp Hai tuổi XuânQuỳnh mồ côi mẹ, cha có gia đình mới và chuyển vào miền Nam sinh sống XuânQuỳnh cùng chị gái Đông Mai nương tựa vào bà nội
Tháng 2 năm 1956, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trungương và được đào tạo thành diễn viên múa Bà đã nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài
và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới năm 1959 tại Vienna (Áo) Nhưng say mêthơ, bà đã quyết định từ bỏ ánh đèn sân khấu để chuyên tâm sáng tác Xuân Quỳnhtheo đuổi nghiệp văn chương khi chỉ có vốn văn hoá lớp 6, bà đã cần mẫn học tậptrong suốt cuộc đời cầm bút Sau khi tốt nghiệp lớp bồi dưỡng viết văn của Hội nhàvăn ở Quảng Bá, bà đã trải qua nhiều công việc khác nhau, cuối cùng về làm biên tậpthơ ở báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt Nam và nhà xuất bản Tác phẩm mới XuânQuỳnh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1967
Xuân Quỳnh tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ tại tuyến lửa Vĩnh Linh,
Quảng Trị và cho ra đời hai tập thơ Hoa dọc chiến hào và Gió Lào cát trắng và được
xem là gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ trẻ thời chống Mĩ Thành công với vănchương nhưng hạnh phúc gia đình sớm tan vỡ Năm 1973, bà tái hôn với nhà viết kịchLưu Quang Vũ và sống hạnh phúc cho đến ngày 29/8/1988 vì cả gia đình nhỏ củaXuân Quỳnh thiệt mạng trong một tai nạn giao thông ở cầu Phú Lương - Hải Dương
Trang 5Dù đã ra đi nhưng Xuân Quỳnh đã kịp để lại cho đời một cõi tình thơ ngọt ngào,sâu lắng để biết bao thế hệ bạn đọc hoài thương nhớ Và những thi phẩm của chị sẽmang giá trị vượt thời gian vì nó đã được bén rễ và nảy nở lên từ một tâm hồn đầy yêuthương, vị tha, bao dung và nặng tình với đời Xuân Quỳnh đã ra đi mãi mãi khi tuổiđời và tài năng đã đến độ hứa hẹn mang đến những đóng góp vĩ đại cho nền thơ cahiện đại của Việt Nam.
Xuân Quỳnh – Thiên Bình dịu dàng nhưng đầy bản lĩnh
Sinh ra vào những ngày đầu tháng 10 năm 1942, nữ sĩ Xuân Quỳnh là một ThiênBình đích thực với tất cả những đặc điểm mà người ta thường biết khi nhắc tới cungHoàng đạo này: xinh đẹp, tài hoa, lôi cuốn Ở Xuân Quỳnh không có vẻ đẹp của mộttuyệt sắc giai nhân, nhưng khi nhìn người con gái ấy, trong cái bình dị, giản đơn luônchứa đựng điều gì đó rất ngọt ngào, hấp dẫn không thể gọi tên ra được Quỳnh mồ côi
mẹ, bởi vậy mà ước vọng về một vòng tay che chở, một mái nhà với hạnh phúc đủ đầychưa bao giờ nguôi ngoai Chính bởi vậy mà sau này, người đời chợt hiểu sự dịu dàng,đằm thắm không chỉ nằm trong vần thơ cô nữa mà còn tràn ngập trong cái cách cô vunvén tổ ấm của mình: luôn hết lòng và rất đỗi tận tâm
Lãng mạn và đa cảm là vậy, Thiên Bình dễ dàng có được những thể nghiệm tìnhyêu phong phú: đó là lí do đã không ít người đến và đi trong cuộc đời Xuân Quỳnh.Cũng có người cho rằng, Thiên Bình không hẳn là một kẻ hết mình với tình yêu bởinhiều khi họ lưỡng lự, hời hợt lắm!… Cơ mà với Quỳnh thì không thế! Sẵn sàng đáp
lại mấy tiếng “Em cũng không biết nữa” cho câu hỏi muôn đời “Khi nào ta yêu
nhau”, nhưng nàng thơ Thiên Xứng không ngại dứt bỏ thứ tình yêu đã “không hiểu nổi mình” Bản lĩnh của một Thiên Bình hay do dự là khi đã khát khao chân ái thì
không ngại hòa mình vào “biển lớn”, cam lòng thức ngủ cùng con tim trong nỗi nhớ
mong bồi hồi…
Bất chấp cả dự cảm chia lìa, không trọn vẹn:
“Cuộc đời tuy dài thế
Trang 6Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa…”
Lửa đam mê cũng có lúc tàn phai
Nếu tình yêu giữa Quỳnh và Vũ cứ trường tồn như thế mãi, nếu tình yêu của họ
cứ trọn vẹn không sứt mẻ, thì có lẽ, định mệnh thương đau đã không đến với cặp vợchồng nghệ sĩ sớm như vậy Song đời không như là mơ! Trong cuộc hôn nhân đầu, Vũ
mới chỉ là kẻ “biết làm thơ”, chưa thực sự có gì trong tay Bước vào hôn nhân với
Quỳnh, cũng là lúc Vũ thực sự bén duyên với kịch, tài năng của Vũ lúc bấy giờ mớiđược khai thác triệt để, thành công mới gõ cửa mái ấm vốn bình yên của vợ chồng Vũ.Càng lên tới đỉnh cao, ham muốn chinh phục và cống hiến của Bạch Dương càng đượcthôi thúc: Vũ say mê với công việc của mình, tâm đắc với lẽ sống của mình, hài lòngvới thành tựu của mình Vũ muốn đóng góp nhiều hơn nữa, muốn đưa Kịch nói ViệtNam lên tầm cao hơn nữa, muốn mang cuộc đời với muôn màu muôn vẻ của nó tới gầnvới độc giả hơn nữa Quỳnh cũng hiểu và ủng hộ chồng hết mực, vì với Thiên Bìnhbấy giờ, gia đình là trên hết: Quỳnh từ lâu đã chẳng ngại hi sinh Song Vũ càng chóilọi, Quỳnh càng bơ vơ, Vũ càng lớn mạnh, Quỳnh càng mỏi mệt Chính Quỳnh trong
thư gửi cho Vũ đã đành phải đau đớn thú nhận: “Em cảm thấy em già rồi, già về thể
chất đã đành nhưng lại còn già về sự yên phận của người đàn bà, về những sự nhỏ nhen tầm thường của đời sống Em nhìn mặt em trong gương, em thấy em không xứng đáng với anh.” Dự cảm mất mát ban đầu dần dà đã trở thành nỗi ám ảnh đầy đọa
Quỳnh Vũ hiểu lòng vợ, nhưng ý chí và tham vọng vẫn cứ đẩy Bạch Dương ra khơi,càng lúc càng rời xa những mặn nồng thuở ban đầu Cục diện giữa Lửa và Khí ngàynào giờ thay đổi: Bạch Dương hừng hực không thể tìm thấy động lực từ Thiên Bìnhyếu ớt; Thiên Bình u hoài chỉ ngày càng ngột ngạt, lạc lõng trong vầng quang BạchDương… Cả hai bên nhau mà tiếng nói chung dường như không còn nữa, cả Quỳnh và
Vũ đều cảm thấy bất lực trước thực tại tình yêu chua chát này
Trang 7 Cái kết cho tình yêu định mệnh
Cuối cùng, họ chọn cách cùng nhau rời đi để tạo ra phép thử cho tình yêu, để xemrốt cục đam mê ngày cũ có cứu vớt nổi thực tại héo mòn… Tôi có nghe ai đó kể rằng,chuyến đi định mệnh năm ấy của gia đình Vũ – Quỳnh là chuyến đi Xuân Quỳnh quyết
ý muốn theo chân chồng đến một vùng đất khác, với hi vọng tìm lấy chút gì còn sót lạicủa cuộc tình đẹp song đã nhiều nỗi hư hao Tự bản thân Quỳnh, và có lẽ là, cả Vũnữa, cũng muốn cho chính mình và đối phương cơ hội, muốn tìm lại mối nối cho sựgắn kết, để những gì đã mất, những gì còn lại, những gì vẹn lành, những gì rơi gãy,không trôi vào hư không… Thật không may, thiên tình sử bấy giờ đã dường như khéplại: tận cùng của chuyến đi không có câu trả lời cho hai kẻ sĩ – hai người tình một thuởquấn quýt, ấm êm Họ đã định lìa xa nhau, trả tự do cho nhau, buông tay nhau…
Vậy nhưng “sau tất cả”, vẫn là không gì chia cắt nổi Thiên Bình, Bạch Dương vànhững điều “của chúng ta” ngày đó Định mệnh đến vừa đúng lúc, mang cả Quỳnh, cả
Vũ, cả đứa con chung đi, nhưng để lại cho hậu thế những giai thoại buồn và đẹp củamột chuyện tình Người ta tiếc cho Lưu Quang Vũ đang ở độ chín nhất, tiếc cho XuânQuỳnh bởi từ nay không còn những áng thơ hay, tiếc cho cả đứa con nhỏ phải lìa đờicùng bố mẹ Nhưng người ta cũng mong, rằng Vũ, rằng Quỳnh, ở thế giới khác, biết
đâu tìm lại được tình yêu của chính mình, tìm lại được nỗi nhớ mong “cả trong mơ
còn thức” đã vô tình đánh mất.
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác
1.1.2.1 Sáng tác của Xuân Quỳnh trước 1975Xuân Quỳnh có thơ đăng báo Văn nghệ từ năm 1962 Năm 1963, để đánh dấu
thời gian theo học của Xuân Quỳnh ở Quảng Bá, người ta cho in tập thơ Tơ tằm –
Chồi biếc phần Chồi biếc là sáng tác của Xuân Quỳnh Tập thơ mang cái nhìn trong
trẻo, trẻ trung, có khi bồng bột nhưng rất đằm thắm, chân thành trước cuộc đời
Tập thơ Hoa dọc chiến hào (1968, gồm 29 bài), ghi dấu sự trưởng thành và độ
chín của hồn thơ Xuân Quỳnh Tập thơ khẳng định sự bất diệt của cái đẹp – bất diệt
Trang 8ngay trong sự hủy diệt Đây là tập thơ vang vọng âm hưởng của chiến tranh thời chốngMỹ.
Tập thơ Gió Lào cát trắng (1974, gồm 33 bài), ghi lại cảm xúc, suy tư của Xuân
Quỳnh về chiến tranh khi đi thực tế ở Quảng Trị; thể hiện sâu sắc tình cảm của nhà thơvới đất nước, con người Việt Nam trong lửa đạn chiến tranh
1.1.2.2 Sáng tác của Xuân Quỳnh sau 1975Sau 1975, cảm hứng sử thi trong thơ Xuân Quỳnh đã dần được thay thế bằng cảmhứng thế sự đời thường với bao nỗi niềm lo toan về thế thái nhân tình, về sự hữu hạncủa đời người, về dự cảm mong manh về hạnh phúc Giọng điệu trữ tình đằm thắm,
da diết lo âu là nổi bật nhất
Tập thơ Lời ru trên mặt đất (1975 -1978, gồm 34 bài), tập trung thể hiện niềm vui
thống nhất đất nước, sự thay da đổi thịt của dân tộc; hoài niệm về một thời đạn bom
hào hùng nhưng thấm đẫm nghĩa tình tiêu biểu là các bài thơ Đêm cuối năm, hát với
con tàu, những năm tháng không yên
Tập thơ Sân ga chiều em đi (1981, gồm 62 bài), viết về nhiều đề tài khác nhau:
Đề tài tình yêu và những cảm xúc riêng tư; Đề tài chiến tranh; Đề tài viết cho con.Phần lớn các bài thơ in trong tập thơ này được tuyển chọn từ các tập thơ trước Có thểxem đây là một tuyển tập khép lại một chặng đường thơ của Xuân Quỳnh để chuẩn bịbước sang một chặng đường mới
Hai tập thơ Tự hát (1984, gồm 36 bài) và Hoa cỏ may (1989, gồm 28 bài), chủ
yếu viết về đề tài tình yêu – một đề tài thuộc về sở trường và cũng là đề tài XuânQuỳnh yêu thích nhất Phải đến hai tập thơ này, mọi cung bậc của tình yêu trong thơXuân Quỳnh mới được bộc lộ đầy đủ nhất, trọn vẹn nhất Dường như, Xuân Quỳnh đãtrải lòng thực sự với những ngọt ngào, cay đắng trong hương vị tình yêu với độ chíncủa cảm xúc và nhận thức và cả dự cảm bất an, đỗ vỡ, trái ngang của cõi nhân sinh tiêu
biểu là các bài thơ Tự hát, Mẹ của anh, Nói cùng anh
Trang 9Tựu trung, từ những vần thơ non nớt buổi ban đầu cho đến những bài thơ già dặn,
đi vào độ chín, thơ Xuân Quỳnh luôn thể hiện tiếng lòng của người phụ nữ dịu dàng,
hồn hậu, mạnh mẽ, cháy bỏng và thấu sâu “những nỗi đau và trăn trở của một cuộc
đời và một số phận nghệ thuật của người đàn bà làm thơ” (Đoàn Thị Đặng Hương).
1.2 Khái niệm lạ hóa
Chủ nghĩa hình thức Nga là một trường phái nghiên cứu, phê bình văn học đạtđược nhiều thành tựu, có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của cả tư tưởng khoa họclẫn ý thức nghệ thuật, vừa sâu rộng, vừa lâu bền, có quy mô trên cả thế giới Trườngphái này hình thành từ hai nhóm: Nhóm Nghiên cứu văn học, thành lập ở Mát-xcơ-vanăm 1914, do R I-a-cốp-xơn đứng đầu cùng với một số trụ cột như G Vi-nô-cua(1896-1947), O Bríc, B Tô-ma-sép-xki (1890-1957) và Nhóm Hội nghiên cứu ngônngữ thơ, cũng thành lập năm 1914, nhưng ở Pê-téc-bua, do V Sơ-clốp-xki (1893-1984) đứng đầu với các thành viên chủ chốt như B Ây-khen-ba-um (1886-1959), L.P.I-a-cu-bin-xki (1892-1945),…
Khái niệm lạ hóa (tiếng Nga: ottrannenie) là toàn bộ những thủ pháp trong nghệthuật (nghịch dị, nghịch lí,…) được dùng để đạt đến một kết quả nghệ thuật, theo đó,hiện tượng được miêu tả hiện ra không phải như ta đã quen biết, hiển nhiên mà nhưmột cái gì mới mẻ, chưa quen, “khác lạ” Khái niệm này cũng được trường phái hìnhthức Nga những năm 20 đầu thế kỷ XX (Sơ-clốp-xki, I-a-cu-bin-xki, Vi-nô-cua, I-a-cốp-xơn, Tư-nha-nốp,…) nêu lên Họ coi lạ hóa như là một nguyên tắc nghệ thuật phổquát thể hiện trong mọi cấp độ của cấu trúc nghệ thuật, có tác dụng phá vỡ tính tự độngmáy móc của sự cảm thụ bằng cách tạo ra một “cái nhìn mới” – “khác lạ”- đối với sựvật và hiện tượng quen thuộc chứ không phải là “nhận ra” cái đã biết, tức là phá vỡnhững “khuôn hình” đã quen, người ta có thể nhận ra các ý nghĩa mới của sự vật vànhân sinh Hay nói một cách đơn giản thì lạ hóa là cách tác giả làm cho mọi cái khác đi
so với cái cũ Kiểu tư duy này không chỉ xuất phát từ nhu cầu tự đổi mới, sáng tạo củanhà thơ, mà còn bắt nguồn từ những cơ sở khoa học, bản chất của sự sống và nghệ
Trang 10thuật Con người tìm cái khác không phải để khác, để lập dị, để làm phiền đồng loại
mà là vì cái khác chính là sự sống
1.3 Đặc điểm của thơ lạ hóa
Các nhà hình thức luận Nga mà tiêu biểu là Shkovski cho rằng “lạ hóa” là mộttrong những thủ pháp rất quan trọng, rất cần thiết để tăng cường chất thơ, cảm xúc củacác nhà thơ Thủ pháp lạ hóa được hiểu theo nghĩa là: những điều khác lạ, những điềukhác xa với các quy phạm bình thường trong sáng tác văn chương, khiến người tiếpnhận cảm thấy khó tiếp nhận, khó hiểu không thể hiểu được điều nhà thơ muốn bày tỏ
là gì, nhà thơ muốn nói gì, đề cập đến vấn đề gì, đọc trong trạng thái mơ hồ, khó hiểu,người đọc thưởng thức tác phẩm trong sự thắc mắc, từ đó thúc đẩy nhu cầu tìm hiểu,khám phá tác phẩm Thủ pháp lạ hóa còn khiến xảy ra sự khác nhau trong cách cảmnhận của người tiếp nhận: mỗi người tiếp nhận sẽ hiểu tác phẩm theo cách tiếp nhậncủa riêng mình, người tiếp nhận này sẽ có cách hiểu khác với người tiếp nhận kia, mỗingười sẽ có cách hiểu khác nhau, không giống nhau Chính những điều ấy đã khiến thủpháp lạ hóa trở thành thủ pháp đặc biệt, được sử dụng rộng rãi trong các tác phẩmthuộc trường phái thơ tượng trưng siêu thực Ta có thể thấy thủ pháp lạ hóa trong bàithơ kết hợp đi chệch chuẩn mực ngữ pháp thông thường, lạ hóa, bất ngờ, nhưng đóngvai trò tạo ý nghĩa cho câu thơ, tạo một liên tưởng mới, thì lúc đó "lạ hóa" mới có giátrị, có sức hút đối với người đọc
1.4 Dấu ấn của yếu tố lạ hóa trong thơ Xuân Quỳnh trên thi đàn Việt Nam
Để đáp ứng kịp thời nhu cầu thẩm mỹ của người đọc và nhu cầu hiện đại hóa củathơ, thơ của thời kỳ này không chỉ tiếp nối những thành tựu thơ ca trước đó mà cònkhám phá, sáng tạo những nội dung và hình thức mới Sự đổi mới độc đáo được côngchúng đón nhận, đánh giá cao xuất phát từ đổi mới quan niệm thơ và tư duy thơ là tiền
đề quan trọng cho sự phát triển và đổi mới của thơ Đặc biệt, yếu tố lạ hóa trong thơXuân Quỳnh là một minh chứng cho dấu ấn đậm nét trên thi đàn thơ ca Việt Nam từ
1975 đến nay
Trang 11Cùng với các thi nhân như Nguyễn Duy, Xuân Diệu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan ThịThanh Nhàn,…Xuân Quỳnh là một nhà thơ mang lại cho thi đàn văn học Việt Nammột tiếng thơ của tình yêu – nhu cầu tinh thần trong đời sống của con người nhưng vẫndạt dào cảm xúc và sâu lắng Hay tiếng thơ trữ tình đằm thắm, giàu nữ tính đúng như
Lưu Khánh Thơ nhận xét: “thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng của
một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, giàu yêu thương” Người phụ nữ là nguồn
cảm hứng để nhà thơ Xuân Quỳnh sáng tạo nên sắc điệu độc đáo và đậm dấu ấn tronglòng người đọc Bên cạnh đó, tiếng thơ còn dung dị mà điêu luyện trong cách biểu đạtkhiến trái tim phải bồi hồi khó tả Với giọng điệu da diết sâu lắng, bộc bạch, giãi bàyXuân Quỳnh đã gợi được hình ảnh tinh tế bằng những ngôn từ dễ hiểu, dễ cảm
“Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”
(Tự hát – Xuân Quỳnh)Hình ảnh trái tim ai ai cũng có là điều bình thường nhưng lại khác thường ở chỗ
“biết yêu anh cả khi chết đi rồi” Tình yêu vô cùng thiêng liêng nhưng rất giản dị bởi
nó luôn ở xung quanh chúng ta Không phải có đôi mắt thì có thể nhìn thấy, có thể biếtđược tình yêu, mà chúng ta cần phải cảm nhận được nó theo từng nhịp đập của trái tim.Thơ ca thời kì này đã trở về với cuộc sống riêng tư, cuộc sống đời thường với nhữngsuy tư, trăn trở với một tâm hồn đầy bí ẩn Hồn thơ dung dị tự nhiên là một tiếng nói
âm vang từ đời sống rất thực của Xuân Quỳnh
“Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ Không gian xao xuyến chuyển sang mùa
Tên mình ai gọi sau vòm lá
Trang 12Lối cũ em về nay đã thu”
(Hoa cỏ may – Xuân Quỳnh)Những câu thơ giàu hình ảnh nhưng chẳng có âm thanh, không gian mênh môngnhưng lại im lìm Có sông nhưng chẳng có tiếng sóng, có cây nhưng chẳng nghe tiếng
xì xào của lá, cảnh vật trở nên nhẹ nhàng hơn trong giây phút bao ký ức ùa về Nhà thơXuân Quỳnh nhìn thế giới bằng nhãn quan bay bổng, lý tưởng phong phú, thể hiện mộttính cách phóng khoáng, yêu đời Lòng người được so sánh với trời biếc với màu xanhcủa niềm tin và hy vọng Từ đó mới gợi cho người đọc những cảm nhận, rung độngcủa trái tim bởi lẽ màu sắc có thứ ngôn ngữ riêng để con người có thể suy tư, nghiềnngẫm
Bởi vậy, chúng ta có thể nói thơ Xuân Quỳnh đẹp như một bông hoa màu xanhtràn đầy hy vọng giữa muôn ngàn sắc hương của thi đàn Việt Nam Sự đơn giản, chânthực gợi qua từng hình ảnh nhưng vẫn mang đậm nét riêng độc đáo, bộc bạch bằngchính sự say đắm, sôi nổi của trái tim, nốt vang của từng cảm xúc Không cầu kỳ, khóhiểu trong ngôn ngữ và hình ảnh, kết cấu mạch lạc, tư duy sáng tạo chính là điều làmnên sức sống bền bỉ của thơ Xuân Quỳnh trong lòng bạn đọc
2 Đặc trưng thi pháp lạ hóa trong thơ Xuân Quỳnh sau 1975
2.1 Lạ hóa về cấu trúc thơ
Thơ là những xúc cảm mạnh mẽ mà nhà thơ có được trước cuộc đời Như nhịpđập của trái tim khi rung cảm, ngôn ngữ thơ cũng có nhịp điệu riêng của nó Một bàithơ hay là một bài thơ tồn tại trong nó sự hài hoà giữa âm thanh, nhịp điệu của từ với ýnghĩa, hình ảnh của từ ngữ ấy Khi nhận xét về mối quan hệ giữa ý và nhạc trong thơ,
nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nhận định: “Nếu thơ rơi vào cái vực ý thì thơ sẽ sâu
nhưng rất dễ khô khan Rơi vào cái vực nhạc thì thơ dễ làm say lòng người nhưng dễ nông cạn” Một trong những yếu tố tạo nên nhạc tính trong thơ chính là vần Vần là bộ
phận chủ yếu của âm tiết, là âm tiết trừ đi thanh điệu và phụ âm đầu Hiện tượng lặp lạivần hoặc có vần nghe giống nhau giữa những âm tiết có vị trí nhất định trong câu
Trang 13(thường là câu thơ), được tạo ra để làm cho lời có nhịp điệu và tăng sức gợi cảm Thơtruyền thống thường tuân thủ rất nghiêm ngặt các quy tắc gieo vần Đến thơ hiện đại,đặc biệt là thơ mới không còn bó buộc về hiệp vần, nhưng các nhà thơ vẫn sử dụng vầnnhư một yếu tố biểu cảm làm tăng vẻ đẹp của thơ Họ dùng nhạc của ngôn từ để môphỏng nhạc của cuộc sống và tâm hồn mình Nếu như nhạc tính trong thơ Xuân Diệuđược tạo nên bởi cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo, cách tân táo bạo làm nên một thếgiới nghệ thuật khác biệt thì đến nữ nhà thơ Xuân Quỳnh nhạc tính trong thơ lại đượcthể hiện bằng một cách khác.
Trong quá trình sáng tác, bên cạnh việc sử dụng những thể thơ tự do, XuânQuỳnh là nhà thơ rất thích sử dụng những thể thơ truyền thống Trong thơ Xuân Quỳnhtồn tại sự đan xen giữa truyền thống và hiện đại, từ đó tạo nên mạch thơ trữ tình, tươitắn Chính điều này đã làm cho thơ của Xuân Quỳnh có nhạc điệu độc đáo Khi mớiđọc, người thưởng thức có thể cảm thấy quen như đã gặp ở đâu, nhưng vẫn có trong
thơ những cảm nhận mới lạ Ví như trong bài Thơ viết tặng anh:
Tháng mười trời trải nắng hanh
Có cô hàng phố phơi chăn trước thềm Gió qua lay động bức rèm Tấm gương trong suốt ánh đèn nê-ông
Việc sử dụng thể thơ lục bát đã làm cho bài thơ của Xuân Quỳnh mang âm điệu
du dương, nhẹ nhàng, đậm đà màu sắc dân tộc Mặc dù Xuân Quỳnh thuộc thế hệnhững nhà thơ mới, bà không quá chú trọng đến niêm luật, cho phép những cảm xúcđược tự do trong thơ nhưng không vì thế mà thơ lục bát của bà mất đi vẻ mềm mại vốn
có của nó Âm điệu trong thơ không trúc trắc mà vẫn êm ái như một lời thì thầm Thơlục bát của Xuân Quỳnh vẫn giữ được những uyển chuyển, dễ đọc và dễ thuộc như thểthơ truyền thống
Trang 14Thành công nhất của Xuân Quỳnh là phải kể đến thể thơ ngũ ngôn với những tác
phẩm như: Sóng, Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu… Ngoài thành công trong
việc sáng tạo nên những hình tượng nghệ thuật điển hình cho phong cách thơ của riêngmình, Xuân Quỳnh còn thể hiện được nhạc điệu quen thuộc, gần gũi, kéo gần khoảngcách giữa người sáng tác và người tiếp nhận thơ ca Thông qua việc thể hiện nhịp điệutrong thơ, Xuân Quỳnh đồng thời cũng diễn tả nhịp điệu của trái tim mình, vừa nhẹnhàng, duyên dáng nhưng cũng vừa sắc sảo, nồng nàn và da diết
Các nhân xưng trong thơ của Xuân Quỳnh cũng rất gần gũi với những cách gọi
thân mật hằng ngày Ở ngôi thứ nhất bà xưng “tôi”, “em”, “mẹ”, “ta”, “chúng tôi”… Ngôi thứ hai bà gọi “anh”, “con”, “các anh”… Ngôi thứ ba, bà dùng “cha tôi”, “anh
ta”, “cỏ”, “thuyền”, “sóng”… Đặc biệt, trong bài thơ Chị, Xuân Quỳnh đưa cả tên
Chắt chiu tự những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em
(Mẹ của anh)Với từ “chắt chiu” dường như Xuân Quỳnh đã nói được hết những tình cảm màngười mẹ đã dành cho con, đồng thời cũng nói lên cả sự biết ơn của người con dâu đốivới mẹ chồng Nhìn chung, Xuân Quỳnh là một giọng thơ trữ tình, linh hoạt, tự nhiên
và đầy cá tính Người ta nhận ra sự đằm thắm, sâu lắng trong mảng thơ tình; sự hồnnhiên, dí dỏm trong mảng thơ thiếu nhi; sự lạc quan, mạnh mẽ trong mảng thơ viết về
Trang 15cuộc sống Những cảm xúc tươi mới kết hợp với kĩ thuật viết tài hoa đã tạo ra mộtXuân Quỳnh rất đời mà cũng rất thơ.
Ngoài ra điểm phải nói đến về đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Xuân Quỳnh, chính
là cách sử dụng từ ngữ chỉ màu sắc Bằng nhãn quan bay bổng và lí tưởng của mình,Xuân Quỳnh đã vẽ ra những bức tranh thi ca đầy màu sắc và mê hoặc lòng người Gammàu mà bà thường sử dụng trong thơ thường là những gam màu tươi sáng Đó lànhững màu mô phỏng màu có trong thực tế như: xanh, trắng, vàng, đỏ… Tần số xuấthiện của từ ngữ chỉ màu sắc trong thơ Xuân Quỳnh là rất cao Chính vì điều này màngười đọc thường nhận xét trong thơ Xuân Quỳnh có hoạ
Hàng bí ngô bên cạnh hàng bầu Xanh mườn mượt màu xanh rau muống Những bắp cải tròn vo đẫm nước Lớp rau cần óng ả xếp đầy quang
Đỏ ối cà chua, vàng rực đậu vàng
(Rau – Xuân Quỳnh)Trong thơ Xuân Quỳnh, màu sắc được nữ thi sĩ hay sử dụng nhất chính là màuxanh Đây là màu sắc ưa nhìn, không chỉ biểu thị màu sắc của tạo vật mà đó còn làmàu của ước mơ và hi vọng Thể hiện một tâm hồn thơ đầy mơ ước và luôn tươi mớicủa Xuân Quỳnh
Nắng đùa mái tóc Chồi biếc trên cây
Lá vàng bay bay Như ngàn cánh bướm
(Chồi biếc – Xuân Quỳnh)
Trang 16Đa phần màu sắc trong thơ của Xuân Quỳnh đều là những màu sắc cụ thể, khôngpha trộn Đó là những màu sắc của thế giới thực được phản ánh vào trong thơ, tạo chongười đọc cảm giác gần gũi và quen thuộc Đây cũng chính là điểm khác biệt của thơXuân Quỳnh so với thơ của Xuân Diệu Thế giới màu sắc của Xuân Diệu có phần đadạng hơn, vừa có màu thực, vừa có màu hư Trong thơ của ông hoàng thơ tình thườngtồn tại những màu sắc được pha trộn, đặc biệt là màu của cảm xúc Thêm vào đó, XuânQuỳnh hầu như không sử dụng những màu sắc mang tính chất ước lệ Tức là nhà thơchỉ sử dụng những màu chuẩn của sự vật, không dùng màu đã pha trộn Trong thực tếnhững gam màu chuẩn thường không đủ để diễn tả hết những màu sắc của sự vật nênngười ta thường dùng thêm những màu pha tạp của sự vật Cách sử dụng màu nàymang tính chất ước lệ và thường gặp trong thơ cổ Việc không sử dụng những màu sắcnhư vậy đã tạo nên điểm khác biệt giữa thơ Xuân Quỳnh và thơ Xuân Diệu Ngoài việchai nhà thơ lựa chọn và sử dụng từ ngữ khác nhau, có đôi lúc các tác giả này cùng sửdụng những từ giống nhau nhưng lại mang ý nghĩa và hiệu quả thẩm mĩ khác nhau.Cùng xây dựng những hình tượng về biển để viết đề tài về tình yêu, thậm chí là sửdụng từ ngữ giống nhau cả về mặt con chữ nhưng mỗi nhà thơ ở mỗi từ lại mangnhững cách cảm nhận khác nhau
Nếu như động từ “tan” của Xuân Diệu diễn tả một tình yêu mạnh mẽ, ước muốncháy bỏng muốn làm tan chảy mọi thứ xung quanh, khiến người đọc cảm nhận đượctình cảm mãnh liệt của một người đàn ông với mong muốn khát khao chinh phục Thìđến Xuân Quỳnh, nhà thơ cũng sử dụng động từ ấy trong bài Sóng nhưng lại mang đếncho người đọc những cách cảm hoàn toàn khác so với Xuân Diệu:
Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu
Ðể ngàn năm còn vỗ.
(Sóng – Xuân Quỳnh)
Trang 17Động từ “tan” được đặt trong câu thơ: “Làm sao được tan ra”, nghe như một câu
hỏi tu từ, diễn tả ước muốn được yêu trong một tình yêu rộng lớn và vĩnh cửu Rõ ràngcách thể hiện của Xuân Quỳnh có phần kín đáo, nhẹ nhàng và đằm thắm hơn Nhà thơhỏi để mà khẳng định ước muốn, khao khát có được tình yêu, chứ không bộc lộ mộtcách trực tiếp và mạnh mẽ như thi sĩ Xuân Diệu
Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn thiết tha gắn bó với cuộc đời, vớicon người, khao khát tình yêu, trân trọng hạnh phúc bình dị đời thường Khát vọngsống và khát vọng yêu mãnh liệt gắn liền với những dự cảm về sự bất trắc của tình yêu
và cuộc đời Nên Xuân Quỳnh lấy tình yêu làm mái ấm chở che, làm cứu cánh:
Đó là tình yêu em muốn nói cùng khát vọng Nguồn gốc của muôn vàn khát vọng Lòng cốt để duy trì sự sống Cho con người thực sự người hơn
Nhưng đời đâu lặng tờ mà đầy sóng đầy gió Tình yêu chốn nương thân của tâm
hồn cũng chỉ là “Những cánh chuồn mỏng manh’’, nên hồn thơ Xuân Quỳnh mãi hoài
khắc khoải âu lo:
Em âu lo trước xa tắp đường tình Trái tim đập những điều không thể nói
Cũng vì thế mà Xuân Quỳnh luôn trân trọng niềm hạnh phúc có thật trong đời,
và nghĩ “Chỉ có sóng và em” thôi :
Chỉ riêng điều được sống cùng nhau Niềm sung sướng với em là lớn nhất Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực Giây phút nào tim chẳng đập vì anh
Trang 18Một điểm đáng trân trọng nữa đối với con người và thơ Xuân Quỳnh đấy là vẻđẹp nữ tính, thiên nhiên nữ tính Không phải ngẫu nhiên mà luôn đi – về trong thơXuân Quỳnh là hình ảnh những người vợ, người mẹ với một tâm hồn mẫn cảm, hồnhậu nhân ái và chịu thương chịu khó Mẹ trong thơ Xuân Quỳnh là những hình ảnhhoài niệm, lồng trong hình ảnh quê hương qua tình cảm tinh khôi sâu lắng:
Tháng xuân này mẹ có về không Con thắp nén hương thơm ngát
Bờ đê cỏ ướt
Lá tre xào xạc đường làng Sông Nhuệ đò sang Hoa xoan tím ngõ Cánh cò trắng xóa Như lời ru của mẹ bay về
Với bà, Xuân Quỳnh nhìn bằng con mắt trẻ thơ hồn nhiên, nhưng xiết bao yêukính:
Nắng ở xung quanh bình tích
Ủ nước chè tươi cho bà
Bà mhấp một ngụm rồi khà Nắng trong nước chè chan chát.
Với chồng, tiếng thơ Xuân Quỳnh ân cần, nhỏ nhẹ và đằm thắm :
Sao không cài khuy áo lại anh Trời lạnh đấy, hôm nay trời rét.
Trang 192.2 Lạ hóa về không gian và thời gian nghệ thuật
Lạ hóa về không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật là nơi tác giả cảm thụ mọi cảnh vật xung quanh, dựa vàocảnh thâm nhập vào đời, vào mọi mặt không gian để hòa với dòng tư tưởng, cảm xúc,trạng thái tâm hồn mình mà cất lên những rung động mãnh liệt, cảnh và người như hòacùng nhịp thở Tái hiện thế giới thực tại cả vật chất lẫn tinh thần, đọc một bài thơ ta nhưsống trong không gian của nó, không gian ấy không chỉ là không gian nơi chốn cụ thể,xác định mà đó còn là không gian tâm lí, mang tính trừu tượng
Mỗi nhà thơ khi cầm bút sáng tác đều khó có thể bỏ qua việc miêu tả không giannghệ thuật Mỗi người một phong cách sẽ có sự thâm nhập vào cuộc sống từ các khíacạnh khác nhau, khám phá nhiều vấn đề để tạo nên những vẫn thơ giàu giá trị, giàu sứchút Không gian làm cho bài thơ thêm phần biểu cảm, trữ tình sâu lắng hơn đồng thờikhông gian là công cụ nhấn mạnh mạch cảm xúc trong thơ Xuân Quỳnh cũng thế,được biết đến là nữ hoàng thơ ca của tình yêu, vừa thâm trầm vừa sôi nổi đã tạo nênnhững dấu ấn đậm nét khó phai trong lòng người đọc Đến với vườn thơ Xuân Quỳnh,với bầu không gian luôn song hành cùng tình yêu và hạnh phúc trọn vẹn mà từ đó tathấy không gian nghệ thuật trong thơ bà vừa gần gũi, quen thuộc vừa sâu thẳm mênhmông, độc đáo và khác biệt vô cùng Đặc biệt từ sau năm 1975, thơ Xuân Quỳnh cónhững biểu hiện cách tân, lạ hóa trên nhiều phương diện, trong đó có không gian nghệthuật
Một hành trình dài miệt mài khám phá tình yêu và cuộc sống, nhà thơ đã đónggóp cho đời sự sáng tạo về việc miêu tả không gian lồng ghép với sắc thái tâm trạng.Thơ Xuân Quỳnh đa dạng về không gian Có thể kể đến không gian nhà ở, cănphòng, là nơi ấm áp gắn kết tình cảm gia đình, nơi tình yêu luôn được bồi đắp, chẳng
có điều gì có thể ngăn cách Không gian gia đình và tình yêu với người thương được
Trang 20Xuân Quỳnh miêu tả hóm hỉnh, đáng yêu nhân rộng ra thành những con đường hướngtới phố phường, hướng đến không gian xã hội rộng lớn hơn:
“Những người đàn ông các anh có bao nhiêu điều to lớn Vượt qua ô của cỏn con,văn phòng hẹp hàng ngày [ ]
Anh là mặt trời, em chỉ là hạt muối Một chút mặn giữa đại dương vời vợi Loài rong rêu ai biết đến bao giờ
(Thơ vui về phái yếu)
Không gian thiên nhiên như: mái phố, núi Hoàng Liên, gió Lào, mùa hạ, màn đêm,
vịnh, cũng trở nên tương thông, tương cảm với con người, sau thời chiến, thơ Xuân
Quỳnh có sự biến đổi không gian đa dạng, linh hoạt hơn thay vì không gian biển cả,đại dương như trước Nhà thơ thường tách mình để nhìn ngắm nó, cảm nhận chăm chú,lắng nghe nó như một người bạn Đọc thơ Xuân Quỳnh, nhà thơ không hề gượng épbản thân tìm cách hòa nhập với thiên nhiên mà chúng ta nhận thấy được sự hài hòatrong từng dòng thơ Dù trải qua nhiều thập niên, khi miêu tả thiên nhiên trước cuộcsống rối ren, phức tạp thì nhà thơ vẫn có những biến tấu về không gian theo chiềuhướng tích cực, lạc quan
“ Chỉ có cát và gió Lào quạt lửa Ngọn gió bỏng khi đi thành nỗi nhớ Cát khô cằn ở mãi hoá yêu thương.”
(Gió lào cát trắng)
“Mùa hoa phượng chắc rơi hồng mái phố
Trang 21Những phố phường lầm lụi với lo toan ”
“Hoa cỏ may” à bài thơ hướng ngoại, dựa vào không gian thiên nhiên, sự chuyển
mùa của đất trời sang thu để quay về cái tôi mà bộc lộ tâm tình Nhiều mảnh ghép màusắc từ bức tranh cuộc sống hợp thành để một hồn thơ dung dị, nồng nhiệt như XuânQuỳnh vẫn khao khát yêu thương không bao giờ ngừng nghỉ:
“Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ Không gian xao xuyến chuyển sang mùa
Tên mình ai gọi sau vòm lá Lối cũ em về nay đã thu.
Mây trắng bay đi cùng với gió Lòng trời như biếc lúc nguyên sơ Đắng cay gửi lại bao mùa cũ Thơ viết đôi dòng theo gió xa.