1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN NGUYỄN THỊ NGỌC LỆ NGHIÊN CỨU TƯƠNG TÁC CỦA THUỐC THỬ AZOCALIXAREN VỚI MỘT SỐ ION KIM LOẠI VÀ ỨNG DỤNG TRONG HÓA PHÂN TÍCH LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THỊ NGỌC LỆ
NGHIÊN CỨU TƯƠNG TÁC CỦA THUỐC THỬ
AZOCALIXAREN VỚI MỘT SỐ ION KIM LOẠI
VÀ ỨNG DỤNG TRONG HÓA PHÂN TÍCH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THỊ NGỌC LỆ
NGHIÊN CỨU TƯƠNG TÁC CỦA THUỐC THỬ AZOCALIXAREN VỚI MỘT SỐ ION KIM LOẠI VÀ
ỨNG DỤNG TRONG HÓA PHÂN TÍCH
Chuyên ngành: Hóa phân tích
Mã số: 62 44 29 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 GS TSKH LÂM NGỌC THỤ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Thị Ngọc Lệ
Trang 4Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh,
lãnh đạo Viện Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo Chi
cục Đo lường chất lượng-Sở Khoa học và Công nghệ Tỉnh Kon Tum, lãnh đạo
Trường Cao đẳng Sư phạm Kon Tum đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn
thành luận án
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và tạo điều kiện tốt để tôi hoàn thành luận án này
Nguyễn Thị Ngọc Lệ
Trang 5MỤC LỤC
TRANG
LỜI CAM ĐOAN……… i
LỜI CẢM ƠN……… ii
MỤC LỤC ……… iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CỦA LUẬN ÁN ……… vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ……… vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ……… ix
MỞ ĐẦU ……… 1
Chương 1 - TỔNG QUAN……… 4
1.1 CALIXAREN……… 4
1.1.1 Giới thiệu về Calixaren ……… 4
1.1.2 Tính chất vật lý của calixaren……… 6
1.1.3 Tổng hợp calixaren……… 7
1.1.4 Tính chất tạo phức của calixaren tan trong nước……… 10
1.1.4.1 Phức của khách thể là cation……… 10
1.1.4.2 Phức của khách thể là anion……… 13
1.1.4.3 Phức của khách thể là phân tử……… 13
1.1.5 Ứng dụng của hợp chất calixaren……… 14
Trang 61.2 AZOCALIXAREN……… 19
1.2.1 Giới thiệu về azocalixaren……… 19
1.2.2 Tổng hợp azocalixaren……… 20
1.2.3 Một số đặc trưng phân tích của hợp chất azocalixaren……… 22
1.2.4 Các ứng dụng phân tích của hợp chất azocalixaren……… 24
1.3 HỢP CHẤT VÀ PHỨC CHẤT HOST – GUEST……… 32
1.4 MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM CỦA XERI VÀ CHÌ……… 37
1.4.1.Nguyên tố xeri 37
1.4.2 Nguyên tố chì 41
Chương 2 - THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… 46
2.1 HÓA CHẤT, DỤNG CỤ VÀ THIẾT BỊ ……… 46
2.1.1 Hóa chất……… 46
2.1.2 Dụng cụ và thiết bị nghiên cứu……… 46
2.2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC PHỨC 47
2.2.1 Phần mềm ArgusLab 47
2.2.2 Các dạng phổ dùng xác định cấu trúc phức 49
2.3 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HẰNG SỐ BỀN VÀ HỆ SỐ HẤP THỤ MOL CỦA PHỨC ……… 50
Trang 72.4 PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA LUẬN ÁN 51
3.1 KHẢO SÁT SỰ TƯƠNG TÁC CỦA THUỐC THỬ BAPC VỚI CÁC ION KIM LOẠI 54
3.1.1 Khảo sát tương tác của thuốc thử BAPC trong các dung môi 54
3.1.2 Khảo sát ảnh hưởng của pH đến phổ hấp thụ của BAPC 56
3.1.3 Khảo sát tương tác của BAPC với ion kim loại trong môi trường axit
và trung tính 57 3.1.4 Khảo sát tương tác của BAPC với các ion kim loại trong môi trường bazơ
60
3.2.1 Xác định thành phần phức theo phương pháp dãy đồng số mol … 62
3.2.2 Xác định thành phần phức theo phương pháp biến đổi liên tục một hợp phần
65
3.3 XÁC ĐỊNH HẰNG SỐ BỀN VÀ HỆ SỐ HẤP THỤ QUANG CỦA
3.4.1 Dự đoán cấu trúc bằng phần mềm ArgusLab 4.01……….………… 70
3.4.1.1 Tối ưu hóa cấu trúc phân tử BAPC ……… 70
Trang 83.4.1.2 Tính toán điện tích cân bằng của các nhóm chức ……… 71
3.4.1.3 Khảo sát hướng xâm nhập và dạng ion kim loại đi vào phức … 73 3.4.1.4 Khảo sát vị trí của ion Ce(IV), Pb(II) trong phân tử BAPC… 76 3.4.2 Phổ khối ESI-MS của thuốc thử và phức chất ……… 78
3.4.3 Phổ hồng ngoại của thuốc thử và phức chất ……… 80
3.4.4 Đề xuất cơ chế tạo phức ……… 83
3.5 NGHIÊN CỨU SỰ TẠO PHỨC CỦA THUỐC THỬ BAPC VỚI Ce(IV), Pb(II) VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN TỐI ỨU……… 86
3.5.1 Khảo sát ảnh hưởng của pH đến quá trình tạo các hệ BAPC-Ce(IV) và BAPC-Pb(II)………
86 3.5.2 Khoảng tuân theo định luật Bouguer–Lambert-Beer … … … … 88
3.5.3 Ảnh hưởng của thuốc thử dư……… 92
3.5.4 Khảo sát độ bền của phức theo thời gian 94
3.5.5 Khảo sát ảnh hưởng của các nguyên tố cản……… 95
3.6 XÂY DỰNG QUY TRÌNH ỨNG DỤNG PHỨC BAPC-Ce(IV), BAPC-Pb(II) VÀO MỤC ĐÍCH PHÂN TÍCH ……… 100
3.6.1 Xác định Pb(II) ……… 101
3.6.1.1 Xác định Pb(II) trong mẫu giả ……… 101
3.6.1.2 Xác định Pb(II) trong mẫu thật ……… 103
3.6.2 Xác định Ce(IV) 105
Trang 93.6.2.1 Xác định Ce(IV) trong mẫu giả ……… 105
3.6.2.2 Xác định Ce(IV) trong mẫu thật ……… 107
3.6.3 Đề xuất quy trình phân tích Pb(II), Ce(IV) bằng thuốc thử BAPC và áp dụng phân tích trong một số mẫu thực tế ………
109 3.6.3.1 Quy trình phân tích Pb(II) trong mẫu thực vật 109
3.6.3.2 Quy trình phân tích Ce(IV) trong mẫu đất 110
KẾT LUẬN CỦA LUẬN ÁN 112
DỰ KIẾN NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 114
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC 131
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CỦA LUẬN ÁN
Highest occupied molecular orbital
Obitan phân tử chiếm mức cao nhất
Hồng ngoại Điện cực chọn lọc ion Giới hạn định lượng
Giới hạn phát hiện
Obitan phân tử không bị chiếm
ở mức thấp nhất
Cơ chế phân tử 1-(2 pyridilazo)- 2 naphthol
Cân bằng điện tích
Octo-este
Trang 11Tetra hydrofuran
Trioxyazobenzene Universal Force Field
Ultraviolet - Visble
X-ray
tetraazophenylcalix[4]aren Tri n-butylphotphat
Tetrahydrofuran
Trioxyazobenzen Trường lực tổng quát
Tử ngoại - Khả kiến
Tia X
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
8 BẢNG 3.2 Độ hấp thụ quang phụ thuộc vào tỉ lệ mol của
12 BẢNG 3.6 Hằng số bền và hệ số hấp thụ mol của phức BAPC với
ion kim loại
69
Trang 1313 BẢNG 3.7 Cân bằng điện tích một vài nguyên tử trong phân tử
BAPC
72
14 BẢNG 3.8 Độ dài liên kết của các nguyên tử trong thuốc thử BAPC
và trong phức BAPC-Ce(IV), BAPC-Pb(II)
73
16 BẢNG 3.10 Năng lượng cực tiểu của một số dạng phức giữa BAPC
20 BẢNG 3.14 Độ hấp thụ quang của dãy mẫu trắng trong thí nghiệm
xác định LOD và LOQ đối với Ce(IV)
90
21 BẢNG 3.15 Độ hấp thụ quang của dãy mẫu trắng trong thí nghiệm
xác định LOD và LOQ đối với Pb(II)
91
Trang 1422 BẢNG 3.16 Độ hấp thụ quang của hệ Ce(IV)-BAPC và Pb(II)-BAPC
biến đổi theo thời gian
26 BẢNG 3.20 Sự phụ thuộc của độ hấp thụ quang vào hàm lượng Pb(II)
trong mẫu giả
101
30 BẢNG 3.24 Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang vào hàm lượng Ce(IV)
trong mẫu giả
106
xác định bằng phương pháp đề xuất trong luận án
108
Trang 15DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
5 HÌNH 1.5 Không chọn lọc (A) và chọn lọc (B) TMA bởi
9 HÌNH 1.9 Một số phức chất của Ln3+ với dẫn xuất photpho của
calixaren
18
Trang 1616 HÌNH 1.16 Một số azocalixaren có khả năng tạo phức với Fe3+ 24
18 HÌNH 1.18 Phổ hấp thụ của dẫn xuất azocalixaren với Ni2+ tại pH
=10,2
25
19 HÌNH 1.19 Phổ hấp thụ của dẫn xuất azocalixaren với Cr3+ tại pH =3 26
21 HÌNH 1.21 Phổ hấp thụ của thuốc thử và các phức chất của nó trong
môi trường HNO3 3M
25 HÌNH 1.25 Các dẫn xuất azocalixaren có khả năng tạo phức với
anion
30
27 HÌNH 1.27 Phổ hấp thụ của thuốc thử TEAC và hệ TEAC-Th(IV) tại
pH = 4,5
32
30 HÌNH 3.1 Phổ hấp thụ của thuốc thử BAPC [2,0.10-5M] trong dung
môi axetonitril
55
Trang 1731 HÌNH 3.2 Phổ hấp thụ của BAPC trong axetonitril ở các giá trị pH
39 HÌNH 3.10 Tối ưu hóa hình học bằng chương trình ArgusLab 4.01
cho BAPC dạng azophenol của BAPC
70
40 HÌNH 3.11 Tối ưu hóa hình học bằng chương trình ArgusLab 4.01
cho BAPC dạng keto-quinon của BAPC
71
41 HÌNH 3.12 Giả thiết về hướng xâm nhập của ion kim loại vào phân
tử BAPC
74
Trang 1842 HÌNH 3.13 Tối ưu hóa hình học bằng chương trình ArgusLab 4.01
46 HÌNH 3.17 Phổ hồng ngoại (cm-1) trong KBr của phức BAPC-Pb(II) 81
47 HÌNH 3.18 Phổ hồng ngoại (cm-1) trong KBr của phức
BAPC-Ce(IV)
82
49 HÌNH 3.20 Khoảng tuân theo định luật Bouguer-Lambert-Beer của
53 HÌNH 3.24 Sự chọn lọc của thuốc thử BAPC với Pb(II) trong môi
trường kiềm
96
Trang 19MỞ ĐẦU
Các phương pháp phổ phát xạ và hấp thụ nguyên tử, phân tử; phương pháp điện hóa,… là những phương pháp phân tích hóa lí đang được phát triển và ứng dụng rộng
rãi trong nhiều ngành khoa học kĩ thuật, trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, y
dược, địa chất, hóa học Đặc biệt ở các nước phát triển, các phương pháp phân tích hóa
lí đã trở thành một trong các phương pháp dùng để phân tích lượng vết các kim loại
trong nhiều đối tượng khác nhau như đất, nước, không khí, thực phẩm, [10] Nhiệm
vụ của nhà phân tích là tiếp tục tìm kiếm các phương pháp phân tích mới nhằm làm
phong phú thêm các phương pháp hiện có Với phương pháp phân tích quang phổ thì
việc tìm ra thuốc thử mới đáp ứng các yêu cầu phân tích có ý nghĩa vô cùng quan
trọng
Để xác định các kim loại trong mẫu thực tế có thể sử dụng phương pháp hấp thụ nguyên tử (AAS), các phương pháp điện hóa… với độ chính xác cao Tuy nhiên,
thông thường các phương pháp này đòi hỏi thiết bị đắt tiền mà không phải cơ sở nghiên
cứu nào cũng có thể có Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử trong vùng tử ngoại -
khả kiến (UV-VIS) là phương pháp đáp ứng nhanh, cho kết quả chính xác và thiết bị
không quá đắt tiền Đặc biệt, khi tìm ra được thuốc thử hữu cơ có độ nhạy và độ chọn
lọc cao với ion kim loại thì giá trị của phương pháp càng lớn
Calixaren được hình thành do phản ứng trùng ngưng không hoàn toàn giữa phenol hoặc dẫn xuất của nó với fomandehyt Các hợp chất của calixaren được dùng để
thu hồi các nguyên tố phóng xạ; chế tạo các điện cực chọn lọc; tham gia các phản ứng
chuyển pha; chất ổn định cho các polime; tách phân chia các phân tử hữu cơ trung tính;
xúc tác cho quá trình thủy phân, chế tạo màng [23], [24], [32], [45] Trong số các dẫn
xuất của calixaren thì azocalixaren được nhiều tác giả quan tâm Việc nghiên cứu các
hợp chất azocalixaren tập trung chủ yếu vào việc tìm ra các azocalixaren dùng chế tạo
màng chọn lọc ion (ISE), các hợp chất có khả năng tan trong nước khi thêm các nhóm
như SO3H vào azocalixaren để phân tích các ion kim loại [66] Hiện nay ở Trung
Quốc, Hàn Quốc, Thỗ Nhĩ Kỳ, Mỹ có một số nhóm nghiên cứu về lĩnh vực
Trang 20azocalixaren Còn ở Việt Nam Lê Văn Tán và các cộng sự đã đi sâu nghiên cứu, gắn
nhóm azophenyl để tạo nên các dẫn xuất calixaren mang màu và có khả năng tương tác
với nhiều ion kim loại [114]
Thuốc thử 5,11,17,23-tetra[(2-benzoic acid)(azo)phenyl]calixarene (BAPC) được tổng hợp và nghiên cứu thăm dò [111], chưa có công trình nào nghiên cứu đến
khả năng ứng dụng vào phân tích của nó Hợp chất BAPC có khả năng tương tác với
một số ion kim loại vì vừa có nhóm azo, vừa có đặc điểm của hợp chất host-guest
Trong số các kim loại nặng, chì (Pb) là nguyên tố gây ô nhiễm môi trường mà nguồn xuất phát từ pin, dầu xăng, sơn… Chì được biết là nguyên nhân của vấn đề sức
khỏe, như tiêu hóa, thần kinh, tim và sự căng thẳng Đặc biệt nó nguy hiểm cho trẻ em,
nhất là nó dẫn đến sự chậm phát triển Phương pháp quang xác định Pb(II) là khá thông
dụng vì thiết bị đầu tư đơn giản và rẻ tiền Người ta thường xác định chì bằng các
thuốc thử ammonium N-(dithiocarboxy)sarcosine,
1,1,1-trifluoro-4-mercapta-4-(2-thienyls)-but-3-one, porphyrin, Chrome azurol S, hoặc dithizone [11] Mặc dù nhiều
thuốc thử nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu liên quan đến hợp chất azo
calixarene để phân tích ion chì
Ceri (Ce) là kim loại đất hiếm, được sử dụng trong ngành công nghiệp kim loại,
lò phản ứng hạt nhân, trong hợp kim với niken, crôm, và các thiết bị lò vi sóng, laser,
truyền hình Nồng độ phù hợp của nguyên tố đất hiếm Ce rất có giá trị trong nông học
cũng như đánh giá ô nhiễm môi trường hoặc trong các nghiên cứu về các quá trình sinh
hóa [22]; Thuốc thử BAPC tạo màu tốt với Ce(IV) Vì vậy, chúng tôi lựa chọn thuốc
thử này để nghiên cứu sự tạo phức đồng thời với cả hai nguyên tố Ce và Pb trong mẫu
Trang 21Với mục đích đó, chúng tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu tương tác của thuốc thử
Azocalixaren với một số ion kim loại và ứng dụng trong hóa phân tích”
Để thực hiện luận án này chúng tôi đã tập trung vào các vấn đề sau đây:
- Trước hết khảo sát khả năng tương tác của ion kim loại Pb(II) và Ce(IV) với thuốc
thử BAPC trong các dung môi khác nước, sau đó xem xét ảnh hưởng của pH đến quá
trình tạo phức của thuốc thử với các ion kim loại trong môi trường nước- dung môi;
- Trên cơ sở của phản ứng tạo phức sẽ xác định thành phần phức, dùng phần mềm
ArgusLab 4.01 để nghiên cứu cấu trúc tối ưu các hợp chất phức Ce(IV) và Pb(II) với
thuốc thử BAPC, kết hợp các kỹ thuật về phổ để khẳng định cấu trúc phức
- Tìm các điều kiện tối ưu hình thành phức của các ion kim loại được lựa chọn là
Ce(IV) và Pb(II) với thuốc thử BAPC; và ứng dụng vào phân tích ion Ce trong mẫu
đất, Pb trong mẫu cỏ vetiver trên địa bàn Tỉnh Kon Tum
Trang 22Chương 1 - TỔNG QUAN 1.1 CALIXAREN
1.1.1 Giới thiệu về Calixaren
Calixaren là phân tử bao gồm những đơn vị phenol nối với nhau bằng cầu metylen (-CH2-) hình thành “hốc” kỵ nước (hydrophobic) Calixaren được Adolph Von
Baeyer (Đức) tổng hợp đầu tiên vào năm 1835, là sản phẩm của phản ứng giữa phenol
với andehit fomic trong môi trường axit mạnh Do thời kì đó không thể tách riêng
những chất này, Baeyer đã không thể xác định được cấu trúc sản phẩm phản ứng Năm
1908, Leo Baekeland (Bỉ) đã đưa ra qui trình sản xuất nhựa bakelit - sản phẩm của
phản ứng trùng ngưng giữa phenol với fomandehyt, sản phẩm đầu tiên của nhựa tổng
hợp dù chưa xác định được cấu trúc của nhựa Năm 1944 Alois Zinke, một giáo sư hóa
học ở Graz - Úc, và đồng nghiệp - Erich Zeiglei đã đề ra cấu trúc vòng tetrame, sản
phẩm của p-tert-butylphenol và fomandehit Sau đó, Alois Zinke đã giới thiệu cấu trúc
đầy đủ của sản phẩm giữa phenol và fomandehit vào năm 1952 Năm 1970, những nhà
khoa học ở Học viện Petrolite ở Misouri đã sản xuất nhựa oxyankyl
ankylphenol-fomandehit và xây dựng “quy trình Petrolite” để tạo nên những vòng oligomer
Cuối năm 1978 D C David Gutsche (Mỹ) chính thức đặt tên cho những sản
phẩm đã tìm ra khi cho p-tertbutyl phenol phản ứng với andehit fomic là calixaren
Theo tiếng Hy lạp, Calix nghĩa là cái lọ hoa hay một khoang hình cốc, calixaren có
hình dạng của cái cốc mà thành bên của nó là những vòng aren nối với nhau Số lượng
vòng aren “n” được thêm vào giữa để tạo thành tên gọi hoàn chỉnh là calix[n]aren
(Hình 1.1)
Trang 23Hình 1.1 Tên gọi calix[n]aren
Các calixaren nhỏ như calix[4]aren có dạng cái bát Dạng phổ biến nhất là tert-butylcalix[4]aren với cấu trúc hình nón được chỉ ra trong Hình 1.2
p-Hình 1.2 Cấu trúc p-tert butylCalix[4]aren (R: tert butyl)
Vành trên
Vành dưới Nếu n = 3, R = tert butyl thì tên hợp chất là p-t-butyl calix[6]aren
Trang 24Calixaren gồm ba phần chính: vành phía trên (upper rim), vành phía dưới (lower rim) và vòng ở giữa (annulus); cấu dạng của calixaren rất khó bị thay đổi cho nên nó
tồn tại như phân tử chủ (host) [45], [74]
Vành trên Vòng giữa Vành dưới
Hình 1.3 Cấu trúc của calix[4]aren
1.1.2 Tính chất vật lý của calixaren
Độ tinh khiết của hợp chất calixaren có thể được xác định thông qua việc đo điểm nóng chảy của nó Hầu hết các calixaren có điểm nóng chảy trên 250°C Các
nhóm thế khác nhau làm cho các dẫn xuất calixaren có nhiệt độ nóng chảy khác nhau
và sự khác nhau đó còn ảnh hưởng tới tính tan của hợp chất calixaren
Hầu hết các hợp chất calixaren đều không tan trong nước bởi có chứa vòng thơm, nhưng chúng có thể tan trong một số dung môi hữu cơ và người ta lợi dụng tính
chất này để tinh chế chúng Khi thêm các nhóm thế có khả năng làm giảm nhiệt độ
nóng chảy của calixaren sẽ làm tăng khả năng hòa tan của chúng vào dung môi hữu cơ
Những đặc trưng cấu trúc và tính chất của hợp chất calixaren được nghiên cứu qua các dạng phổ hồng ngoại (IR), tử ngoại (UV), cộng hưởng từ (NMR), tia X, phổ
khối (MS) và phổ huỳnh quang Mỗi kỹ thuật cung cấp những thông tin về cấu trúc và
các thuộc tính của calixaren dựa trên các kiểu bức xạ khác nhau
Phổ IR của calixaren có tần số thấp, ở bước sóng từ 3150 cm-1 đến 3300 cm-1chỉ sự dao động của nhóm – OH Nguyên nhân dao động ở tần số thấp này chính là do
các liên kết hydrô nội phân tử của các nhóm hydroxyl tại đáy nhỏ của hình nón; dao
Trang 25động của nhóm –OH này có tần số thấp ở calix[4]aren và tăng dần từ calix[5]aren trở
đi
Phổ UV của hợp chất calixaren xuất hiện ở vùng tử ngoại gần 280-288 nm Tỷ
lệ cường độ phổ tại hai bước sóng này là một hàm phụ thuộc vào kích thước của hợp
chất calixaren, ví dụ: 1,30; 0,90 và 0,75 tương ứng với những dẫn xuất tert - butyl của
calix[4]aren, calix[6]aren và calix[8]aren Hệ số hấp thụ mol (max, Lmol-1 cm-1) dao
động từ 9.800 đến 23.100 tại 280 nm và từ 7.700 đến 32.000 tại 288 nm và tăng tỷ lệ
thuận theo sự gia tăng kích thước của calixaren
Phổ NMR của hợp chất calixaren tương đối đơn giản vì phân tử của chúng có tính chất đối xứng Trong cấu hình dạng nón xuất hiện cặp pic đôi ở 3,2 ppm và 4,9
ppm là dao động của các proton trong cầu nối metylen Dao động của các proton trong
nhân thơm khoảng 7-8 ppm Trong khi đó, proton của nhóm –OH cho dao động trong
khoảng từ 8-10 ppm tùy thuộc vào kích thước phân tử calixaren
Vào năm 1979 Andreetti và các cộng sự ở đại học Parma – Ý, đã công bố cấu trúc đơn tinh thể của calix[4]aren khi dùng các dữ kiện của phổ X-ray để chứng minh
cấu trúc của phân tử calixaren Việc sử dụng phổ MS tuy không chứng minh được cấu
trúc như phổ cấu trúc tinh thể tia X nhưng cũng góp phần làm sáng tỏ cấu tạo của
calix[4]aren Phổ huỳnh quang cũng là một công cụ hữu ích để nghiên cứu khả năng
hình thành phức chất của calixaren
1.1.3 Tổng hợp calixaren
Sau công trình tổng hợp tert- butylcalix[n]aren (n = 4, 6, 8) của Gutsche, các
nhóm nghiên cứu trên thế giới đã bắt đầu tổng hợp các dẫn xuất của calixaren, tạo ra
một hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực hoá học siêu phân tử (supramolecular
Trang 26trong nước là cần thiết để mở rộng khả năng ứng dụng của nó trong thực tiễn Vào năm
1984, Ungaro và các cộng sự đã công bố dẫn xuất đầu tiên của calixaren có thể hòa tan
trong nước, đó là sản phẩm axit tetracacboxylic của p-tertbutylcalix[4]aren, hợp chất
này có bốn nhóm carboxylic gắn vào vòng thấp của calixaren, tạo ra khả năng hòa tan
trong nước Cùng năm đó, Shinkai cũng đã công bố sản phẩm p-sunfonat calix[6]aren,
rồi đến là các sản phẩm sunfonat tetrame, octame, anionic tan trong nước và những dẫn
xuất có chứa nhóm nitro, axit photphoric và phân nửa là gốc cacboxyl Shinkai cũng là
người đầu tiên công bố tổng hợp được cation calixaren hòa tan được trong nước, nó
liên kết mạnh với anion của phân tử khách thể và có cơ chế hoạt động tương tự enzym
Để tránh các liên kết không đặc trưng và lực đẩy của các nhóm ion trong phức, người
ta sử dụng phân tử calixaren tan trong nước đã được tổng hợp với nhóm sunfoamit,
nhóm hydroxyl – có chứa amit, đường, polyoxyetylen và polyalcol (Hình 1.5)
Hằng số phân li axit (pKa) của các calixaren tan trong nước được xác định bằng phương pháp chuẩn độ axit-bazơ Kết quả cho thấy proton đầu tiên tách ra ở giá trị pH
thấp Điều này khá phù hợp với những tính toán lý thuyết về chuẩn độ dung dịch của
calix[4]aren trong những dung môi hữu cơ sử dụng ion picrat như là một chất chỉ thị,
tuy nhiên việc xác định chính xác của những giá trị pKa2 – pKa4 thì gặp rất nhiều khó
khăn, do sự có mặt của những muối vô cơ Kết quả cho thấy sự tách của proton đầu
tiên ở những giá trị pH khá thấp (từ 1.8-2.9), tương ứng với một sự thay đổi bước nhảy
so với phenol khoảng 8 đơn vị pK Trong khi đó giá trị pKa2 – pKa4 được xác định tại
những giá trị pH trung bình hoặc tại những giá trị pH cao hơn so với phenol Giá trị pK
của sunfonat (1); nitro (2) và sunfoamit (3) calix[4]aren (Hình 1.4) được tóm tắt trong
bảng 1.1
Trang 27Anion calixaren
Cation calixaren
Phân tử calixaren Hình 1.4 Một số calixaren tan trong nước Bảng 1.1 Giá trị pKa của một số calix[4]aren tan trong nước
pK a1 pK a2 pK a3 pK a4
(2) H2O:tetrahydrofuran (70:30 v/v) 0 10.3 13 >14
Trang 28Dẫn xuất thế tetra calix[4]aren trong bảng 1.1 có giá trị pKa1 rất thấp Điều này chứng tỏ rằng liên kết hydro nội phân tử mạnh làm cho nhóm OH đầu tiên có tính axit,
liên kết hydro qua ba proton còn lại ổn định dạng mono - anion Giá trị pKa4 rất cao,
bởi vì proton cuối bị giữ lại trong chuỗi 4 nguyên tử oxy Shinkai và các cộng sự cho
rằng liên kết hydro mạnh bất thường trong trong “hốc” calixaren gây ra sự khác nhau
lớn trong các giá trị pKa và liên kết hydro này duy trì dạng hình nón cho calixaren
[102]
1.1.4 Tính chất tạo phức của calixaren trong dung dịch nước
Do cấu trúc đặc biệt nên phần lớn các hợp chất calixaren có khả năng tạo thành phức chất nội phân tử với nhiều chất khác Chúng có thể là các cation kim loại (nhóm
chính, kim lọai chuyển tiếp, nhóm actinit và lantanit), các cation và anion hữu cơ, các
phân tử để tạo thành các phức chất có sự chọn lọc cao về hóa học, vật lý và sinh học
[104]
Khả năng tạo phức chất theo tỷ lệ 1:1 giữa calixaren và các phân tử chất thơm khác đã được công bố vào năm 1979 Tuy nhiên, quá trình tạo phức chỉ xảy ra trong
dung môi hữu cơ Vì hầu hết các quá trình hoá học đều xảy ra trong nước, nên trong
những năm sau đó những nhà nghiên cứu đã tìm mọi cách để tổng hợp các hợp chất
calixaren tan trong nước
1.1.4.1 Phức của khách thể là cation
Dẫn xuất axit cacboxylic của p-tertbutylcalix[4]aren có khả năng chiết các cation uranyl (UO22+), chì và kim loại kiềm thổ rất hiệu quả từ nước vào diclometan,
nhưng tính chọn lọc không cao Sau đó, Shinkai đã tổng hợp được dẫn xuất
hexacacboxylat của p-sunfonat calix[6]aren và cho là “siêu-uranophil”, có khả năng
chiết chọn lọc uranium từ nước biển, khi có lượng lớn các kim loại khác Sau đó ông
dùng một cột sắc ký chứa những calixaren giống nhau làm pha tĩnh trong nhựa polyme
để thu được UO22+ trực tiếp từ nước biển Shinkai đã đánh giá cao sự chọn lọc quang
của siêu-uranophil do khác biệt trong hấp thụ của phức calixaren – UO22+ khi có các
Trang 29cation kim loại (Mn+) Ông và cộng sự đã thu được những kết quả chọn lọc như sau: tỉ
lệ ( 2 2
2
/
K K ) > 10+17 cho Mg2+; 10+15.3 cho Ni2+; 10+13.1 cho Zn2+ và 10+12 cho Cu2+
Sự chọn lọc cao này được giải thích bởi quan điểm hình học phối trí, ở đó calixaren
cung cấp nhóm phối tử được sắp xếp theo kiểu thích hợp cho mặt phẳng số phối trí sáu
của UO22+ Các cation còn lại có cấu trúc hình học phối trí mặt phẳng vuông hoặc tứ
diện không thuận lợi cho liên kết Một vấn đề khác được đặt ra là kích thước của
calixaren cũng liên quan đến K UO2 khi tương tác calixaren Vấn đề này trước đây ít
được lưu ý vì kích thước “hốc” calixaren linh động, có thể thay đổi hình dáng của
chúng
Một ứng dụng có liên quan môi trường của calixaren là sự chiết kim loại phóng
xạ từ axit hoặc muối được thải ra từ quy trình tái chế nhiên liệu hạt nhân Uranium và
plutonium được chiết hiệu quả bởi tri-n-butylphotphat (TBP), sau đó được lọc và tái sử
dụng Actinic và sản phẩm hạt nhân trong dung dịch axit (HNO31M) và muối (NaNO3
4M) cũng thực hiện tương tự Một vài sản phẩm (93Zr, 107Pd, 129I, 135Cs, và 237Np) có
chu kỳ bán hủy khoảng 106 năm; hoặc 90Sr và 137Cs có chu kỳ bán hủy khoảng 30 năm,
nhưng chúng chiếm khoảng 90% trong chất thải Các nhà nghiên cứu còn tập trung
nghiên cứu sự chọn lọc cao của calixaren với strontium, cesium và actinit, nhiều hơn cả
là với kim loại kiềm [41] được sử dụng làm màng chuyển, chiết và nghiên cứu phức
Phức calix[4]aren-lantanit có khả năng phát sáng và khử sinh học nên có thể dùng miễn dịch chất phóng xạ Việc phát sáng của Eu3+ và Tb3+ ở 618 nm và 545 nm,
là sự phát quang phân biệt của hệ thống sinh học, là bộ phận của chất làm nhạy (có
bước sóng kích thích trên 350 nm) cho phép sử dụng tiêu chuẩn quang học để điều
khiển sự phát sáng, bảo vệ những ion trong nước Việc nghiên cứu phức
calixaren-lantanit trong dung dịch nước nhằm xác định độ nhạy tại bước sóng hình thành phức
tối ưu nhằm ứng dụng phức tạo thành cho thực tiễn phân tích
Trang 30Sau việc chiết 225Ac3+ bằng tetracacboxylic axit calix[4]aren từ nước vào pha hữu cơ, sự phát triển của calix[4]aren - cơ sở cho nghiên cứu chữa bệnh do tác nhân
phóng xạ thực hiện trên chuột đã được nghiên cứu Sự kết hợp sinh học 225Ac3+ -
calix[4]aren vòng càng đã không làm hỏng hoạt động miễn dịch khi calix[4]aren liên
kết kháng thể chuột đơn tính
Sự lựa chọn khách thể tương tác chủ thể là chất hữu cơ tuân theo một số quy luật Ví dụ, dạng p-sunfonatcalix[4]aren trong trimetylanilin (TMA) không chọn lọc
Tuy nhiên khi một phân tử nước nối hai oxy phenolat trong vành thấp của axit
p-sunfonatcalix[4]aren-1,3-dicacboxylic dạng nón lại chọn lọc Kết quả, phần thơm của
TMA là phần chọn lọc trong hốc calixaren (Hình 1.5)
(A)
(B)
Hình 1.5 (A) Không chọn lọc và (B) chọn lọc trong TMA bởi p-sunfonatocalix[4]aren
(H2O dạng nón)
Trang 311.1.4.2 Phức của khách thể là anion
Việc nhận biết các anion không được nghiên cứu rộng rãi như với cation Do anion có những tính chất riêng nên thuốc thử chỉ được tổng hợp với độ nhạy thích hợp
Phức của khách thể anion trong nước khó hình thành vì anion bị hydrat hóa mạnh và
phải desonvat hóa trước khi tạo thành liên kết Tuy vậy vài phức anion với calixaren
tan trong nước đã được nghiên cứu
Việc kết hợp phân nửa là cacbonhydrat với calix[4]aren tạo chất có khả năng tan trong nước được coi như tăng cường liên kết của điện tích đối xứng Dẫn xuất tan trong
nước hình thành phức với khách thể D-glucosamin hydroclorit và anion
dihydrophotphat được chứng minh bởi sự dịch chuyển trong phổ 1HNMR
Cacbonhydrat trung tính và amino axit N- không tạo phức Trong một báo cáo khác,
các nhà nghiên cứu dùng azacalix[4]aren tan trong nước để liên kết anion
cacbonhydrat Inositol triphotphat và fructo 1,6-photphat có thể cùng tồn tại trong
“hốc” này
1.1.4.3 Phức của khách thể là phân tử
Mối tương quan giữa hằng số liên kết và hằng số host-guest được thiết lập bởi nghiên cứu phức của hydrocacbon thơm với p-cacboxyetyl calix[4]aren tan trong nước
Những calixaren lớn có thể đính vào nó những hydrocacbon thơm Tetrame calixaren
không chọn lọc và không hình thành phức với những hợp chất nhỏ như naphtalen
Ngược lại, những chất hexame và octame có khả năng chọn lọc và có thể kết hợp
những hydrocacbon polyaromatic như perylen
Việc ghép calix[4]aren vào cyclodextrin tạo ra cấu trúc của phân tử mới cho liên kết phân tử và độ nhạy quang [37], [67], [89], [93] Khi đính flo vào cyclodextrin, độ
nhạy quang được chứng minh bởi sự thay đổi quang của flo khi tương tác trong hốc
cyclodextrin Trong trường hợp ghép cộng hóa trị phân tử calix[4]aren-β-cyclodextrin,
flo đính vào calixaren thuận lợi cho liên kết nội phân tử của flo với β-cyclodextrin và
sự mở rộng của hốc β-cyclodextrin Phân tử ưa nước và tan trong chất béo
Trang 32(amphiphilic) hợp thành bởi calix[4]aren ghép β-cyclodextrin tạo phức với steroic,
tecpen và sản phẩm thiên nhiên, với độ nhạy steroic cao hơn tecpen khoảng 10 lần
Phân tử ghép nối cộng hóa trị này có tính chất phức khác β-cyclodextrin tự nhiên
1.1.5 Ứng dụng của hợp chất calixaren
Calixaren được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: điện cực chọn lọc ion, cảm biến quang học, màng chọn lọc ion, thiết bị nhận biết hợp chất chiral, chiết pha rắn, vật
liệu nano [67], [70], [75], [95]…bằng việc phát triển nhóm phía trên và dưới của
calixaren người ta thu được các calixaren khác nhau và có tính chọn lọc cho các loại
ion và nhóm phân tử nhỏ khác nhau Trong lĩnh vực này các calixaren chứa nhóm
mang màu được chú ý nghiên cứu nhiều nhất, bởi vì tính chọn lọc cao đối với ion kim
loại và phân tử chất nhận, dễ tổng hợp [45], [46], [62], [86]
Theo Gutsche dạng đường gờ tròn của calixaren có thể thích hợp cho việc tạo thành enzyme giả Calixaren là hốc tốt với tính có cực (vòng thấp) và không cực (vòng
trên) Việc chọn kích thước hốc và nhóm chức để tạo thành những hợp chất chọn lọc
phân tích có thể tạo phức Vì vậy, ứng dụng cho hóa sinh là một mảng quan trọng mà
các nhà nghiên cứu quan tâm calixaren [35], [74]
Các dẫn xuất của calixaren đã và đang được tổng hợp có một vai trò rất quan trọng trong hoá học phức chất Cho đến nay, đã có hơn 1000 bài báo khoa học của các
nhà khoa học khắp nơi trên thế giới viết về vấn đề này, nhiều nghiên cứu tạo phức với
các ion kim loại, aninon, và các hợp chất hữu cơ cũng được đề cập [17], [92], [112],
[118], [119]
Một trong những ứng dụng quan trọng của các dẫn xuất calixaren đó là thu hồi
Cs+ từ vật liệu rác thải hạt nhân [17], [49], [50] Theo phương pháp này, Izatt và cộng
sự dùng màng lỏng chứa dẫn xuất calix[8]aren 10-3 M Sau đó cho hỗn hợp các
hydroxit nhóm IA di chuyển qua dung dịch lỏng này Kết quả cho thấy tốc độ chuyển
ion Cs+ qua màng của ion Cs+ cao hơn các ion kim loại kiềm khác khoảng 100 lần (so
với Na+, Li+, K+) và khoảng 20 lần so với Rb+ Còn nhóm nghiên cứu của Bohmer và
Trang 33Vicens lại dùng dẫn xuất của calix[4]aren để thu hồi Cs+ Trong việc xử lí chất thải
phóng xạ, thì UO22+ được quan tâm nhiều nhất [64], [65], các công trình nghiên cứu về
lĩnh vực này đã được các nhà khoa học Nhật Bản báo cáo vào năm 1988 Theo đó, hiệu
suất thu hồi khi dùng calix[6]aren p-sunfonic để tạo phức, sau đó dùng dung môi
o-diclobenzen để chiết, hiệu suất chiết lên đến 99,8%
Calixaren còn được sử dụng trong việc tạo màng silicagel để ứng dụng trong sắc
kí trao đổi ion
Perin, Vicens đã nghiên cứu sâu hơn về khả năng tách các đồng phân xilen của các dẫn xuất calixaren [17] Kết quả cho thấy hiệu suất chiết rất cao (90%) khi sử dụng
hai dẫn xuất p-iso-propylcalix[4]aren và p-iso-propyl-bishomooxacalix[4]aren (Hình
1.6)
Có rất nhiều nghiên cứu trong những thập niên 90 về ứng dụng các dẫn xuất calixaren trong công nghệ chế tạo màng V Bohmer và cộng sự đã ổn định màng bằng
p-octadecylcalix[4]aren, trong khi đó Shinkai lại sử dụng dẫn xuất este trong công
nghệ này Trong công nghệ chế tạo màng siêu mỏng, Regan và cộng sự lại sử dụng dẫn
xuất calix[6]aren với axit malonic
Hình 1.6 Biểu đồ so sánh hiệu suất chiết (E%) các đồng phân octo, meta, para xilen
(từ trái qua phải) bằng các chất khác nhau
Trang 34Trong đó (1): hỗn hợp ban đầu; (2) iso-propylcalix[4]aren; (3):
p-tertbutylcalix[4]aren; (4): p-(1,1,3,3-tetrabutyl)calix[4]aren; (5): double calix[4]aren
Trang 35Nhiều dẫn xuất crow ete calix[4]aren được nhóm nghiên cứu Kai-Chi Chang và cộng sự tổng hợp [71], [72], hợp chất này có khả năng tương tác với nhiều ion kim
loại, đặc biệt với hai ion Pb2+, Ca2+ có độ chọn lọc, độ nhạy cao và có thể được ứng
dụng trong phân tích
Phức chất của các dẫn xuất calix[4]aren với các ion nhóm lantanit đã được tổng hợp và có ứng dụng hữu ích trong việc chế tạo đầu dò phát quang và trong xét nghiệm
sinh học, ngoài ra chúng cũng được dùng làm nguyên liệu trong các vật liệu chống
phóng xạ Phức của Eu3+ và Tb3+ xuất hiện sự phát quang lần lượt tại các bước sóng
618 nm và 545 nm [31], [43], [79], [122]
Nhóm nghiên cứu Flor de Maria Ramirez đã khảo sát phức của ion nhóm La với các dẫn xuất của calixaren [43] Kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào quá trình chiết
ion La3+ từ chất thải phóng xạ Các dẫn xuất chứa photpho của calixaren tạo phức rất
tốt với các ion lantan, ion actini Hiệu suất chiết cao hơn so với trioctylphotphin oxit
(TOPO) hoặc N,N-diisobutylcacbamoylmetyl photphin oxit (CMPO) là những chất
thường được sử dụng trong việc xử lí các chất thải phóng xạ Năm 1999, L.Le
Shaulnier đã nghiên cứu được sự tạo phức của calixaren với ion Ln (Ln = La, Eu, Tb)
dạng hydrat 1:1
Trang 36Hình 1.9 Một số phức chất của Ln3+ với dẫn xuất photpho của calixaren Trong phức hydrat 1:1, ion La3+ được liên kết phối trí bởi 4 nhóm P=O và những phân tử nước Trong khi ở các phức khác thì ion La3+ lại lọt hoàn toàn vào "hốc"
của calixaren
Năm 2000, nhóm nghiên cứu của A.Arduini và cộng sự đã tổng hợp được calixaren bằng cách gắn nhóm CMPO vào vành trên thu được các dẫn xuất calixaren
Hợp chất này chiết chọn lọc La3+ hơn so với CPMO và nó được dùng để tách ion nhóm
La3+ ra khỏi ion của nhóm actini [36]
Trang 37Hình 1.10 Các dẫn xuất dùng để chiết La3+, Th4+
Trước đó, nhóm của L.H Delmau lại tổng hợp được dẫn xuất calixaren bằng
cách gắn nhóm chức này vào vành thấp Các dẫn xuất tạo phức tốt với các ion La3+,
Eu3+, Yb3+ và Th4+; trong đó có dẫn xuất được dùng để chiết chọn lọc Th4+/Eu3+ và
Th4+/La3+
Năm 2001, nhóm nghiên cứu của Pascal C Leverd và cộng sự đã cô lập được phức chất dạng tinh thể của tBu-Calix[6]aren (H6L) với các ion nhóm lantan như La,
Sm và Yb Các phức này ở dạng hai nhân kim loại là [{La(O3SCF3)(piridin)7}2H2L];
[{Sm(O3SCF3)(piridin)4}2H2L] và [{Yb(O3SCF3)(terpyridin)(piridin)}2H2L] [17]
1.2 AZOCALIXAREN 1.2.1 Giới thiệu về azocalixaren
Sự phát triển của các hợp chất mang màu ngày càng mạnh mẽ trong lĩnh vực hóa học siêu phân tử Những chất này được dùng trong công nghệ cảm biến hóa học
Trang 38Hợp chất mang màu được cấu trúc bởi hai phần chức năng khác nhau: (a) “ionophore”
là phần mang ion và nhóm chức đặc biệt, phần (b): “chromophore”, là phần tiếp nhận
và chuyển đổi những tín hiệu hóa học do phần ionphore tạo ra trong quá trình tương tác
với ion thành tín hiệu quang học
Có nhiều khả năng tạo phức thú vị giữa các hợp chất mang màu này với các ion kim loại đã được các nhà khoa học kết luận khi nghiên cứu khả năng hấp thụ ánh sáng
của chúng [35], [36], [40], [68], [90], [113] Tuy nhiên, chỉ có một số ít công trình
nghiên cứu về khả năng tạo phức của các hợp chất mang màu này với các ion kim loại
chuyển tiếp, kim loại đất hiếm Hơn nữa, những ion kim loại chuyển tiếp, kim loại đất
hiếm lại có những phản ứng tương tự nhau với một số loại thuốc thử mang màu như
diphenylthiocarbazon hoặc 1-(2-pyridylazo)-2-naphtol và tín hiệu nhiễu thường xảy ra
khi phân tích riêng rẽ các ion kim loại chuyển tiếp, kim loại đất hiếm
Nhóm hợp chất azophenol là một trong những nhóm chất được sử dụng nhiều nhất để tạo ra những “Chromoionophore” và đã có rất nhiều dẫn xuất được tổng hợp
dựa trên đóng vòng ete, calixaren, chiral amin, chúng được biết đến là những chất
mang màu có tương tác với rất nhiều loại cation Azocalixaren là một trong những chất
được quan tâm đặc biệt bởi tính chất tương tác với các ion quan trọng thông qua tương
tác “host-guest” [34], [51], [107]
1.2.2 Tổng hợp azocalixaren
Năm 1990, các nhà khoa học thuộc Khoa tổng hợp hữu cơ, trường đại học Kyushu, Nhật Bản đã nghiên cứu phản ứng azo hóa giữa calix[4]aren với ion
benzendiazonium trong tetrahydrofuran ở nhiệt độ 500C, khi có mặt của pyridin, kết
quả thu được sản phẩm 1, 2 và 3 lần thế, sau đó họ nghiên cứu khả năng tạo phức của
các chất này với ion Li+ [17]
Shinkai và các cộng sự đã ghép thành công nhóm azo vào calix[4]aren, sự có mặt của một nhóm 4-(4-nitrophenyl)azophenol với ba nhóm este etyl cho khả năng
chọn lọc tốt với ion Li+ được xác định bằng phổ UV-Vis Sau đó nhóm
Trang 394-(4-nitrophenyl)azo thường được sử dụng trong việc tạo hợp chất sinh màu trên nền
calixaren do nhóm azo thường được coi như một trung tâm sinh màu không phải ở vị
trí vòng càng với ion kim loại [111]
Năm 2003 Fikret Karci và các cộng sự thuộc Trường đại học Pamukkale, Thổ Nhĩ Kì, đã tổng hợp được dẫn xuất azocalix[4]aren bằng cách cho o-, m-, p-cloroanilin;
o-, m-, p-nitroanilin phản ứng với calix[4]aren, calix[6]aren [42]
Hình 1.11 Các dẫn xuất thế o-, m-, p- azocaix[4]aren
Sau đó hai năm, nhóm nghiên cứu của Lilin Lu, Shufang Zhu, Xingzhong Liu, Zhizhong Xie, Xi Yan đã nghiên cứu tổng hợp được dẫn xuất tạo phức chọn lọc với ion
Cr3+ trong nước với độ hấp thụ cực đại ở bước sóng 520 nm [76]
Hình 1.12 Azocalix[4]aren tạo phức chọn lọc với Cr3+
Trang 40Hình 1.13 Sơ đồ tổng hợp azoxalixaren chọn lọc với Cr3+
1.2.3 Một số đặc trưng phân tích của hợp chất azocalixaren
12 dẫn xuất azocalix[4]aren mới được Fikret Karci và cộng sự tổng hợp theo phương pháp mô tả bởi Morita Theo Fikret Karci sự xuất hiện phổ hấp thụ của một số
azocalix[4]aren ở bước sóng tương đối dài là do có nhóm hút electron như: nitro hoặc
clo Phổ hấp thụ điện tử của các dẫn xuất azocalix[4]aren trong phạm vi 300-700 nm
tương ứng sự dịch chuyển π-π* và n-π* của nhóm diazo [42]
Phổ IR của hợp chất (trong KBr) chỉ nhóm –OH ở 3200-3500 cm-1; Giá trị này
có thể cao hay thấp phụ thuộc vào độ bền liên kết hydro của các nhóm –OH;
3000-3100 cm-1 chỉ nhóm -C-H-; 1600-1700 chỉ nhóm -C=C-; và 1500-1600 cm-1 chỉ nhóm
azo (-N=N-)
Các nghiên cứu của Karci chỉ ra rằng trong trạng thái rắn azocalix[4]aren chỉ tồn tại dạng azo-enol, điều này được chứng minh bằng số liệu từ phổ IR Trong phổ này
các hợp chất đều có dao động của nhóm –OH trong khoảng 3320-3340 cm-1 và dải dao
động hóa trị của nhóm –C-O tại 1063-1196 cm-1 Ngược lại trong dung dịch chúng có
thể tồn tại trong hai dạng đồng phân hỗ biến là azo-enol và keto-hydrazo
Vấn đề này đã được chứng minh bởi phổ 1HNMR, trong dung môi DMSO-d6 azocalixaren xuất hiện các tín hiệu của proton nhóm -OH (δ = 10.82-11.67) và của
nhóm NH (δ = 13.56-14.57) Khi hai dạng này tách proton sẽ cho ra một anion tương