1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Di Cư Trái Phép, Tái Hòa Nhập Cộng Đồng, Dịch Vụ Xã Hội, Công Tác Xã Hội.pdf

123 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Di Cư Trái Phép, Tái Hòa Nhập Cộng Đồng, Dịch Vụ Xã Hội, Công Tác Xã Hội
Tác giả Nguyễn Minh Hoàng
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Kham
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Công Tác Xã Hội
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN MINH HOÀNG NGƢỜI VIỆT NAM DI CƢ TRÁI PHÉP SANG ANH HỒI HƢƠNG VÀ NHU CẦU VỀ DỊCH VỤ HỖ TRỢ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG Chuyên ngành[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN MINH HOÀNG

NGƯỜI VIỆT NAM DI CƯ TRÁI PHÉP SANG ANH HỒI HƯƠNG

VÀ NHU CẦU VỀ DỊCH VỤ HỖ TRỢ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG

Chuyên ngành Công tác xã hội

Mã số: 60 31 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Kham

Hà Nội – 2015

Trang 2

Tiếp theo tôi xin được cảm ơn các thầy, cô giáo của Bộ môn Công tác xã hội nói riêng và Khoa Xã hội học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung vì đã tận tình truyền đạt, chia sẻ kiến thức và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp Lời cảm ơn này tôi cũng muốn gửi đến các thầy, cô giáo trong và ngoài trường đã tham gia giảng dạy các bộ môn trong chương trình cao học

Cảm ơn ThS Lưu Thị Lịch - Giám đốc Trung tâm Đào tạo & Phát triển cộng đồng (CTD) – người đã tạo điều kiện cho tôi được thực tập và tham gia nhóm khảo sát về thực trạng người Việt Nam di cư trái phép sang Anh trở về do CTD triển khai; đồng thời cho phép tôi được sử dụng một phần dữ liệu từ cuộc khảo sát vừa nêu để làm cơ sở cho các phân tích trong luận văn này Cảm ơn TS Đào Thị Minh Hương - trưởng nhóm, và các thành viên trong nhóm nghiên cứu (gồm TS Nguyễn Đình Tuấn, ThS Lê Mạnh Hùng và ThS Nguyễn Thị Chính), những người đã tham gia vào các phần khác nhau của nghiên cứu nêu trên và cho tôi cơ hội được cùng làm việc

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến các đối tác của Trung tâm Đào tạo & Phát triển cộng đồng ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Tĩnh và Quảng Bình, và đặc biệt là những người di cư trái phép hồi hương, nhân dân và cán bộ ở các địa phương này vì đã dành thời gian cho các hoạt động phỏng vấn

Hà Nội, 3/2015

Nguyễn Minh Hoàng

Trang 3

LỜI CAM KẾT

Luận văn này sử dụng một phần số liệu từ khảo sát Thực trạng người Việt

nhập cư bất hợp pháp vào Vương quốc Anh 1

trở về Việt Nam do Trung tâm Đào tạo

phát triển cộng đồng (CTD) thực hiện vào năm 2014 với sự tài trợ của Đại sứ quán Anh2 tại Việt Nam Tác giả của luận văn cũng đồng thời là thành viên của cuộc khảo sát

Ý tưởng của khảo sát này bắt nguồn từ việc các cơ quan hữu quan của Vương quốc Anh muốn tìm các biện pháp để giảm thiểu tình trạng người Việt Nam

di cư trái phép sang Anh và hỗ trợ người hồi hương tái hòa nhập CTD đã đề xuất ý tưởng này khi được các cơ quan hữu quan của Vương quốc Anh tham vấn Tác giả của luận văn là người đại diện cho CTD tham dự cuộc họp tham vấn và trực tiếp đề xuất ý tưởng

Tác giả luận văn đã đề xuất việc sử dụng một phần dữ liệu từ cuộc khảo sát

để viết luận văn tốt nghiệp và đã được giám đốc của CTD đồng ý

Ngoài số liệu từ cuộc khảo sát nêu trên, tác giả cũng sử dụng số liệu từ các nguồn khác để bổ sung thông tin và làm căn cứ cho các phân tích trong luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang 5

1.1.3 Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và quan điểm của cộng

đồng quốc tế về phòng chống di cư trái phép và hỗ trợ tái hòa nhập

18

1.2.1.1 Các nghiên cứu về người Việt Nam di cư ra nước ngoài 20 1.2.1.2 Các nghiên cứu về người hồi hương và công tác hỗ trợ tái hòa nhập 24

Chương 2 – Đặc điểm của người Việt Nam di cư trái phép sang Anh hồi

3.1 Thực trạng đời sống của người di cư trái phép sang Anh hồi hương 61

Trang 6

3.2.4 Khám sức khỏe, hỗ trợ pháp lý và tham vấn tâm lý 79 3.3 Đánh giá một số dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập hiện có và khả năng tiếp

Phụ lục 1: Một số chính sách, chương trình và hoạt động liên quan đến

phòng chống buôn bán người và hỗ trợ người đi xuất khẩu lao động về

nước đã và đang được triển khai

105

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HỘP VÀ HÌNH VẼ

2.1 Địa bàn cư trú của người di cư trái phép hồi hương 32 2.2 Nghề nghiệp của người di cư trái phép trước khi đi Anh 35 2.3 Thời gian tham gia các công việc liên quan đến trồng cây cần sa 54

2.7 Thời điểm người di cư trái phép hồi hương về Việt Nam 36 2.8 Nguyên nhân thúc đẩy người dân di cư trái phép sang Anh 39 2.9 Nguyên nhân thúc đẩy đi Anh phân chia theo hai nhóm đi từ

Việt Nam và đi từ một nước khác

39

2.10 Mục đích đến Anh của những người di cư trái phép đi từ các

tỉnh miền Bắc và các tỉnh miền Trung

43

2.11 Số nước mà người di cư đi qua trước khi đến Anh 44 2.12 Các công việc mà người di cư trái phép đã làm 53

Trang 8

2.13 Những vấn đề mà người di cư gặp phải 56 2.14 Tình trạng hoàn trả nợ số tiền đã vay để đi Anh 62

2.16 Loại hình công việc trong 3 tháng đầu sau khi hồi hương 66

3.2 Mong muốn nhận được sự hỗ trợ về giới thiệu việc làm giữa các

nhóm tuổi

78

3.3 Mong muốn nhận được sự hỗ trợ học nghề giữa các nhóm tuổi 79

Hình

3.1 Nhu cầu thực tế của người hồi hương theo thang nhu cầu của

2.9 Bị lừa tham gia vào hoạt động trồng cần sa 57

Trang 9

2.11 Bán nhà trả nợ 62

3.4 Về cách tiếp cận “từ trên xuống (top down)” trong phát triển

cộng đồng

87

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

VÀ TÊN CÁC TỔ CHỨC BẰNG TIẾNG ANH BBC British Broadcasting Corporation

Tổ hợp truyền thông Anh quốc

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

against Trafficking

Sáng kiến phối hợp cấp bộ trưởng trong phòng chống buôn bán người tiểu vùng sông Mê công mở rộng

CTD Center for Training and Community Development

Trung tâm Đào tạo phát triển cộng đồng

IOM International Organization of Migration

Tổ chức Di cư quốc tế

ILO International Labor Organization

Tổ chức Lao động quốc tế

ISDS Institute for Social Development Studies

Viện Nghiên cứu phát triển xã hội

LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 11

PCTNXH Phòng chống tệ nạn xã hội

UNDP United Nations Development Program

Chương trình Phát triển LHQ

UN-ACT United Nations Action for Cooporation Agianst Trafficking

in Person

Dự án LHQ hợp tác hành động chống lại nạn buôn người

UNIAP United Nations Inter-Agency Project on Human Trafficking

Dự án Liên minh các tổ chức LHQ về phòng chống buôn bán người

UNICEF United Nations Children's Fund

Quỹ Nhi đồng LHQ

UNWOMEN United Nations Entity for Gender Equality and the

Empowerment of Women

Cơ quan Phụ nữ LHQ

Blue Dragon Tổ chức Trẻ em Rồng Xanh

Hagar International Tổ chức Hagar quốc tế

Nexus Institute Học viện Nexus

Pacific Links Tổ chức Vòng tay Thái Bình

Trang 12

MỞ ĐẦU

Quá trình toàn cầu hóa góp phần làm cho lượng người di cư, cả hợp pháp và bất hợp pháp, ngày một gia tăng giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Bên cạnh nguyên nhân chiến tranh và tị nạn chính trị thì di cư vì lý do kinh tế là nguyên nhân cơ bản của hoạt động di cư Việc đi lại thuận tiện hơn cùng với sự chuyên nghiệp và tinh vi của các đường dây đưa người xuyên quốc gia cũng góp phần làm gia tăng hoạt động di cư trái phép Người ta di cư từ các vùng có điều kiện sống thấp kém hơn tới các vùng có điều kiện sống tốt hơn, dễ kiếm được việc làm hơn và phúc lợi xã hội tốt hơn

Di cư trái phép đặt ra một loạt những thách thức cần phải can thiệp cho bản thân người di cư, nước xuất phát và nước đến Theo một báo cáo của Bộ Ngoại giao và Tổ chức Di cư quốc tế (IOM), “trong những năm gần đây, hoạt động đưa người ra nước ngoài bất hợp pháp và mua bán người có chiều hướng gia tăng ở Việt Nam Trong thực tế, các đường dây tội phạm quốc tế này không chỉ tổ chức đưa người di cư trái phép trong những điều kiện thiếu an toàn, phi nhân đạo mà còn lợi dụng vị thế bấp bênh của họ để đẩy một bộ phận người di cư này vào con đường bị mua bán, bóc lột tình dục và lao động cưỡng bức” [9, tr 48]

Trong số các nước là điểm đến của dòng người di cư trái phép thì Vương quốc Anh

là một trong những địa điểm phổ biến Thống kê cho thấy hiện có khoảng từ 30.000 – 35.000 người Việt nhập cảnh và cư trú trái phép tại Anh [75] Việt Nam đứng thứ 5 trong

số các nước có nhiều người nhập cư bất hợp pháp vào Anh [9, tr 48] và đứng đầu trong

số các quốc gia đưa lậu người vào Anh để làm các việc làm phi pháp [72] Chỉ riêng hai năm 2008 – 2009, gần 12.000 trang trại trồng cần sa tại Anh do người Việt vận hành đã

bị cảnh sát phát hiện Tuy nhiên trên thực tế số lượng các trang trại chưa bị phát hiện có thể còn nhiều hơn

Theo báo cáo năm 2011 của Cơ quan phòng chống tội phạm nghiêm trọng có tổ chức vương quốc Anh (SOCA), trong số nạn nhân của các đường dây buôn lậu người vào

Trang 13

(đứng thứ hai sau Rumania) Những người được đưa lậu vào Anh có thể bị bóc lột dưới nhiều hình thức, trong đó cao nhất là bị buộc phải bán dâm (639 người, chiếm 31%), lao động (461 người, chiếm 22%), làm người giúp việc gia đình (222 người, chiếm 11%) và làm các việc làm phi pháp khác (353 người, chiếm 17%) Có 8% trong số các nạn nhân bị buộc phải làm những việc phi pháp cho biết họ phải trông nom các cơ sở trồng cần sa mà trong đó 90% là người Việt [72]

Để hạn chế tình trạng người Việt Nam di cư trái phép vào Anh chính phủ hai nước Anh và Việt Nam đã có các hoạt động phối hợp nhằm ngăn chặn hoạt động di cư bất hợp pháp và mua bán người ngay tại Việt Nam [72] Bên cạnh đó chính phủ Anh cũng đã áp dụng các biện pháp về an ninh và hành chính để ngăn dòng người Việt nhập cư vào Anh qua các cửa khẩu và buộc hồi hương về Việt Nam những trường hợp vi phạm pháp luật Theo Sứ quán Anh tại Việt Nam, riêng trong năm 2009 đã có hơn 29.000 lượt người nhập

cư bất hợp pháp đã bị ngăn chặn tại đường hầm xuyên biển giữa Anh và Pháp Trong cùng năm này, khoảng 525 người Việt Nam đã bị trục xuất khỏi Anh sau khi bị bắt giữ vì tội nhập cư lậu và nhiều người khác đã bị bắt vì trồng cần sa trái phép [56]

Trong khi người dân có nhiều lựa chọn hợp pháp để ra nước ngoài lao động thông qua các chương trình hợp tác xuất khẩu lao động chính thức thì nhiều người vẫn tìm cách

di cư trái phép sang Anh Những người này phải đối mặt với nhiều rủi ro về sức khỏe, an toàn tính mạng, phạm pháp, bị bóc lột, và hạng loạt khó khăn trong quá trình tái hòa nhập sau khi hồi hương về Việt Nam do không có việc làm, nợ nần và túng thiếu, v.v [9, tr 48] Thực tế này đặt ra vấn đề cần phải tiến hành một nghiên cứu để tìm hiểu những lý do khiến người dân di cư trái phép sang Anh, quá trình di chuyển và cuộc sống bất hợp pháp tại Anh Bên cạnh đó là những khó khăn mà người di cư hồi hương phải đối mặt và các nhu cầu của họ để tái hòa nhập Việc đánh giá các dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập để chỉ ra mức độ sẵn có – tính phù hợp và khả năng tiếp cận cũng là việc làm cần thiết Trên cơ sở

đó cần xây dựng các mô hình trợ giúp phù hợp để hỗ trợ tái hòa nhập và phòng chống (tái) di cư bất hợp pháp, đặc biệt là các giải pháp về hỗ trợ vốn vay tạo sinh kế và cung cấp thông tin về di cư an toàn hướng đến cuộc sống phát triển bền vững

Trang 14

Với những lý do nêu trên, tôi quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu mang tên:

“Người Việt Nam di cư trái phép sang Anh hồi hương và nhu cầu về dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng” Nghiên cứu này sẽ hướng đến làm giảm khoảng cách trong

định hướng chính sách, nghiên cứu và dịch vụ hỗ trợ hiện nay về nhóm đối tượng này Trên cơ sở kết quả khảo sát thực tế, nghiên cứu sẽ đưa ra các khuyến nghị nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan chức năng, các tổ chức trong nước và quốc tế đang làm trong lĩnh vực di cư và phòng chống mua bán người đưa ra những chính sách và chương trình can thiệp hiệu quả hơn

Nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận cho các nghiên cứu (và can thiệp) liên quan đến vấn đề người di cư ra nước ngoài trái phép, hồi hương và tái hòa nhập; đồng thời đóng góp vào việc tạo ra định hướng nghiên cứu về người di cư, thúc đẩy các nghiên cứu về các mô hình trợ giúp cho người di cư, phòng chống di cư trái phép/không an toàn và tăng cường di cư an toàn nói chung

Nghiên cứu này cũng sẽ đóng góp các dẫn chứng thực tế cho hoạt động đào tạo, giảng dạy và các mô hình thực hành trong lĩnh vực di cư và tái hòa nhập

Đặc biệt, nghiên cứu này sẽ là căn cứ để xây dựng các can thiệp nhằm hỗ trợ trực tiếp cho người Việt Nam di cư trái phép sang Anh hồi hương tái hòa nhập cộng đồng và hạn chế tình trạng di cư trái phép sang Anh

- Nghiên cứu này được tiến hành nhằm bổ sung những thiếu hụt thông tin xung quanh vấn đề tái hoà nhập của người di cư trái phép tại cộng đồng; cũng như tạo được những định hướng trợ giúp đối tượng này Cụ thể, nghiên cứu sẽ rà roát các chính sách, nghiên cứu và hoạt động can thiệp có liên quan để chỉ ra các điểm thiếu hụt, khoảng trống và đề xuất các hướng bổ sung phù hợp từ cả góc độ lý thuyết lẫn thực hành Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xây dựng mô hình lý thuyết để làm căn cứ tiếp cận và định hướng nghiên cứu dựa trên các lý thuyết phù hợp và hệ thống khái niệm có liên quan

Trang 15

- Nghiên cứu này cũng cung cấp căn cứ - bằng chứng cho việc xây dựng các hoạt động can thiệp nhằm hạn chế tình trạng di cư trái phép – di cư không an toàn, buôn bán người; và hỗ trợ người hồi hương tái hòa nhập cộng đồng Các hoạt động can thiệp về

hỗ trợ tái hòa nhập và thông tin – tuyên truyền - giáo dục nâng cao nhận thức về di cư an toàn được đề xuất dựa trên nhu cầu thực tế của người di cư trái phép hồi hương và bài học kinh nghiệm được rút ra từ các can thiệp trước đó trong lĩnh vực hỗ trợ tái hòa nhập cho người di cư và nạn nhân buôn bán người hồi hương

- Những nguyên nhân dẫn đến việc di cư trái phép và những thách thức mà

người Việt Nam phải đối mặt trong quá trình di chuyển, nhập cảnh trái phép và sinh sống tại Anh là gì?

- Những khó khăn và trở ngại đối với người di cư trái phép hồi hương trong

quá trình tái hòa nhập xã hội là gì?

- Đâu là những nhu cầu về dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng và giảm

thiểu nguy cơ tái di cư không an toàn của người di cư hồi hương?

- Khả năng tiếp cận và mức độ hiệu quả của các dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập

và chính sách phòng chống di cư không an toàn hiện có là gì?

Do có những khó khăn về kinh tế và nhận thấy cơ hội sang Anh làm việc với thu nhập rất cao trong thời gian ngắn nên nhiều người Việt Nam đã bất chấp các quy định về xuất – nhập cảnh, rủi ro về tài chính và an toàn tính mạng để di cư trái phép sang Anh Trên thực tế, nhiều người trong số họ đã đối mặt với nhiều gian khổ và nguy hiểm để đến được Anh Khi tới được Anh, nhiều người đã bị đường dây đưa người và tổ chức tội phạm cưỡng bức lao động hoặc bị cảnh sát bị bắt giữ, tù giam và buộc hồi hương về Việt Nam

vì vi phạm pháp luật nước sở tại, đặc biệt là tội trồng cây cần sa trái phép Hồi hương về nước, nhiều người rơi vào cảnh nợ nần, túng quẫn do trước đó đã phải vay tiền để đi Anh

và đối mặt với nhiều khó khăn khác để hòa nhập trở lại cuộc sống Tuy nhiên, các chính

Trang 16

sách và dịch vụ để hỗ trợ những người như họ để tái hòa nhập cuộc sống vẫn còn thiếu, bất cập và cần phải được bổ sung và hoàn thiện

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng người Việt Nam di cư trái

phép sang Anh hồi hương và nhu cầu về dịch vụ vụ hỗ trợ tái hòa nhập

- Khách thể nghiên cứu: Những người Việt Nam di cư trái phép sang Anh đã

hồi hương về Việt Nam; và những người làm việc trong các cơ quan/tổ chức liên quan đến quản lý người di cư, phòng chống di cư không an toàn và dịch vụ hỗ trợ cho người di

cư và các tài liệu liên quan

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian 8 tháng, từ

tháng 1/2014 đến tháng 8/2014 tại 5 tỉnh/thành: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Tĩnh và Quảng Bình

Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong luận văn này bao gồm:

- Nghiên cứu tài liệu:

 Nghiên cứu các tài liệu đề cập đến hệ thống lý thuyết và khái niệm làm cơ

sở lý luận cho luận văn

 Rà roát các nghiên cứu, báo cáo và bài báo liên quan đến người Việt Nam di

cư ra nước ngoài để củng cố lý do lựa chọn đề tài và bổ sung cho các phân tích trong luận văn

 Nghiên cứu các văn bản và tài liệu đề cập đến chính sách, hoạt động can thiệp và dịch vụ về hỗ trợ người Việt Nam di cư ra nước ngoài hồi hương và nạn nhân mua bán người tái hòa nhập cộng đồng để đánh giá sự phù hợp của các chính sách, chất lượng dịch vụ và khả năng tiếp cận

- Phân tích số liệu: Các số liệu dùng để phân tích được lấy từ Khảo sát Thực trạng người Việt nhập cư bất hợp pháp vào Vương quốc Anh trở về Việt Nam Khảo sát

này do Đại sứ Anh tại Việt Nam và Trung tâm Đào tạo phát triển cộng đồng thực hiện Các số liệu được sử dụng để phân tích bao gồm: thông tin nhân khẩu học, động cơ di cư

Trang 17

trái phép sang Anh, hành trình di chuyển, quá trình sinh sống ở Anh và cuộc sống sau khi hồi hương Tuy nhiên, để hoàn thiện các phần nội dung liên quan trong luận văn, tác giả

đã sử dụng thêm các nguồn số liệu khác bên cạnh nguồn số liệu từ khảo sát nêu trên

- Phỏng vấn sâu:

 Phỏng vấn sâu một số người hồi hương để làm rõ và tìm hiểu sâu hơn những vấn đề mà khảo sát định lượng không trả lời được, đặc biệt là các khó khăn sau khi hồi hương và nhu cầu về dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập

 Phỏng vấn những người làm việc trong các cơ quan tổ chức liên quan đến quản lý người di cư, phòng chống di cư không an toàn và hỗ trợ tái hòa nhập để tìm hiểu

về thực trạng người hồi hương ở các địa phương và các dịch vụ hiện có

Trang 18

NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

và phát hành [18]

Di cư là sự di chuyển của một người hoặc một nhóm người, kể cả qua một biên

giới quốc tế hay trong một quốc gia Là một sự di chuyển dân số, bao gồm bất kể loại di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân; nó bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và những người di chuyển vì các

mục đích khác, trong đó có đoàn tụ gia đình Di cư quốc tế là sự di chuyển của những

người rời nước gốc hoặc nước cư trú thường xuyên để tạo lập cuộc sống mới tại nước khác, kể cả tạm thời hoặc lâu dài Vì thế họ phải vượt qua một biên giới quốc tế

Di cư trái phép là sự di chuyển không phù hợp với các quy định của nước gốc,

nước quá cảnh và nước tiếp nhận Từ góc nhìn của nước tiếp nhận, đó là việc nhập cảnh, lưu trú hoặc làm việc tại một quốc gia mà không có giấy phép cần thiết hoặc giấy tờ yêu cầu theo các quy định nhập cư Từ góc nhìn của nước gốc, di cư trái phép có thể được nhìn nhận trong trường hợp một người vượt biên mà không có hộ chiếu hoặc giấy tờ đi lại hợp lệ hoặc không thực hiện đầy đủ các yêu cầu đầy đủ về thủ tục hành chính để ra khỏi đất nước

Người di cư: Vẫn chưa có một định nghĩa chung nào được chấp nhận trên cấp độ

quốc tế về “người di cư” Thuật ngữ “người di cư” thường được hiểu bao hàm mọi trường hợp di cư do cá nhân tự quyết định vì lý do tiện ích cá nhân mà không có sự tác động của nhân tố bắt buộc bên ngoài Nó cũng được áp dụng đối với những người, và thành viên gia đình, di chuyển tới một nước hoặc một vùng lãnh thổ khác để cải thiện điều kiện xã

Trang 19

hội và vật chất của họ và mở ra tương lai cho họ và gia đình Trong khi đó, LHQ định nghĩa người di cư là cá nhân đã cư trú tại một nước hơn một năm, bất kể người đó có di

cư tự nguyện hay không, hay theo cách được phép hay trái phép Với một định nghĩa như vậy, những người đi lại với thời gian ngắn hơn như khách du lịch, thương nhân không được coi là người di cư Tuy nhiên cách sử dụng chung bao gồm cả những nhóm nhất định chỉ những người di cư ngắn hạn, như người lao động nông nghiệp theo thời vụ, những người đi lại trong thời gian ngắn để trồng trọt và thu hoạch sả phẩm nông nghiệp

Người di cư trái phép/bất hợp pháp là người, do nhập cảnh bất hợp pháp, vi phạm

một điều kiện nhập cảnh, hoặc hết hạn thị thực, không có quy chế hợp pháp ở nước quá cảnh hoặc nước chủ nhà Định nghĩa này bao gồm cả những người nhập cảnh bất hợp pháp vào một quốc gia quá cảnh hay nước chủ nhà nhưng ở lại quá thời hạn cho phép hoặc làm việc không được phép Thuật ngữ “trái phép” được sử dụng nhiều hơn “bất hợp pháp” vì bất hợp pháp mang một ý nghĩa phạm tội và được xem như bác bỏ quyền của người di cư

Hồi hương là quyền cá nhân của người tị nạn, tù nhân chiến tranh hoặc người bị

giam giữ dân sự được hồi hương nước mà họ mang quốc tịch theo các điều kiện cụ thể được quy định trong nhiều văn kiện quốc tế như: Công ước Geveva năm 1949 và Nghị định thư năm 1997, Quy tắc về luật pháp và tập quán chiến tranh trên bộ, Phụ trương Công ước La Hay IV năm 1907, và các văn kiện về quyền con người cũng như luật pháp

và tập quán quốc tế Việc lựa chọn hồi hương là quyền dành riêng cho cá nhân và không phải là quyền của bên giam giữ Trong luật quốc tế về xung đột vũ trang, việc hồi hương đồng thời đòi hỏi nghĩa vụ của bên giam giữ phải thả những người thích hợp (quân nhân

và dân thường) và trách nhiệm của quốc gia gốc trong việc nhận lại công dân mình sau khi chiến tranh chấm dứt Ngay cả khi luật, điều ước không chứa đựng một nguyên tắc chung về vấn đề này, ngày nay, việc hồi hương tù nhân chiến tranh và người bị giam giữ

dân sự là vấn đề được các bên liên quan mặc nhiên thừa nhận Hồi hương cũng là thuật

Trang 20

ngữ được áp dụng với các đặc phái viên ngoại giao, quan chức quốc tế trong bối cảnh có

khủng hoảng quốc tế, đồng thời cũng áp dụng với người xa xứ và người di cư

Sự trở về: Với nghĩa chung nhất, là hành động hay quá trình quay trở lại điểm xuất

phát Sự trở về có thể diễn ra trong phạm vi biên giới lãnh thổ của một quốc gia, ví như việc trở về của những người lánh nạn trong nước và những người lính xuất ngũ; hoặc giữa nước chủ nhà (nước quá cảnh hoặc nước đến) và nước gốc trong trường hợp đối với người

di cư lao động, người tị nạn, người xin tị nạn, và công dân có trình độ Có nhiều loại hình trở về và có thể miêu tả qua cách thức thực hiện: tự nguyện, cưỡng bức, được hỗ trợ hay

tự phát; hoặc theo cách thức đối tượng tham gia

Dư cư trở về là việc di chuyển của một người trở về nước gốc hoặc nơi cư trú

thường xuyên sau khi sống ở một nước khác với thời gian ít nhất một năm Việc trở về này có thể là tự nguyện hoặc không tự nguyện; và bao gồm cả hồi hương tự nguyện

Theo Nghị định thư của LHQ về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước năm 2000 của LHQ về chống tội phạm có

tổ chức xuyên quốc gia, "buôn bán người" có nghĩa là việc giao dịch, vận chuyển, chuyển

giao, chứa chấp và tiếp nhận người bằng cách đe dọa hoặc sử dụng vũ lực hay các hình

thức ép buộc khác, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một

người kiểm soát đối với những người khác vì mục đích bóc lột Hành vi bóc lột sẽ bao

gồm ít nhất việc bóc lột mại dâm người khác hay những hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay các hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc việc

lấy đi những bộ phận cơ thể

Theo Luật Phòng chống Mua bán người của Việt Nam (có hiệu lực từ 1/1/2012) và các Nghị định hướng dẫn liên quan không dùng từ “buôn bán người” mà dùng từ “mua bán người” Theo đó mua bán người là việc “coi người như một loại hàng hóa để trao đổi

Trang 21

bằng tiền hoặc lợi ích vật chất khác”3 Quy định này xác định đối tượng bị mua bán là con người, gồm cả người lớn và trẻ em, cả nam và nữ; và hành vi là hành vi mua và bán, tức

là dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để đối lấy người

Theo từ điển giải thích thuật ngữ về di cư của IOM:

Tái hòa nhập là sự tham gia trở lại hay sự tái hợp nhất của một người vào một

nhóm hoặc một quá trình, ví dụ: sự tham gia của người di cư vào cộng đồng xã hội nước gốc hoặc nơi cư trú thường xuyên Tái hòa nhập bao gồm các khía cạnh về kinh tế, xã hội

và văn hóa Cụ thể:

Tái hòa nhập về kinh tế là quá trình người di cư tái gắn kết vào hệ thống kinh tế

nước gốc và tự kiếm sống cho bản thân họ Trong thuật ngữ phát triển, tái hòa nhập về kinh tế còn là việc sử dụng các bí quyết mà người di cư tiếp thu được từ nước ngoài để để thúc đấy phát triển kinh tế và xã hội của nước gốc

Tái hòa nhập về xã hội là việc tái gắn kết người di cư vào cấu trúc xã hội của nước

gốc Nó bao gồm việc tạo các mối liên kết cá nhân (với bạn bè, người thân, hàng xóm) cũng như sự phát triển các cấu trúc xã hội (các hiệp hội, các nhóm tự lực và các tổ chức khác)

Tái hòa nhập về văn hóa là sự tái thích nghi của người di cư đối với những giá trị,

lối sống, ngôn ngữ, quy tắc đạo đức, tư tưởng và truyền thống xã hội của nước gốc

Theo quyết định số 17/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 29/01/2007

về Ban bành Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về thì hỗ trợ hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng bao gồm: hỗ trợ về tâm lý, hỗ trợ về thủ tục pháp lý, hỗ trợ học văn hóa – học nghề, và trợ cấp khó khăn ban

Trang 22

(quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người) thì “Hòa

nhập cộng đồng là giai đoạn đưa nạn nhân trở về cộng đồng sau khi đã được hỗ trợ phục

hồi và chuẩn bị các điều kiện cần thiết, từng bước thiết lập lại một cách bình thường các quan hệ với gia đình và xã hội” Theo đó, trước khi hòa nhập cộng đồng cần hỗ trợ phục hồi, chuẩn bị các điều kiện để nạn nhân hòa nhập cộng đồng Các dịch vụ cần có trong giai đoạn này gồm: hỗ trợ chăm sóc y tế, trợ giúp pháp lý cho nạn nhân; tư vấn về học nghề, việc làm, chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với nạn nhân; liên hệ, giới thiệu nạn nhân đến các cơ sở dạy nghề phù hợp; tư vấn tâm lý, chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân hòa nhập cộng đồng

Theo Cẩm nang thực hiện công tác hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân bị

mua bán do Cục Phòng chống tệ nạn xã hội phát hành thì tái hòa nhập cộng đồng là quá

trình đưa nạn nhân trở về cuộc sống bình thường, ổn định lâu dài tại cộng đồng sau khi đã được chăm sóc, hỗ trợ về tâm lý, thể chất Theo đó, tái hòa nhập nên là sự đảm bảo cho nạn nhân lấy lại quyền tự chủ và kiểm soát chính cuộc sống của mình Thêm nữa, hòa nhập cộng đồng không chỉ đơn giản là trở về nhà, mà là phải được tự chủ về mặt xã hội và kinh tế để có thể đưa ra được các quyết định tốt hơn, và trở thành thành viên mạnh khỏe

và có ích cho xã hội cho dù họ ở đâu Tái hòa nhập có thể bao gồm cả việc hội nhập vào cộng đồng mới khi nạn nhân có hoàn cảnh không thể trở về nhà [12]

Theo tài liệu “Tóm tắt thảo luận chính sách: Để người lao động di cư trở về đóng

góp tích cực cho Việt Nam” do ILO, IOM và UNWOMEN thực hiện trong khuôn khổ dự

án “Hỗ trợ chính sách về Lao động di cư trở về” của IOM thì: “Tái hòa nhập là việc một

người trở về quay lại hòa nhập lại vào xã hội Việt Nam, đây là quá trình bao gồm nhiều khía cạnh tâm lý, xã hội, sức khỏe và kinh tế” Để hòa nhập thành công, “từ góc độ kinh

tế, đó là việc cải thiện tình hình tài chính đối với cá nhân và gia đình họ sau khi di cư, hoặc ít nhất tình hình tài chính sẽ không kém đi do di cư Khái niệm tương tự có thể áp dụng đối với vấn đề sức khỏe, xã hội và tâm lý của người di cư và gia đình họ Những kết quả này cần được tiếp diễn trong một thời gian dài, nghĩa là tái hòa nhập thành công một cách bền vững [17]

Trang 23

Tài liệu Hậu bị buôn bán: Trải nghiệm và thách thức trong quá trình (tái) hoà

nhập của người bị buôn bán trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông, định nghĩa tái hòa

nhập là quá trình hồi phục và phát triển kinh tế và xã hội sau khi thoát ra khỏi tình trạng

bị buôn bán Quá trình này bao hàm việc thiết lập một môi trường an toàn và an ninh, tiếp cận một mức sống hợp lý, ổn định sức khỏe thể chất và tinh thần, các cơ hội phát triển cá nhân, xã hội và kinh tế cũng như tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ xã hội và cảm xúc Trọng tâm của tái hòa nhập thành công là tăng cường năng lực cho nạn nhân, hỗ trợ họ để phát triển các kỹ năng hướng đến sự độc lập, tự chủ và chủ động tham gia vào quá trình hồi phục và tái hòa nhập của họ [46, tr 6]

Từ các định nghĩa trên, trong nghiên cứu này tôi thống nhất cách hiểu về tái hòa

nhập như sau: Tái hòa nhập là sự tham gia trở lại một cách tích cực và chủ động của một

người (nhóm người) vào mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của một cộng đồng để có thể làm chủ cuộc sống Tái hòa nhập là quá trình hai chiều bao gồm cả những

nỗ lực của người cần tái hòa nhập và hệ thống các dịch vụ hỗ trợ

Thông tư số 35/2013/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2013 (đã đề cập ở trên), Điều 11 (nói các dịch vụ hỗ trợ nạn nhân buôn bán người tại cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân) quy định cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân có trách nhiệm tổ chức thực hiện các dịch vụ sau để hỗ trợ nạn nhân:

- Tiếp nhận, hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu và bảo vệ nạn nhân

- Hỗ trợ y tế, tư vấn tâm lý, trợ giúp pháp lý

- Hỗ trợ học văn hóa, học nghề, xây dựng kế hoạch hỗ trợ nạn nhân hòa nhập cộng đồng

Trong tài liệu Hậu bị buôn bán: Trải nghiệm và thách thức trong quá trình (tái)

hoà nhập của người bị buôn bán trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông, khái niệm “hỗ

trợ” dùng để diễn tả những dịch vụ trợ giúp chính thức dành cho nạn nhân của buôn bán người, được cung cấp bởi các tổ chức trong và ngoài nước, các cơ quan nhà nước cũng như những dịch vụ trợ giúp nói chung (ví dụ: những dịch vụ không dành riêng cho buôn

Trang 24

bán người), được cung cấp bởi các bộ/ngành (ví dụ: các dịch vụ xã hội, các cơ quan bảo

vệ trẻ em, các cơ quan y tế, v.v.), các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế Diễn đạt một cách ngắn gọn thì hỗ trợ là bất cứ loại hình dịch vụ nào cả trong và ngoài nước để giúp đỡ người bị buôn bán [46, tr 7]

Từ các gợi ý này cùng với định nghĩa về tái hòa nhập được nêu ở phần trên, tôi cho

rằng dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập là các dịch vụ mà một (hoặc nhiều) người (có thể) cần

đến để đạt được mục tiêu hòa nhập trở lại vào đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của một cộng đồng Các dịch vụ này có thể bao gồm dịch vụ hỗ trợ y tế và tâm lý, dịch vụ hỗ trợ học nghề và giới thiệu việc làm, dịch vụ hỗ trợ vay vốn để sản xuất – kinh doanh, dịch

vụ hỗ trợ pháp lý, v.v và các dịch vụ cần thiết khác

1.1.2 Hệ thống lý thuyết

Thuyết Nhu cầu được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra năm 1943 Theo Maslow, là con người, để tồn tại và phát triển, ai cũng có nhu cầu Maslow chia các nhu cầu của con người thành năm bậc, từ bậc thấp nhất là i) các nhu cầu sinh lý (nhu cầu căn bản) cho đến ii) nhu cầu về an toàn của cá nhân, iii) nhu cầu được chấp nhận (được là thành viên) – nhu cầu xã hội, iv) nhu cầu được tôn trọng (địa vị xã hội) và v) nhu cầu cao nhất là hiện thực hóa bản thân (tự thể hiện)

Hình 1.1: Thang (tháp) nhu cầu của Maslow

Tự thể hiện Được tôn trọng Được chấp nhận Được an toàn Nhu cầu sinh lý

Trang 25

Maslow gọi đây là thang (tháp) nhu cầu và cho rằng con người chúng ta tùy vào hoàn cảnh khác nhau mà có những nhu cầu khác nhau, nhưng nguyên tắc chung là các nhu cầu được đặt ra từ thấp lên đến cao Có nghĩa là các nhu cầu thấp hơn phải được đáp ứng trước thì chúng ta mới nghĩ đến việc đáp ứng nhu cầu cao hơn [39]

Đối với người di cư trái phép từ Anh hồi hương – những người cần tái hòa nhập xã hội để ổn định cuộc sống và không tái di cư trái phép – đâu là động cơ chính khiến họ quyết định di cư trái phép sang Anh bất chấp các rủi ro có thể gặp phải? Sau khi hồi hương về Việt Nam, những nhu cầu căn bản của họ là gì, đâu là những nhu cầu cao hơn?

Và để đáp ứng những nhu cầu đó, dịch vụ xã hội sẵn có nào có thể làm được, và dịch vụ

xã hội nào cần được xây dựng thêm? Những kết quả thực tế từ nghiên cứu này sẽ đưa ra những câu trả lời cụ thể

Lý thuyết hệ thống được sử dụng trong khoa học quản lý và tâm lý từ những năm

1940 - 1950 và bắt đầu được sử dụng trong công tác xã hội (CTXH) từ những năm 1970

Theo L.V Bertalanffy, người khởi xướng lý thuyết hệ thống hiện đại,“hệ thống là một

tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tương tác giữa các tố phần tạo nên nó” Sự thay đổi

của một thành tố sẽ dẫn đến sự thay đổi một thành tố khác, từ đó dẫn đến sự thay đổi thành tố thứ ba Bất cứ một tương tác nào trong hệ thống cũng vừa có tính nguyên nhân, vừa có tính điều khiển Rất nhiều tương tác có thể liên kết với nhau thành chuỗi tương tác nguyên nhân – kết quả [25, tr 9]

Từ quan điểm của Bertalanffy, lý thuyết CTXH hiện đại cho rằng hệ thống là một

tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất Mỗi hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn và bao gồm các hệ thống nhỏ hơn

Theo Pincus và Minahan, các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống nhằm thỏa mãn cuộc sống riêng Hệ thống có thể được nhìn từ góc độ cấu trúc, góc độ quá trình, góc độ trạng thái, góc độ chuyển dịch hay từ góc độ bản chất [28] Từ góc độ bản chất, các hình thức của hệ thống bao gồm:

Trang 26

Hệ thống không chính thức (hay hệ thống tự nhiên), như gia đình, bạn bè, hàng

xóm, đồng nghiệp, v.v Trong CTXH, hệ thống này có thể cung cấp các nguồn lực

và hoạt động trợ giúp cụ thể như chia sẻ - động viên về tinh thần, cung cấp thông tin và cho lời khuyên

Hệ thống chính thức, như cộng đồng, các tổ chức xã hội, nghiệp đoàn xã hội (ví dụ

công đoàn) mà cá nhân là thành viên trong đó Hệ thống này có thể cung cấp các nguồn lực trực tiếp cho cá nhân hoặc giúp cá nhân có được các hình thức thương lượng với các hệ thống xã hội khác nhau

Hệ thống xã hội, như bệnh viện, trường học, cơ sở bảo trợ xã hội, trung tâm

CTXH, các hoạt động và phong trào xã hội, các chương trình dạy nghề và dịch vụ trợ giúp pháp lý

Cũng theo Pincus và Minahan, các cá nhân không tiếp cận và sử dụng được các hệ thống là vì các lý do như i) hệ thống nguồn lực không tồn tại (suy rộng ra có thể là nguồn lực có tồn tại nhưng không sẵn có, không đảm bảo chất lượng hoặc không thân thiện dẫn đến khó tiếp cận), ii) cá nhân không biết cách sử dụng nguồn lực từ các hệ thống, iii) các chính sách của hệ thống không phù hợp (ví như giới hạn đối tượng tiếp cận) hoặc iv) có

sự xung đột giữa các hệ thống

Để giải quyết vấn đề của các cá nhân có nhu cầu, lý thuyết hệ thống cho rằng CTXH có nhiệm vụ giúp các cá nhân i) sử dụng và tăng cường khả năng của bản thân vào giải quyết các vấn đề, ii) xây dựng mối quan hệ giữa các cá nhân và các hệ thống nguồn lực, iii) giúp hoặc bổ trợ thêm những tác nhân giữa các cá nhân và các hệ thống nguồn lực, iv) cải thiện tương tác giữa các cá nhân trong các hệ thống nguồn lực, v) giúp đỡ phát triển và thay đổi chính sách và vi) là tác nhân của kiểm soát xã hội

Từ việc xác định các nhiệm vụ của CTXH, Pincus xây dựng các hệ thống của CTXH như sau:

- Hệ thống tác nhân thay đổi (hệ thống can thiệp): các nhân viên xã hội và các tổ chức mà họ làm việc trong đó

Trang 27

- Hệ thống thân chủ: Cá nhân, nhóm, gia đình hay cộng đồng đang tìm kiếm các hình thức trợ giúp và tham gia vào việc giải quyết vấn đề cùng với hệ thống các tác nhân thay đổi

- Hệ thống mục tiêu: Những người mà hệ thống tác nhân thay đổi đang cố gắng thay đổi nhằm mục đích của hệ thống Đây chính là những người có thể giúp mang lại những thay đổi, như người làm chính sách, người nắm giữ tài chính và các nguồn lực khác

- Hệ thống hành động: Những người liên quan tới hệ thống tác nhân thay đổi để đưa ra một kế hoạch hành động và triển khai hành động, bao gồm những người

từ hệ thống thân chủ, hệ thống mục tiêu và hệ thống hỗ trợ (nêu bên dưới) Liên quan đến lý thuyết hệ thống, dựa trên quan điểm của nhà nghiên cứu R

Lippitt (1950) về “các hệ thống thay đổi”, tác giả Trịnh Văn Tùng [40, tr 118-127] khi

bàn về các cách tiếp cận trong phát triển cộng đồng đưa ra thêm các hệ thống sau:

- Hệ thống hỗ trợ: Những người và tổ chức cho phép huy động nguồn lực về vật chất hay tinh thần, hỗ trợ nhu cầu và nỗ lực đem đến sự thay đổi và phát triển của cộng đồng (như phòng khám sức khỏe, trường học, chủ doanh nghiệp, tổ chức/cơ sở tôn giáo)

- Hệ thống vốn có: Các nhóm và tổ chức xung quanh có thể gây ảnh hưởng như các chủ doanh nghiệp địa phương, các nhóm khác có tiềm năng gây ảnh hưởng bởi thay đổi được lập kế hoạch, cam kết chính trị và những người ra quyết định

- Các bên liên quan: Bất cứ ai quan tâm tới tình thế và có thể chịu ảnh hưởng bởi bất cứ thay đổi nào Các bên liên quan có thể là một phần của một hay vài hệ thống nào đó liên quan đến quá trình thay đổi

Như vậy, theo tác giả Trịnh Văn Tùng, các hệ thống thay đổi, hay còn gọi là các hệ thống liên quan đến quá trình thay đổi, bao gồm: hệ thống thân chủ, hệ thống tác nhân thay đổi, hệ thống mục tiêu, hệ thống hành động, hệ thống hỗ trợ, hệ thống vốn có và các bên liên quan Để đạt được sự thay đổi (giải quyết vấn đề), các nhân viên xã hội (hệ thống tác nhân thay đổi) cần giúp các cá nhân, nhóm và cộng đồng (hệ thống thân chủ) nhận

Trang 28

diện được i) ai cần phải thuyết phục để thay đổi để đạt được mục tiêu (hệ thống mục tiêu), ii) sự đồng thuận và cùng triển khai hành động trong phạm vi nhóm để đem đến sự thay đổi trong hệ thống mục tiêu (hệ thống hành động), iii) có thể có những nguồn lực trong hay gần với cộng đồng mà có thể cung cấp những nguồn lực cho họ để giúp triển khai hành động (hệ thống hỗ trợ); iv) có thể có những người/nhóm trong cộng đồng rộng hơn chịu ảnh hưởng bởi những thay đổi đã được lên kế hoạch và những tương tác của họ cần được quan tâm (hệ thống vốn có)

Từ các hệ thống thay đổi như vừa nêu, tác giả Trịnh Văn Tùng đưa ra bốn mô thức (cách tiếp cận) trong phát triển cộng đồng gồm i) phát triển cộng đồng/địa phương (xuất phát điểm là cộng đồng), ii) lập kế hoạch/chính sách xã hội, iii) xây dựng nhóm nòng cốt cộng đồng và iv) phát triển chương trình/dịch vụ

Trong số các cách tiếp cận nêu trên tôi quan tâm đến cách tiếp cận Phát triển chương trình (dịch vụ) bởi nhận thấy đây là cách tiếp cận giúp giải quyết được vấn đề mà tôi quan tâm trong nghiên cứu này, đó là vấn đề người Việt Nam di cư trái phép sang Anh hồi hương và nhu cầu về dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng

Cụ thể, theo cách tiếp cận Phát triển chương trình (dịch vụ) thì:

- Hệ thống thân chủ ở đây là những người di cư trái phép hồi hương đang cần được hỗ trợ để tái hòa nhập cộng đồng (người sử dụng dịch vụ)

- Các mục tiêu là mở rộng hoặc tái định hướng dịch vụ đồng thời với phát triển các dịch vụ mới Ở đây là các dịch vụ xã hội cần thiết nhằm đáp ứng cho nhu cầu tái hòaa nhập cộng đồng của người di cư trái phép hồi hương

- Hệ thống hành động là bản thân người di cư hồi hương, lãnh đạo cộng đồng và chính quyền, người làm chính sách, người làm nghiên cứu và các tổ chức cung cấp dịch vụ (bao gồm các tổ chức hỗ trợ nhân đạo và phát triển)

- Hệ thống mục tiêu là người sử dụng dịch vụ, người làm công tác lãnh đạo – quản lý – làm chính sách và người cung cấp nguồn lực về tài chính

Trang 29

1.1.3 Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và quan điểm của cộng đồng quốc tế về phòng chống di cư trái phép và hỗ trợ tái hòa nhập

Ở cấp độ vĩ mô, các vấn đề liên quan đến di cư trái phép ra nước ngoài và tái hòa nhập cho người di cư hồi hương đã và đang được Đảng và Nhà nước ta thể hiện ở nhiều

văn bản khác nhau Đầu tiên phải kể đến Hiến pháp năm 2013 Bản hiến pháp này quy

định công dân Việt Nam ở nước ngoài được nhà nước ta bảo hộ (Khoản 3, Điều 17), mọi công dân đều có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước (Điều 23) và đặc biệt là quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34)

Bên dưới văn bản có tính pháp lý cao nhất này là hai văn bản có các điều khoản

liên quan trực tiếp đến vấn đề di cư trái phép ra nước ngoài và tái hòa nhập Đó là Luật

Người lao động Việt Nam đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng (có hiệu lực thi hành

từ 1/7/2007), Luật Phòng, chống mua bán người (có hiệu lực thi hành từ 1/1/2012) Phải

đề cập đến Luật Phòng, chống mua bán người ở đây vì trong số những người di cư trái phép ra nước ngoài (hoặc di cư ra nước ngoài mà không có giấy tờ hợp lệ) có những người là nạn nhân của các đường dây đưa người trái phép, nạn nhân của sự bóc lột sức lao động và lạm dụng tình dục

Điều 7 của Luật Người lao động Việt Nam đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng quy định một số hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: Lợi dụng hoạt động đưa người lao động

đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài (Khoản 5); Tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc khi chưa đăng ký hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật này (Khoản 7); Lôi kéo, dụ dỗ, lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái quy định của pháp luật (Khoản 10) Bên cạnh đó, vấn đề hỗ trợ việc làm và khuyến khích tạo việc làm cho người lao động sau khi

về nước được quy định rõ tại Điều 59 và Điều 60

Đối với vấn đề phòng chống mua bán người, Điều 3 của Luật Phòng chống mua bán người quy định một loạt những hành vi bị nghiêm cấm như: cấm chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì

Trang 30

mục đích vô nhân đạo khác; cấm tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác Điều 6 quy định về quyền của nạn nhân trong đó có quyền được hưởng các chế độ hỗ trợ

và được bảo vệ Các điều từ Điều 7 đến 18 quy định về trách nhiệm của nhà nước trong việc thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống mua bán người và tư vấn về phòng ngừa mua bán người Các Điều từ 24 đến 40 quy định về việc giải cứu, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân tái hòa nhập Trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong vấn đề phòng chống mua bán người và hỗ trợ tái hòa nhập được nêu trong các điều còn lại

Ngoài hai luật nêu trên thì Chính phủ cũng thể hiện sự quan tâm đối với vấn đề phòng chống buôn bán người thông qua việc triển khai Chương trình hành động quốc gia phòng chống tội phạm buôn bán người giai đoạn 2011-2015 (theo quyết định số 1427/QĐ-TTg ngày 18/8/2011) Theo đó, một trong những mục tiêu của chương trình này

là nâng cao hiệu quả của công tác xác minh, tiếp nhận, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán trở về

Trong hợp tác với chính phủ Anh nhằm ngăn chặn tình trạng công dân Việt Nam di

cư trái phép sang Anh, vào năm 2004, hai nước Việt – Anh đã ký kết một biên bản ghi nhớ về các vấn đề di cư Trên cơ sở biên bản ghi nhớ này, nhiều hoạt động liên quan sau

đó đã được triển khai với sự hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật từ chính phủ Anh Vấn đề hợp tác trong công tác phòng chống di cư trái phép và buôn bán người tiếp tục được bàn đến trong các cuộc Đối thoại Chiến lược giữa hai nước

Trên cấp độ quốc tế, Liên Hợp Quốc (LHQ) đã chủ trì việc xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng để ràng buộc, hướng dẫn và thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia thành viên và đặc biệt là các quốc gia tham gia ký kết nhằm ngăn chặn và đẩy lùi di cư trái phép và vấn nạn buôn bán người Các văn bản pháp lý đó bao gồm: Công ước của LHQ về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (năm 2000); Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em,

bổ sung Công ước của LHQ về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Nghị định thư

Trang 31

về chống đưa người di cư trái pháp luật bằng đường bộ, đường biển và đường không, bổ sung Công ước của LHQ về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; và Công ước số

182 của Tổ chức Di cư quốc tế (một thành viên của LHQ) về Nghiêm cấm và các hành động khẩn cấp để xóa tất cả những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (năm 1999)

Ở cấp độ khu vực, Việt Nam và các nước ASEAN cũng như các nước thuộc khu vực Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng đã và đang triển khai nhiều hoạt động phối hợp liên quan đến phòng chống buôn bán người và di cư trái phép Các văn bản đã được các nước ký kết bao gồm: Văn kiện ghi nhớ về hợp tác phòng, chống buôn bán người khu vực Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (năm 2004), Tuyên bố chung COMMIT lần 1 (2007)

và lần 2 (năm 2012)

1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề di cư được thực hiện với các cách tiếp cận, phạm vi và nội dung nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên trong phần tổng quan vấn đề nghiên cứu của luận văn này tôi chỉ tập trung vào vấn đề người Việt Nam di cư ra nước ngoài vì mục đích lao động, đặc biệt là di cư trái phép và buôn bán người, cùng với đó là các hoạt động nhằm hỗ trợ tái hòa nhập cho người di cư hồi hương

Nghiên cứu tập trung nhất và toàn diện nhất từ trước đến nay về thực trạng người

Việt Nam di cư ra ngoài là “Báo cáo tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam

ra nước ngoài” do Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao thực hiện năm 2011 Trên cơ sở phân

tích các tài liệu liên quan, báo cáo đã đánh giá tổng quan thực trạng di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài từ năm 1986 đến nay, trong đó đặc biệt tập trung vào những hình thái di cư trong giai đoạn 5 - 10 năm trở lại đây Một trong số những nội dung được báo cáo đề cập là những hạn chế trong công tác xuất khẩu lao động, di cư trái phép, phòng chống buôn bán người, và trở về tái hòa nhập của công dân Việt Nam Báo cáo cũng cho rằng vẫn còn thiếu một hệ thống chính sách pháp luật hiệu quả trong lĩnh vực này Vẫn còn nhiều khoảng trống trong hệ thống pháp luật và chính sách, trong hợp tác song

Trang 32

phương, khu vực và quốc tế khiến cho di cư diễn ra không an toàn và công dân Việt Nam vẫn còn gặp nhiều rủi ro khi lao động, học tập, sinh sống và cư trú ở nước ngoài Báo cáo khuyến nghị cần phát huy vai trò của di cư quốc tế vì mục tiêu hội nhập và phát triển, thúc đẩy di cư hợp pháp, bảo đảm di cư an toàn và phòng chống di cư trái phép cũng như nạn buôn bán người [9, tr 68]

Cùng với Bộ Ngoại giao thì Bộ LĐ-TB&XH cũng tiến hành nghiên cứu về vấn đề

người Việt Nam di cư ra nước ngoài Nghiên cứu năm 2006 có tên Vấn đề bảo vệ quyền,

lợi ích chính đáng của lao động Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài: thực trạng và

giải pháp đã chỉ ra rằng, tại một số thị trường, việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của

người lao động gặp nhiều khó khăn Nghiên cứu đã đưa ra một số đề xuất đối với các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp xuất khẩu lao động lẫn bản người lao động để bảo

vệ quyền lợi tối đa của người lao động khi đi làm việc ở nước ngoài Đặc biệt, cũng vào

năm 2006, Bộ LĐ-TB&XH đã tiến hành một nghiên cứu có tên Xác định nội dung cơ bản

của Luật Xuất khẩu lao động nhằm chỉ ra những bất cập trong cơ chế, chính sách về xuất

khẩu lao động từ đó đề xuất xây dựng Luật Xuất khẩu lao động

Bên cạnh hai bộ nói trên thì Viện Xã hội học thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt

Nam cũng đã tiến hành một nghiên cứu có tên Xuất khẩu lao động ở Việt Nam: một số

vấn đề thực tiễn và chính sách vào năm 2003 Nghiên cứu nêu những bất cập và tồn tại

cần khắc phục trong vấn đề xuất khẩu lao động, trong đó có việc ngành lao động chỉ nắm được số lao động đi chứ chưa quản lý được số về nước trước thời gian và số đã hoàn thành hợp đồng

Trong số các nghiên cứu liên quan đến vấn đề người Việt Nam di cư ra nước ngoài của các tổ chức hỗ trợ nhân đạo và phát triển phải kể đến các nghiên cứu của tổ chức

Health Bridge Canada Khảo sát thứ nhất do tổ chức này thực hiện là Thực trạng hoạt

động xuất khẩu lao động tại Thái Bình được thực hiện vào năm 2006 Ngoài việc nêu lên

một số tồn tại trong công tác xuất khẩu lao động ở địa phương, báo cáo khảo sát cũng chỉ

ra những khó khăn mà người lao động phải đối mặt khi làm việc ở nước ngoài

Trang 33

Tiếp tục nghiên cứu trong một phạm vi hẹp là tỉnh Thái Bình, báo cáo Tác động

của xuất khẩu lao động đến cuộc sống gia đình tại tỉnh Thái Bình do tổ chức Health

Bridge Canada và Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ thuộc Hội LHPN Việt Nam thực hiện năm 2008 đã chỉ ra những mặt trái mà các gia đình có người đi xuất khẩu lao động phải đối mặt Theo đó, mặc dù phần lớn các gia đình có đời sống kinh tế được cải thiện, thì có một bộ phận rơi vào nợ nần, phá sản do bị phá vỡ hợp đồng, thiếu việc làm hoặc tiền gửi

về Việt Nam không được sử dụng đúng cách Một số gia đình xảy ra xung đột, hôn nhân

đổ vỡ do ghen tuông, nghi ngờ về sự chung thủy của nhau hoặc do người đi nước ngoài

về thay đổi thói quen, lối sống; con cái không được chăm sóc chu đáo

Nhìn nhận vấn đề công dân Việt Nam di cư ra nước ngoài dưới góc độ của nạn buôn bán người vì mục đích bóc lột lao động và khai thác tình dục, trong những năm gần đây Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đều công bố Báo cáo Tình hình buôn bán người hàng năm, trong đó có Việt Nam Báo cáo này được xây dựng dựa trên các thông tin được thu thập

từ các báo cáo riêng rẽ do các cơ quan, tổ chức của Việt Nam và quốc tế làm việc trong lĩnh vực phòng chống buôn bán người thực hiện Ngoài việc nêu ra các hình thức buôn bán người, điểm đến của luồng buôn người, các hình thức khai thác/bóc lột, số lượng nạn nhân, hoạt động hỗ trợ tái hòa nhập và công tác phòng chống buôn bán người ở Việt Nam, báo cáo còn xếp hạng mức độ nghiêm trọng và ứng phó của Việt Nam đối với nạn buôn bán người

Trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản về di cư quốc tế, có thể kể đến đề tài khoa học

cấp viện của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam mang tên “Di chuyển lao động quốc tế:

những vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản, tác động chủ yếu” được thực hiện năm 2010, do

Viện Chính trị và Kinh tế thế giới chủ trì và TS Nguyễn Bình Giang làm chủ nhiệm Trong phần nhận định về tác động tiêu cực của xuất khẩu lao động, nghiên cứu có đề cập đến các hệ quả về mặt xã hội như mất cân bằng giới, rạn nứt gia đình và cộng đồng; và các hệ quả với chính người đi xuất khẩu lao động như stress do khác biệt về văn hóa, xa gia đình, kỳ thị, v.v

Trang 34

Cũng đến từ Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, tác giả Nghiêm Tuấn Hùng đã có

bài viết đăng trên Tạp chí Khoa học – ĐHQG Hà Nội (2012) với tiêu đề Những nguyên

nhân cơ bản và những điều kiện thúc đẩy di cư quốc tế Tác giả đã tập trung phân tích

nguyên nhân của di cư quốc tế, gồm nhóm các nguyên nhân liên quan đến kinh tế, nguyên nhân xung đột và chiến tranh, di cư để đoàn tụ gia đình, di cư vì vấn đề môi trường và các nguyên nhân liên quan đến sắc tộc và văn hóa Theo tác giả, trong mỗi nguyên nhân đó thường chứa đựng những nhân tố đẩy và thu hút con người di cư Ngoài ra tác giả cũng dành một phần nội dung để nói về các điều kiện mới góp phần thúc đẩy di cư quốc tế và vấn đề tội phạm đưa người di cư trái phép

Năm 2012, với sự tài trợ của Quỹ Rosa Luxemburg Stifftung (Đức), trường Đại

học KHXH và Nhân văn TP.HCM đã tổ chức hội thảo quốc tế mang tên Giới và di dân –

Tầm nhìn châu Á Hội thảo đã thu hút được nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong

và ngoài nước bàn về vấn đề di dân trên cả góc độ lý thuyết lẫn thực tế Một số bài viết nổi bật sau đó đã được biên tập thành sách cùng tên và được Nhà xuất bản ĐHQG

TP.HCM xuất bản Trong bài viết Giới và quyết định di cư: tiếp cận lý thuyết và liên hệ

với thực tiễn, PGS.TS Đặng Nguyên Anh từ Viện Xã hội học nêu các tiếp cận lý thuyết

đối với di cư và phân tích vai trò của yếu tố giới với quyết định di cư của mỗi cá nhân

Còn trong bài viết Vấn đề giới và nghiên cứu di dân ở Việt Nam, PGS.TS Hoàng Bá

Thịnh đã tổng quan những nghiên cứu ở Việt Nam trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây nhằm tìm hiểu những vấn đề liên quan đến giới và di cư lao động, những thách thức

và rủi ro đối với phụ nữ di cư; khoảng cách về thực thi chính sách, luật pháp liên quan đến phụ nữ di cư, sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới, tình trạng dễ bị tổn thương; và đề xuất những vấn đề cần thảo luận, những kiến nghị liên quan đến giới và di cư Cũng với phương pháp tổng quan và phân tích các nghiên cứu, chính sách và văn bản pháp lý liên

quan đến di cư, trong bài viết Vấn đề luật, chính sách và thực tiễn của phụ nữ đi lao động

ngoài nước nhìn từ góc độ quyền và giới tác giả Vũ Ngọc Bình đã nêu ra một số vấn đề

như động cơ đi lao động nước ngoài, trải nghiệm cuộc sống của người lao động di cư ngoài nước, những thách thức đối với phụ nữ khi đi lao động ở nước ngoài, vấn đề bảo vệ

Trang 35

quyền của người lao động di cư và các can thiệp gần đây liên quan đến vấn đề phụ nữ Việt Nam đi lao động ở nước ngoài

Một luận án tiến sĩ ngành kinh tế chính trị cũng đề cập đến vấn đề người Việt Nam

di cư ra nước ngoài vì mục đích lao động Đó là đề tài Quản lý nhà nước về di chuyển lao

động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài của tác giả Lê Hồng Huyên, bảo vệ tại trường

trường Đại học Kinh tế (ĐHQG Hà Nội) năm 2011 Theo đó, một trong các khuyến nghị

mà đề tài này nêu ra là cần tăng cường vai trò giám sát và hỗ trợ của các tổ chức chính trị

- xã hội đối với người lao động trước khi ra nước ngoài làm việc và sau khi về nước

Bên cạnh các cơ quan, tổ chức và nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý, nghiên cứu và can thiệp/ hỗ trợ thì các cơ quan truyền thông cũng thực hiện các điều tra về vấn

đề người Việt Nam di cư ra nước ngoài, đặc biệt là người di cư trái phép Điển hình trong

số đó là các điều tra của Báo Công an Nhân dân và hãng truyền thông Anh quốc BBC Các điều tra của các cơ quan truyền thông đặc biệt chú trọng vào tình trạng người Việt Nam nhập cảnh trái phép vào Anh trồng cần sa Hành trình di chuyển gian nan và nguy hiểm từ Việt Nam sang Anh, cuộc sống chui lủi không giấy tờ tại Anh, việc tham gia trồng cần sa, bị bắt và xử tù đã được các nhà báo tìm hiểu

hòa nhập

Trong “Báo cáo tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam ra nước

ngoài” (như đã đề cập ở phần trước), các tác giả nhận định rằng trong những năm qua vấn

đề bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài (trong đó có người đi lao động) đã được chú trọng và việc hỗ trợ tái hòa nhập cho người đi xuất khẩu lao động về nước cũng nhận được quan tâm của các cơ quan hữu quan Bên cạnh đó báo cáo cũng cho rằng chính phủ

và các cơ quan chức năng đã dành mối quan tâm đặc biệt cho nạn nhân của tội phạm mua

bán người

Trong báo cáo Tóm tắt thảo luận chính sách: để người di cư trở về đóng góp tích

cực cho Việt Nam do IOM, ILO và UNWOMEN thực hiện, vấn đề hỗ trợ tái hòa nhập cho

người di cư hồi hương không được lạc quan như báo cáo nêu trên của Bộ Ngoại giao

Trang 36

Bằng phương pháp nghiên cứu các tài liệu liên quan, báo cáo cho rằng không ít người di

cư trở về phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp, nợ nần, xa lánh xã hội, mâu thuẫn gia đình và tình trạng sức khỏe kém liên quan tới di cư (kể cả các vấn đề tâm lý và thể chất) Tuy nhiên hiện vẫn còn nhiều bất cập trong công tác quản lý và hỗ trợ tái hòa nhập cho người đi làm việc ở nước ngoài về nước

Đánh giá hiệu quả của mô hình hỗ trợ tái hòa nhập tại các tỉnh An Giang, Bắc

Giang và Lào Cai được triển khai bởi chính IOM và Bộ LĐ-TB&XH, trong Báo cáo đánh

giá các mô hình hỗ trợ tái hòa nhập cho nạn nhân bị mua bán trở về tại Việt Nam, hai cơ

quan này nhấn mạnh đến việc xây dựng các nhóm tự lực và hình thành mạng lưới liên kết các nhóm này để tăng hiệu quả của việc tái hòa nhập

Trong tài liệu nghiên cứu (Tái) hòa nhập: Nhìn từ quan điểm của các cơ sở hỗ trợ

nạn nhân về những thành công & thách thức trong quá trình (tái) hòa nhập cộng đồng của nạn nhân bị buôn bán trong khu vực Tiểu vùng sông Mê-Công mở rộng được các tổ

chức quốc tế về phòng chống buôn bán người là UNIAP, World Vision và Nexus Institute xây dựng 4, các tác giả cho rằng hiện vẫn chưa có giải thích cụ thể về định nghĩa “tái hòa nhập thành công” Điều đó có nghĩa là hoạt động hỗ trợ nạn nhân buôn bán người tái hòa nhập vẫn còn nhiều thách thức và hiệu quả của họat động hỗ trợ tái hòa nhập cần phải được xem xét lại trên cơ sở làm rõ các phương pháp, công cụ, tiêu chí và chỉ số đánh giá tái hòa nhập

Cũng được xây dựng bởi UNIAP, World Vision và Nexus Institute, báo cáo nghiên

cứu có tên Hậu bị buôn bán: Trải nghiệm và thách thức trong quá trình (tái) hoà nhập

của người bị buôn bán trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông đã làm rõ một số thuật

ngữ liên quan đến hỗ trợ tái hòa nhập, đồng thời nêu ra một số tồn tại trong công tác tái hòa nhập cho nạn nhân buôn bán người ở các nước trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông, như: nạn nhân không được hỗ trợ hoặc có được hỗ trợ nhưng không đầy đủ; bản

4

Tài liệu này được Dự án Liên minh các tổ chức Liên hợp quốc về phòng chống buôn bán người (UNIAP), tổ chức Tầm nhìn Thế giới (World Vision) và Học viện NEXUS xây dựng cho Chính phủ các nước COMMIT COMMIT là sáng kiến phối hợp cấp bộ trưởng các nước thuộc khu vực tiểu vùng Sông Mê-kông mở rộng về phòng chống buôn bán người

Trang 37

thân nạn nhân từ chối sự hỗ trợ; nạn nhân bị ép buộc phải nhận hỗ trợ; việc chuyển tuyến, điều phối và phối kết hợp còn nhiều yếu kém; không cung cấp đẩy đủ thông tin; sự riêng

tư và bảo mật chưa được chú trọng; thiếu các hỗ trợ mang tính cá nhân hóa; thiếu các dịch

vụ toàn diện, thiếu chỗ ở phù hợp, v.v

Đánh giá chung: Việc tổng quan tài liệu cho thấy đã có những nghiên cứu, khảo

sát, báo cáo khác nhau về người Việt Nam di cư ra nước ngoài và quá trình hồi hương, tái hòa nhập của những người di cư Tuy nhiên, phần lớn các báo cáo mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu và phân tích tài liệu chứ chưa nghiên cứu trên thực địa với sự tham gia của người di cư hồi hương Nói một cách khác, đa phần các nghiên cứu dựa trên các con số thống kê, chưa có những nghiên cứu có tính toàn diện từ tiếng nói của chính người trong cuộc Một số đánh giá có thực hiện việc khảo sát trực tiếp trên người di cư trở về nhưng trong phạm vi hẹp là một địa phương Đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào đề cập trực tiếp tới nhóm những người di cư trái phép sang Anh hồi hương, nhu cầu của họ và các giải pháp nhằm hỗ trợ tái hòa nhập và phòng chống (tái) di cư trái phép Chính bởi vậy, một nghiên cứu riêng về vấn đề người Việt Nam di cư trái phép sang Anh hồi hương và nhu cầu về dịch vụ tái hòa nhập cộng đồng của những người này là thiết thực

1.2.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại năm tỉnh/thành là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,

Hà Tĩnh và Quảng Bình

Thành phố Hà Nội là đô thị loại đặc biệt đồng thời là thủ đô của Việt Nam Hà Nội thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với tỉnh Thái Nguyên và Vĩnh Phúc ở phía bắc, tỉnh Bắc Giang ở phía Đông Bắc, tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông, tỉnh Hà Nam ở phía Nam, tỉnh Hòa Bình ở phía tây và Phú Thọ ở phía tây bắc Hà Nội cách Đà Nẵng 759 km và cách TP.HCM 1.719 km về phía bắc

Diện tích tự nhiên của Hà Nội là 3.328 km2 gồm 30 đơn vị hành chính, trong đó có

12 quận, 1 thị xã và 17 huyện Dân số Hà Nội năm 2012 là 6.844.100 người, mật độ dân

số 2.059 người/ km2

Trang 38

Thu nhập bình quân đầu người của Hà Nội năm 2012 đạt khoảng 47 triệu đồng/năm Với mức thu nhập này Hà Nội hiện còn 1,01% số hộ thuộc diện hộ nghèo

Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2013 đạt 8,25%, thu ngân sách đạt khoảng 138.373

tỷ đồng, đứng thứ 3 toàn quốc về tổng số thu ngân sách Hà Nội là một trong số các tỉnh/thành phố dẫn đầu về đóng góp ngân sách cho trung ương với mức đóng góp là 58% tổng thu ngân sách hàng năm của thành phố

Hà Nội là cửa ngõ giao lưu quốc tế và cũng là một trong các địa phương có nhiều người ra nước ngoài học tập, làm ăn và định cư lâu dài Vương quốc Anh là một trong những điểm đến của luồng di cư ra nước ngoài từ Hà Nội Đối với luồng người di cư trái phép sang Anh thì Hà Nội là địa điểm tập kết trước khi xuất cảnh và cũng là nơi nhập cảnh trở lại Việt Nam của phần lớn người di cư hồi hương thông qua cửa khẩu cảng hàng không quốc tế Nội Bài Đặc biệt, theo kết quả nghiên cứu thì Hà Nội cũng nơi diễn ra các giao dịch giữa những người thuộc đường dây đưa người với những người có nhu cầu đi Anh Ngoài ra, một số người hồi hương đã chọn Hà Nội làm nơi định cư mặc dù có hộ khẩu thường trú trước khi đi Anh ở một địa phương khác

Thành phố Hải Phòng là đô thị loại 1 đồng thời là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương Hải Phòng nằm trong vùng duyên hải Bắc Bộ, phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía tây bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía tây nam giáp tỉnh Thái Bình và phía đông là biển Đông Hải Phòng cách Hà Nội 108 km theo hướng đông nam

và cách TP.HCM 1.827 km về phía bắc

Diện tích tự nhiên của Hải Phòng là 1.507 km2 gồm 15 đơn vị hành chính, trong

đó có 7 quận nội thành, 6 huyện ngoại thành và 2 huyện đảo Tính đến tháng 12/2011, dân

số Hải Phòng là 1.907.705 người, mật độ dân số 1.250 người/ km2 46,1% dân số Hải Phòng sống ở khu vực đô thị và 53,9% sống ở khu vực nông thôn

Thu nhập bình quân đầu năm 2012 người đạt 43 triệu/năm Với mức thu nhập này Hải Phòng hiện còn 4,21% số hộ nghèo

Trang 39

Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2013 đạt 7,51%, thu ngân sách đạt 48.947 tỷ đồng, đứng thứ 4 toàn quốc về số thu ngân sách Hải Phòng đã tự chủ được ngân sách từ nhiều năm nay và đóng góp 12% số thu ngân sách của thành phố cho ngân sách trung ương [69], [76]

Trong những năm 1980 và đầu thập niên 1990, Hải Phòng cùng với Quảng Ninh là nơi xuất phát và cũng là điểm tập kết của dòng người vượt biên trái phép sang Hồng Công – Trung Quốc (lúc đó đang là thuộc địa của Anh) Từ đây nhiều người đã được đưa đi định cư ở các nước thứ ba, trong đó có Vương quốc Anh và Canada, hình thành nên một cộng đồng Việt kiều ở nước ngoài [76] Chính cộng đồng Việt kiều này đã trở thành chỗ dựa để những người từ trong nước tiếp tục di cư sang Anh theo diện đoàn tụ gia đình hoặc làm ăn Bên cạnh những người được sang Anh một cách hợp pháp thì có không ít người

đã sang Anh một cách trái phép thông qua các đường dây đưa người và có các hành động phạm pháp tại vương quốc này (trong đó có trồng cây cần sa)

Quảng Ninh là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ với đường bờ biển dài và nhiều đảo ven bờ Phía đông bắc của tỉnh tiếp giáp với nước CHND Trung Hoa, phía bắc tiếp giáp với hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang, phía tây tiếp giáp với tỉnh Hải Dương, phía tây nam giáp với thành phố Hải Phòng, phía nam và đông nam là biển Đông Khoảng cách từ Quảng Ninh đến Hà Nội là 130 km và đến TP.HCM là 1.849 km

Diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh là 6.102 km2 với 14 đơn vị hành chính gồm 4 thành phố, 1 thị xã, 2 huyện đảo và 7 huyện trên đất liền Dân số toàn tỉnh năm

2012 là 1.177.200 người, mật độ dân số 193 người/ km2

Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 55 triệu đồng/ năm vào năm 2013 Với mức thu nhập này tỉnh Quảng Ninh chỉ còn 2,42% số hộ thuộc diện nghèo – một trong các địa phương có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước

Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2013 của Quảng Ninh đạt 7,5%, thu ngân sách năm đạt 34.184 tỷ đồng, đứng thứ năm toàn quốc về tổng thu ngân sách Quảng Ninh đã

Trang 40

tự chủ được ngân sách từ nhiều năm nay và đóng góp 30% số thu ngân sách của tỉnh cho ngân sách trung ương [62], [75], [77]

Như đã đề cập trong phần thông tin về thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh cũng có một bộ phận người định cư ở Vương quốc Anh từ những năm 1980 Trong những năm gần đây, giống như ở 5 tỉnh/thành phố khác cùng thuộc địa bàn nghiên cứu, nhiều người ở Quảng Ninh đã di cư trái phép sang Anh với mong muốn làm giàu nhanh chóng Tuy nhiên không ít người đã về nước với hai bàn tay trắng và phải đối mặt với không ít

khó khăn

Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, tiếp giáp với Nghệ An ở phía Bắc, Quảng Bình ở phía Nam, biển Đông ở phía đông và nước CHDCND Lào ở phía tây

Hà Tĩnh cách Hà Nội 340 km về phía nam và cách TP.HCM 1.379 km về phía Bắc

Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên rộng 6.055 km² với 12 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 10 huyện Dân số của tỉnh là 1.310.000 người vào năm 2013, mật

Hà Tĩnh hiện là một trong số các tỉnh thành có nhiều thuyền viên đang làm việc cho các tàu vận tải hoặc tàu đánh cá của nước ngoài Bên cạnh đó cũng có nhiều người đi xuất khẩu lao động ở các nước khác nhau Đặc biệt, cũng có một bộ phận người dân Hà

5

http://hatinh.gov.vn/Pages/Gi%E1%BB%9Bithi%E1%BB%87u.aspx

Ngày đăng: 26/06/2023, 14:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao và IOM (2011), Kỷ yếu hội thảo “Di cư quốc tế, Quản lý dữ liệu và Xây dựng hồ sơ di cư tại Việt Nam và các nước khác: Chia sẻ kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo “Di cư quốc tế, Quản lý dữ liệu và Xây dựng hồ sơ di cư tại Việt Nam và các nước khác: Chia sẻ kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm
Tác giả: Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao và IOM
Năm: 2011
14. Phạm Huy Dũng (chủ biên), Trần Hải Bình, Hoàng Thị Thu Dung, Cao Thị Tô Hoài, Trần Thị Thanh Hương (2007), Bài giảng CTXH: Lý thuyết và thực hành CTXH trực tiếp, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng CTXH: Lý thuyết và thực hành CTXH trực tiếp
Tác giả: Phạm Huy Dũng (chủ biên), Trần Hải Bình, Hoàng Thị Thu Dung, Cao Thị Tô Hoài, Trần Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
17. Trần Thị Minh Đức (2014), Giáo trình tham vấn tâm lý (tái bản lần 2), Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn tâm lý
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2014
19. Nguyễn Khắc Hải (2013), Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống mua bán người hiện nay, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội, Luật học, tập 29 (số 1), tr.20-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Khắc Hải
Năm: 2013
20. Nguyễn Đình Hòe – Vũ Văn Hiếu (2007), Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu môi trường và phát triển, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu môi trường và phát triển
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe – Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2007
21. Nghiêm Tuấn Hùng (2012), Những nguyên nhân cơ bản và điều kiện thúc đẩy di cư quốc tế, Tạp chí khoa học ĐHQG Hà Nội, KHXH và Nhân văn (số 28), tr.148-157 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học ĐHQG Hà Nội, KHXH và Nhân văn
Tác giả: Nghiêm Tuấn Hùng
Năm: 2012
27. Trần Văn Kham, (2011) Nghiên cứu về hòa nhập xã hội: một số định hướng ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học, ĐHQG Hà Nội, tập 27 (số 7), tr. 236-247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về hòa nhập xã hội: một số định hướng ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học, ĐHQG Hà Nội
35. Tổ chức Health Bridge Canada và Trung Nghiên cứu Phụ nữ (2008), Báo cáo nghiên cứu “Tác động của xuất khẩu lao động đến cuộc sống gia đình tại tỉnh Thái Bình” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu “Tác động của xuất khẩu lao động đến cuộc sống gia đình tại tỉnh Thái Bình
Tác giả: Tổ chức Health Bridge Canada và Trung Nghiên cứu Phụ nữ
Năm: 2008
41. Trịnh Văn Tùng và Nguyễn Thu Trang, (2012), Phát triển cộng đồng ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng các tiếp cận trong bối cảnh mới, Kỷ yếu hội thảo quốc tế“Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về CTXH và an sinh xã hội”, Nxb ĐHQG Hà Nội, tr.118-127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo quốc tế "“Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về CTXH và an sinh xã hội”
Tác giả: Trịnh Văn Tùng và Nguyễn Thu Trang
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2012
45. UNIAP, Tổ chức Tầm nhìn Thế giới và Học viện Nexus (2013), Hậu bị buôn bán: Trải nghiệm và thách thức trong quá trình (tái) hoà nhập của người bị buôn bán trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu bị buôn bán
Tác giả: UNIAP, Tổ chức Tầm nhìn Thế giới và Học viện Nexus
Năm: 2013
47. Viện Chính trị và Kinh tế thế giới - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam (2010), “Di chuyển lao động quốc tế: những vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản, tác động chủ yếu”, đề tài khoa học cấp Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Di chuyển lao động quốc tế: những vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản, tác động chủ yếu”
Tác giả: Viện Chính trị và Kinh tế thế giới - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Năm: 2010
49. Nguyễn Thị Hồng Xoan (2012), Giới và di dân: tầm nhìn châu Á, Nxb ĐHQG TP. Hồ Chí Minh.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và di dân: tầm nhìn châu Á
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Xoan
Nhà XB: Nxb ĐHQG TP. Hồ Chí Minh. Tài liệu tiếng Anh
Năm: 2012
55. Báo điện tử Chính phủ, Kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên cả nước, http://baodientu.chinhphu.vn/Hoat-dong-Bo-nganh/Ket-qua-dieu-tra-ra-soat-ho-ngheo-ho-can-ngheo-tren-ca-nuoc/199198.vgp, cập nhật ngày 14/5/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên cả nước
56. BBC, Anh lại bắt người Việt nhập cư lậu, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/09/100907_uk_viet_illegals.shtml, cập nhật ngày 7/9/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anh lại bắt người Việt nhập cư lậu
57. BBC, Anh cần chống nạn buôn người: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/06/100616_human_trafficking.shtml, cập nhật ngày 16/6/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anh cần chống nạn buôn người
58. BBC, Nạn nhân buôn người Việt Nam trắng án ở Anh: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/06/130621_vn_trafficking_victims_appeal.shtml, cập nhật ngày 21/6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nạn nhân buôn người Việt Nam trắng án ở Anh
59. BBC, Nhiều trẻ Việt bị bóc lột tình dục ở Anh: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/02/140218_vn_uk_child_sex_trafficking.shtml, cập nhật ngày 18/2/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều trẻ Việt bị bóc lột tình dục ở Anh
60. Bộ LĐ-TB&XH và Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Tây Ban Nha, Dự án hợp tác Việt Nam – Tây Ban Nha về lao động và xã hội (VSFo), Các khái niệm về dịch vụ xã hội và dịch vụ xã hội cho người yếu thế,http://vsfo.molisa.gov.vn/detail.aspx?docID=133, ngày cập nhật không rõ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khái niệm về dịch vụ xã hội và dịch vụ xã hội cho người yếu thế
61. Calvin Godfrey - Khanh Hoan, Thanh Nien News, The United Kingdom's Vietnamese pot problem, http://www.thanhniennews.com/society/the-united-kingdoms-vietnamese-pot-problem-26738.html, updated on May 29, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The United Kingdom's Vietnamese pot problem
74. Nghiên cứu Đông Nam Á, Nhu cầu nghiên cứu di dân quốc tế ở Việt Nam, http://www.bienphongvietnam.vn/nghien-cuu-trao-doi/thong-tin-tu-lieu/740-ddd-3.html, cập nhật ngày 2/1/2013 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm