1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổng ôn ngữ văn 12 kì 1

88 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tuyên Ngôn Độc Lập
Tác giả Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn Phạm Minh Nhật, Anh Tûn
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài luận chính luận
Năm xuất bản 1945
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng ôn các tác phẩm văn học lớp 12 kì 1 chi tiết từ giáo viên Phạm Minh Nhật + Để có nguồn kiến thức đầy đủ và chi tiết các bn học sinh cần tìm tòi thêm các nguồn thông tin từ kiến thức đó + Trên lớp ta chỉ tiếp nhận được 50% kiến thức bài học từ thầy cô vì vậy để nắm chắc kiến thức 1 cách tối ưu ta cần tìm tòi đến đội ngũ giáo viên trên mạng uy tín.

Trang 1

STUDY IN VIETNAM

Trang 2

MUC LỤC

Tuyên ngôn độc lập - chủ tịch Hồ Chí Minh 2

Ai đã đặt tên cho dòng sông - Hoàng Phủ Ngọc Tường 78

STUDY IN VIETNAM

Trang 3

STUDY IN VIETNAM

Trang 4

Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc vĩ

đại- danh nhân văn hóa thế giới Bên

cạnh sự nghiệp cách mạng, Người

còn để lại di sản văn học quý giá

Theo Hồ Chí Minh, văn học là vũ khí

chiến đấu lợi hại phục vụ cho sự

nghiệp Cách Mạng Hồ Chí Minh

cũng đề cao tính chân thật và tính

dân tộc của văn học

Văn chính luận Hồ Chí Minh sắc sảo

26 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rời căn cứ địa Việt Bắc về Hà Nội Tại căn nhà số 48 Hàng Ngang,

Người đã soạn thảo bản “Tuyên

ngôn Độc lập” Ngày mùng 2 tháng

9 năm 1945, tác phẩm được Người đọc trước quốc dân đồng bào, khai sinh ra nước Việt Nam mới

- Nội dung:

- Tuyên ngôn Độc lập được viết cho

nhiều đối tượng Trước hết hướng tới

quốc dân đồng bào cả nước, nhân

dân tiến bộ toàn thế giới và bọn thực

dân đế quốc đầu sỏ, nhất là thực

dân Pháp

Mục đích của tác phẩm là tuyên bố

nền độc lập của dân tộc Việt Nam,

khích lệ tinh thần quyết tâm giữ vững

nền độc lập non trẻ của toàn dân

tộc; kêu gọi sự ủng hộ, công nhận

quyền độc lập tự quyết của dân tộc;

bác bỏ những luận điệu xảo trá của

thực dân Pháp, cảnh tỉnh âm mưu

xâm lược Đông Dương lần thứ hai

của chúng

Đồng thời bản Tuyên ngôn còn nhen

nhóm lên tinh thần, ý chí quyết tâm

giữ vững quyền độc lập của toàn

dân tộc

- Nghệ thuật:

- Tác phẩm chính luận ngắn gọn, xúc tích, thể hiện bút pháp chính luận bậc thầy, hệ thống lập luận điêu luyện

Tác phẩm xây dựng được hai hình tượng đối lập, một bên là thực dân Pháp tham tàn, bạo ngược, nham hiểm và một bên là nhân dân Việt Nam trong vòng nô lệ, dưới ách thống trị của kẻ thù ; một bên là thực dân Pháp hèn hạ đầu hàng phát xít Nhật và bên kia là nhân dân Việt Nam- đại diện là Việt Minh anh dũng , cao cả Sự đăng đối giữa hai hình tượng ấy có ấn tượng sâu sắc để khơi gợi lòng căm thù giặc Pháp

STUDY IN VIETNAM

Trang 5

Mỗi một tác phẩm văn chương chân chính đều được tạo nên trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt Bởi hoàn cảnh tạo nên cảm xúc của tác giả Tuyên Ngôn Độc Lập ra đời được xem là đỉnh cao của văn chương chính luận Việt Nam Tuyên Ngôn Độc Lập được ra đời trong hoàn cảnh: Sau hàng nghìn năm nhân dân Việt Nam sống dưới chế độ quân chủ, trăm năm Pháp thuộc, năm năm phát xít Mùa thu năm 1945 nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng đã làm cuộc khởi nghĩa Tháng 8 thăng lợi Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Tuy nhiên chính quyền non trẻ của chúng ta đang bị âm mưu quay trở lại xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp Chúng hòng quay trở lại cướp nước ta lần nữa dưới hai chiều bài lừa bịp trên công luận quốc tế

Một là chúng có công bảo hộ Việt Nam ngót một thế kỷ qua Hai

là trong chiến tranh thế giới thứ hai, thực dân Pháp đứng về phía phe đồng minh Liên Xô để chống lại phát xít, chống lại Nhật Bản ở Châu Á, Thái Bình Dương Vì vậy Thực dân Pháp có quyền thu hồi mảnh đất Việt Nam, mảnh đất từng thuộc về chúng trước Thế chiến thứ nhất

Ngày 19/8/1945, khi chính quyền về thay nhân dân Tây Nguyên, ngày 26/8/1945 chính quyền về tay nhân dân Huế cũng là ngày chủ tịch

Hồ Chí Minh soạn thảo bản Tuyên Ngôn Độc Lập, viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập, chủ tịch Hồ Chí Minh muốn tuyên bố trước toàn thể nhân dân Việt Nam và công luận Quốc tế để xé toang hai chiêu bài lừa bịp của thực dân Pháp và khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Bản Tuyên Ngôn được Bác đọc tại vườn hoa Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945 trước năm mươi vạn đồng bào cả nước với một giọng đọc đặc biệt:

Giọng của người là giọng của non sông gấm vóc, thấm vào lòng

từng con tim khối óc nhân dân Việt Nam Nhà thơ Tố Hữu trong bài “Sáng

tháng năm” đã ghi lại giọng đọc ấy:

“ Giọng của người đâu phải sấm trên cao Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước Con nghe Bác tưởng nghe lời non nước Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau”

STUDY IN VIETNAM

Trang 6

Tuyên Ngôn Độc Lập mở đầu đã nêu thẳng vào vấn đề, người đưa

ra căn cứ pháp lý đó là những lí lẽ không ai có thể chối cãi được

Bác trích lời tuyên bố ấy từ hai bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Mĩ năm 1776 và Bản Tuyên Ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm

1791 Khi mà hai bản Tuyên Ngôn này của cha ông họ chỉ ra rằng những quyền cơ bản của con người:

“ Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho

họ quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc:”

Hay:

“ Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”

Cách nêu dẫn chứng của Bác vừa khéo léo lại vừa thuyết phục

và kiên quyết Người đang tôn trọng chân lí chung dù chân lí ấy là của

kẻ thù Đây chính là sự phê phán gay gắt thực dân Pháp và đế quốc Mĩ – những kẻ thù xâm lược đang chà đạp lên chân lí, chà đạp lên lương tâm và lá cờ Bình đẳng- bắc ái của cha ông chúng đề ra Ở đây ta thấy

rõ ràng thủ pháp nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông” Câu nói của người

còn mở ra trào lưu giải phóng dân tộc trên khắp Thế giới, đồng thời đặt bản Tuyên Ngôn của nước ta ngang hang với hai bản Tuyên Ngôn của Pháp và của Mĩ Người lập luận như vậy là muốn kết tội thực dân Pháp,

và hai bản Tuyên Ngôn trên đã trở thành cơ sở pháp lí vững chắc Thế

mà hơn tám mươi năm nay, bọn chúng đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bắc ái của cha ông chúng để lại đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng là hành động trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa

Sau khi khái quát tội ác của thực dân Pháp, bản Tuyên Ngôn đưa

ra những dẫn chứng cụ thể về những hành vi mà chúng cho là đã “bảo

hộ” và “khai hóa” nhân dân ta, nhưng thực chất đó lại là những tội ác

Mỗi câu văn hiện lên lại là một hành vi dã man, là những cách cai trị và

nô dịch nước ta Bác sử dụng từ “chúng” và thủ pháp nghệ thuật Liệt kê

để vạch trần bộ mặt khát máu, quỷ dữ của thực dân Pháp trên toàn cõi

STUDY IN VIETNAM

Trang 7

Đông Dương: “Chúng dùng rượu cồn, thuốc phiện để làm nòi giống ta

suy nhược”, về chính trị: “Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong các bể máu”, “Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta” Về giáo dục: “chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học.” Tội ác của chúng nặng như búa tạ đổ dồn lên đầu chữ “ta”

Những tội ác này đã lột mặt nạ bảo hộ của thực dân Pháp trước toàn thể nhân loại Bác Hồ đã liệt kê tội ác của chúng một cách hùng hồn

và đanh thép khi liên túc tạo ra kết cấu câu “Chúng lập ra”, “Chúng

ràng buộc”, “Chúng đặt ra”, “chúng thi hành”… thể hiện một núi tội ác

chồng chất mà chúng gây ra

Về mặt kinh tế, người kết tội thực dân Pháp từ khái quát đến cụ

thể:“ Chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta

nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu”

Bằng chứng cụ thể và tội ác rõ ràng không thể bỏ qua được đó là tội ác lớn nhất của thực dân Pháp gây ra là nạn đói khủng khiếp năm

1945:

“Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để

mở thêm căm cứ đánh đồng minh thì thực dân Pháp quì gối đầu hàng,

mở cửa nước ta rước Nhật Từ đó, nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật Từ đó, nhân dân ta càng cực khổ, nghèo nàn Kết quả là

STUDY IN VIETNAM

Trang 8

cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói”

Trong vòng năm năm, Pháp bán nước ta hai lần cho phát xít Nhật Chúng còn thẳng tay sát hại tù chính trị và khủng bố Việt Minh Bác kết tội thực dân Pháp đanh thép và hung hồn nhằm phơi bày bản chất dã man của chúng, vạch trần và xé toang hai chiêu trò lừa bịp trên công

luận quốc tế là “bảo hộ” và “khai hóa”

Mặt khác bản tuyên ngôn còn khơi dậy lòng căm thù giặc cao độ của nhân dân ta Người biểu dương sức mạnh dân tộc trong công cuộc

chống thực dân phong kiến và giành lấy nền Độc lập “Pháp chạy, Nhật

hàng…chế độ dân chủ cộng hoà” Đoạn văn này diễn tả đầy hào khí

Chỉ có 9 chữ “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, Bác

dựng lại cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động và cực kì oanh liệt của dân tộc ta Biểu dương truyền thống bất khuất của dân tộc, tác giả nhằm kích thích tinh thần tự hào dân tộc, kích thích ý chí chiến đấu để nhân dân ta quyết tâm chống lại âm mưu của thực dân Pháp

Trong bản Tuyên Ngôn, Bác còn chỉ ra cơ sở chính nghĩa của việc thành lập nước Việt Nam mới, Việt Minh là tổ chức Cách Mạng của toàn

bộ dân tộc Việt Nam Việt Minh đã đứng về phe Liên Xô và chống lại thực dân Pháp và Phát xít Nhật, giành lại được chính quyền từ tay của Nhật Hai lần người nhấn mạnh nền độc lập của Đất Nước bằng những điệp ngữ mạnh mẽ:

“Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân của nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”

STUDY IN VIETNAM

Trang 9

bao nhiêu hi sinh, bao nhiêu xương máu và tâm huyết Thế mà vẫn còn bao nhiêu thù trong giặc ngoài lúc bây giờ đang lăm le bóp chết sự sống mới hình thành của nước Việt Nam non trẻ Hiểu được điều đó, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân nêu lên lời tuyên bố trịnh trọng và

quyết liệt “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và sự thật đã

thành một nước tự do độc lập.” Cuối cùng thay mặt cho cả một dân

tộc vừa dành được tự do, độc lập, Người nêu lời thề “quyết đem tất cả

tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập” Đó chính là tinh thần của cả một dân tộc anh hùng quyết hi

sinh tất cả để giữ lấy độc lập, tự do Cụm từ tự do và độc lập được lặp lại ba lần, như khắc sâu vào tâm trí muôn triệu người dân Việt, vang lên mạnh mẽ và rung động như tiếng kèn xung trận hào hùng Lời tuyên bố nghe như một lời thề sắt đá và thiêng liêng, vừa khích lệ nhân dân la vừa cảnh báo kè thù

Với Tuyên Ngôn Độc Lập, lần đầu tiên Việt Nam hiện diện trên trường quốc tế với tư cách là một nước tự do, độc lập và nhân dân Thế giới cũng thấy được tinh thần quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc Việt Nam

Tuyên ngôn Độc lập trước hết là một văn kiện lịch sử Nó là bản văn quan trọng bậc nhất của nước ta Để có được Tuyên ngôn Độc lập, biết bao đồng bào, đồng chí đã hy sinh trong suốt 80 năm chống Pháp

Tuyên ngôn Độc lập là một cột mốc lịch sử, nó chấm dứt giai đoạn mất nước, giai đoạn nhân dân ta sống kiếp ngựa trâu, nô lệ của dân tộc, nó mở đầu một kỉ nguyên mới: kỉ nguyên Độc lập tự do

Với hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng văn hùng hồn, thống thiết, Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng sánh ngang với các bản tuyên ngôn trên thế giới và các thiên cổ hùng văn của các dân tộc khác như Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

STUDY IN VIETNAM

Trang 10

khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê ở

làng Phượng Trì, huyện Đan

Phượng, tỉnh Hà Tây

- Qang Dũng là một nhà thơ mang

hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu,

lãng mạn và tài hoa- đặc biệt khi

ông viết về người lính Tây Tiến và

xứ Đoài

- Tây Tiến là một đơn vị quân đội

thành lập đầu năm 1947, có

nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào,

bảo vệ biên giới Việt- Lào và

đánh tiêu hao lực lượng quân đội

Pháp ở thượng Lào cũng như ở

miền tây Bắc Bộ Việt Nam

Hoàn cảnh sáng tác:

Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh(1 làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ ), Quang Dũng viết bài thơ'' Nhớ Tây Tiến" Khi in lại, tác

giả đổi tên bài thơ là " Tây Tiến"

- Nội dung:

Cả bài thơ là nỗi nhớ da diết của

nhà thơ đối với đơn vị Tây Tiến:

họa thành công hình tượng người

lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa và

vẻ đẹp hùng vĩ thơ mộng của

thiên nhiên miền Tây tổ quốc

- Nghệ thuật:

- Bút pháp hiện thực kết hợp lãng mạn, đậm chất bi tráng

- Nhiều sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu:

+ Hình ảnh thơ sáng tạo mang sắc thái thẩm mỹ phong phú

+ Ngôn ngữ thơ đa sắc thái, phong cách, tên địa danh vừa cụ thể xác thực vừa gợi cảm giác lạ lẫm

+ Giọng điệu: Khi tha thiết bồi hồi, khi hồn nhiên vui tươi, khi bâng khuâng man mác, khi trang trọng,

khi trầm lắng

STUDY IN VIETNAM

Trang 11

Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh, nhưng văn học với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc họa một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử Và

“Tây Tiến” là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian

“Sông Mã xa rồi TâyTiến ơi!

*****

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

STUDY IN VIETNAM

Trang 12

Nhắc đến nhà thơ Quang Dũng, chúng ta nghĩ ngay đến tác phẩm để đời của ông – Tây Tiến Bởi lẽ nó đã gắn bó 1 thời sâu sắc với nhà thơ Tây Tiến là 1 đơn vị bộ đội thời kháng chiến chống Pháp được thành lập năm 1947 làm nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao sinh lực địch ở vùng Thượng Lào, trấn giữ 1 vùng rộng lớn ở Tây Bắc nước ta và biên giới Việt Lào Quang Dũng từng là đại đội trưởng cuả binh đoàn Tây Tiến nhưng đến đầu năm 1948 vì yêu cầu nhiệm vụ ông chuyển sang đơn vị khác Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948 khi nhà thơ đóng quân ở Phù Lưu Chanh_ 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ Lúc đầu, ông đặt bài thơ là “Nhớ Tây Tiến” nhưng về sau đổi lại thành “Tây Tiến” vì cả bài thơ đã là một nỗi nhớ và chỉ với 2 từ “Tây Tiến” cũng đủ gợi lên nỗi nhớ – cảm hứng chủ đạo trong toàn bộ bài thơ

Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, sống và chiến đấu nơi núi rừng gian khổ nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng nhà thơ 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng đội, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bồi hồi, xúc động khi nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức cuả nhà thơ

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Câu thơ như tiếng gọi chân thành , tha thiết xuất phát từ trái tim

và tâm hồn người thi sĩ Bằng cách sử dụng câu cảm thán và thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở nên đẹp diệu kỳ “Sông Mã” ko đơn thuần là 1 con sông – nơi đã từng là địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến – mà nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui_buồn, được_mất “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị bộ đội mà nó đã trở thành 1 người bạn ” tri âm tri kỉ” để nhà thơ giãi bày tâm sự

Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm trí Quang Dũng Tính từ

“chơi vơi” – biểu cảm một nỗi nhớ nhẹ và rất sâu – kết hợp với từ

STUDY IN VIETNAM

Trang 13

“nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của nhà thơ Và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo Có lẽ Quang Dũng đã học tập cách diễn đạt nỗi nhớ trong ca dao:

“Ra về nhớ bạn chơi vơi

Nhớ chiếu bạn trải

Nhớ chăn bạn nằm”

2 câu đầu với cách dùng từ chọn lọc, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông…- địa bàn hoạt động cuả binh đoàn Tây Tiến – những cái tên mang âm hưởng của rừng núi hoang vu và mang dại Núi rừng Tây Bắc đẹp hùng vĩ mà dữ dội, một vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, nơi rừng thiêng nước độc Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau “Đoàn quân mỏi” nhưng tinh thần

ko “mỏi” Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì Tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở nên kiên cường, bất khuất hơn Quang Dũng đã rất tài tình khi đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ

rõ hơn sự khắc nghiệt cuả núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo Cũng miêu tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:

“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”

STUDY IN VIETNAM

Trang 14

Thiên nhiên Tây Bắc, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm đến mây trời Quang Dũng đã khéo léo sử dụng từ “thăm thẳm” mà ko dùng từ “chót vót” Bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu cuả nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có ai có thể hình dung được nó sâu thế nào Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, nhà thơ đã làm cho người đọc cảm nhận được cái hoang sơ, dữ dội cuả núi rừng Tây Bắc Hình ảnh nhân hoá, ẩn dụ “ súng ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính, cho ta thấy bên cạnh thiên nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế oai phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang thiên nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở Đứng trên đỉnh dốc núi cao, họ nhìn xuống con đường hiểm trở vừa vượt qua và con đường gấp khúc sẽ đi xuống Đường lên dốc và đường xuống dốc đều thăm thẳm, hun hút Hình ảnh thơ thật đối xứng, câu thơ như một đường thẳng bị bẻ gấp lại:

“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

Điệp từ “ngàn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ Bên cạnh cái hiểm trở, hoang sơ ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Xa xa, lẫn trong màn mưa núi sương rừng, bản làng mờ ảo, thấp thoáng trong thung lũng, lúc ẩn lúc hiện Có những cơn mưa rừng chợt đến đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến Nhưng dưới ngòi bút cuả Quang Dũng, nó trở nên lãng mạn, trữ tình hơn Nhà thơ

đã thông minh, sáng tạo khi nói đến mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi” Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kì bí, hoang sơ giữa chốn núi rừng Câu

STUDY IN VIETNAM

Trang 15

thơ thứ 8 với 7 thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở cuả núi rừng và mở ra 1 bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn Những câu thơ Tây Tiến giàu chất tạo hình hôm nay gợi nhớ những dòng thơ trong “Chinh phụ ngâm khúc”

“Hình khe thế núi gần xa

Đứt thôi lại nổi, thấp đà lại cao

Sương đầu núi buổi chiều như dữ dội

Nước lòng khe nẻo suối còn sâu”

8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng đội Tây Tiến Qua những chi tiết đặc tả về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí nhà thơ

Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt cuả người lính Tây Tiến nói riêng và cuả những người lính nói chung

Hình ảnh người lính Tây Tiến là một bức tượng đài đẹp đẽ với tư thế hiên ngang, khí phách anh hùng và có cả những say mê, ước vọng lãng mạn, đẹp đẽ Nhưng thơ Quang Dũng còn tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binh Tây Tiến Không thi vị hóa hiện thực ngòi bút thơ Quang Dũng dám nhìn thẳng vào những tổn thất tất yếu của con người trong cuộc chiến tranh tàn khốc Hình ảnh người lính Tây Tiến có những phút giây mệt mỏi:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Chữ “dãi dầu” đã lột tả được hết sự khốc liệt của cuộc chiến đấu Bao nhiêu sóng gió, hiểm nguy, gian khổ phủ lên đầu người lính nên mệt mỏi, dãi dầu là những phút giây đương nhiên Người lính Tây Tiến không rũ bỏ, quay lưng lại với kháng chiến, phải chăng phút giây phó mặc, bất cần, đầy ngạo nghễ của người lính cũng là điều tất yếu đó sao Các anh đã không bước tiếp được nữa trên con đường hành quân đầy gian khổ Có những người bạn của Quang Dũng ngục lên súng ngủ “Ngục” là một động từ miêu tả động thái rất nhanh,biểu thị không còn sức chịu đựng được nữa Các anh cố gượng dậy bước

STUDY IN VIETNAM

Trang 16

tiếp nhưng không còn sức Câu thơ: “ngục lên súng mũ bỏ quên đời”

tả một giấc ngủ ngàn thu, cực tả những gian khổ và hy sinh

Cũng có người hiểu câu thơ này tả một giấc ngủ tranh thủ của người lính để lấy sức tiếp tục đường hành quân Nhưng câu thơ dẫu viết theo nghĩa nào cũng đều nói về sự gian khổ tột cùng Nhưng nhiều người hiểu theo cách ở trên bởi nó phù hợp với chất bi tráng của cuộc đời chiến binh Tây Tiến: chết rồi mà vẫn ngang tàng, khí phách Ba chữ cuối: “bỏ quên đời” thể hiện tinh thần, thái độ của người lính trước cái chết, xem như đó là điều hiển nhiên, nhẹ tựa lông hồng Các anh lên đường, đến với núi rừng miền Tây và biết rằng: “Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi” (xưa nay chinh chiến mấy ai trở về)

Nếu ở mấy câu đầu tác giả mở rộng thiên nhiên miền Tây Bắc mênh mông qua không gian hùng vĩ, thơ mộng của những cơn mưa rừng với độ cao chạm đến cả mây trời của đỉnh núi Tây Bắc Thì đến với hai câu thơ sau đây thiên nhiên lại được khám phá theo chiều thời gian với hai từ láy “chiều chiều” và “đêm đêm”

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Người ta hay nói đến rừng thiêng nước độc, lam sơn chướng khí Với rừng núi Tây Bắc, cứ mỗi buổi chiều tà lại nghe tiếng thác gầm thét đổ xuống từ trên cao và cứ mỗi đêm sâu lại nghe tiếng cọp gầm

Âm thanh nào cũng ghê rợn Quang Dũng bằng tài thẩm âm của mình đã cụ thể hóa và làm sống động hóa những nhận xét của người đời Vậy chỉ với hai câu thơ, Quang Dũng đã phát huy tối đa trí tưởng tượng để cực tả vẻ hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng, miền đất ấy còn chứa nhiều điều hoang sơ và huyền bí của miền rừng núi Tây Bắc Những hiểm nguy vẫn rình rập đâu đó, những nét dữ dội quyết liệt mà đoàn binh Tây Tiến đã một thời vượt qua

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

STUDY IN VIETNAM

Trang 17

Chiến binh Tây Tiến hào hùng mà cũng rất đỗi hào hoa, rất nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên và sự đằm thắm tình người Hai câu thơ không có cảnh thiên nhiên miền Tây, chỉ có cảnh sinh hoạt đời sống thường ngày Sau những câu thơ rất dữ dội và gân guốc là một cảm xúc thơ đằm thắm, thiết tha Câu cảm thán gợi nỗi bâng khuâng khi hồi tưởng lại những kỉ niệm ấm áp: lúc đoàn binh dừng lại sau một đoạn đường hành quân vất vả, lều trại được dựng lên ở một bản làng, một bếp lửa ánh đỏ hồng, một nồi xôi hương bay ngào ngạt, khói bếp khói cơm bay lên hòa quyện vào khói lam chiều Đồng đội lại quây quần bên nhau, quên đi bao vất vả, gian khổ Chiến tranh lùi lại vào một góc khuất nào đó nhường chỗ cho một cảnh sinh hoạt tươi vui

Ở đoạn hai, thiên nhiên và con người Tây Bắc lại được mở ra với một vẻ đẹp mới, khác với đoạn đầu Anh hùng trong chiến đấu nhưng người lính Tây Tiến cũng say mê, lãng mạn trong đêm hội:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Những câu thơ đầy ánh sáng và âm thanh, có thơ và có nhạc, đối lập hoàn toàn với những con đường hành quân gian lao, nguy hiểm, với những thiếu thốn, nhọc nhằn… Điệu nhạc hồn thơ như thăng hoa cho tâm hồn người chiến sĩ cất cánh, hòa nhịp vào những điệu khèn, câu hát say mê Không gian Tây Bắc chơi vơi trong một miền tâm thức, với dáng người trên độc mộc, với dòng nước lũ hoa đong đưa, khắc sâu, ghi tạc trong tâm hồn người chiến sĩ Những câu hỏi tu

từ dịu nhẹ, bâng khuâng làm không gian núi rừng thêm chơi vơi, bảng lảng trong sương, trong khói Ngòi bút tả thực của Quang Dũng đến

STUDY IN VIETNAM

Trang 18

đây trở nên mềm mại và uyển chuyển, chứa đựng cái tình sâu lắng, thiết tha

Quang Dũng cũng không chỉ khắc tạc hình ảnh của những người lính với một đời sống tình cảm hết sức phong phú, những tình cảm lớn lao là tình quân dân Quang Dũng đã đặc biệt quan tâm tới

ý tưởng dựng tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình Nhà thơ đã sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, hàng loạt những thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo

ấn tượng mạnh, để khắc tạc một cách sâu sắc vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước, của dân tộc Đó

là bức tượng đài sừng sững giữa núi cao sông sâu, giữa một không gian hùng vĩ như chúng ta đã thấy trong các câu thơ:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác bên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào tay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Nếu như ở những đoạn thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong: ”Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” hay trong khung cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại thắm tình các nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh như lá rừng Cảm hứng chân thực của Quang Dũng đã không né tránh việc mô

tả cuộc sống gian khổ mà người lính phải chịu đựng Những cơn sốt rét rừng làm tóc họ không thể mọc Cũng vì sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ xanh màu lá nguỵ trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tuỵ Nhưng thế giới tinh thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến binh anh hùng, họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù Cái giỏi của Quang

STUDY IN VIETNAM

Trang 19

Dũng là mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tuỵ nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng của cuộc sống Bởi vì câu thơ:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”

Với những thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ

như “tiến”, “mọc tóc” đã làm âm hưởng của câu thơ vút lên Chẳng

những thế, họ còn là cả một đoàn binh Hai chữ “đoàn binh” – âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang, hùng dũng Thủ

pháp tương phản mà Quang Dũng sử dụng ở câu thơ “Quân xanh

màu lá dữ oai hùm” không chỉ làm nổi bật lên sức mạnh tinh thần của

người lính mà còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân tộc Ở đây, nhà thơ muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh quen thuộc trong thơ văn xưa Phạm Ngũ Lão cũng ca ngợi

người anh hùng vệ quốc trong câu thơ: “Hoành sóc giang san cáp kỷ

thu – Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu” Và ngay cả Hồ Chí Minh trong

“Đăng sơn” cũng viết:“Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu – Thể diện

sài long xâm lược quân“

Có thể nói Quang Dũng đã sử dụng một môtíp mang đậm màu sắc phương Đông để câu thơ mang âm vang của lịch sử, hình tượng người lính cách mạng gắn liền với sức mạnh truyền thống của Dân

tộc Đọc câu thơ: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” ta như nghe thấy

âm hưởng của một hào khí ngút trời Đông Á

Người lính Tây Tiến mạnh mẽ, rắn rỏi trong chiến đấu, nhưng cũng hết sức lãng mạn, say mê trong những giây phút thơ mộng Ở đây, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư chất của một anh hùng và phong cách của một trí thức lãng mạn Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng trở nên rất đẹp khi Quang Dũng bổ sung vào bức tượng đài này chất hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn họ:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Bao nhiêu yêu thương, nhớ mong, mộng ước của họ được gửi gắm, dồn tụ ở hình ảnh “mắt trừng” Hình ảnh ấy không chỉ gợi một

STUDY IN VIETNAM

Trang 20

nỗi niềm đau đáu khôn nguôi mà còn chất chứa bao khắc khoải, mong chờ Bên giới và Hà Nội hoa lệ có một khoảng cách rất xa xôi, người lính Tây Tiến muốn thông qua những mộng đẹp, những khát vọng diệt thù để làm cầu nối thu gắn không gian, kéo hẹp khoảng cách “Dáng kiều thơm” và một Hà Nội phồn hoa xa xôi chính là nguyên do của nỗi niềm mong nhớ ấy Đó không phải là một bóng dáng nào cụ thể nào, cũng không chỉ bó hẹp trong một tình yêu đôi lứa, niềm nhớ thương dâng trào của người lính cao hơn là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tổ quốc, hướng về Thủ đô Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về Hà

Nội Người lính Tây Tiến dẫu “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” mà niềm thương nỗi nhớ vẫn hướng về một “dáng kiều thơm” Đã một

thời, với cái nhìn ấu trĩ, người ta phê phán thói tiểu tư sản, thực ra nhờ

vẻ đẹp ấy của tâm hồn mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi gian khổ, người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam Quang Dũng đã tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc – những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính

là con người có một đời sống tâm hồn phong phú Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh

Văn Nghệ: “Từ thuở mang gươm đi mở nước – Nghìn năm thương nhớ

đất Thăng Long”

Nếu như ở 4 câu thơ trên, người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh một đoàn binh với những bước chân Tây Tến vang dội khí thế hào hùng và một thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật

về sự hy sinh của họ Quang Dũng đã mô tả một cách chân thực sự

hy sinh của người lính bằng cảm hứng lãng mạn, hình tượng vì thế chẳng những không rơi vào bi lụy mà còn có sức bay bổng

STUDY IN VIETNAM

Trang 21

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Ngay chính trong cái chết, người lính Tây Tiến vẫn thể hiện, khẳng định được khí phách anh hùng, tư thế ngạo nghễ của mình Người ta có thể rùng mình ghê sợ trước cái lạnh lẽo, hoang vu của những “mồ viễn xứ” nhưng không khỏi tự hào, kiêu hãnh trước sự hi sinh bất khuất anh hùng của đoàn binh Những từ Hán Việt “biên cương, chiến trường, viễn xứ, độc hành” được sử dụng trang trọng giống như những nén tâm hương trước họ Ngày xưa, nhà vua vẫn thường ban tặng áo bào cho các tráng sĩ thắng trận trở về, nhưng ở thời của người lính Tây Tiến thì làm gì có chiếc áo bào nào Vậy mà Quang Dũng vẫn gọi những manh áo lính với một cách kiêu hãnh là

“áo bào” Những người trong cuộc kể lại rằng ngày ấy lúc đầu có quan tài và bài niệm nhưng sau đó lính Tây Tiến hi sinh nhiều, người bản xứ đã cho những manh chiếu quấn thân, nhưng rồi chiếu cũng hết, họ đã mặc nguyên những chiếc áo lính để trở về với đất mẹ Quang Dũng muốn tránh đi sự thật đau lòng nên đã gọi đó là chiếc

áo bào Đó là một cách nói sang trọng, an ủi người ra đi và cũng đỡ tủi lòng người đưa tiễn Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ Với hai lần xuất hiện trong bài thơ, sông Mã đã luôn gắn liền

và dõi theo con đường hành quân, đấu tranh gian khổ của đoàn binh

Sự ra đi của người lính Tây Tiến là một hiện thực tất yếu của chiến tranh và thiên nhiên hòa cùng nỗi đau với con người Sông Mã gào thét, vang vọng lên “khúc độc hành” giống như một khúc tráng ca tiễn đưa người anh hùng về với đất mẹ Sự hi sinh ấy được đặt giữa đất trời, thiên nhiên, có đất mẹ dang tay đón đợi, có dòng sông Mã anh hùng dạo lên khúc tráng ca, đó là sự hi sinh cao đẹp, cao quý nhất

STUDY IN VIETNAM

Trang 22

Qua bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, hình ảnh người lính hiện lên chân thực, lãng mạn, đa tình, đa cảm đồng thời cũng rất hào hùng Với nhiều từ ngữ mang sắc thái cổ điển, trang trọng tác giả tạo được không khí thiêng liêng, làm cho cái chết bi tráng của người lính vang động cả thiên nhiên Âm hưởng bốn câu thơ cuối làm cho hơi thơ cứ vọng dài thăm thẳm không dứt, hòa với bước đường của người chiến sĩ tình nguyện lên đường vì đất nước

“Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

Hơn năm mươi năm qua, bài thơ Tây Tiến vẫn còn sức quyến rũ với người đọc hôm nay, gợi về những năm tháng không thể nào quên trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp Bằng bút pháp vừa hiện thực vừa lãng mạn, Quang Dũng diễn đạt tài tình nỗi gian khổ trên những con đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến, dựng lên được hình tượng vô cùng đẹp đẽ về người lính với hào khí ngất trời trong chiến đấu và nét hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn Bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình

STUDY IN VIETNAM

Trang 23

của thi ca Việt Nam hiện đại Các

chặng đường thơ của Tố Hữu gần

như song hành với các giai đoạn

đấu tranh cách mạng của đất

nước khiến thơ ông mang tính

biên niên sử với nội dung trữ tình

chính trị đậm nét

Hoàn cảnh sáng tác:

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, tháng 10/1954, các cơ quan trung ương của Đảng và chính phủ từ biệt căn cứ điạ Việt Bắc trở về Hà Nội Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử

ấy, Tố Hữu sáng tác Việt Bắc

- Nội dung:

- Bài thơ thể hiện tình cảm lưu

luyến, bịn rịn của những người cán

uống nước nhớ nguồn của những

cán bộ Cách Mạng đối với thủ đô

kháng chiến, quê hương Cách

Mạng và người dân Việt Nam

- Bài thơ sử dụng cách ví von so sánh thường gặp trong văn học dân gian

- Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân

- Hình ảnh chân thực, cụ thể

STUDY IN VIETNAM

Trang 24

Tố Hữu một hồn thơ dân tộc, một nhà thơ lớn trong nền văn học Việt Nam Có thể nói những tác phẩm của ông không chỉ thể hiện tư tưởng, lẽ sống của bản thân mình mà qua đó ta còn thấy được những sự kiện quan trọng của cách mạng nước nhà

Tháng 10- 1954 sau chiến thắng Điện Biên Phủ, bộ đội ta phải chuyển lực lượng thủ đô và chia tay với chiến khu Việt bắc

Kẻ ở người đi lòng không khỏi nhớ thương nuối tiếc tình quân dân trong mười lăm năm khánh chiến Nhân sự kiện trọng đại cùng với tâm trạng nỗi niềm ấy Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc

Mở đầu bài thơ Việt Bắc là cuộc chia tay của những người kháng chiến và những người dân nơi đây:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay ý ”

Tám câu thơ đầu là khung cảnh cũng như tâm trạng của

cuộc chia tay Bao giờ cũng vậy “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta

đi đất bỗng hóa tâm hồn”

Sau bao nhiêu năm chung sống ở mảnh đất Việt Bắc, sống trong tình quân dân chan hòa nồng thắm ấy thế mà nay những người chiến sĩ đành phải cất bước ra đi Mảnh đất gắn bó như thế bây giờ cũng phải chia tay Cặp xưng hô mình ta thể hiện sự gần gũi thân thiết của cán bộ và người dân Cái tình cảm ấy giống như những người thân trong gia đình mình vậy Bốn câu thơ đầu là lời của người ở, những người dân Việt Bắc hỏi đầy lưu

STUDY IN VIETNAM

Trang 25

luyến rằng người chiến sĩ có còn nhớ mười lăm năm thiết tha mặn nồng ấy Không biết rằng những người chiến sĩ về có còn nhớ không, nhớ con người, nhớ núi rừng nơi đây Những người chiến

sĩ cách mạng cũng như đáp lại những ân tình ấy Trong lòng người chiến sĩ ấy cũng lưu luyến những kỉ niệm nơi đây không khác gì so với người dân

Các chiến sĩ như cảm nhận được sự tha thiết trong câu hỏi của những người dân ấy Lòng các chiến sĩ bâng khuâng, bồn chồn không muốn bước Có thể nói các từ láy ấy đã thể hiện phần nào cảm xúc trong lòng người chiến sĩ Nghệ thuật hoán

dụ với hình ảnh “áo chàm” chính là để chỉ người dân Việt Bắc

bịn rịn trong màu áo ấy đưa tiễn các chiến sĩ về với thủ đô

Kẻ ở người đi mà cầm tay nhau nhưng lại không biết nói lên điều gì Có lẽ không cần nói mà cả hai đều biết được những ý

nghĩa trong lòng nhau

Thế rồi trong hoàn cảnh ấy toàn thể những con người ở

lại cất lên lời nói để nhắc lại những kỉ niệm trong mười lăm năm thiết tha mặn nồng ấy:

STUDY IN VIETNAM

Trang 26

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Vẫn tiếng gọi mình thiết tha những người dân Việt bắc nhắc lại những ngày mưa nguồn suối lũ về, cả trời đất mây mù che kín Khoảng khắc khó khăn ấy người dân luôn có những chiến sĩ kề bên Hay người chiến sĩ kia về thì có nhớ đến chiến khu hay không, chiến khu ấy nghèo chỉ có cơm chấm muối thế nhưng nó tràn đầy những niềm yêu thương cưu mang đùm bọc của nhân dân nơi đây Và trong hoàn cảnh chiến tranh khó khăn như thế miếng cơm chấm muối kia là đã quá đầy đủ rồi Mối thù nặng vai người chiến sĩ, người dân như san sẻ gánh nặng ấy cho người chiến sĩ Những người chiến sĩ về Hà Nội có còn nhớ đến rừng núi đất trời nơi đây Và bây giờ trám bùi thì để rụng còn măng mai

để già Những gì của thiên nhiên Việt Bắc vốn là để cho những chiến sĩ cách mạng thì giờ đây người đi những thứ ấy lại để rụng

để già Những từ nhớ như điệp đi điệp lại nhiều lần như vang vào trong lòng người những nhớ thương không muốn rời Cặp xưng

hô mình ta như biến hóa thành nhiều nghĩa, cứ lúc thì chỉ người

STUDY IN VIETNAM

Trang 27

ở lại nhưng lúc lại chỉ người ra đi Điều đó thể hiện sự yêu thương gắn bó của những con người nơi đây với các anh chiến sĩ Kẻ ở như thâu tóm cả thiên nhiên và con người Việt Bắc với những tình cảm của một tấm lòng son sắc không phai Những địa danh được nhắc đến như chứng minh cho những trận chiến thắng mà các anh chiến sĩ đã lập nên tại đây

Trước những lời chia tay thương nhớ thiết tha ấy, người chiến sĩ cách mạng cũng như trải lòng mình nói lên những tâm tư tình cảm gắn bó:

“Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu ý

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi

Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

STUDY IN VIETNAM

Trang 28

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa "

Tố Hữu cũng học cách nói dân dã như chính những người nhân dân nơi đây vậy Dù người chiến sĩ cách mạng ra đi thế nhưng trong lòng vẫn không thể nào quên được những kỉ niệm tình cảm ấy Nghĩa tình giữa kẻ ở và người đi tựa như nước trong con suối kia vậy Nó dào dạt ào ạt mãi mãi Và những người chiến sĩ vẫn mãi đinh ninh một lời thề sắc son với người dân Việt Bắc Từng kỉ niệm gắn bó như được thuật lại trong từng câu nói của người ra đi Từ kỉ niệm về bát cơm thì sẻ nữa, chăn sui đắp cùng Nhớ cả những người mẹ Việt Bắc với dáng hình địu con lên nương hái bắp Một vẻ đẹp cần cù chịu thương chịu khó của nhân dân Không những thế cả những giây phút cùng nhau học cái chữ quốc ngữ nữ Đó là thái độ trật tự nghiêm túc của tất cả mọi người Và những giờ liên hoan trong ánh đuốc lập lòe, những ngày tháng ấy như mãi khắc sâu vào trong tâm trí của người ra

đi Để mãi khi về đến thủ đô gió ngàn vẫn không sao quên tiếng

mõ rừng chiều cùng chày đêm nện cối Qua đây ta thấy được những tấm lòng của cả hai bên dành cho nhau vô cùng nồng

ấm và tha thiết STUDY IN VIETNAM

Trang 29

Các anh chiến sĩ lại kể tiếp về những hình ảnh thiên nhiên nơi đây hiện lên qua những lời kể ấy thật sự rất đẹp Những câu thơ như vẽ lên một bức tranh tứ quý nơi đây, bốn mùa thiên nhiên hiện lên vô cùng đẹp:

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"

Có thể nói rằng xưng hô mình ta lại một lần nữa được thay đổi, Ta

ở đây chính là những người chiến sĩ cách mạng Còn mình chính là những người dân ở lại Những người chiến sĩ ấy cũng đã hỏi những người

ở lại rằng có nhớ họ không Hỏi như thế nhằm thể hiện sự lưu luyến yêu thương với mảnh đất và con người ở đây Không biết rằng họ có nhớ không còn những người chiến sĩ lại nhớ cả hoa cùng người Hoa kia chính là để chỉ cho thiên nhiên Việt Bắc Sau câu hỏi và sự bày tỏ tình cảm của mình ấy những người chiến sĩ nhắc đến những cảnh vật và hoạt động của con người Việt Bắc gắn liền với bốn mùa xuân hạ, thu, đông Thế nhưng nhà thơ lại chọn miêu tả thiên nhiên và con người nơi đây vào mùa đông trước bởi vì họ đến đây vào mùa đông và ra đi cũng vào mùa đông Mùa đông hiện lên với những hình ảnh của rừng xanh

và màu đỏ tươi của hoa chuối Con người hiện lên với vẻ đẹp kiên cường chinh phục tự nhiên Đến mùa xuân thì cảnh Việt Bắc hiện lên với hình

STUDY IN VIETNAM

Trang 30

ảnh hoa mơ trắng tinh khiết khắp rừng, con người thì hiện lên với vẻ đẹp của sự cần mẫn trong lao động Mùa xuân qua đi mùa hè lại đến thiên nhiên được thay từ màu trắng hoa mơ thành màu vàng của rừng phách Người con gái hái măng một mình Đến mùa thu thiên nhiên lại ngập tràn trong ánh trăng rằm soi sáng Người chiến sĩ nhớ đến những người nhân dân Việt Bắc với khúc hát ân tình thủy chung Như vậy qua từng

ấy câu thơ thiên nhiên và con người Việt Bắc hiện lên thật đẹp như đang níu giữ bước chân người ra đi

Thế rồi hàng loạt những địa danh gắn liền với những hoạt động cách mạng của những người chiến sĩ được nhà thơ liệt kê ra như để khắc sâu vào trong tâm thảm mỗi người chiến sĩ về tình quân dân đã làm nên chiến thắng vang dội:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

Mênh mông bốn mặt sương mù

Đất trời ta cả chiến khu một lòng

sử Trên dưới một lòng quyết tâm đánh địch Người về nhưng trong vẫn

STUDY IN VIETNAM

Trang 31

nhớ đến những khoảng khắc đánh trận và những địa danh kia

Và thế rồi không ai bảo ai cả kẻ ở người đi đều nhớ đến những ngày ráo riết chuẩn bị hành quân cho cuộc chiến đấu chống lại chiến dịch của thực dân Pháp Khi ấy chính là lúc tình quân dân thể hiện rõ nhất:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

Tin vui chiến thắng trăm miền

Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng"

Đó là cảnh hành quân của những người chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc Tất cả đồng lòng như một, Ánh sao để chỉ người chiến sĩ còn mũ nan chính là những người dân quân Việt Bắc Cả hai cùng đồng lòng trong chiến dịch Điện Biên Phủ Những đoàn dân quân với những ngọn đuốc trên tay như soi sáng cả bầu trời Việt Bắc Ngọn đuốc ấy như một

lý tưởng quyết tâm chiến đấu để bảo vệ đất nước đánh đuổi kẻ thù Khí thế của tất thẩy với sức mạnh giống như là nát đá Bằng biện pháp nghệ thuật phóng đại sức mạnh của nhân dân ta như được thể hiện rõ hơn

Nghìn đêm nhân dân ta phải sống trong cảnh khó khăn vất vả, cuộc sống khó khăn như đêm tối vậy Thế rồi hình ảnh “đèn pha” bật

STUDY IN VIETNAM

Trang 32

sáng như lên thể hiện một niềm tin vào tương lai tươi sáng của những nhân dân ta Họ đã sống trong khốn khổ để bật phá rũ bùn đứng dậy đấu tranh vì một niềm tin vào tự do hạnh phúc Bọn giặc kia sẽ phải cút

ra khỏi đất nước ta trả lại cho nhân dân ta một cuộc sống tự do và toàn vẹn lãnh thổ Vậy là sau bao nhiêu khổ cực khó khăn nhân dân ta đã dành được chiến thắng Tin vui ấy vui trăm mình Từ Hòa Bình, đến Tây Bắc và Điện Biên cũng như chung vui với niềm chiến thắng ấy Tất cả những địa danh ấy đều như thể hiện niềm vui của cả nước

Để kết cho niềm vui lẫn niềm nhớ thương lưu luyến không muốn rời

ấy nhà thơ cất lên những niềm tự hào về dân tộc Đồng thời đó cũng là những giây phút nhớ về cảnh sinh hoạt Đảng, biết bao nhiêu việc bàn luận ở hang động núi rừng:

Ai về ai có nhớ không?

Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang

Nắng trưa rực rỡ sao vàng

Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công

Điều quân chiến dịch thu đông

Nông thôn phát động, giao thông mở đường

Giữ đê, phòng hạn, thu lương

Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu ý

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền

Mười lăm năm ấy ai quên

Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa

Mình về mình lại nhớ ta

Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào."

STUDY IN VIETNAM

Trang 33

Ngày những người chiến sĩ trở về với miền xuôi nghe trong lòng vẫn bâng khuâng nhớ đến những ngày tháng cùng nhau kháng chiến Những cuộc họp những niềm vui đều được thể hiện trong những câu thơ cuối này Lá cờ đỏ sao vàng như chứng minh cho thắng lợi của nhân dân ta Ở đâu còn rợp bóng quân thù thì ở đó có Đảng và Bác Hồ Chính

vì thế mà tất cả hãy trông về miền Bắc mà nuôi chí bền Vì chỉ khi có chí mới làm nên được mọi việc, thắng trận ngay cả khi quân thù có đủ điều kiện hơn ta về mọi mặt Mười lăm năm kháng chiến sẽ còn mãi trong lòng những người chiến đấu và cả nhân dân ở đây nữa Bao nhiêu gian

khổ là bấy nhiêu tình cảm

Như vậy nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện những tâm sự của mình nói riêng và của tất cả những chiến sĩ và nhân dân Việt bắc nói chung Mười lăm năm kháng chiến với biết bao nhiêu kỉ niệm và giờ đây khi phải xa nhau thấy lòng mình thật muốn vỡ òa trong nức nở Chân không muốn rời xa Qua đây ta thấy được tình nghĩa đoàn kết keo sơn của con người Việt Nam mà cụ thể đó là tình quân dân Để đạt được những thắng lợi trên mặt trận ấy thì không thể nào quên ơn những người nhân dân Việt Bắc được

STUDY IN VIETNAM

Trang 34

- Nguyễn Khoa Điềm sinh năm

1943, tại Thừa Thiên- Huế trong một

gia đình cách mạng

- Tốt nghiệp trường Đại học Sư

phạm Hà Nội

- Năm 1964, trở về quê hương

tham gia chiến đấu, từng bị địch

bắt giam

- Sau năm 1975 hoạt động văn

nghệ và công tác chính trị tại

thành phố Huế

- Ông từng là Tổng thư ký Hội Nhà

văn Việt Nam, bộ trưởng Bộ Văn

hóa- Thông tin

Hoàn cảnh sáng tác:

- Sáng tác vào mùa đông năm

1971, tại chiến trường Trị- Thiên Đây là thời điểm mà cuộc chiến tranh chống Mỹ đang hồi quyết liệt

- Trích chương V trong trường ca" Mặt Đường Khát Vọng" (1971)

- " Mặt Đường Khát Vọng" là bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm bị chiếm miền Nam, nhận rõ bộ mặt xâm lược của Đế quốc Mỹ, hướng

về nhân dân, đất nước, xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu chung của dân tộc

- Nội dung:

Thể hiện những nhận thức, khám

phá mới mẻ về Đất Nước của tuổi

trẻ thành thị miền Nam trong thời

kỳ chống Mỹ Trên nền văn hóa

dân gian vững chắc, tác giả đã

định hướng sự tìm tòi, suy ngẫm tới

nhiều bình diện như: lịch sử, địa lý,

phong tục, Để làm nổi bật tư

tưởng Đất Nước của Nhân Dân và

gợi ý thức trách nhiệm của mỗi

người trước vận mệnh của Đất

Nước

- Nghệ thuật:

Tất cả các kiến thức, tư liệu, sự kiện phong phú được đưa vào không chỉ tác động vào lý trí, làm bừng sáng nhận thức mà còn lay thức tình cảm của người đọc, của mỗi người Việt Nam chủ yếu nhờ vào sự thẩm thấu qua tâm hồn cảm xúc của Nguyễn Khoa Điềm

Từ đó, nhà thơ đã tìm được một cách nói riêng giọng điệu tâm

tình

STUDY IN VIETNAM

Trang 35

Đất nước – đề tài muôn thuở trong thi ca và nghệ thuật, là điểm hẹn tâm hồn của biết bao văn nghệ sĩ Trong những năm tháng chiến tranh, tình yêu đối với đất nước lại càng tỏa sáng và rực cháy trong lòng mỗi người dân Việt Nam

Khi nhắc đến văn chương thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước,

ta biết những nhà thơ trong thời kỳ này như Xuân Quỳnh, Trần Đăng Khoa, Phạm Tiến Duật họ viết về hào khí của cả một dân tộc:

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

mà lòng phơi phới dậy tương lai.”

Một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của văn chương Việt Nam ngày ấy phải kể đến một nhà thơ đã trưởng thành trong cuộc kháng chiến trường kỳ nhưng nhất định thắng lợi của dân tộc – đó là Nguyễn Khoa Điềm

Khi nói đến Nguyễn Khoa Điềm, từ trong tiềm thức của mỗi người yêu văn chương đều không thể quên phong cách thơ ông là phong cách thơ trữ tình chính luận Thơ Nguyễn Khoa Điềm lôi cuốn người đọc bởi xúc cảm lắng đọng, giàu chất suy tư, thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nhân dân Một trong

những kiệt tác của Nguyễn Khoa Điềm phải kể đến đoạn trích “Đất

nước” thuộc chương V của “Trường ca mặt đường khát vọng” được tác

giả hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974

Tác phẩm đã xây dựng thành công tư tưởng “Đất nước là của

nhân dân”, do nhân dân bảo vệ và gìn giữ muôn đời trên cả 3 bình diện:

chiều rộng của không gian địa lý chiều dài của lịch sử và chiều sâu văn hóa Nhà thơ như đứng trước hàng trăm những câu hỏi “Đất nước này

là do ai làm ra? Sẽ do ai bảo vệ và gìn giữ muôn đời? Để trả lời cho

những câu hỏi ấy, Nguyễn Khoa Điềm ngược dòng cảm xúc của mình

để đi tìm về cội nguồn của đất nước

Khi nói đến vẻ đẹp của đất nước trên bình diện của chiều sâu văn hóa, ta phải hiểu văn hóa là những giá trị mà con người ở 1 vùng đất

STUDY IN VIETNAM

Trang 36

tạo ra Có thể đó là giá trị tinh thần cũng có thể là giá trị phi vật thể Nguyễn Khoa Điềm nhìn nhận người Việt Nam không chỉ ra đi để bảo vệ đất đai xứ sở mà còn truyền và bảo vệ cho nhau những hạt giống dân

ta, những vẻ đẹp mang đậm cốt cách của con người Việt Nam được truyền từ đời này sang đời khác, từ trái tim của người già sang lồng ngực của người trẻ, đó là vẻ đẹp mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam ta

Đất Nước bắt đầu từ một cách trang trọng mà hết sức bình dị, gần gũi:

Cấu trúc câu “Đất nước có – bắt đầu – lớn lên” đã hữu hình hóa

quá trình phát triển của đất nước trong trường kì lịch sử, đất nước tựa như một sinh mệnh sống với nội lực mãnh liệt Nghệ thuật liệt kê là biện pháp chủ đạo quán xuyến toàn bộ bài thơ, góp phần khắc họa đất nước bình dị, gần gũi Đất nước gắn liền với bà, với mẹ, với cha, đất nước hài hòa trong mối quan hệ gia đình, làng xóm Đất nước là một phần máu thịt trong kí ức của mỗi con người

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể”

Nhà thơ ngược dòng cảm xúc của mình về với những cái ngày xửa ngày xưa, đưa ta về miền cổ tích diệu kì từ lâu đã trở thành cội nguồn của đời sống, tâm hồn ta, cho ta nhữngbài học nhân sinh về lẽ sống nhân hậu, sống nghĩa tình, sống yêu thương, đùm bọc, chở che nhau

“Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu bà ăn”

Đó là tục nhuộm răng, tục nhai trầu của người già Đồng thời đó

cũng là câu ca dao tục ngữ “miếng trầu là đầu câu chuyện”, là sự tích

trầu cau, là vẻ đẹp của người già Việt Nam Đất Nước là văn hóa kết

tinh từ tâm hồn Việt Từ truyện ca dao, cổ tích đến tục ngữ, “miếng trầu”

đã là một hình tượng nghệ thuật mang tính thẩm mĩ, là hiện thân của tình yêu thương, lòng thủy chung của tâm hồn dân tộc Tiếp đến, nhà

STUDY IN VIETNAM

Trang 37

thơ như một người hướng dẫn đưa ta trở về làng Phù Đổng nghe lại sự tích Thánh Gióng nhổ bụi tre ngà đánh tan giặc Ân

“Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

Hình ảnh dân ta trồng tre đánh giặc không chỉ được lặp lại 1 lần

mà còn xuyên suốt 90 câu thơ hình ảnh này được lặp lại tới ba lần, đó

là biểu tượng cho truyền thống yêu nước, đánh giặc giữ nước của nhân dân Việt Nam Có thể thấy, từ bao đời nay, từ truyền thuyết dân gian đến tác phẩm thơ hiện đại, cây tre trở thành biểu tượng cho sức mạnh tinh thần quật cường đánh giặc cứu nước và giữ nước, biểu tượng phẩm

chất tốt đẹp của con người Việt Nam Từ “lớn lên” được dùng rất chính

xác, rạo rực niềm tin, niềm tự hào dân tộc

Giọng thơ thâm trầm, trang nghiêm làm cho suy từ về cội nguồn Đất Nước giàu chất triết luận mà vẫn thiết tha, trữ tình Cách cảm nhận,

lí giải cội nguồn Đất Nước bằng những hình ảnh bình dị, thân thuộc đã khẳng định rằng: Đất Nước gần gũi, thân thuộc, bình dị ngay trong đời

sống mỗi người Câu thơ: “Tóc mẹ thì bới sau đầu” nhắc đến chúng ta

nghe về thứ tập tục làm nên nét riêng của người phụ nữ VN truyền thống

Đất nước trưởng thành từ những giọt mồ hôi tần tảo dầm mưa giãi nắng Hạt thóc, hạt gạo thấm mồ hôi, thấm nhọc nhằn nuôi lớn biết bao những thế hệ Đất nước lớn lên từ những gian khổ của cha và từ những

lo âu của mẹ: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” Đó là

chất liệu của ca dao tục ngữ, đó là tình, là nghĩa, là lời thề vàng đá, là lối sống thủy chung, son sắt của những cặp vợ chồng Việt Nam

Câu thơ “Cái kèo, cái cột thành tên” nói đến tục đặt tên con xấu

cho dễ nuôi

Thủ pháp nghệ thuật liệt kê trong câu thơ thứ 8“Hạt gạo phải một

nắng hai sương xay, giã, giần, sàng” chỉ ra những bước để tạo ra hạt

gạo - một đất nước có nền văn minh lúa nước, luôn bảo vệ hạt giống, cốt cách con người Việt Nam Những vẻ đẹp do cha mẹ truyền cho con

STUDY IN VIETNAM

Trang 38

tiếng nói, thầy cô truyền cho học trò chữ viết, ông cha truyền lại cho con cháu lối sống và nếp nghĩ thông qua ca dao tục ngữ

Và chính nhân dân là những người đã truyền lại những vẻ đẹp của đất nước, những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam Dần dần tác giả

nhận ra: “Đất Nước có từ ngày đó…”, ta không biết ngày đó là ngày

nào chỉ biết đó là từ rất xưa, rất xa Chỉ biết rằng đất nước có từ lúc những huyền thoại, truyền thuyết, từ lúc dân tộc hình thành phong tuc tập quán, từ lúc dân Việt mình không tiếc máu xương để giữ từng tấc đất thiêng liêng và dùng bàn tay lao động để xây dựng đất nước

“Ngày đó” vừa là trạng từ chỉ thời gian trong quá khứ vừa là một

phép thế đại từ

Vậy là Đất Nước có từ khi mẹ thường kể chuyện cổ tích cho con nghe, khi dân ta biết trồng tre đánh giặc, biết trồng ra hạt lúa, củ khoai, biết ăn trầu, búi tóc, biết sống yêu thương, thủy chung

Như đã nói ở trên, Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ trưởng thành

từ quân đội, là một trong những nhà thơ đã xẻ dọc chiều dài của mảnh đất hình tia chớp Trước hết, khi nói về chiều rộng của không gian địa lý

ta phải hiểu địa lý là tất cả những yếu tố về mặt tự nhiên trên một đơn

vị diện tích lãnh thổ đất nước Là một nhà thơ đã đi hết chiều dài của mảnh đất hình chữ S, ông hiểu từng đại danh và vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

STUDY IN VIETNAM

Trang 39

Ấn tượng ban đầu của chúng ta khi đọc 8 câu thơ là ta như bị chìm ngập trong không gian cổ tích diệu kỳ thần thoại Cả đoạn thơ là

kho truyện cổ, các sự tích như “núi vọng phu”, hay “hòn Trống Mái”

Một lần nữa tác giả như một người hướng dẫn viên du lịch đưa ta trở về làng Phù Đổng nghe sự tích thánh Gióng nhổ bụi tre ngà đánh tan giặc Ân Đó là truyền thống yêu nước của nhân dân ta Mỗi một dòng thơ tuy độ dài ngắn khác nhau nhưng đều có chung một kết cấu Mỗi

dòng thơ đều chia ra hai phần và liên kết với nhau bằng điệp từ “góp”

Ta có thể chia đoạn thơ dọc theo từ “góp” sẽ được hai nửa diễn

tả theo tương quan đối lập Nửa trước nói về nhân dân, lời thơ mộc mạc, bình dị, cảm xúc, có pha chút ngại ngùng, xót thương Trái lại, nửa sau

từ “góp” lại nói về đất nước, lời thơ lộng lẫy những sắc màu muôn hình vạn trạng Nghệ thuật tương phản này chính là bài ca ca ngợi sự hi sinh của nhân dân để tạo nên đất nước huy hoàng Đằng sau mỗi địa danh

là một tên gọi, đằng sau mỗi tên gọi là một huyền thoại và sau những huyền thoại là cuộc đời của những con người Nhân dân làm nên đất nước, đó là những cặp vợ chồng thủy chung, là những anh hùng, những người lính quyết tử cho tổ quốc quyết sinh, là những người học trò nghèo nghiền bút, là ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm… Hơn thế nữa, nhân dân còn là những cái tên bé nhỏ vô danh được ẩn dụ bằng những hình ảnh con cóc, con gà Trong nhân dân còn có những nhân vật mà chỉ nhắc đến ta đã thấy hung vĩ thiêng liêng, ngưỡng mộ, tôn thờ, được

ẩn dụ bằng hình ảnh “Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất tổ

Hùng Vương” phục quanh núi Hi Cương hay “Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm” Nhân dân ta đa dạng là thế, đông đảo là

vậy mà chỉ làm một việc chung và thống nhất: góp sức chung lòng để

xây dựng nên đất nước Việt Nam ta Nhà thơ sử dụng điệp từ “góp” thật

ấn tượng, gợi sự kiên trì, bền bỉ, ý chí thống nhất, tình đoàn kết trăm người chung một việc: góp phần kiến tạo nên không gian huy hoàng cho nhân dân Nhân dân đã góp sức, góp sự đoàn kết và góp cả máu xương, cả

STUDY IN VIETNAM

Trang 40

tính mạng, góp tên tuổi, góp tài hoa Nhờ đó mà thế hệ chúng ta mới

có được một đất nước hữu hình – đất nước của những anh hùng

Nguyễn Khoa Điềm có nhắc đến những địa danh không tên Có

người đã từng nói “đất hoang là đất không tên” Việc đặt tên cho một

địa danh là vô cùng quan trọng, không thể làm tùy tiện Có không ít những địa danh đã soi bóng trong thơ ca dân tộc nhằm ca ngợi núi sông hùng vĩ, địa linh nhân kiệt

Nhưng Nguyễn Khoa Điềm không đi theo hướng đó, ông lại diễn

tả sự sinh sôi của các địa danh đó vì ở đó có lòng chung thủy, sự gắn

bó, có máu xương, có tài hoa, có tên tuổi, có linh hồn của nhân dân Đây là kết quả của sự hi sinh bền bỉ to lớn của nhân dân Có thể nói, tám câu thơ đều đã giúp người đọc thấy được sự kỳ diệu của thế hệ trước

Nó giống như một bông vàng chói lọi mà tổ quốc gọi công cho nhân dân – người đã hi sinh để làm nên tác phẩm kỳ diệu là nhân dân ta

Nếu như tám dòng thơ trước tưng bừng những màu sắc lấp lánh, hình tượng đầy chất thơ thì bốn câu thơ sau lại là những cảm xúc chứa đựng đầy suy ngẫm của lối nói chính luận xen lẫn sự trầm ngâm của một trí thức

Trước hết ta đến với hai câu thơ:

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”

Được viết liền mạch theo lối vắt dòng và diễn tả bằng lối phủ định

để khẳng định Nó giống như một tuyên ngôn sôi nổi mang hình thức tranh luận để khẳng định mạnh mẽ những hi sinh to lớn của nhân dân

Tiếp đến, câu thơ thứ ba: “Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta

cũng thấy” sử dụng thán từ “Ôi” – một câu cảm thán Nhà thơ như không

giấu nối lòng mình, bộc lộ cảm xúc nghẹn ngào trước những hi sinh vĩ đại của nhân dân

STUDY IN VIETNAM

Ngày đăng: 03/07/2023, 18:13

w