- Nhà văn không chỉ gián tiếp tố cáo sự áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiến miền núi mà còn nói lên một sự thật đau xót: dưới ách thống trị của cường quyền bạo lực và thần quyền hủ
Trang 1TIẾT 60-65: CHỦ ĐỀ: TÔ HOÀI
- TÁC PHẨM “VỢ CHỒNG A PHỦ”-
I MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1.Kiến thức: Giúp học sinh hiểu được:
- Nỗi thống khổ của người dân miền núi Tây Bắc dưới ánh sáng thống trị của phong kiến và thực dân Vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng mãnh liệt và quá trình vùng lên tự giải phóng của đồng bào vùng cao
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật sinh động, chân thực; miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo, tinh tế; lối kể chuyện hấp dẫn ngôn ngữ mang phong vị và màu sắc dân tộc, giàu tính tạo hình và đầy chất thơ
- Giáo án dạy thêm
- Phương tiện, đồ dùng dạy học
Trang 2+ Giảng bình
+ Phân tích
2 Học sinh:
- Sgk, tài liệu tham khảo, vở ghi
- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết, tài liệu tham khảo hoặc trên các trang web
III TIẾN TRÌNH LÊN LỚP
PHẦN I:KIẾN THỨC CHUNG:
I: TÁC GIẢ TÔ HOÀI
- Ông là nhà văn lớn, có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong nền văn học Việt Nam hiện đại bằng con đường tự học
- Viết theo xu hướng hiện thực thiên về diễn tả sự thật của đời thường Ông hấp dẫn người đọc ở lối trần thuật của một người từng trải, hóm hỉnh, đôi lúc tinh quái những luôn sinh động nhờ vốn từ vựng giàu có, phần lớn là bình dân và thông tục nhưng nhờ phép sử dụng đắc địa và tài ba, đầy ma lực và mang sức lay chuyển tâm
- Vợ chồng A Phủ (1952) là một trong ba tác phẩm (Vợ chồng A Phủ, Mường Giơn
và Cứu đất cứu mường) in trong tập Truyện Tây Bắc
- Tác phẩm là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm 1952 Đây là chuyến đi thực tế dài tám tháng sống với đồng bào các dân tộc thiểu số từ khu
du kích trên núi cao đến những bản làng mới giải phóng của nhà văn
- Vợ chồng A Phủ gồm có hai phần, phần đầu viết về cuộc đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, phần sau viết về cuộc sống nên vợ nên chồng, tham gia cách mạng của
Mị và A Phủ ở Phiềng Sa Đoạn trích là phần đầu của truyện ngắn
Trang 32 Tóm tắt
- Tác phẩm kể về cuộc đời của đôi trai gái người Mèo là Mị và A Phủ Mị là một cô gái trẻ, đẹp Cô bị bắt làm vợ A Sử - con trai thống lý Pá Tra để trừ một món nợ truyền kiếp của gia đình Lúc đầu, suốt mấy tháng ròng, đêm nào Mị cũng khóc, Mị định ăn lá ngón tự tử nhưng vì thương cha nên Mị không thể chết Mị đành sống tiếp những ngày tủi cực trong nhà thống lí Mị làm việc quần quật khổ hơn trâu ngựa và lúc nào cũng ―lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa‖ Mùa xuân đến, khi nghe tiếng sáo gọi bạn tình thiết tha Mị nhớ lại mình còn trẻ, Mị muốn đi chơi nhưng A Sử bắt gặp và trói đứng Mị trong buồng tối
- A Phủ là một chàng trai nghèo mồ côi, khoẻ mạnh, lao động giỏi Vì đánh lại A Sử nên bị bắt, bị đánh đập, phạt vạ rồi trở thành đầy tớ không công cho nhà thống lí Một lần, do để hổ vồ mất một con bò khi đi chăn bò ngoài bìa rừng nên A Phủ đã bị thống lí trói đứng ở góc nhà Lúc đầu, nhìn cảnh tượng ấy, Mị thản nhiên nhưng rồi lòng thương người cùng sự đồng cảm trỗi dậy, Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ rồi theo
A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài…
3 Nhân vật Mị
a Hình ảnh Mị trong đoạn văn mở đầu truyện
- Một cô gái âm thầm, lẻ loi, sống như gắn vào những vật vô tri, vô giác: ―Ai ở xa về,
có việc vào nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa‖
- Một cô con dâu nhà thống lý quyền thế, giàu sang ―nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện‖ nhất làng nhưng lúc nào cũng ―cúi mặt‖, ―buồn rười rượi‖
(Hình ảnh của Mị hoàn toàn tương phản với cái gia đình mà Mị đang ở Sự tương phản ấy báo hiệu một cuộc đời không bằng phẳng, một số phận nhiều uẩn khúc và một bi kịch của cõi nhân thế nơi miền núi cao Tây Bắc
b Cuộc đời, số phận, tính cách của nhân vật Mị
* Trước hết, Mị là cô gái có ngoại hình đẹp và nhiều phẩm chất tốt, đáng lẽ có thể sống một cuộc sống hạnh phúc:
- Một cô gái trẻ đẹp và có tài thổi sáo
- Một cô gái chăm làm, sẵn sàng lao động, không quản ngại khó khăn
Trang 4- Một cô gái yêu đời, yêu cuộc sống tự do, không ham giàu sang phú quý
- Một người con hiếu thảo
- Có thể khẳng định, Mị là một hình tượng đẹp về người thiếu nữ Tây Bắc Ở Mị, toát lên cái đẹp vừa tự nhiên, giản dị vừa phóng khoáng, thẳm sâu như thiên nhiên núi rừng miền Tây Tổ quốc Tuy nhiên, trái với những gì Mị đáng được hưởng, bi kịch
đã đến với Mị một cách phũ phàng bởi cường quyền bạo lực và thần quyền hủ tục
* Cô Mị với kiếp “con dâu gạt nợ” ở nhà thống lý Pá Tra:
- “Con dâu gạt nợ”:
+ Bề ngoài là con dâu vì Mị là vợ A Sử, nhưng bên trong Mị chỉ là một thứ gán nợ,
bắt nợ để bù đắp cho khoản tiền mà bố mẹ Mị đã vay của nhà thống lý Pá Tra nhưng chưa trả được Điều đau đớn trong thân phận của Mị là ở chỗ: nếu chỉ là con nợ thay cho bố mẹ thì Mị hoàn toàn có thể hi vọng vào một ngày nào đó sẽ được giải thoát sau khi món nợ đã được thanh toán (bằng tiền, bằng vật chất hoặc công lao động) Nhưng Mị lại là con dâu, bị cướp về và ―cúng trình ma‖ ở nhà thống lý Linh hồn Mị
đã bị con ―ma‖ ấy ―cai quản‖ Đến hết đời, dù món nợ đã được trả, Mị cũng sẽ không bao giờ được giải thoát, được trở về với cuộc sống tự do Đây chính là bi kịch trong
+ Thân phận của Mị không bằng con trâu, con ngựa trong nhà
+ Mị âm thầm như một cái bóng
+ Mị như một tù nhân của chốn địa ngục trần gian, đã mất tri giác về cuộc sống
- Nhà văn không chỉ gián tiếp tố cáo sự áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiến miền núi mà còn nói lên một sự thật đau xót: dưới ách thống trị của cường quyền bạo lực và thần quyền hủ tục, người dân lao động miền núi Tây Bắc bị chà đạp một cách tàn nhẫn về tinh thần đến mức tê liệt cảm giác về sự sống, mất dần ý niệm về cuộc đời,
từ những con người có lòng ham sống mãnh liệt trở thành những người sống mà như
Trang 5đã chết, tẻ nhạt và vô thức như những đồ vật trong nhà Một sự hủy diệt ý thức sống của con người thật đáng sợ !
* Sức sống tiềm tàng mãnh liệt (đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài)
- Những tác động của ngoại cảnh:
+ Trước hết là khung cảnh mùa xuân
+ Tiếp đó là ―tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi‖ – tiếng sáo gọi bạn tình ―vọng‖ vào tâm hồn Mị ―thiết tha bổi hổi‖
+ Bữa cơm Tết cúng ma đón năm mới rộn rã ―chiêng đánh ầm ĩ‖ và bữa rượu tiếp ngay bữa cơm bên bếp lửa
+ Những biểu hiện của ngoại cảnh ấy không thể không tác động đến Mị, nhất là tiếng sáo Bởi vì ngày trước Mị thổi sáo giỏi, bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị Tiếng sáo gọi bạn tình, ―tiếng sáo rủ bạn đi chơi‖ chính là tiếng ca của hạnh phúc, là biểu tượng của tình yêu đôi lứa Nó đã xuyên qua hàng rào lạnh giá bên ngoài để ―vọng‖ vào miền sâu thẳm trong tâm hồn Mị, đánh thức cái sức sống vẫn được bảo lưu đâu đó trong cõi lòng người thiếu nữ Tây Bắc này
- Diễn biến tâm lý, hành động:
+ Đầu tiên, Mị ―ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi‖
+ Trong không khí của một đêm tình mùa xuân, trong cái nồng nàn của bữa rượu ngày Tết, ―Mị cũng uống rượu‖
+ Mị “thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết
ngày trước” Mị cảm thấy mình ―trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi‖
+ Mị cảm thấy rõ hơn bao giờ hết cái vô nghĩa lý của cuộc sống thực tại:“Nếu có
nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa”
+ “Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo” Tiếng sáo như hối thúc Mị “quấn lại
tóc”, “với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách” để “đi chơi” Những biến động
mạnh mẽ trong tâm hồn Mị đã chuyển hóa thành hành động thực tế và hành động này dẫn đến những hành động tiếp theo không thể ngăn được
+ Rõ ràng, cái khát vọng sống, niềm khát khao hạnh phúc vẫn được bảo lưu ở đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật Mị Nó giống như hòn than vẫn đang âm ỉ cháy dưới
Trang 6lớp tro tàn nguội lạnh và chỉ cần một ngọn gió thổi tới là nó có thể bùng cháy một cách mãnh liệt Những tác động của ngoại cảnh là không nhỏ nhưng cái sức mạnh tiềm ẩn, không thể nào dập tắt của con người mới là điều mấu chốt quyết định sức sống của Mị, của mỗi cá nhân
* Sức phản kháng táo bạo (hành động cởi dây trói cho A Phủ)
- Dù bị dập vùi một cách tàn nhẫn nhưng không vì thế mà lòng ham sống và khát khao hạnh phúc trong Mị bị triệt tiêu Trái lại, trong những hoàn cảnh đặc biệt nó còn bừng dậy một cách mạnh mẽ và chuyển hóa thành sức phản kháng táo bạo Có thể thấy rõ điều đó qua diễn biến tâm lí và hành động của Mị trong đêm cô cứu A Phủ
rồi cùng anh bỏ trốn khỏi Hồng Ngài:
+ Ban đầu, trước cảnh tượng A Phủ bị trói, Mị hoàn toàn dửng dưng
+ Nhưng sau đó, khi chứng kiến dòng nước mắt chảy xuống gò má đã xạm đen lại của A Phủ, Mị đã đồng cảm, thương mình và thương người
+ Thương mình, thương người, Mị càng nhận rõ tội ác của cha con thống lí
+ Dù trong lòng vẫn có những sợ hãi nhưng Mị đã cứu A Phủ rồi cùng A Phủ bỏ trốn khỏi Hồng Ngài
+ Đây là hệ quả tất yếu sau những gì đã diễn ra ở Mị Từ đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài đến đêm cứu A Phủ là một hành trình tìm lại chính mình và tự giải thoát khỏi những ―gông xiềng‖ của cả cường quyền bạo lực và thần quyền lạc hậu Đó cũng là
sự khẳng định ý nghĩa của cuộc sống và khát vọng tự do cháy bỏng của người dân lao động Tây Bắc
3 Nhân vật A Phủ
a Số phận éo le
- Sớm mồ côi cha mẹ (cha mẹ chết trong một trận dịch đậu mùa)
- Nghèo, không lấy nổi vợ vì phép làng và tục lệ cưới xin ngặt nghèo
b Cá tính mạnh mẽ, một hình ảnh đẹp về người lao động miền núi Tây Bắc
- Có ý chí và nghị lực sống, A Phủ đã vượt qua mọi cơ cực để trở thành chàng trai Mông khỏe mạnh, tháo vát, trở thành niềm mơ ước của nhiều cô gái trong bản
- Gan góc từ bé, ham lao động, A Phủ không quản ngại những công việc nặng nhọc, khó khăn, nguy hiểm
Trang 7- Không sợ cường quyền, sẵn sàng trừng trị kẻ xấu
- Ham sống, yêu tự do, có sức sống tiềm tàng mãnh liệt
c Một nạn nhân của giai cấp thống trị phong kiến miền núi tàn bạo
- Chỉ vì đánh con quan mà bị phạt rất nặng, bị làng ―bắt vạ‖, trở thành một kiểu ―nô lệ‖ trong nhà thống lí Pá Tra
- Chỉ vì lỡ để hổ bắt mất một con bò mà bị cha con thống lí bắt trói, hành hạ dã man,
- Truyện phơi bày bản chất tàn bạo của giai cấp phong kiến thống trị ở miền núi (dẫn chứng cha con thống lí Pá Tra)
- Truyện đã tái hiện một cách sống động vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và phong tục, tập quán của người dân miền núi Tây Bắc (cảnh mùa xuân, cảnh xử kiện A Phủ)
b Giá trị nhân đạo
- Truyện thể hiện lòng yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc với thân phận đau khổ của người lao động nghèo miền núi (dẫn chứng nhân vật Mị, A Phủ)
- Phê phán quyết liệt những thế lực chà đạp con người (cường quyền và thần quyền)
- Truyện khẳng định niềm tin vào vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khát vọng hạnh phúc cháy bỏng của con người Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến mức nào, con người cũng không mất đi khát vọng sống tự do và hạnh phúc (Dẫn chứng nhân vật Mị- trong đêm tình mùa xuân, cởi trói A Phủ)
- Thông qua câu chuyện, nhà văn đã chỉ ra cho người dân miền núi Tây Bắc nói riêng, những số phận khổ đau nói chung con đường tự giải thoát khỏi những bất
Trang 8công, con đường làm chủ vận mệnh của mình (dẫn chứng hành động cởi trói cho A Phủ, cùng A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài)
5 Đặc sắc nghệ thuật
a Nghệ thuật kể chuyện
- Cách giới thiệu nhân vật đầy bất ngờ, tự nhiên mà ấn tượng Cách dẫn dắt tình tiết khéo làm cho mạch truyện phát triển và vận động liên tục, biến đổi hấp dẫn mà không rối, không trùng lặp
- Ngôn ngữ kể chuyện sinh động, chọn lọc và sáng tạo, lối văn giàu tính tạo hình thấm đẫm chất thơ
b Nghệ thuật miêu tả tâm lý và phát triển tính cách nhân vật
- Nhà văn ít tả hành động mà chủ yếu khắc họa tâm tư, nhiều khi mới chỉ là các ý nghĩ chập chờn trong tiềm thức nhân vật
- Tác phẩm đặt ra vấn đề số phận con người - những con người dưới đáy xã hội -
những con người bị tước đoạt hết tài sản, bị bóc lột sức lao động và bị xúc phạm nặng nề về nhân phẩm
- Truyện có giá trị nhân đạo sâu sắc : Phát hiện và ngợi ca sức sống tiềm tàng mãnh
liệt của con người Giá trị nhân đạo của ―Vợ chồng A Phủ” gắn liền với đường lối
cách mạng và chính sách dân tộc của Đảng : Giải phóng cho những người lao động bị
áp bức bóc lột, đem đến cho họ một cuộc sống tốt đẹp hơn
- Qua hai nhân vật M và A Phủ, tác phẩm cho thấy : Xã hội phong kiến miền núi dù
có tàn bạo đến đâu cũng không giam hãm được khát vọng sống của con người
PHẦN II: LUYỆN ĐỀ
ĐỀ SỐ 1:
Trang 9Phân tích giá trị hiện thực đƣợc nhà văn Tô Hoài thể hiện trong đoạn trích sau:
Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi Bây giờ thì
Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm
mà thôi Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn
bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày
Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi
sử dụng nó rất linh hoạt, đắc địa
- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ đọng lại lâu bền trong kí ức của nhiều người đọc
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích ở phần đầu truyện: Lần lần, mấy năm qua,
mấy năm sau…bao giờ chết thì thôi thể hiện thành công giá trị hiện thực về cuộc đời
người dân miền núi Tây Bắc trong sáng tác của Tô Hoài
b Thân bài
Trang 10*Khái quát chung:
- Hoàn cảnh sáng tác:Truyện ngắn “VCAP” là tác phẩm đặc sắc trong tập Truyện Tây Bắc (1953)
- Về nhân vật Mị: là cô gái người Mông trẻ trung, hồn nhiên, xinh đẹp, tài hoa Nhưng vì món nợ truyền kiếp, bị bắt làm con dâu nhà thống lí Pá Tra
* Phân tích giá trị hiện thực đƣợc nhà văn Tô Hoài thể hiện:
+Mị vốn là một cô gái người Mèo có đủ khả năng và điều kiện hưởng một cuộc sống hạnh phúc, có một tương lai tươi sáng Mị xinh đẹp, tài năng, hiếu thảo, yêu lao động, có lòng tự trọng…
+ Khi Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ nhà thống Lí Pá Tra, lúc đầu Mị xuất hiện ý thức phản kháng từ yếu ớt ―đêm nào cũng khóc‖ đến mạnh mẽ ―ăn lá ngón tự tử‖ nhưng sau đó, khi bố mất, khi đã quen với mọi thứ, Mị chấp nhận số phận bi kịch của mình
+ Ý thức phản kháng mất đi, Mị chấp nhận số phận của mình, sống một cách dật dờ,
tàn lụi: Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi
+Mị được so sánh theo thủ pháp ―vật hóa‖: so sánh ngang bằng (Mị tưởng mình cũng
là con trâu, mình cũng là con ngựa ; Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa.) và so sánh không ngang bằng (Con ngựa, con trâu làm còn
có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.) nhằm tập trung phản ánh hai nội dung: nhận thức của
Mị về nỗi khổ, sự đọa đày về thân xác (Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng
là con ngựa ; Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân,
Trang 11đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.) và sự tê
liệt về ý thức, tinh thần (Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong
xó cửa.) Từ đó, tác giả làm nổi bật dòng tâm tư, nhận thức của nhân vật về cuộc đời,
số phận nô lệ buồn đau, cực nhục của Mị, sự đọa đày cả về thể xác lẫn tinh thần đối với Mị
+ Mị còn được nhà văn khắc họa bằng những hành động liên tiếp nhau, lặp đi lặp lại
(lên núi hái thuốc phiện, giặt đay, xe đay, bẻ bắp, hái củi, bung ngô, tước đay).Cách
khắc họa nhân vật của Tô Hoài gây ấn tượng về một con người bị tê liệt về xúc cảm, hành động như một cỗ máy đã được lập trình sẵn, chỉ như đang tồn tại một cách vô thức mà không hề sống với bất kì một trạng thái cảm xúc sống động nào
+ Hình ảnh ẩn dụ: căn buồng Mị ở ―kín mít, chỉ có một cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay,
lúc nào nhìn ra cũng chỉ thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng‖ là
biểu tượng ám gợi về địa ngục trần gian, tù túng, ngột ngạt, nơi cầm tù tuổi thanh xuân của con người, biến Mị từ một cô gái trẻ trung phơi phới thành một con người
vô cảm, cam chịu.Đó không gian phi nhân tính
+ Tận cùng của sự cam chịu : ―Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy
mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.‖ Mị phải chịu đựng cả nỗi đau về thể xác và
tinh thần
- Mặt khác, giá trị hiện thực của đoạn trích còn thể hiện ở sức tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến miền núi Tây Bắc
+ Chúng lợi dụng cường quyền và thần quyền để áp bức, bóc lột người dân miền núi
Mị là nạn nhân của chế độ cho vay nặng lãi do chúng đặt ra
+ Chúng biến trần gian thành địa ngục, chà đạp lên hạnh phúc, tình yêu của con người Không những đày đọa thể xác của Mị, chúng còn làm tê liệt ý thức phản kháng, sống trong sự cam chịu, chấp nhận kiếp đời làm dâu gạt nợ, nô lệ đầy tủi nhục
b Nghệ thuật:
hân vật Mị được phác tả bằng vài nét chân dung gây ám ảnh, có sự kết hợp giữa giọng trần thuật của nhà văn với dòng tâm tư của nhân vật, khiến người đọc có cảm giác người viết đã nhập sâu vào trong dòng ý nghĩ, tâm tư của nhân vật để diễn tả suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật; nhiều biện
Trang 12* Đánh giá
- Qua giá trị hiện thực trong đoạn trích, tác giả lên án, vạch trần bộ mặt tàn bạo, độc
ác của kẻ thù giai cấp; cảm thông, đồng cảm, thương yêu với số phận đau thương của người dân Tây Bắc Đó là thái độ và tấm lòng đáng trân quý của nhà văn cách mạng trong văn học 1945-1975
- Giá trị hiện thực trong đoạn trích góp phần thể hiện phong cách nghệ thuật truyện
ngắn của Tô Hoài
c Kết bài:
Giá trị hiện thực của ―Vợ chồng A Phủ‖ là hiện thực cuộc sống của những người dân Tây Bắc, cần cù, chăm chỉ, chân phương nhưng bất hạnh, khổ cực Hình tượng nhân vật Mị trong tác phẩm và đặc biệt qua đoạn văn trên, tác giả đã khái quát toàn
bộ không gian xã hội thực dân nửa phong kiến nơi vùng cao, đồng thời lên án mạnh
mẽ, phơi bày bộ mặt tàn bạo và các thế lực đen tối đã tồn tại và chèn ép con người đến bước đường cùng Qua tác phẩm, Tô Hoài cũng gửi gắm sự nâng niu, trân trọng đến nhân vật của mình hay chính là những người dân vùng núi phía Bắc, tìm kiếm sự lay động trong lòng độc giả khi chứng kiến những khó khăn, gian khổ mà nhân vật phải trải qua
-“Lúc ấy trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng
Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại… Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay…”…”
Cảm nhận tâm trạng của nhân vật Mị qua hai đoạn văn trên, từ đó nhận xét về sức sống tiềm tàng của nhân vật này
Trang 13- Hai đoạn văn trên đã cho người đọc thấy rõ điều này
2 Thân bài:
a Khái quát chung:
- Hoàn cảnh sáng tác:
- Giới thiệu nhân vật Mị
+ Mị là cô gái xinh đẹp, có tài thổi sáo, có nhiều chàng trai theo đuổi Vì món nợ truyền kiếp, Mị đã bị bắt về cúng ma và làm con dâu gạt nợ nhà thống lí, trở thành nô
lệ, dần dần tê liệt về tinh thần
+ Thế nhưng với phẩm chất tốt đẹp của người lao động, sức sống cứ tiềm tàng, âm ỉ rồi bùng cháy mãnh liệt khiến Mị có thể trỗi dậy giải thoát cho A Phủ và cho chính mình
b Phân tích hai đoạn văn
* Đoạn văn thứ nhất:
*.1 Hoàn cảnh: Sau khi uống rượu, lắng nghe tiếng sáo trong không khí mùa xuân
đang về, tâm trạng Mị có sự thay đổi Từ kiếp sống nô lệ, cam chịu, tâm hồn Mị đã
có sự hồi sinh Mị muốn đi chơi và sửa soạn để đi chơi
*.2 Tâm trạng Mị:
– Bây giờ Mị cũng không nói Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ vào đĩa đèn cho sáng”
+Sống trong thân phận làm dâu gạt nợ, tinh thần Mị tưởng như đã bị tê liệt hoàn
toàn Nhưng khi đêm tình mùa xuân đến đã đánh thức khát khao trong Mị sống
Trang 14lại Bây giờ Mị không nói, nhưng tâm hồn Mị đã hồi sinh và ý thức được cuộc sống
vô nghĩa ở hiện tại
+ Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ xắn một miếng bỏ vào đĩa đèn cho sáng Hành động ấy
cho thấy Mị đang muốn thắp sáng lại căn phòng cũng là thắp sáng cho tâm hồn và cuộc đời đầy đau khổ, tăm tối của mình
– Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo
+ Tiếng sáo là biểu tượng cho tình yêu, Hạnh phúc, khát vọng tuổi trẻ và là biểu tượng cho cuộc sống tự do
+ Tiếng sáo từ ngoại cảnh trở thành tiếng sáo trong tâm tưởng, vẫn rập rờn trong đầu
Mị như thúc giục Mị đi theo tiếng gọi của tình yêu, hạnh phúc
– Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi Mị quấn lại tóc, Mị với lấy cái váy hoa vắt
ở phía trong vách
+ Những khát khao ấy cho thấy Mị đã thực sự sống lại với quá khứ tươi đẹp ngày trước Trong những đêm tình mùa xuân, Mị đã từng hẹn hò đi chơi với người yêu qua
âm thanh tiếng sáo
+ Mị dường như quên đi sự có mặt của A Sử Những câu văn ngắn, nhịp điệu nhanh, nêu ra ước muốn và các hành động liên tiếp của Mị thể hiện sự thôi thúc như một sự chuẩn bị tất yếu cho một sự trỗi dậy mạnh mẽ hơn
– Nghệ thuật: Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý tinh tế
* Đoạn văn thứ hai
*.1 Hoàn cảnh:
– Sau đêm tình mùa xuân, Mị càng trở nên vô hồn, vô cảm Trong những đêm làm bạn với bếp lửa, Mị đã bắt gặp A Phủ bị trói đứng
– Ban đầu Mị thản nhiên, lạnh lùng nhưng khi nhìn thấy một dòng nước mắt lấp lánh
bò xuống hai hõm má đã xám đen lại của A Phủ, từ thương cho mình Mị thương cho
A Phủ
– Mị quyết định cắt dây cởi trói và chết thay cho A Phủ
*.2.Tâm trạng của Mị
-“Lúc ấy trong nhà tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng
Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại…
Trang 15+Nếu Mị là thân phận con dâu gạt nợ thì A Phủ là kẻ ở không công Chỉ vì để hổ ăn
mất một con bò mà A Phủ bị thống lí Pá Tra trói đứng Sự gặp gỡ của Mị và A Phủ
là sự gặp gỡ của những con người cùng cảnh ngộ
+ Nhà văn đã tạo ra thời điểm thuận lợi cho sự trỗi dậy của Mị Đó là lúc trong nhà
―tối bưng‖ với không gian yên tĩnh, vắng vẻ
– Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây
+ Đây là hành động táo bạo, là sự phản kháng tất yếu của một con người đã bị áp bức, bóc lột tàn nhẫn
+ Hành động thể hiện sự đồng cảm, tình yêu thương của những con người cùng cảnh ngộ Tình yêu thương giữa những con người cùng khổ đã tạo nên sức mạnh để Mị vượt qua nỗi sợ hãi trước cường quyền giải thoát cho A Phủ
+ Hành động này cũng là kết quả tất yếu của quá trình hồi sinh trong hồn Mị, thể hiện cho một sức sống tiềm tàng, mãnh liệt
+ Thể hiện ngòi bút hiện thực và nhân đạo của Tô Hoài
– Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay…”…”
+ Mị ý thức được việc làm của mình, cô hốt hoảng bởi lo cho A Phủ và chính mình Chính Mị cũng không thể nghĩ mình lại có thể làm được như vậy
+ Dẫu đã vượt qua sự sợ hãi cường quyền nhưng Mị vẫn bị ám ảnh bởi thế lực thần
quyền Mị luôn cho rằng, đã bị cúng ma rồi thì ―chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây
– Khác:
+ Nếu đoạn văn thứ nhất thể hiện sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm tình mùa xuân với khát vọng vượt thoát khỏi hiện thực, khao khát tự do, được hưởng tình yêu và hạnh phúc thì đoạn văn thứ hai lại tập trung thể hiện sự chuyển biến
Trang 16mạnh mẽ trong tư tưởng và hành động của Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ với vẻ
đẹp đầy nội lực, lòng dũng cảm và sự quyết đoán của nhân vật
+ Nếu khát vọng đó ở trong đoạn 1 mới chỉ dừng lại ở những diễn biến trong tâm trạng, ở sự hồi sinh trong tâm hồn nhưng rồi nhanh chóng bị dập tắt bởi nghịch cảnh Còn sức sống tiềm tàng của Mị ở đoạn văn thứ hai đã chuyển hóa thành hành động cụ thể, cắt dây cởi trói cho A Phủ và sau đó là tự giải thoát cho cuộc đời mình
* Về nghệ thuật:
– Bút pháp miêu tả tâm lí sắc sảo, tinh tế
– Cách dẫn dắt tình tiết khéo léo, tự nhiên
– Giọng trần thuật của tác giả hòa vào những độc thoại nội tâm của nhân vật tạo nên ngôn ngữ nửa trực tiếp đặc sắc
– Ngôn ngữ kể truyện tinh tế, mang đậm màu sắc miền núi
Thường khi đến gà gáy Mị ngồi dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu thì các chị em trong nhà mới bắt đầu ra dóm lò bung ngô, nấu cháo lợn Chỉ chợp mắt được từng lúc, Mị
Trang 17lại thức sưởi lửa suốt đêm.Mỗi đêm, nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt Ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng, mới biết A Phủ còn sống Mấy đêm nay như thế Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi Mị vẫn trở dậy, vẫn sưởi, chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa Có đêm A Sử chợt về, thấy Mị ngồi đấy, A Sử đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp.Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước Lúc ấy đã khuya Trong nhà ngủ yên thì Mị trở dậy thổi lửa Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại Nhìn thấy tình cảnh như thế, M ị chợt nhớ lại đêm năm trước, A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết,nó bắt mình chết cũng thôi,nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này Chúng nó thật độc ác Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết Ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết A Phủ … Mị phảng phất nghĩ như vậy
(TríchVợ chồng A Phủ– Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, Nxb GD,2008, tr 13)
Phân tích hình tượng nhân vật Mị trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét tình cảm của nhà văn Tô Hoài đối với nhân dân Tây Bắc
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
1.Mở bài:
– Tô Hoài là nhà văn nổi tiếng trên văn đàn từ trước năm 1945 Trong kháng chiến chống Pháp, ông chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thành quả quan trọng trong sáng tác văn học, nhất là về đề tài miền núi Một trong những
thành công của Tô Hoài khi viết về đề tài này là truyện ―Vợ chồng A Phủ‖;
– Nêu vấn đề cần nghị luận: nhân vật Mị trong đoạn trích Những đêm mùa đông
(…)Mị phảng phất nghĩ như vậy thể hiệnnhững nét mới mẻ về người nông dân sau
cách mạng trong sáng tác của nhà văn Tô Hoài
2.Thân bài:
a Khái quát về tác phẩm
Trang 18– Truyện Vợ chồng A Phủ in trong tập Truyện Tây Bắc, là kết quả của chuyến Tô
Hoài đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc (1952), đánh dấu độ chín của phong cách nghệ thuật Tô Hoài Tác phẩm viết về cuộc sống tăm tối và khát vọng sống mãnh liệt của người dân miền núi dưới ách thống trị của thực dân phong kiến Mị là nhân vật chính, là linh hồn của tác phẩm
– Vị trí, nội dung đoạn trích: thuộc phần cuối trong phần 1 của truyện Vợ chồng A
Phủ , kể về diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm đông cứu A
– Giới thiệu sơ lược về A Phủ: một thanh niên có thân phận như Mị, cũng phải ở nhà thống lí Pá Tra để gạt nợ Do để mất bò mà bị trói đêm này sang đêm khác, ngày này sang ngày kia
– Hai con người đau khổ không hẹn mà gặp nhau tại nhà thống lí Pá Tra trong
đêm đông nơi núi cao lạnh lẽo
* Diễn biến tâm lí và hành động của Mị
– Mị có thói quen thức sưởi lửa suốt đêm-đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn
+Nếu không có bếp lửa kia thì Mị đến chết héo Mỗi đêm, Mị dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần: Từ chỉ thời gian mỗi đêm, không biết bao nhiêu lần: gợi thói quen lặp đi lặp lại như một bản năng, ăn vào vô thức Đó là bản
năng tìm tới hơi ấm, ánh sáng.Mị chỉ biết, chỉ còn ở với ngọn lửa: điệp từ ―chỉ‖ diễn
tả nét nghĩa tồn tại ít ỏi Trong văn hóa nhân loại, ngọn lửa thường là vật biểu trưng
Trang 19cho ánh sáng, sự sống Ở đây, ngọn lửa ngầm ẩn sự hiện hữu tuy tối thiểu nhưng dai dẳng của sức sống trong Mị
+A Sử đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước: Từ vẫn tiếp tục nhấn mạnh niềm khát sống bền bỉ Hình tượng ngọn lửa là
nguồn sáng- nguồn ấm-nguồn sống duy nhất đồng thời tiềm sâu sức sống dai dẳng, bền bỉ, bất chấp của Mị
-Lúc đầu, Mị có trạng thái thản nhiên đáng sợ Sau sự nổi loạn ở đêm tình mùa
xuân không thành, Mị đã bị cường quyền, thần quyền nhà thống lý Pá tra vùi dập, chà đạp, để bị rơi vào trạng thái tê liệt còn đáng sợ hơn cả trước đây Điều đó thể
hiện trong cách Mị nhìn A Phủ bị trói đứng Mị trơ lì tê liệt đến mức vẫn thản
nhiên thổi lửa, hơ tay Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi Ba
chữ cũng thế thôi tách riêng thành một nhịp, lời văn nửa trực tiếp đã tái hiện chính
xác thái độ lạnh lùng của nhân vật Nghĩa là cô không chỉ khước từ quyền sống của chính mình mà còn không quan tâm đến cả sự sống của đồng loại Tuy có lúc A Sử đi chơi đêm về, ngứa tay ngứa chân, ―đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp‖, nhưng đêm sau Mị vẫn gan lì, lặng lẽ phản kháng, tiếp tục ra sưởi lửa như đêm trước Bởi lẽ ngọn lửa đã là người bạn, là cứu cánh của Mị – ―Mị chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa‖
Đó là thái độ thản nhiên đáng sợ vì không có tình đồng loại Vì sao? Lí giải vấn đề này, ta thấy có ba nguyên nhân.Một là, cảnh người bị trói đến chết không phải là hiếm hoi ở nhà thống lí.Hai là, cuộc sống bao năm làm con rùa lùi lũi trong xó cửa đã tạo cho Mị một sức ì, một quán tính cam chịu, nhẫn nhục quá lớn Ba là, Mị đã chịu đựng quá nhiều đau khổ về thể xác lẫn tinh thần nên cô đã trở nên chai sần vô cảm, khả năng cảm thông, chia sẻ với cảnh ngộ khốn cùng của người khác ở Mị gần như bị
tê liệt Mị chẳng khác gì ―tảng đá‖
–Những dòng nước mắt của A Phủ làm Mị có nhu cầu được hi sinh: Nguyên
nhân quan trọng nhất đã tác động đến tâm lý của Mị để từ sự chai sạn vô cảm đã sống dậy những cảm xúc mãnh liệt, đã bừng dậy khát vọng tự do đó chính là dòng nước mắt của A Phủ Dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen của A Phủ đã tác động mạnh đến tâm lý của Mị, đưa cô từ cõi quên trở về với cõi nhớ Mị nhớ lại đêm năm trước mình cũng bị A Sử trói đứng như vậy, nước mắt chảy xuống
Trang 20mà không thể lau đi được Chính việc sống lại những kí ức đó đã khiến Mị nhận thấy
sự đồng cảm, đồng cảnh giữa mình và A Phủ, để từ lòng thương mình, cô đã thương người và cuối cùng là hành động cứu người
Tô Hoài đã khéo léo dùng cách trần thuật nửa trực tiếp để cho người đọc thấy rõ cảm xúc của Mị: Trời ơi nó bắt trói đứng người ta đến chết Dạng thức cảm thán đã cho thấy Mị không còn thờ ơ, vô cảm với đồng loại mà trong tâm hồn cô đã dấy lên một tình thương yêu mãnh liệt Tâm lí này cho thấy phẩm chất nhân hậu tiềm ẩn trong tâm hồn người phụ nữ cùng khổ
- Cùng với lòng thương người, Mị đã nhận ra bản chất tàn ác, vô nhân đạo của cha con nhà thống lý: chúng nó thật độc ác Từ chỗ cúi đầu chấp nhận tất cả những
đau đớn đọa đày ở nhà thống lý đến chỗ cảm nhận được điều này là một bước tiến trong nhận thức và tình cảm của nhân vật Mị đã thể hiện thái độ phản kháng, không còn chấp nhận sự áp chế của thần quyền và cường quyền nữa
- Mị nhận thấy sự khác biệt giữa mình và A Phủ Vì tin là mình đã bị ma nhà
thống lý Pá Tra nhận mặt nên cô ý thức được sự ràng buộc của đời mình, chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi Còn với A Phủ, Mị nhận rõ sự bất công: Người kia việc gì mà phải chết ? Ý thức rõ được hậu quả khi một ngày kia A Phủ trốn được rồi thì mình sẽ bị trói và chết bên cái cọc ấy nhưng Mị không thấy sợ Dù không nói ra một cách rõ ràng nhưng những suy nghĩ của Mị đã cho thấy cô chấp nhận cái chết về phía mình để tìm cách cho A Phủ được sống Đến đây có thể thấy lòng thương người
đã lớn tới mức Mị quên đi sự sống của bản thân đế đối lấy sự sống cho người khác.Tâm lý này đã ánh lên vẻ đẹp cao thượng vị tha trong tâm hồn Mị
+Tái hiện nhân vật Mị trong thế cùng A Phủ đối đầu với bọn lang đạo, địa chủ miền
núi Tây Bắc, Tô Hoài đã lên án giai cấp thống trị bất nhân được thực dân Pháp bảo trợ đã chà đạp lên quyến sống, quyền hạnh phúc của những người dân
Trang 21lương thiện miền núi Tây Bắc Đồng thời, Tô Hoài cũng đã đồng cảm, xót thương
sâu sắc trước những nỗi đau tê buốt, xé lòng; đặc biệt là ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp, sức sống diệu kì của những kiếp nông nô lầm than, tủi nhục – trong mọi cảnh ngộ, họ luôn luôn tìm cách vươn lên bằng khát vọng tự do, hạnh phúc, bằng sức mạnh yêu thương và sự dẫn đường chỉ lối của cách mạng sau này
b.2 Về nghệ thuật:
– Khả năng miêu tả tâm lý nhân vật sâu sắc, đi sâu khai thác diễn biến tâm trạng của nhân vật;
-Ngôn từ độc đáo, giàu ý nghĩa, giọng văn đầy chất thơ;
-Cách miêu tả rất cụ thể, thủ pháp tăng tiến; nhịp văn thúc bách, nhanh, gấp; lời văn nửa trực tiếp…
c Nhận xét tình cảm của nhà văn Tô Hoài đối với nhân dân Tây Bắc:
– Đồng cảm với nỗi khổ đau mà con người phải gánh chịu (đồng cảm với thân phận làm dâu gạt nợ của Mị khi nhớ lại bị A Sử chà đạp; nỗi đau của A Phủ khi bị trói vào cây cọc để thế mạng con hổ)
– Phát hiện ra tinh thần phản kháng của con người bị áp bức (từ vô cảm, Mị đã đồng cảm với người đồng cảnh ngộ; từ suy nghĩ đúng sẽ có hành động đúng)
-Tấm lòng nhà văn dành cho đồng bào miền núi thật sâu nặng, nghĩa tình, xét đến
cùng đó chính là tấm lòng nhân đạo của người nghệ sĩ dành cho đất và người Tây Bắc
3.Kết bài
– Kết luận về nội dung, nghệ thuật vẻ đẹp của nhân vật Mị qua đoạn trích;
– Nêu cảm nghĩ về tư tưởng và nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài
IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )
- Ghi nhớ nội dung bài học:
+ Nắm được tác giả- tác phẩm- phong cách
- Tìm hiểu một số đề bài liên quan
- Học bài cũ
Trang 22- Chuẩn bị bài: CHỦ ĐỀ: LUYỆN ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
V RÚT KINH NGHIỆM
Trang 23
Ngày soạn:
Ngày dạy:
TIẾT 66-87: LUYỆN ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
I MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1 Kiến thức : Qua bài học giúp HS:
- Nắm được cách đọc- hiểu văn bản VH 1945-1975
- Có thể đọc- hiểu được những văn bản văn học trong và ngoài chương trình
- Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại
- Luyện kỹ năng giải đề theo yêu cầu
- Giáo án dạy thêm
- Phương tiện, đồ dùng dạy học
- Phương pháp:
Trang 24- Sgk, tài liệu tham khảo, vở ghi
- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết, tài liệu tham khảo hoặc trên các trang web
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC: LUYỆN ĐỀ
ĐỀ SỐ 1: Hãy phân tích vẻ đẹp dòng sông Hương trong đoạn trích từ bút kí “Ai
đã đặt tên cho dòng sông” từ góc nhìn văn hoá, lịch sử và nhận xét về cái tôi trữ
tình mà tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường đã biểu hiện
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
a Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: Tác giả, tác phẩm, vấn đê nghị luận
b Thân bài :
Phân tích vẻ đẹp sông Hương từ góc nhìn văn hoá, lịch sử
* Sông Hương từ góc nhìn văn hoá
- Tác giả đã khảo cứu dòng thi ca riêng về sông Hương để nhận thấy vẻ đẹp của
dòng sông không lặp lại mình trong cảm nhận của từng thi sĩ
- Trong âm nhạc, sông Hương là cội nguồn làm nên sức cuốn hút của âm nhạc cổ điển Huế, của kiệt tác Truyện Kiều
Trang 25- Sông Hương có thể sánh cùng sông Nile, sông Hằng, sông Hoàng Hà – cái nôi hình thành những nền văn hóa lớn trên thế giới – với những phong tục, nếp sống riêng:
Đèn hoa đăng tháng bảy, xóm chài ven sông
- Rất tinh tế, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lí giải màu tím quyến rũ trong trang phục
của những cô dâu Huế ngày xưa: ấy chính là màu sương khói trên sông Hương.Đó là tấm hoan huyền ảo tự nhiên, khiến dòng sông thêm mơ mộng Sông Hương quả là
người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ xở với sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ
* Sông Hương từ góc nhìn lịch sử
- Sông Hương đã sống qua những thời kì vinh quang gắn với trang sử hào hùng của dân tộc: Là dòng sông biên thu thời các vua Hùng, là dòng Linh Giang chứng kiến những cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân bảo vệ biên giới phía Nam qua nhiều thế kỉ trung đại, vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng áo vả Nguyễn Huệ thế k XVIII, ghi dấu những trang sử bi tráng, đẫm máu thời chống Pháp, chứng kiến cuộc tái sinh màu nhiệm và những chiến công hiển hách của dân tộc Sông Hương thật xứng đáng là bản anh hùng ca kì vĩ, vì tiềm tàng trong chiều sâu lịch sử một sức mạnh quật cường của dân tộc
- Hào hùng, oanh liệt đấu tranh chống quân thù nhưng trong đời thường, sông Hương lại rất đỗi bình dị Cùng với người dân xứ Huế, khi Tổ quốc lâm nguy, sông Hương sẵn sàng hiến mình để lập nên những chiến công, ồi sau đó lặng lẽ trở về với đời thường là một người con gái dịu dàng của đất nước
-> Với vốn tri thức phong phú, lối viết tài hoa, giàu cảm xúc nhà văn đã mang đến những khám phá mới mẻ về chiều sâu và giá trị văn hoá và ý nghĩa lịch sử của sông Hương đối với xứ Huế
* Cái tôi trữ tình của tác giả:
Trang 26- Tác giả đã thể hiện một cái tôi phong phú, độc đáo: rất tài hoa, nghệ sĩ , rất uyên bác, nặng lòng với quê hương xứ sở
đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn
đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió , cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm lược qua đấy Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ đòi lật ngửa bụng thuyền ra Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ
lừ những cánh quạ đàn Không thuyền nào dám men gần cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực
(Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2005, tr186,và 191)
Anh chị hãy phân tích hình tượng Sông Đà trong đoạn trích trên, từ đó nhận xét phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân trong tùy bút Người lái đò Sông Đà
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
a Mở bài :
- Giới thiệu một số nét tiêu biểu về tác giả, tác phẩm, đoạn trích
- Khái quát nội dung của đoạn văn: Vẻ đẹp của Sông Đà hùng vĩ, dữ dội
Trang 27b Thân bài
* Khái quát chung Giới thiệu khái quát về tác phẩm, về sông Đà
* Phân tích đoạn văn : Vẻ đẹp hình tượng Sông Đà
* 1 Vách đá
- Đá dựng vách thành, và những bức thành vách đá chẹt Sông Đà như một cái yết hầu
- Độ hẹp của Sông Đà được thể hiện qua các biện pháp tu từ so sánh và những liên tưởng, tưởng tượng Mặt sông lúc ấy đúng ngọ mới có mặt trời Con hổ con nai có thể vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia Đang mùa hè cũng thấy lạnh
→ Bờ Sông Đà hùng vĩ, hiểm trở
*.2 Ghềnh Hát Loóng
- Nhân hóa con sông như một kẻ chuyên đi đòi nợ thuê: dữ dằn, gắt gao, tàn bạo
- Điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc (nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió) được hỗ trợ bởi những thanh trắc liên tiếp đã tạo nên âm hưởng dữ dội, nhịp điệu khẩn trương, dồn dập như vừa xô đẩy, vừa hợp sức của sóng, gió và đá khiến cho cả ghềnh sông như sôi lên, cuộn chảy dữ dằn, tạo nên một mối đe dọa thực sự đối với bất kì người lái đò nào ―quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra‖
- Hút nước còn nguy hiểm: Tác giả liên tưởng đến quãng đường mượn cạp ra ngoài
bờ vực giúp người đọc hình dung cảm giác hãi hùng khi phải đi thuyền qua những hút nước đó
Trang 28 Con Sông Đà với tính cách hung bạo tạo nên cá tính độc đáo khác biệt trong văn
chương
* Đánh giá, nhận xét về đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
- Qua tùy bút thể hiện vốn tri thức uyên bác của Nguyễn Tuân phô diễn trên trang viết Nhà văn đã vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực như: Điện ảnh, giao thông, thể thao
-Nguyễn Tuân luôn quan sát, khám phá và diễn tả sự vật ở góc độ thẩm mĩ và được soi rọi dưới ánh sáng của nghệ thuật; quan sát, khám phá con người nghiêng về phương diện tài hoa nghệ sĩ
- Tô đậm cái phi thường gây cảm giác mãnh liệt dữ dội Tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc qua những trang văn Vận dụng thể tùy bút linh hoạt, sáng tạo
[…] Tôi có bay tạt ngang qua Sông Đà mấy lần, và thấy đó cũng là thêm cho mình một góc độ nhìn một cách nhìn về con sông Tây Bắc hung bạo và trữ tình Từ trên tàu bay mà nhìn xuống Sông Đà, không ai trong tàu bay nghĩ rằng cái dây thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình kia lại chính là cái con sông hằng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà Cũng không ai nghĩ rằng đó là con sông của câu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thuỷ Tinh “Núi cao sông hãy còn dài - Năm năm báo oán đời đời đánh ghen” Hình như khi mà ta đã quen đọc bản đồ sông núi, thì mỗi lúc ngồi tàu bay trên chiều cao mà nhìn xuống đất nước Tổ quốc bao la, càng thấy quen thuộc với từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây dưới chân mình Con Sông
Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói Mèo đốt
Trang 29nương xuân Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông
Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một nguời bầm đi vì rượu bữa,
lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ lai chữ
Con Sông Đà gợi cảm Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy Tôi nhìn cái miếng sáng loé lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” Bờ sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người
cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.[…]
(Trích Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân, SGK Ngữ văn 12, tập một, NXB
Giáo dục Việt Nam, 2019, trang 190,191)
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
a Mở bài :
- Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân, bài tùy bút Người lái đò Sông Đà,
hình tượng Sông Đà trong đoạn trích
b Thân bài:
* Khái quát chung:
* Cảm nhận hình tượng Sông Đà qua đoạn văn:
- Từ điểm nhìn trên cao, Sông Đà có vẻ đẹp duyên dáng, mềm mại, yêu kiều
+ Dòng chảy của Sông Đà uốn lượn như “cái dây thừng ngoằn ngoèo”
Trang 30+ Sông Đà thướt tha, duyên dáng, đầy nữ tính như mái tóc người thiếu nữ Tây Bắc:
Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói Mèo đốt nương xuân…
+ Sông Đà có sự thay đổi kì diệu màu nước theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng:
Mùa xuân – “dòng xanh ngọc bích”; mùa thu – “nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ”
- Từ điểm nhìn gần hơn – điểm nhìn của một người đi rừng lâu ngày bất ngờ
gặp lại con sông, Sông Đà gợi cảm, Sông Đà “như một cố nhân”
+ Sông Đà lung linh, thơ mộng, mang đậm vẻ đẹp Đường Thi
+ Sông Đà gợi niềm vui, đem lại cảm giác “đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân”
cho con người
- Hình tượng Sông Đà được cảm nhận bằng ngôn ngữ tinh tế, giàu chất thơ; câu
văn nhịp nhàng; hình ảnh bay bổng, lãng mạn; sử dụng thành công biện pháp tu từ so sánh…tạo những liên tưởng độc đáo thú vị, làm nổi bật vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của dòng sông
* Bình luận ngắn gọn nét độc đáo trong cách miêu tả sông Đà nói riêng, thiên nhiên Tây Bắc nói chung của nhà văn Nguyễn Tuân
- Nhà văn nhìn Sông Đà không chỉ là một dòng sông tự nhiên, vô tri vô giác mà còn
là một sinh thể có sự sống, có tâm hồn, tình cảm Với Nguyễn Tuân, sông Đà nói riêng, thiên nhiên Tây Bắc nói chung cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa Vẻ đẹp của Sông Đà hòa quyện vào vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc nên càng trở nên đặc biệt …
- Cách miêu tả độc đáo này cho thấy Nguyễn Tuân có sự gắn bó sâu nặng, tình yêu mến tha thiết đối với thiên nhiên Tây Bắc, với quê hương đất nước, đồng thời cho thấy được ngòi bút tài hoa, uyên bác, lịch lãm của ông
c Kết bài:
- Khẳng định giá trị đoạn trích, tác phẩm
- Liên hệ mở rộng
ĐỀ SỐ 4:
Trang 31Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn Nếu không có bếp lửa sưởi kia
thì Mị cũng đến chết héo Mỗi đêm, Mị dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần Thường khi đến gà gáy, Mị dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu, các chị
em trong nhà mới bắt đầu ra dóm lò bung ngô, nấu cháo lợn Mỗi đêm, nghe tiếng phù phù thổi bếp, a Phủ lại mở mắt Ngọn lửa bùng lên, cùng lúc ấy Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trừng trừng Mới biết nó còn sống Mấy đêm nay như thế Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay nếu A Phủ là cái xác chết đứng chết đấy, cũng thế thôi Mị vẫn trở dậy, vẫn sưởi, Mị chỉ biết, chỉ còn ở với ngọn lửa Có đêm
A Sử chợt về thấy Mị ngồi đấy, A Sử ngứa tay đánh Mị ngã xuống cửa bếp Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước Lúc ấy đã khuya Trong nhà ngủ yên Mị trở dậy thổi lửa, ngọn lửa bập bùng sáng lên Mị trông sang thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở Dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hóm má đã xám đen Thấy tình cảnh thế, Mị chợt nhớ đêm năm trước, A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia Nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được Trời ơi nó bắt trói đứng người ta đến chết Nó bắt mình chết cũng thôi Nó đã bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước ở cái nhà này Chúng nó thật độc ác Chỉ đêm mai là người ta chết, chết đau, chết đối, chết rét, phải chết Ta là thân phận đàn bà, nó đã bắt về trình ma rồi, chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi Người kia việc gì mà phải chết A Phủ
Mị phảng phất nghĩ như vậy Ðám than đã vạc hẳn lửa Mị không thổi cũng không đứng lên Mị nhớ lại đời mình Mị tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng trốn được rồi, lúc đó bố con thống lý sẽ đổ là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy Mị chết trên cái cọc ấy Nghĩ thế, nhưng làm sao Mị cũng không thấy sợ Trong nhà tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt Nhưng Mị tưởng như A Phủ biết có người bước lại Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây A Phủ thở phè từng hơi như rắn thở, không biết mê hay tỉnh Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng Mị chỉ thì thào được một tiếng "Ði đi " rồi Mị nghẹn lại A Phủ khuỵu xuống không bước nổi Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vung lên, chạy Mị đứng lặng trong bóng tối.Trời tối lắm Mị vẫn băng đi Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy xuống tới lưng dốc Mị thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:
Trang 32- A Phủ cho
A Phủ chưa kịp nói, Mị lại vừa thở vừa nói:
- Ở đây chết mất,
A Phủ chợt hiểu
Hai người đỡ nhau lao xuống dốc núi
(Trích Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài, SGK Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục)
Phân tích hình tượng nhân vật Mị trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét về giá trị nhân đạo được nhà văn Tô Hoài gửi gắm qua đoạn trích
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
a Mở bài
- Tác giả:
+ Tô Hoài là nhà văn lớn, có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong văn học Việt Nam
hiện đại Có quan niệm nghệ thuật "vị nhân sinh" độc đáo
- Tác phẩm:
+ Tác phẩm viết về cuộc sống tăm tối và khát vọng sống mãnh liệt của người dân miền núi dưới ách thống trị của thực dân phong kiến
- Vấn đề nghị luận ( trích đoạn): Mị là nhân vật chính, là linh hồn của tác phẩm
Giới thiệu hình tượng nhân vật Mị và diễn biến tâm trạng, hành động Mị trong đêm đông cởi trói cho A Phủ Từ đó, thấy được giá trị nhân đạo lớn lao được nhà văn Tô Hoài gửi gắm qua đoạn trích
b Thân bài:
* Khái quát chung về tác phẩm: Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, nhân vật Mị
*Hoàn cảnh và tâm trạng Mị trước đêm cởi trói A Phủ:
- Cuộc sống làm dâu gạt nợ trong nhà thống lý Pá Tra của Mị vẫn tiếp diễn.Thời gian đọa đày biến cô trở thành người câm lặng trước mọi sự Những gì diễn ra chung quanh không khiến Mị quan tâm
- Những đêm tình mùa xuân về trên bản Mèo Hồng Ngài, khiến tâm hồn vốn đã chai sạn của Mị dần dần được đánh thức, nhưng ngay khi sức sống tiềm tàng của Mị hồi sinh cũng là lúc sức sống ấy một lần nữa bị A Sử dập tắt
Trang 33- Đêm mùa đông đến, lúc đầu Mị thổi lửa hơ tay, tâm hồn Mị như tê dại trước mọi chuyện, kể cả lúc ra sưởi lửa, bị A Sử đánh ngã xuống bếp, hôm sau Mị vẫn thản nhiên ra sưởi lửa như đêm trước
- Song, trong lòng, không phải chuyện gì Mị cũng bình thản Mị rất sợ những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn
- Khi trong nhà đã ngủ yên, Mị tìm đến bếp lửa Đối với Mị, nếu không có bếp lửa
ấy, cô sẽ chết héo
* Tâm trạng và hành động của Mị trong đêm cứu A Phủ:
- Ban đầu, trước cảnh A Phủ bị trói, Mị hoàn toàn dửng dưng, vô cảm: Cô "thản
nhiên thổi lửa hơ tay" Phản ứng này của Mị cũng là điều hiển nhiên vì cảnh trói người đến chết như thế ở nhà thống lí là chuyện bình thường Vả lại, có lẽ "ở lâu trong cái khổ Mị cũng quen khổ rồi" nên cái khổ của người khác cũng thế thôi
- Sau từ vô cảm đến đồng cảm:
Những đêm trước nhìn thấy cảnh A Phủ bị trói đứng, Mị hoàn toàn dửng dưng, vô cảm Đêm ấy, dòng nước mắt của A Phủ đã đánh thức và làm hồi sinh lòng thương người trong Mị (gợi cho Mị nhớ về quá khứ đau đớn của mình, Mị thấy thương xót cho người cùng cảnh ngộ)
- Thương mình, thương người:
Mị nhận ra sự độc ác và bất công của cha con thống lí "Chúng nó thật độc ác Cơ chừng chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết" Từ cảnh ngộ của mình và những người đàn bà bị hành hạ ngày trước, đến cảnh đau đớn và bất lực của A Phủ trước mắt, Mị nhận thấy chúng nó thật độc ác, thấy người kia việc gì
mà phải chết
- Hành động cứu người: "Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt Nhưng Mị
tưởng như A Phủ biết có người bước lại Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây" Cuối cùng, sức mạnh của tình thương cùng với niềm khát khao tự do trỗi dậy
đã khiến Mị vượt qua nỗi sợ hãi để quyết định một hành động táo bạo: Cắt dây trói cứu A Phủ
- Hành động cứ người cũng là tự giải thoát cuộc đời mình: đối mặt với hiểm nguy
Mị cũng hốt hoảng…; lòng ham sống mãnh liệt đã thúc giục Mị chạy theo A Phủ:
Trang 34"Mị đứng lặng trong bóng tối Trời tối lắm Mị vẫn băng đi Mị đuổi kịp A Phủ Mị
thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:
- A Phủ cho
A Phủ chưa kịp nói, Mị lại vừa thở vừa nói:
- Ở đây chết mất "
Hành động này là hệ quả tất yếu sau những gì diễn ra ở Mị Từ đêm tình mùa
xuân ở Hồng Ngài đến đêm cứu A Phủ là một hành trình tìm lại chính mình và tự giải thoát mình khỏi những gông xiềng của cả cường quyền bạo lực và thần quyền
lạc hậu Đó cũng là sự khẳng định ý nghĩa của cuộc sống và khát vọng tự do cháy
bỏng của người dân lao động Tây Bắc
* Ý nghĩa việc miêu tả tâm trạng và hành động của Mị:
-Tạo tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn; cách miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tài tình, hợp lí đã tạo nên sự thay đổi số phận nhân vật một cách thuyết phục
- Thể hiện giá trị nhân đạo: phát hiện và miêu tả sức sống mãnh liệt, khát vọng tự do của người lao động bị áp bức trong xã hội cũ
* Giá trị nhân đạo được nhà văn Tô Hoài gửi gắm qua đoạn trích:
- Tố cáo tội ác của cường quyền và thần quyền ở vùng núi cao Tây Bắc những năm trước cách mạng đã bóc lột cả về thể chất và tâm hồn người lao động
- Trân trọng khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng tự do của người lao động vùng cao
- Nhà văn tin tưởng vào khát vọng ham sống mãnh liệt của con người sẽ giúp họ có niềm tin và sức mạnh vượt qua nỗi sợ hãi cá nhân để hướng đến cuộc sống tốt đẹp hơn Họ sẽ được đổi đời khi cách mạng đến
* Nhận xét, đánh giá đặc sắc nghệ thuật:
- Tạo tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn
- Miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật tài tình
- Xây dựng nhân vật sinh động, có cá tính
- Ngôn ngữ sinh động, sáng tạo, giàu tính tạo hình
- Nghệ thuật kể chuyện lôi cuốn, hấp dẫn
c Kết bài:
Trang 35- Qua tâm trạng của Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ, chúng ta thấy được cả sức sống tiềm tàng ở một người phụ nữ bị đọa đày vả về thể xác lẫn tinh thần, tưởng chừng như mất đi hết đời sống tâm hồn Phải yêu thương và có một niềm tin mãnh liệt vào con người nhà văn mới có được cái nhìn nhân đạo như vậy
- Tô Hoài đã miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị rất tự nhiên, hợp lý và chân thực Không thấy diễn biến tâm trạng của nhân vật sẽ không hiểu được hành động của nhân vật đó Hành động cuối cùng của Mị – cởi trói cho A Phủ – có vẻ bất ngờ nhưng lại hợp với quy luật tâm lý con người, quy luật của cuộc sống Nhà văn không chỉ đem đến cho bạn đọc những nhân vật biết hành động mà quan trọng hơn là vì sao
có hành động ấy Tô Hoài đã rất thành công khi xây dựng một nhân vật có sức sống bên trong mãnh liệt đằng sau khuôn mặt vô hồn, vô cảm của Mị Bởi vậy, có người
đã xem đây là ―một nhân vật thành công bậc nhất trong văn xuôi cách mạng đương đại Việt Nam
IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )
- Ghi nhớ nội dung bài học:
+ Nắm được tác giả- tác phẩm- phong cách
- Tìm hiểu một số đề bài liên quan
- Học bài cũ
- Chuẩn bị bài: CHỦ ĐỀ: KIM LÂN
V RÚT KINH NGHIỆM
Trang 36
TIẾT 88-93: CHỦ ĐỀ: KIM LÂN
- TÁC PHẨM “VỢ NHẶT”-
I MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1.Kiến thức: Giúp học sinh hiểu được:
- Hiểu được tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra
Trang 37-Nắm được những nét đặc sắc về nghệ thuật: sáng tạo tình huống, gợi không khí, miêu tả tâm lí,dựng đối thoại
2 Kĩ năng
- Đọc – hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại
- Luyện đề NLVH theo yêu cầu
- Giáo án dạy thêm
- Phương tiện, đồ dùng dạy học
- Sgk, tài liệu tham khảo, vở ghi
- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết, tài liệu tham khảo hoặc trên các trang web
III TIẾN TRÌNH LÊN LỚP
PHẦN I:KIẾN THỨC CHUNG:
I VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ- TÁC PHẨM
Trang 381 Tác giả
- Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài
- Quê quán: làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
- Phong cách nghệ thuật: Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn, ông thường viết về nông thôn và những người nông dân của làng quê Việt Nam
- Sự nghiệp văn học:
+ Năm 1944, Kim Lân tham gia hội văn hóa cứu quốc, sau đó tiếp tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim)
+ Năm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
- Những tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn 1962)
2 Tác phẩm “Vợ nhặt”
a Hoàn cảnh sáng tác
Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân được in trong tập Con chó xấu
xí (1962) Ban đầu có tên là Xóm ngụ cư nhưng do bị thất lạc bản thảo nên sau khi hòa bình lập lại (1954), tác giả đã dựa vào cốt truyện cũ để viết lại truyện ngắn này Truyện tái hiện lại bức tranh nạn đói năm 1945 ảm đạm, thê lương và đói nghèo
Trang 39nấy đều ngạc nhiên khi thấy có người đàn bà lạ theo Tràng, rồi lại lo lắng cho anh vì
đã đèo bòng thêm một miệng ăn giữa nạn đói khủng khiếp Trước việc con trai lấy
vợ, bà cụ Tứ ban đầu rất ngạc nhiên, khi hiểu ra câu chuyện, bà vừa xót xa vừa mừng tủi và chấp nhận cô vợ nhặt là dâu con trong nhà Sáng hôm sau, Tràng hạnh phúc như vừa ở giấc mơ đi ra Anh nhận thấy sự đổi thay quang quẻ của ngôi nhà dưới bàn tay của mẹ và vợ Tràng cảm động, cảm thấy gắn bó với ngôi nhà và thấy mình nên người Trong bữa sáng đón nàng dâu mới, cả nhà Tràng ăn uống rất đầm ấm, cô vợ ra dáng là người phụ nữ hiền thảo chứ không chao chát, chỏng lỏn như hai lần đầu gặp
gỡ Bà cụ Tứ không chỉ nói toàn chuyện vui, chuyện làm ăn mà còn vui vẻ bưng lên nồi "chè khoán" Nhưng cả ba người đều im lặng hờn tủi ngay khi gợt miếng đầu tiên vào miệng bởi "chè khoán" thực ra là nồi cám chát xít Giữa lúc ấy, người con dâu nghe thấy tiếng trống thúc thuế bèn kể chuyện người đói ở Thái Nguyên, Bắc Giang vùng dậy phá kho thóc Nhật Câu chuyện ấy làm hiện lên trong đầu Tràng hình ảnh đoàn người đói đi trên đê Sộp và lá cờ đỏ bay phấp phới
c Ý nghĩa nhan đề:
- Nhan đề gợi tình huống éo le, kích thích trí tò mò người đọc Thông thường, người
ta có thể nhặt thứ này, thứ khác, chứ không ai ―nhặt‖ ―vợ‖ Bởi dựng vợ gả chồng là việc lớn, thiêng liêng, có ăn hỏi, có cưới xin theo phong tục truyền thống của người Việt, không thể qua quýt, coi như trò đùa
- ―Vợ nhặt‖ là điều trái khoáy, oái ăm, bất thường, vô lí Song thực ra nó lại rất có lí
Vì đúng là anh Tràng đã nhặt được vợ thật Chỉ một vài câu bông đùa của Tràng mà
có người đã theo về làm vợ Điều này đã thực sự khiến một việc nghiêm túc, thiêng liêng trở thành trò đùa và ngược lại, điều tưởng như đùa ấy lại chính là sự thực Từ đây, bản thân nhan đề tự nó đã gợi ra cảnh ngộ éo le, sự rẻ rúng của giá trị con người Chuyện Tràng nhặt được vợ đã nói lên tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945
III Kiến thức cơ bản
1.Tình huống truyện
Trang 40- Tình huống truyện : Anh Tràng vừa nghèo, vừa xấu lại là dân ngụ cư thế mà lấy được vợ ngay giữa lúc đói khát, ranh giới giữa sự sống và cái chết hết sức mong manh
- Tình huống lạ, độc đáo : người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí có vợ theo ! Thời buổi đói khát này, người như Tràng nuôi thân chẳng xong mà dám lấy vợ ! Chẳng phải thế mà việc Tràng có vợ đã tạo ra sự lạ lùng, ngạc nhiên với tất cả mọi người trong xóm ngụ cư, với bà cụ Tứ, thậm chí đã có những thời điểm chính Tràng cũng chẳng thể nào tin được vào điều đó
- Tình huống truyện không chỉ tạo ra một hoàn cảnh ―có vấn đề‖ cho câu chuyện mà còn nén trong đó ý đồ nghệ thuật của nhà văn đồng thời gợi mở các khía cạnh giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm
2 Nhân vật Tràng
* Tràng là người dân lao động nghèo, “nhặt” được vợ trong thời buổi đói khát:
- Bản thân anh là dân ngụ cư, dân ăn nhờ, ở đậu
- Tràng sống với mẹ già trong một căn nhà xiêu vẹo trên bãi đất hoang mọc lổn nhổn những búi cỏ dại
-> Hoàn cảnh xuất thân : khó lấy được vợ
- Tuy nhiên, giữa cái khung cảnh tối sầm lại vì đói khát, Tràng bỗng nhiên ―nhặt‖ được vợ.Cuộc gặp gỡ giữa Tràng và người đàn bà không tên diễn ra thât chóng vánh chỉ qua hai lần gặp mà chỉ gặp ở đường và chợ để rồi ―nên vợ, nên chồng‖:
+ Lần gặp thứ nhất : Trên đường kéo xe thóc lên tỉnh, Tràng hò chơi cho đỡ mệt
―Muốn….‖ Không ngờ, thị ra đẩy xe cho anh và còn liếc mắt cười tít nữa Tràng thích lắm vì từ khi cha sinh mẹ đẻ đến giờ mới có một người con gái cười với hắn tình tứ đến như thế
+ Lần gặp thứ 2, ở quán nước ngoài chợ Ban đầu, Tràng không nhận ra vì thị khác quá, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt Khi nhận ra rồi, trong lời đáp ―ăn gì thì ăn, chả ăn giầu‖ Tràng sẵn sàng đãi thị bốn bát bánh đúc Trong bối cảnh mà người ta lo thân không xong, ai cũng đứng trên miệng vực thẳm của cái chết hành động mà Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc chứng tỏ rằng Tràng là một người khá tốt bụng và cởi mở Chính sự tốt bụng và cởi mở của Tràng đã đem đến cho Tràng