1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tl Làng Xã Việt Nam Cô Thanh123.Docx

46 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đời Sống Văn Hóa Của Làng Khoa Bảng Cổ Định Xã Tân Ninh, Huyện Triệu Sơn, Tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Hiếu Lê Văn Hiếu
Người hướng dẫn Th.S Lê Thị Hoài Thanh
Trường học Trường Đại học Sư phạm Huế
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, em xin cảm ơn chân thành nhất đến các Thầy giáo, Cô giáo trong Khoa Lịch sử, trường ĐHSP Huế đã dạy dỗ, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập và[.]

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin cảm ơn chân thành nhất đến các Thầy giáo, Cô giáo trongKhoa Lịch sử, trường ĐHSP Huế đã dạy dỗ, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho emtrong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường cũng như trong thời gian thực hiệntiểu luận này

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Lê Thị Hoài Thanh đã tận tìnhhướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện tiểu luận

Có lẽ kiến thức là vô hạn mà sự tiếp nhận kiến thức của bản thân mỗi người luôntồn tại những hạn chế nhất định.Trong thời gian thực hiện tiểu luận, bước đầu làmquen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu sót,

em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô giáo và các bạn sinhviên

Cuối cùng, em xin biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè và đồngnghiệp đã giúp đỡ động viên em hoàn thiện tiểu luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Huế, ngày 06 tháng 06 năm 2023

Tác giả tiểu luậnHiếu

Lê Văn Hiếu

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Tiểu luận “ Đời sống văn hóa của làng khoa bảng Cổ Định xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của

cô giáo Lê Thị Hoài Thanh

Em xin cam đoan tiểu luận được tiến hành công khai, minh bạch dựa trên sự giúp

đỡ của các bạn sinh viên, tâm huyết sức lực của bản thân và đặc biệt là sự hướng dẫntận tình của cô giáo Lê Thị Hoài Thanh Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tínhtrung thực của các nội dung trong bài viết của mình

Tác giả tiểu luậnHiếu

Lê Văn Hiếu

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

LỜI CAM ĐOAN 2

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Bố cục của đề tài 8

NỘI DUNG 9

Chương 1: KHÁT QUÁT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG CỔ ĐỊNH (XÃ TÂN NINH, HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA) 9

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: 9

1.1.1 Vị trí địa lý 9

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 9

1.2 Qúa trình thành lập làng và sự thay đổi về địa danh, địa giới hành chính 12

1.2.1 Chạ Kẻ Nứa 12

1.2.2 Giáp Cá Na 14

1.2.3 Hương Cổ Na 15

1.2.4 Xã Cổ Ninh 16

1.2.5 Xã Cổ Định 16

1.2.6 Xã Tân Ninh 16

Chương 2: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA LÀNG CỔ ĐỊNH (XÃ TÂN NINH, HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA) 18

2.1 Tín ngưỡng, tôn giáo 18

2.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 18

2.1.2 Đình làng với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng 19

2.2 Giáo dục khoa cử Nho học 21

2.2.1 Những người đỗ đại khoa 21

2.2.2 Những người đỗ trung khoa, tiểu khoa 23

2.3 Di tích kiến trúc lịch sử, văn hóa tiêu biểu 24

Trang 4

2.3.1 Di tích thắng cảnh Núi Nưa – Đền Nưa – Đền Am Tiên 24

2.3.2 Đền thờ Hoàng giáp Lê Bật Tứ 27

2.3.3 Nghè giáp 28

2.3.4 Nhà thờ họ Lê Sĩ 32

Chương 3 34

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG CỔ ĐỊNH (XÃ TÂN NINH, HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA) 34

3.1 Khó khăn và thách thức trong bảo tồn giá trị văn hóa làng Cổ Định 34

3.2 Giải pháp phát triển văn hóa làng Cổ Định 35

KẾT LUẬN 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

PHỤ LỤC 38

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ bao đời nay, làng xã là một đề tài được mọi người quan tâm bởi vì nó là cộinguồn nơi chúng ta sinh ra Làng xã đã trở thành một đơn vị tụ cư, môi trường sinhhoạt văn hóa – xã hội vô cùng gần gũi, gắn bó cộng đồng người Việt với nhau Nhữngthành viên trong làng xã đã đoàn kết với nhau để đối phó, chinh phục tự nhiên, để đấutranh chống ngoại xâm giữ nước, giữ làng Chính vì vậy, làng là một biểu tượng vô

cùng thiêng liêng, luôn được nhắc đến với những từ thân thương như “quê hương”, hay “quê cha, đất tổ” Bởi vậy, dù ở đâu mỗi người cũng luôn nhớ về làng, ở đó có

những người thân, với những hình ảnh về cây đa, giếng nước, mái đình được khắc sâuvào tâm trí Những người xa quê lúc nào cũng hướng về cội nguồn và luôn ý thức phấnđấu thành đạt để làm rạng danh quê hương, không quản đóng góp công, của để xâydựng làng

Đánh giá về vai trò của làng xã cổ truyền, ngay trong Chiếu Gia Long năm 1804

đã bàn rằng: “Nước là họp các làng mà thành Từ làng mà đến nước, dạy dân nên tục, vương chính lấy làng làm trước’’ (Vũ Duy Mền, 2018, trang 13) Làng xã cổ truyền

Việt Nam luôn là đề tài có sức lôi cuốn các nhà nghiên cứu ở trong nước và học giảnước ngoài quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như: lịch sử hình thành và pháttriển làng xã, tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội làng xã…

Làng khoa bảng Cổ Định xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa là mộttrong những ngôi làng cổ nổi tiếng và lâu đời trong lịch sử Việt Nam Những phát hiện

về khảo cổ học cho thấy cách đây 2500 - 2000 năm vùng đất này đã là địa bàn cư trúcủa người Việt cổ Những tên gọi Chạ Kẻ Nứa, Giáp Cá Na, Cổ Ninh, Cổ Định đã gợi

về một một ngôi làng cổ cách đây hàng nghìn năm Vào thế kỷ thứ III, vùng đất CổĐịnh với Núi Nưa hiểm trở đã được Bà Triệu chọn làm căn cứ trong cuộc khởi nghĩachống quân Ngô năm 248; đây cũng là căn cứ của cuộc khởi nghĩa chống quân Minh

do Nguyễn Chích lãnh đạo (đầu thế kỷ XV) Làng khoa bảng là một làng đặc biệt đượchình thành từ nhiều yếu tố trong đó có những yếu tố kinh tế, chính sách phát triển giáodục, khoa cử qua các thời kỳ của nhà nước phong kiến, nhưng đặc biệt là truyền thốnghiếu học của các gia đình, dòng họ chế độ khuyến nông của làng ngôi làng khoa bảngnày còn nói ngôn ngữ rất đặc biệt Vậy làm sao trong thời kỳ phát triển hiện nay, làngkhoa bảng Cổ Định này lưu truyền được những truyền thống văn hóa được Nghiêncứu văn hóa làng Cổ Định giúp chúng ta tìm ra được những khó khăn và thách thức để

có giải pháp phù hợp đề lưu giữ văn hóa cổ truyền đó Xuất phát từ thực tiển đó tác giả

Trang 6

chọn đề tài “ Đời sống văn hóa làng khoa bảng Cổ Định (xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa)” làm đề tài tiểu luận của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa làng khoa bảng

Cổ Định Những công trình này ít nhiều đề cập đến đời sống văn hóa làng Cổ Định.Trong quá trình thực hiện tiểu luận, tác giả đã tìm đọc các tài liệu điện tử, các bộ sách

sử của các tác giả như : Đại Việt sử lược tác giả khuyết danh thời Trần; Dư địa chí (1435) của Nguyễn Trãi; Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê; Đại Việt sử ký tục biên của Nguyễn Hoàn, Lê Quý Đôn, Vũ Miên; Đại Việt thông

sử (1759) và Kiến văn tiểu lục (1777) của Lê Quý Đôn; Đại Việt sử ký tiền biên (1800)

và Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ; Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng viết vào khoảng cuối thời Gia Long (1802-1819), đầu thời Minh Mệnh (1820-1841); Khâm định Việt

sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, của Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (chính biên và tục biên) của Nội các triều Nguyễn; Lịch triều hiến chương loại chí (1809-1819) của Phan Huy Chú; Quốc triều chính biên toát yếu (đầu thế kỷ XX) của Cao Xuân Dục, Các nhà khoa bảng Việt Nam ( 1075 – 1919 ) của Ngô Đức Thọ…

Lý lịch, hồ sơ di tích lịch sử - văn hóa gồm: Hồ sơ di tích quốc gia đền thờ Hoàng giáp Lê Bật Tứ; Hồ sơ di tích Núi Nưa, Đền Nưa và Am Tiên; Lý lịch di tích lịch sử văn hóa chùa Hoa Cải; Hồ sơ di tích lịch sử văn hóa đền thờ Lê tộc công thần;

Hồ sơ di tích đền thờ Trần Khát Chân (Nghè Giáp), Hồ sơ di tích nhà thờ họ Lê Sĩ

cung cấp những thông tin về quá trình hình thành, kiến trúc, giá trị nghệ thuật của cácđình, đền, chùa, nghè, miếu ở làng Cổ Định giúp cho mỗi người hiểu rõ về quá trình

hình thành và phát triển ở làng khoa bảng Cổ Định

Tư liệu thư tịch Hán Nôm như: Địa bạ xã Cổ Định, văn bia tại đền thờ Lê Bật

Tứ, đền thờ Lê Thân, đền thờ họ Lê Sĩ, thần tích, sắc phong của dòng họ Doãn, họ LêĐình, Lê Đăng, các hoành phi, câu đối, hương ước Từ việc nghiên cứu đời sống vănhóa làng Cổ Định qua đó đưa ra những giải pháp cần thiết để góp phần bảo tồn và pháthuy giá trị văn hóa làng khoa bảng Cổ Định

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đời sống văn hóa làng khoa bảng Cổ Định xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnhThanh Hóa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Về không gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi làng Cổ Định

Về thời gian: Tiểu luận nghiên cứu từ những phát hiện đầu tiên về địa bàn cư trúcủa con người ở làng Cổ Định đến đầu thế kỷ XX, mà cụ thể hơn là từ phát hiện khảo

cổ học về thanh kiếm Núi Nưa tại làng Cổ Định có niên đại 2500 - 2000 năm cách nàynay trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài nghiên cứu đời sống văn hóa làng khoa bảng Cổ Định xã TânNinh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:

Thứ nhất: Khát quát về sự hình thành và phát triển làng Cổ Định

Thứ hai: Làm rõ đời sống văn hóa làng Cổ Định, từ đó rút ra những giải phápnhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa làng Cổ Định

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ đạo được tác giả vận dụng là phương pháp lịch sử và phươngpháp logíc để tái hiện lịch sử, thông qua các tư liệu, từ đó có những đánh giá, phântích, tổng hợp một cách khách quan và rút ra kết luận Phương pháp liên ngành,chuyên ngành được tác giả sử dụng đồng thời để nhận thức về sự vật, hiện tượng

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài này có ý nghĩa quan trong về mặt khoa học cũng như giá trị thực tiễn cao:

Về mặt khoa học: việc thực hiện đề tài sẽ đóng góp vào sự hiểu biết về cội nguồncủa làng xã, hiết biết về các giá trị của văn hóa và tầm quan trọng của nó Từ đó, đi sâulàm rõ khía cạnh đời sống văn hóa làng Cổ Định và qua đó giúp chúng ta biết cách bảotồn và phát huy các giá trị truyền thống văn hóa đó

Về mặt thực tiễn, tiểu luận có những đóng góp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu vềlàng xã Thanh Hóa trong lịch sử Việc tìm hiểu về làng Cổ Định giúp cho chúng ta tựhào về truyền thống lịch sử nơi đây, từ đó có những việc làm thiết thực để bảo tồn vàphát huy giá trị văn hóa truyền thống đó cũng như đưa ra những giải pháp phù hợp đểgiải quyết những khó khăn hiện nay

Trang 9

NỘI DUNG Chương 1 KHÁT QUÁT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG CỔ ĐỊNH (XÃ TÂN NINH, HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA)

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Làng Cổ Định cách trung tâm Thanh Hóa khoảng 20km Ngày nay địa giới hànhchính đổi thành xã Tân Ninh nhưng người ta đã quen với cái tên Cổ Định, mảnh đấtnày chứa đựng nhiều dấu ấn lịch sử, văn hóa trở thành niềm tự hào của người dân nơiđây Làng nằm bên dòng sông Lãng Giang Trong quá khứ, dòng sông này đóng mộtvai trò hết sức quan trọng trong việc tiêu úng cho cả đồng bằng ở Thanh Hóa Cho đếnnay, nó vẫn cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho người dân làng thâm canh lúa nước.Làng Cổ Định nằm ở vị trí thuộc vĩ tuyến 19o 40” vĩ độ bắc và 105o kinh độ đôngthuộc địa hình trung du Tây Nam Thanh Hoá Phía Đông Nam dựa lưng vào Núi Nưahùng vĩ, trên đỉnh núi là di tích Am Tiên được mệnh danh là một trong 3 huyệt đạo củađất nước Từ đỉnh núi nhìn về phía Đông Nam làng Cổ Định là huyện Nông Cống vànhìn qua phía tây là huyện Như Thanh Nằm ở vị trí giao điểm giữa 3 huyện Triệu

Sơn, Nông Cống và Như Thanh nên người dân trong vùng thường ví von câu “một tiếng gà gáy 3 huyện cùng nghe” là ở đây Làng Cổ Định thuộc về phía cực nam của

huyện Triệu Sơn, phía bắc giáp xã Thái Hoà, phía đông giáp xã Đồng Lợi, cùng huyệnTriệu Sơn; phía tây giáp xã Xuân Du và Mậu Lâm, huyện Như Thanh; phía nam giáp

xã Tân Thọ, huyện Nông Cống

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Đất đai, địa hình: Triệu Sơn là một huyện có dạng địa hình đồng bằng thuộc phía

Tây Nam của châu thổ sông Mã, sông Chu của tỉnh Thanh Hóa, nằm tiếp giáp với cáchuyện Đông Sơn, Như Thanh, Nông Cống, Thọ Xuân tạo thành 2 dạng địa hình cơ bảnlà: địa hình trung du - miền núi (chiếm 30,3%) và đồng bằng (chiếm 69,7%) Căn cứvào dạng địa hình trên làng Cổ Định, xã Tân Ninh được các nhà khoa học xếp vàodạng địa hình trung du - miền núi, nơi có vị trí cao nhất ở đồng bằng xứ Thanh là đỉnhNúi Nưa với độ cao 538m so với mực nước biển Dân cư chủ yếu sinh sống và làm nhàdọc hai bên bờ dòng sông Lãng Giang Làng Cổ Định nằm tiếp giáp với các huyệnđồng bằng, trung du và miền núi nên hình thành hai dạng địa hình cơ bản:

Dạng địa hình đồi núi: Phía tây của làng Cổ Định là dãy Núi Nưa (còn gọi là NaSơn) đây là ngọn núi cao nhất ở đồng bằng phía tây tỉnh Thanh Hoá, trên đỉnh núi là ditích thắng cảnh chùa Am Tiên Núi Nưa chạy dài theo hướng bắc - nam với nhữngngọn núi cao, sườn dốc và thoải dần về phía đông là vùng đồng bằng Trong các bộ

Trang 10

chính sử, Núi Nưa được ghi chép gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử của dân tộc Trong

mục Sông núi Thanh Hoá sách Nguyễn Trãi toàn tập có ghi: “Na, Tùng và Lương ở về

Thanh Hoá, Na, Tùng là hai tên núi, Lương là tên sông” Núi Na, tức Na Sơn, còn gọi

là Núi Nưa Núi Tùng, tức Tùng Sơn, nay thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, cònsông Lương tức là sông Lương Giang, ngày nay còn gọi là sông Chu Cuối thời Trần,đầu thời Lê, Lương Giang là tên một huyện của trấn Thanh Hóa vì có sông này chảy

qua Núi Nưa làng Cổ Định còn là nơi “Bà Triệu cưỡi voi đánh cồng” ở thế kỷ thứ III,

nơi tu luyện của đạo sĩ thời Trần - Hồ, nơi hò hẹn của nhiều tao nhân mặc khách Họđến với Núi Nưa để lấy cảm hứng thi vịnh, để thổ lộ tâm trạng Thế kỷ XVI, Nguyễn

Dữ vì có cảm tình nồng nàn với Núi Nưa nên đã để lại những bài thơ như: Bài Na Sơn

ca (bài ca về núi Na); Bài ca thích ngủ; Bài ca thích cờ

 Lịch triều hiến chương loại chí Phan Huy Chú viết: "Phủ Tĩnh Gia ở phía tây Thanh Hoa Huyện Nông Cống ở miền thượng du, đất liền với huyện Đông Sơn, phía tây có nhiều ngọn núi chồng chập vòng quanh, một chi nhánh núi Na Sơn chót vót đứng thẳng, trong dãy núi này có nhiều ngọn kỳ lạ, động đẹp Trên độ cao hơn 500m,

nhìn về bốn phía cảnh sắc xứ Thanh bao la hiện ra lúc tỏ, lúc mờ như một bức tranhsơn thuỷ lung linh sắc màu, biến hoá huyền ảo Từ đỉnh núi có thể nhìn thấy vùng đấthuyện Thường Xuân, Lang Chánh, xa hơn là biển Sầm Sơn Không chỉ vậy Núi Nưacòn là nơi hội tụ của hồn thiêng sông núi, quê hương của truyền thuyết người khổng lồgánh núi, xẻ đồi, Tu Nưa đấu với Tu Vồm,…

Địa hình đồng bằng: Cổ Định là vùng trồng lúa trọng điểm của huyện, có độ cao

trung bình là 10m so với mực nước biển Đất chủ yếu là các loại phù sa cổ, được bồiđắp bởi các hệ thống sông Chu, sông Mã, sông Lãng Giang Nằm ở sườn núi là các đấtbạc màu, dễ bị rửa trôi, ở những nơi có địa hình cao, độ dốc lớn, tầng canh tác mỏng,thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày và cây lâm nghiệp Nhìn chung, ởkhu vực đồng bằng của làng địa hình tương đối da dạng, trải qua hàng nghìn năm vớisức lao động cần cù của nhân dân, khiến cho đồng ruộng có thể canh tác được từ 2 đến

3 vụ trong năm, thường là 2 vụ trồng lúa và 1 vụ trồng màu như: ngô, khoai, lạc, đậu

Sông ngòi: Nằm giữa làng Cổ Định là dòng sông Lãng Giang, còn được gọi là

sông Nhơm hay sông nhà Lê Sông bắt nguồn từ rừng núi Hàm Đôn - huyện NhưXuân, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, dọc theo chân Núi Nưa về huyệnNông Cống, khi đến địa điểm Vua Bà nhập với sông Hoàng để cùng chảy vào sôngYên tại ngã ba Yên Sở Đoạn sông chảy trên địa bàn huyện Triệu Sơn, Nông Cống

có tên là sông Lãng Giang, khi qua Cầu Quan (thuộc làng Kiều Bi, xã Trung Chính,huyện Nông Cống) được gọi là sông Cầu Quan Sông chảy theo chân Núi Nưa làng

Cổ Định, qua các xã Minh Nông, An Nông, Ninh Hòa, Tân Phúc, Trung Chính, Tế

Trang 11

Nông, rồi hợp lưu với sông Hoàng Giang Làng Cổ Định nằm trong vùng có lượngmưa lớn, khi đến mùa mưa nước trên Núi Nưa đổ xuống, nên mực nước sông lên rấtnhanh và thường gây lũ lớn Do vậy, sông Lãng Giang có vai trò quan trọng tronghoạt động sản xuất nông nghiệp của làng Cổ Định và các vùng lân cận, nhất là thoát

lũ vào mùa mưa, cung cấp nước vào mùa khô hạn

Trên địa bàn Cổ Định còn có sông Hón dài khoảng 3km, nằm giáp với xã ĐồngLợi, sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và chảy vào sông Hoàng Giang Hệthống sông này có tác dụng thoát lũ và cấp nước cho sản xuất nông nghiệp của các xãnhư: Tân Ninh, Minh Châu, An Nông, Vân Sơn, Nông Trường, Tiến Nông, KhuyếnNông, Đồng Lợi (huyện Triệu Sơn) xuống xã Tân Phúc (huyện Nông Cống) Sông

Hón còn là địa danh gắn liền với sự tích “Núi Quảy, sông Cày” ở làng Cổ Định

Ngoài các dòng sông trên làng Cổ Định còn có kênh Bái Thượng được chia làmhai nhánh, chảy vào phía đông (gọi là Kênh Nam) và phía tây của làng, từ đó chảysang xã Tân Thọ (huyện Nông Cống) Sát chân dãy Núi Nưa là hệ thống các kênh rạch

tự nhiên bao gồm các khe suối, mau, hồ, như: Khe Ba Động, Mau Bãi Tráng, Mau Sở,Mau Đan Lồ,… các kênh rạch tự nhiên này đều bắt nguồn từ Núi Nưa chảy ra hòa vàodòng sông Lãng Giang rồi đổ ra biển

Khí hậu: Đặc điểm khí hậu Việt Nam mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa, với

độ ẩm lớn và thời tiết có sự thay đổi giữa các mùa Tuy nhiên, mỗi vùng Bắc Trung Nam lại có những đặc điểm riêng, hay ở cùng một tỉnh nhưng do địa hình khác nhaucũng có sự phân biệt rõ rệt Trong đó, khí hậu Thanh Hoá mang đặc điểm: thángGiêng, tháng 2, gió đông bắc, khí trời lạnh; tháng 3, tháng 4, khí nóng bắt đầu sinh,tháng 5 và tháng 6 gió nồm bắt đầu thổi mạnh, phần nhiều nóng nực; tháng 7, tháng 8

-có gió tây nam, thường xuất hiện mưa rào, bão lũ lớn; khoảng thu sang đông, thường

có gió lạnh hoặc mưa dầm, lại hay có bão nhỏ, tục ngữ nói: “tháng 9 bão rươi tháng 10bão cá”; tháng 11 và tháng 12 gió bấc, trời rét

Với khí hậu trên, nghề làm ruộng ở Thanh Hóa được chia làm các vùng, nơi gầnnúi hoặc gần biển mỗi năm cấy được một vụ vào tháng 4 tháng 5 đến mùa thu thì gặt.Còn khu vực đồng bằng, mỗi năm cấy được hai mùa, ruộng cao cấy vào tháng 6, gặtvào tháng 10, ruộng trũng cấy vào tháng chạp, gặt vào tháng 5 Lại có bãi ruộng cấyvào tháng 3 tháng 4, gặt vào tháng 7 tháng 8, gọi là lúa cạn

Khí hậu huyện Triệu Sơn được chia thành hai tiểu vùng, thuộc khí hậu trung du

và đồng bằng, trong đó làng Cổ Định mang đặc điểm tiểu vùng trung du Mùa hètương đối nóng, gió tây khô nóng, mưa nhiều Trung tâm mưa là khu vực Núi Nưa dẫnđến lụt úng cho vùng chân núi Mùa đông tương đối lạnh và rất ẩm vào thời kỳ cuối

Trang 12

mùa Thiên tai cần đề phòng là mưa lớn, gió tây khô nóng, rét đậm, sương muối,sương giá, gió bão, giông tố và lũ lụt Nhìn chung, khí hậu làng Cổ Định mang đặcđiểm chung của vùng trung du Tây Nam Thanh Hóa và được phân chia thành bốnmùa Mùa xuân thường ẩm ướt, có mưa phùn và kéo dài từ tháng 01 đến tháng 4 Thờitiết này thuận lợi cho gieo trồng, cây cối sinh trưởng Tuy nhiên, do nhiệt độ thấp vàthất thường có những ngày rét đậm, mưa phùn nhiệt độ xuống thấp đến 10oC Nhữngngày này trên đỉnh Núi Nưa có sương mù phủ kín thường vào tháng 1 Nhưng cónhững ngày nhiệt độ đột ngột tăng cao đến 30oC trời nắng oi khó chịu như ngày hè, do

đó việc trồng trọt, chăn nuôi của nhân dân gặp không ít khó khăn bởi dịch bệnh và sâu

bọ

Mùa hè thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7, đầu hè thường có mưa rào, sấmchớp rền vang Những cơn mưa thường xuất hiện vào chiều tối, buổi sáng và buổi trưatrời nắng ráo quang mây Vào tháng 5 tháng 6 thời tiết nắng gắt, có những ngày nhiệt

độ lên tới 40oC đến 42oC

Mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 10, thường gây ngập lụt ở vùng chân Núi Nưa.Sau một cơn mưa lớn người dân muốn lên Núi, hoặc từ núi về làng cũng rất khó khănbởi đường bị ngập nước, có khi cả tuần mới rút hết

Mùa đông từ tháng 11, tháng 12 năm trước và kéo dài đến hết tháng 3 năm sau.Tháng 12 thường rét đậm có khi nhiệt độ xuống 6 - 7oC, xuất hiện mưa dầm Nhìnchung, mùa đông là mùa khô ráo, rất thích hợp cho việc trồng hoa màu và các hoạtđộng sản xuất khác của nhân dân Với những đặc trưng khí hậu người dân Cổ Định đãbiết thích ứng với tự nhiên và dùng kinh nghiệm dân gian được đúc kết vào sản xuất,gieo trồng, vật nuôi được phù hợp

1.2 Qúa trình thành lập làng và sự thay đổi về địa danh, địa giới hành chính

1.2.1 Chạ Kẻ Nứa

Khi nghiên cứu về làng Cổ Định qua các nguồn sử liệu, tư liệu được biết NúiNưa là một vùng bạt ngàn nứa và cây nứa đã gắn liền với cư dân ngay từ thời khaithiên lập địa Do vậy, tên gọi Chạ Kẻ Nứa có thể được xuất phát từ sản vật của địa

phương Để khẳng định từ “Kẻ” là tên gọi xuất hiện sớm nhất của các vùng dân cư,

vùng đất cổ, địa bàn có con người cư trú, tác giả Đào Duy Anh khi nghiên cứu về vùngđất Cổ Loa đã lấy dẫn chứng làng Cổ Định: “Muốn tìm ý nghĩa chữ cổ, chúng ta hãy

so sánh tên Cổ Loa với những tên Cổ Bôn, Cổ Định,… Cổ Định là một làng ở huyệnNông Cống, tỉnh Thanh Hóa thì vốn tên tục là Kẻ Nưa (nay còn có Núi Nưa là núi ởlàng ấy), viết thành chữ Hán, rồi đến khi đặt tên chữ cho làng thì thành Cổ Ninh, sauđổi làm Cổ Định”

Trang 13

Ở vùng đất Thanh Hóa, để chứng minh về quá trình xuất hiện của làng xã có từthời các Vua Hùng, các nhà nghiên cứu còn đối chiếu những làng có từ “Kẻ” như: KẻNeo (thuộc xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân), Kẻ Đà (thuộc xã Thọ Dân, huyện TriệuSơn), Kẻ Đô (thuộc xã Thiệu Hưng, huyện Thiệu Hoá), Kẻ Bôn (thuộc xã ĐôngThanh, huyện Đông Sơn) Trên cả nước, mỗi làng xã được thành lập đều có nhữngnguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là các yếu tố: sự hình thành tự nhiên; sự hìnhthành do nhu cầu phát triển; do vương hầu quý tộc lập chiêu mộ dân cư khai khẩn lậpnên; do nhà nước thực hiện chính sách khai hoang lập đồn điền

Tài liệu dân gian thông qua chuyện kể Tu Nưa đấu với Tu Vồm hay núi Quảy sông Cày được lưu truyền rộng rãi, lâu đời ở làng Cổ Định cho hay: làng Vồm, huyện

Thiệu Hóa (nơi có di chỉ núi Đọ) có ông Tu Vồm, tài ba sức khỏe chẳng kém gì ông

Tu Nưa Tu Vồm nghe trong dân gian đồn đại về tiếng tăm của ông Tu Nưa bèn tìmvào ngàn Nưa để thách đấu Hai người tài nghệ di sơn, bạt gió thách đấu với nhaukhiến kinh thiên động địa “thần khốc quỷ sầu”, giông tố nổi lên ầm ầm Cuối cùng TuVồm thua chạy về làng Vồm, hiện nay làng Vồm (Thiệu Hoá) vẫn còn miếu thờ Ngàynay, ở làng Cổ Định vẫn lưu giữ được những tên gọi các xứ đồng, gò đống, gắn vớitruyền thuyết Tu Nưa đấu với Tu Vồm với những cái tên mộc mạc như: Cồn Lường,Cồn Đu, Cồn Sim, Cồn Bạc, Cồn Mồ, Cồn Chè, Bãi Chon, Cân Đung, Mùa Nàng,Phúc Định,… Còn trên đỉnh Am Tiên truyền thuyết kể rằng sau khi đánh thắng TuVồm, Tu Nưa lên đây sống và tu luyện Hiện nay, trên Núi Nưa vẫn còn nhiều địadanh gắn liền với truyền thuyết trên như: Giếng Tiên, Động Đào, Ao Hóp, Bàn cờ tiên,Tảng đá in chân người khổng lồ…

Những phát hiện về khảo cổ học ở vùng Núi Nưa đã góp phần củng cố thêm

nguồn tư liệu minh chứng về một ngôi làng cổ và địa bàn cư trú của con người từ thờiHùng Vương Trong quá trình khai thác mỏ Crômit, đào cải tạo hồ sen trước Đền Nưa,người dân đã tìm thấy nhiều đồ trang sức hay các công cụ lao động như: rìu đá có vaichạm khắc, khuyên tai mài trắng bóng, đều là loại đá thạch anh trên dãy Núi Nưa Xenlẫn các di vật còn có dao găm đồng, cán tạc người chống nạnh, mác hai lưỡi bằng đồngthau, và nhiều loại sành, sứ là đồ dùng trong sinh hoạt như bát, đĩa Năm 1961 ở căn

cứ khởi nghĩa của Bà Triệu tại chân Núi Nưa, làng Cổ Định, người dân đã phát hiệnđược một thanh kiếm ngắn, chất liệu bằng đồng, lưỡi dài 46,5 cm, rộng 5 cm, chuôidài 18 cm, nặng 620g, chế tác hình lá tre, cán kiếm là tượng người phụ nữ Theo cácnhà khảo cổ học thanh kiếm Núi Nưa có niên đại khoảng 2.500 - 2.000 năm cách ngàynay, thuộc thời kỳ văn hóa Đông Sơn muộn Bên cạnh các bằng chứng về khảo cổ học,nguồn tư liệu dân gian thì làng Cổ Định còn được ghi chép trong khá nhiều các bộ

chính sử, nguồn tài liệu như: Dư địa chí của Nguyễn Trãi; Đại Việt sử ký toàn thư của

Trang 14

Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê; Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ; Đại Việt sử

ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ; Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều

Nguyễn, Nội dung các nguồn sử liệu, tư liệu trên đều chép về Núi Nưa, ngọn núi bắtnguồn từ huyện Thọ Xuân, chạy qua huyện Nông Cống, Triệu Sơn nổi lên nhiều ngọn,trong đó ngọn cao nhất thuộc địa phận làng Cổ Định Đây là ngọn núi cổ ở đồng bằng

xứ Thanh, điều kiện rất thích hợp cho sự xuất hiện và cư trú của con người Ngoài ra,các bộ chính sử còn ghi chép về cuộc khởi nghĩa Bà Triệu chống giặc Ngô năm 248,chuyện người tiều phu Núi Na, đạo tu tiên,… Hiện nay, trên đỉnh Núi Nưa vẫn cònngôi chùa Am Tiên, dưới chân núi là Đền Nưa, nơi thờ Bà Triệu

Thông qua các nguồn tư liệu khảo cổ học, nguồn sử liệu, nguồn tư liệu dân gian,

các nhà nghiên cứu trong các công trình như: Đất nước Việt Nam qua các đời, Lịch sử Thanh Hóa tập 1, Địa chí huyện Triệu Sơn,… đều đưa ra nhận định Chạ Kẻ Nứa (làng

Cổ Định) là địa bàn cư trú của con người từ thời Hùng Vương Địa thế làng Cổ Định

có nhiều nét đặc sắc để được chọn làm địa bàn sinh tụ sớm của con người Núi Nưa làdãy núi cuối cùng phía đông của mạch núi kéo dài từ Tây Hiếu (Nghệ An) qua NhưXuân (Thanh Hoá) đổ về Qua các tên gọi của làng Cổ Định ở các thời kỳ, đã góp phầncủng cố thêm nhận định: Chạ Kẻ Nứa, Cá Na Giáp, rồi hương Cổ Na (nay là Cổ Định),vốn là vùng đất cổ Các tên gọi chạ, giáp, hương nói trên khẳng định quá trình hìnhthành điểm tụ cư từ rất sớm các cộng đồng cư dân trong lịch sử dựng nước và giữ nướctrên vùng đất cổ này, gợi ý niệm về các đời vua Hùng xa xưa

Như vậy, căn cứ vào thư tịch cổ, những phát hiện về khảo cổ học, nguồn tư liệudân gian, chúng ta có thể thấy rằng tên gọi ban đầu của làng Cổ Định là Chạ Kẻ Nứa.Đây là cộng đồng dân cư được hình thành sớm, địa bàn cư trú xuất hiện từ thời HùngVương

1.2.2 Giáp Cá Na

Sau cuộc khởi nghĩa Bà Triệu năm 248 chống quân Ngô ở vùng Núi Nưa thấtbại, Chạ Kẻ Nứa bị tàn phá, người dân phiêu tán khắp nơi, phải thay tên đổi họ đểtránh sự lùng sục của kẻ địch Sau này, khi quân Ngô ít chú ý đến, những người lưután mới trở về sinh sống, lập lại làng Cộng đồng lại hồi sinh, đoàn kết chặt chẽ để xâydựng làng, phát triển kinh tế, sản xuất, chiến đấu, tiếp tục truyền thống chống ngoạixâm của cha ông Trong thời Bắc thuộc, dước ách đô hộ của nhà Đường (618 - 907),với chính sách tô thuế nặng nề, hàng năm còn phải cống nạp nhiều sản vật, dẫn đến đờisống nhân dân khó khăn Năm 905, nhân lúc nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ mộthào trưởng ở Hồng Châu, tự xưng là Tiết độ sứ, đã đứng lên lãnh đạo nhân dân chốnglại ách đô hộ Sau khi lên nắm quyền tự chủ Khúc Thừa Dụ đã cho thiết lập bộ máy

Trang 15

quản lý đất nước, thực hiện cuộc cải cách hành chính chia đặt lộ, phủ, châu và xã đổiHương thành Giáp, đặt chức Quản giáp Do vậy, có thể thời kỳ này Chạ Kẻ Nứa đượcđổi là Giáp Cá Na

1.2.3 Hương Cổ Na

Dưới thời nhà Trần (1225 - 1400), năm Nhâm Dần (1242), triều đình cho sắp xếplại các đơn vị hành chính, chia cả nước làm 12 lộ Bộ máy quản lý hành chính thời kỳnày gồm phủ - lộ - trấn, huyện/châu, giáp - hương Năm Đinh Sửu (1297), nhà Trần lạiđổi giáp thành hương Do vậy, ở thời kỳ này Giáp Cá Na được đổi thành hương Cổ

Na Ở xã và sách thì đặt chức Đại tư xã và Tiểu tư xã, ngoài ra còn có các chức Xãchính, Sử giám, gọi chung là Xã quan Năm Kỷ Sửu (1397), Hồ Quý Ly bãi bỏ chứcĐại, Tiểu tư xã, Đại toát, còn chức Quản giáp vẫn đặt như cũ Năm Bính Tuất (1406),với chiêu bài “phù Trần, diệt Hồ” nhà Minh cử hai tướng Mộc Thạnh và Trương Phụchỉ huy các đạo quân sang xâm lược nước ta Cuộc kháng chiến chống Minh của nhà

Hồ thất bại, nước Đại Việt lại rơi vào ách cai trị của nhà Minh Lúc này ở vùng ThanhHoá có Nguyễn Chích, chiêu mộ thanh niên trai tráng đứng lên khởi nghĩa chống quânMinh Nguyễn Chích cho lập căn cứ ở núi Hoàng Sơn thuộc dãy núi đá Hoàng Nghiêunằm giáp giữa ba huyện Triệu Sơn, Đông Sơn và Nông Cống Hương Cổ Na nằm vị tríquan trọng, nối liền căn cứ Hoàng Nghiêu và Núi Nưa hiểm trở, từng là căn cứ củakhởi nghĩa Bà Triệu năm Mậu Thìn (248) chống giặc Ngô nên nhân dân được tôi luyệntinh thần yêu nước Mặt khác, hương Cổ Na còn là nơi cung cấp sức người, sức củadồi dào cho nghĩa quân của Nguyễn Chích

Do vậy, Trương Phụ nhiều lần đem quân đánh Nguyễn Chích nhưng đều thất bại,mới nghĩ ra quỷ kế cho tàn phá các làng xã xung quanh, nhằm triệt nguồn cung cấplương thực cho nghĩa quân và tìm cách đàn áp hoàn toàn cuộc khởi nghĩa Gia phả củacác dòng họ Lê Bật, họ Doãn cho biết thời kỳ này nhân dân hương Cổ Na bị giặc tànsát, nhiều người phải bỏ làng đi hoặc trốn vào núi rừng

Như vậy, hương Cổ Na từ 3000 người đầu thế kỷ XV, sau cuộc tàn sát của giặcMinh chỉ còn lại 13 hay 18 người Trong số những người sống sót, có Doãn Nỗ và LêLôi đã tìm đến Lam Sơn, tham gia cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi khởi xướng, chống giặcMinh ngay từ đầu Năm Mậu Thân (1428), cuộc kháng chiến chống quân Minh giànhthắng lợi, triều đình xét ban thưởng cho các công thần Khai quốc Lê Lôi, Doãn Nỗ vìlập được nhiều công lớn nên được vua ban quốc tính

Trang 16

1.2.5 Xã Cổ Định

Vương triều Lê sơ (1428 - 1527) sau gần 1 thế kỷ phát triển ổn định, đặc biệt thờivua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), nhưng đến đầu thế kỷ XVI đất nước bước vào giaiđoạn khủng hoảng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Lợi dụng tình hình ấy,năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung nổi lên giành ngôi nhà Lê, lập nên nhà Mạc.Ngay sau khi nhà Mạc được thành lập đã gặp phải sự chống đối quyết liệt của đội ngũquan lại, quý tộc triều Lê Năm Quang Tỵ (1533), trên đất Sầm Châu (Lào ngày nay),Nguyễn Kim cho lập Lê Duy Ninh (con vua Lê Chiêu Tông) lên làm vua (tức LêTrang Tông), bắt đầu sự nghiệp trung hưng diệt Mạc Vì kỵ húy tên của vua Lê DuyNinh nên xã Cổ Ninh được đổi thành xã Cổ Định Trong thời kỳ nội chiến Nam - Bắctriều, làng Cổ Định có Quan Tào Sơn tham gia vào công cuộc trung hưng nhà Lê vàđược phong đến tước Hầu Để ghi nhớ công lao của ông nhân dân làng Cổ Định đã cholập đền thờ, nằm bên dòng sông Lãng Giang Đến triều Nguyễn (1802 - 1945): Dướithời vua Minh Mệnh (1820 - 1841), do sự phát triển của dân cư, nên triều đình chothành lập thêm cấp tổng Tổng Cổ Định được thành lập vào thời kỳ này gồm 38 xã,thôn, ấp, tộc, sở, trong đó có xã Cổ Định Xét diện tích tổng Cổ Định dưới thời vuaMinh Mệnh trên bản đồ hành chính ngày nay gồm từ thị trấn Giắt, huyện Triệu Sơn,kéo thẳng xuống tới Cầu Quan, huyện Nông Cống Địa bàn tổng Cổ Định bao gồm các

xã thuộc hai bờ sông Lãng Giang, đường liên huyện Giắt - chợ Nưa - Cầu Quan vớichiều dài khoảng 20km và chiều ngang khoảng 5km

1.2.6 Xã Tân Ninh

Cuối thế kỷ XIX, làng Cổ Định là một trong những căn cứ của phong trào CầnVương ở Thanh Hóa Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn dân đã thực hiện công cuộc đấu tranh giải phóngdân tộc, làng Cổ Định thời kỳ này trở thành trung tâm hoạt động cách mạng của huyệnNông Cống Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 do Đảng lãnh đạo giành đượcthắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập Ngày 06 tháng 01 năm

1946, nhân dân Cổ Định tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp khoá I Ngày 22tháng 11 năm 1946, Chính phủ lâm thời có sắc lệnh số 63/SL-CP về việc thành lập

Trang 17

HĐND và UBND hành chính các cấp Xã Tân Ninh được thành lập gồm 2 làng CổĐịnh và Tuy Yên Đến năm 1947, xã Tân Ninh và xã Thái Hòa được sáp nhập thành

xã Ninh Hòa Năm 1953, xã Ninh Hòa lại tách thành 2 xã Tân Ninh và Thái Hòa XãTân Ninh được tái lập gồm 2 làng Cổ Định và Tuy Yên (như năm 1946) thuộc huyệnNông Cống Đến năm 1965 huyện Triệu Sơn được thành lập, trên cơ sở 13 xã củahuyện Thọ Xuân và 20 xã của huyện Nông Cống, trong đó làng Cổ Định xã Tân Ninhđược nhập vào huyện Triệu Sơn

Như vậy, làng Cổ Định có quá trình hình thành và phát triển lâu dài của cộngđồng dân cư, trong tiến trình lịch sử làng có nhiều lần thay đổi tên gọi từ Chạ Kẻ Nứa,Giáp Cá Na, hương Cổ Na, xã Cổ Ninh, xã Cổ Định, xã Tân Ninh, xã Ninh Hòa và xãTân Ninh Làng Cổ Định, qua các thời kỳ lịch sử, có sự thay đổi về địa giới hànhchính, nhưng đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX về tên làng vẫn được giữ nguyên,như làng Tuy Yên, khi được nhập cùng với làng Cổ Định để thành lập xã Tân Ninh thìhai làng này vẫn sinh hoạt riêng với một không gian địa giới riêng, mang những nétđặc trưng văn hóa riêng Do vậy, từ trước đến nay, tên làng Cổ Định vẫn là tên gọichung của cộng đồng dân cư và trong làng được chia thành 5 làng nhỏ gồm: Giáp, Ất,Bính, Đinh, Mậu Đến nay, 5 làng trên được chia thành 10 thôn gồm: Thôn Nội, thônNgoại, thôn Tuấn Thượng, thôn Hạ, thôn Đông, thôn Đoài, thôn Thượng, thôn ThanhTrì, thôn Đồng, thôn Bến Nhưng để không quên tên làng cũ các thôn vẫn lấy tên làngxưa đặt trước, rồi mới đến thôn Ví như: Nhà văn hóa làng Ất - thôn 5; Nhà văn hóalàng Bính - thôn 6 Nhưng bao trùm lên các làng và thôn nói trên, nhân dân vẫn gọi vớitên chung là làng Cổ Định

Trang 18

Chương 2 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA LÀNG CỔ ĐỊNH (XÃ TÂN NINH, HUYỆN

TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA) 2.1 Tín ngưỡng, tôn giáo

2.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Trong các gia đình dù giàu hay nghèo, dân tộc Kinh hay các dân tộc ít người đều

có tục lệ thờ cúng tổ tiên, bởi họ tin rằng: “Tổ tiên sinh ra ông bà, ông bà sinh ra cha

mẹ, cha mẹ sinh ra mình Người con hiếu thảo sẽ biết ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ

và đã hiếu với cha mẹ phải hiếu với ông bà tổ tiên tức là nguồn gốc của mình” Thờcúng tổ tiên là một bộ phận của ý thức xã hội, là một loại hình tín ngưỡng dân gianđược hình thành từ thời nguyên thủy trong chế độ thị tộc phụ quyền Đó là sự biết ơn,tưởng nhớ và tôn thờ những người có công sinh thành, tạo dựng, bảo vệ cuộc sốngnhư: cha mẹ, ông bà, cụ, kỵ, tổ sư, tổ nghề, thành hoàng, tổ nước Vì vậy, thờ cúng tổtiên là việc trọng đại của mỗi gia đình nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung.Thờ cúng tổ tiên còn là sự thể hiện đạo lý kính trọng của thế hệ sau đối với thế hệ

trước, con người Việt Nam luôn hiểu rằng đó là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” hay

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Chính vì vậy, trong mỗi gia đình của người Việt dù lớn

hay nhỏ đều có ban thờ tổ tiên và thường được đặt ở những vị trí trang trọng, tônnghiêm nhất trong nhà

Như bao làng quê truyền thống khác, tục thờ cúng tổ tiên ở làng Cổ Định đã trởthành một tín ngưỡng phổ biến, sâu sắc trong đời sống nhân dân Đây còn là việc làmthể hiện đạo lý, lòng biết ơn của con cháu đối với các bậc sinh thành Do vậy, ngườidân Cổ Định rất coi trọng việc thờ cúng tổ tiên, ở mỗi gia đình ban thờ gia tiên dù lớnhay nhỏ cũng được đặt ở vị trí trang trọng nhất Trong kiến trúc của ngôi nhà củangười Việt truyền thống xưa thường 3 gian 2 chái hay 5 gian 2 chái thì gian chính

Trang 19

giữa, trên cao thường là nơi đặt bàn thờ gia tiên và bài trí rất trang nghiêm Trong giađình mỗi khi có những việc hệ trọng như: cưới vợ, gả chồng cho con, sinh con, làmnhà, thi cử, đi xa… đều làm lễ cáo với gia tiên để cầu mong được phù hộ giúp đỡ.

Hoặc những người đỗ đạt khi “công thành danh toại” cũng đều có lễ tạ ơn, báo đức

với tổ tiên Ngoài ra, theo định kỳ vào những ngày tuần tiết, ngày giỗ, tết con cháuthường không quên làm mâm cơm, thắp nén hương mời ông bà tổ tiên Đặc biệt, vàongày giỗ (còn gọi là ngày kỵ) của bố mẹ, ông bà, các con cháu thường tụ họp để làmmâm cơm cúng, thể hiện tấm lòng thành của người sống với người đã khuất Nhưthường lệ ở các gia đình, gia tộc vào trước ngày giỗ vài hôm, con cháu tề tựu đông đủ(nhà con trưởng hay tộc trưởng), lên kế hoạch chuẩn bị, người nhiều người ít tùy tâmđóng góp để buổi giỗ được chu đáo, kỹ càng hơn Vào những ngày này con cháu dù ở

xa hay gần cũng nhớ ngày về, thắp lên ban thờ tổ tiên nén hương thơm để bày tỏ tấmlòng thành của mình Những người ở xa hay có công việc không về được cũng thườngcúng vọng chứ không bỏ giỗ Ngoài ngày cúng giỗ việc thờ cúng tổ tiên còn được tiếnhành đều đặn mỗi tháng hai lần vào ngày sóc - vọng (mồng một và ngày rằm), tếtthượng nguyên (15/1 âm lịch), trung nguyên (15/7 âm lịch), tết đoan ngọ (5/5 âm lịch)các gia đình đều thắp lên bàn thờ ông bà tổ tiên nén hương

Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một nét văn hóa truyền thống của dân tộcViệt Nam nói chung và làng Cổ Định nói riêng Chính trong cái nôi ban đầu các gia

đình, dòng họ đã nuôi dưỡng, giáo dục con cháu biết sống “Kính trên nhường dưới”

và “sống biết trọng đạo lý”, từ đó hình thành nên truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt

Nam

2.1.2 Đình làng với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng

Tục thờ Thành hoàng làng hay Thần hoàng ở nước ta là do ảnh hưởng từ văn hóaTrung Hoa truyền sang từ thời Đường Tuy nhiên, trước khi có tục thờ Thành hoàngnhân dân ta đã có tín ngưỡng dân gian Thờ Thành hoàng là phong tục tập quán củadân tộc Việt Nam, ở mỗi làng xã truyền thống đều có đình, nơi thờ Thành hoàng làng

và sinh hoạt của cộng đồng làng xã Đối tượng được thờ (Thành hoàng) tương đốiphong phú bao gồm: nhân thần, nhiên thần là những người có công lập làng hoặc bảo

vệ phù hộ cho nhân dân trong làng Trong mỗi cá nhân, gia đình, đình làng có một vịtrí rất thiêng liêng, các thành viên trong làng mỗi khi có việc hệ trọng trong đời từchuyện vui đến chuyện buồn, đều phải có cơi trầu, chai rượu đến yết kiến Thành hoànglàng và xin quẻ trình thần trước rồi mới trình làng và sau đó mới tiến hành công việccủa bản thân Nếu như việc thờ cúng tổ tiên, hay các tín ngưỡng khác chỉ là công việccủa cá nhân, gia đình, cao hơn nữa là dòng họ thì nghi lễ thờ Thành hoàng làng được

Trang 20

xem là công việc chung của cả cộng đồng và được các thành viên trong làng tham gia

với tinh thần trách nhiệm

Hương ước làng Cổ Định – Kẻ Nưa ghi rõ: Làng vốn là một khối thống nhất từxưa do 10 vị tiên công khai phá đất đai dựng lên làng mạc, không có điền địa ranh giớiriêng lẻ, sống hỗn cư, hỗn canh, cùng một tập quán, phong tục Làng có 5 khu, 10 xómđều sử dụng chung một hương ước của làng Ít ai biết được rằng, trước đây, có 10thôn, xóm thì mỗi thôn đều có một ngôi đình như: đình làng Đài, đình làng Nội, đìnhlàng Ngoại, đình làng Thượng, đình làng Hạ, đình làng Đồng Nhân vật được thờ ở cácngôi đình làng Cổ Định là nhân thần, những người có công khai khẩn ruộng đất lậplàng, gồm 10 người (thập vị tiên công) thuộc 8 dòng họ: Lê, Hứa, Nguyễn, Hoàng,Doãn, Phan, Ngô, Trịnh Tuy nhiên, những năm chiến tranh chống thực dân Pháp và

đế quốc Mỹ, các ngôi đình trên đều bị tàn phá Mặt khác, trong thời kỳ thực hiện chínhsách cải cách ruộng đất nhiều ngôi đình bị dỡ bỏ để sử dụng vào mục đích làm nhà khocủa Hợp tác xã hay trường học Hiện nay, làng Cổ Định chỉ còn giữ được diện tíchkhuôn viên ngôi đình làng Đài và đang cho xây dựng lại, còn các ngôi đình khác diệntích đất đã được chính quyền địa phương phân cho nhà dân ở, hay sử dụng để xây cáccông trình trường học, nhà văn hóa Các ngôi đình bị phá bỏ thì những hiện vật, tàiliệu thành văn đến nay không còn, do vậy việc nghiên cứu về cấu trúc và xác định thờigian xây dựng của những ngôi đình cổ xưa hầu như là không thể Giữa bức tranh làngquê nhuốm màu thời gian ấy sự tồn tại của đình làng Đài tựa hồ như một nét chấm phámộc mạc, giản dị mà gần gũi, thân thương:

Đình Làng Đài thuộc làng Bính (nay thuộc thôn 6) đây là ngôi đình duy nhất củalàng Cổ Định đến nay vẫn giữ được nền móng cũ Đình nằm ở vị trí sơn thủy hữu tình,phía trước là dòng sông Lãng Giang, phía sau xa xa là dãy Núi Nưa Đình làng là nơisinh hoạt của người dân làng Đài thuộc các dòng họ Lê Bật, họ Ngô, họ Trương.Trước đây, làng Cổ Định được chia thành nhiều làng nhỏ (gồm 5 làng, 10 thôn), dovậy mỗi làng thường có một ngôi đình riêng Đình Làng Đài ngoài chức năng là nơisinh hoạt văn hóa, hội họp của dân làng còn có chức năng thờ các vị tiên công khaikhẩn thành lập làng Qua các nguồn tư liệu được biết đình thờ 10 vị Thành hoàng, tứcthập vị tiên công, những người khai khẩn lập làng thuộc 8 dòng họ (Lê, Hứa, Nguyễn,Hoàng, Doãn, Phan, Ngô, Trịnh)

Theo nguồn tư liệu dân gian đình được dựng vào năm Nhâm Thân (1632), do ông

Lê Khả Giáo, tước Khánh Xuyên bá con trưởng của Hoàng giáp Lê Bật Tứ khi làmquan ở trấn Sơn Nam về xây dựng Sau khi dựng đình ông còn cho trồng trước cửa haicây gạo và mở chợ vào ngày 2 tết trước cổng Đình, nên nhân dân thường gọi là chợ

Trang 21

Đình làng Đài với mong muốn cảnh vật đông vui nhộn nhịp, mở mang văn hoá cholàng Theo các cụ cao niên trong làng cho biết ở đình trước đây có đôi câu đối

Phiên âm: Hầu tộc phong tư, danh ngũ giáp thập thôn kim cổ

Bách gia cảnh vật, thắng Na Sơn, Lãng thuỷ cao thanh

Tạm dịch: Phong tư của họ, 5 giáp nổi danh 10 thôn còn mãi

Cảnh vật trăm nhà, Núi Nưa thắng cảnh, sông Lãng xanh trong.

Trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đình đã bị dỡ để lấy gỗ làmcầu và làm trường học Sau nhiều năm ngôi đình bị bỏ quên và trở thành phế tích Đếnnay để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, đình đang được nhân dân và dòng họ LêBật cho xây dựng lại, trên nền đất cũ Trong một năm chợ Đình họp duy nhất mộtngày vào ngày mùng 2 tết Lệ này được quy định từ thế kỷ XVII, đến nay trải qua 4thế kỷ vẫn được nhân dân duy trì thường xuyên Ngày họp chợ, khách thập phương xagần tham dự rất đông đảo

2.2 Giáo dục khoa cử Nho học

Giáo dục khoa cử Nho học làng Cổ Định tính từ người khai khoa Lê Thân đỗBảng nhãn khoa Kỷ Hợi (1299), dưới đời vua Trần Thánh Tông, đến người đỗ Cửnhân cuối cùng là Lê Trọng Nhị, niên hiệu Thành Thái thứ 15 (1903) Như vậy, làng

có lịch sử khoa cử 604 năm Qua khảo cứu nguồn sử liệu, tư liệu văn bia, địa bạ, có thểkhẳng định Cổ Định là một trong những làng có truyền thống hiếu học, khoa bảng nổibật ở xứ Thanh dưới các triều đại quân chủ Việt Nam

2.2.1 Những người đỗ đại khoa

Dưới thời quân chủ, thống kê từ các kỳ thi Nho học tỉnh Thanh Hóa có 206 người

đỗ Tiến sĩ, huyện Triệu Sơn có 16 người đỗ Tiến sĩ, trong đó làng Cổ Định có 9 ngườithi đỗ Kết quả khoa cử cho thấy truyền thống khoa cử làng Cổ Định là một trongnhững điểm nổi bật của huyện Nông Cống xưa, huyện Triệu Sơn ngày nay

1 Lê Thân (1253-1340): 1tự là Lương Hòa, thụy Mộ Đức, sinh ra trong một giađình nhà nho ở hương Cổ Na Ông là người thông minh, tài trí, năm 10 tuổi đã thônglàu kinh sử, năm 18 tuổi thi Hương đỗ đầu Khoa Kỷ Hợi (1299) ông thi đỗ Bảng nhãn

và là người khai khoa của huyện đỗ vào bậc tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn,

1 Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919 không thấy chép tên ông và khoa thi năm Kỷ Hợi (1299), tuy nhiên căn cứ vào ghi chép trong Đăng khoa lục Thanh Hóa, Gia phả dòng họ Lê, văn bia

tại đền thờ Lê Thân, đề thờ Hoàng giáp Lê Bật Tứ, Địa chí Thanh Hóa, tập 4 - Nhân vật chí, cũng như

nội dung của các đôi câu đối cổ tại mộ và đền thờ Luật quốc công Lê Thân đều khẳng định ông đỗ vào

kỳ thi năm 1299 và là người khai khoa của huyện Nông Cống xưa (nay thuộc huyện Triệu Sơn)

Trang 22

Thám hoa) Sách Đăng khoa lục Thanh Hóa thì cho biết cụ thể hơn về khoa thi năm

Kỷ Hợi (1299), Thanh Hóa có 2 người đỗ đại khoa là Đào Thục, người huyện ĐộngSơn, đỗ Trạng Nguyên và Lê Thân, người xã Cổ Định, huyện Nông Cống, đỗ Bảngnhãn

2 Doãn Bang Hiến (1272-1332): ông là con trai cụ Doãn Đăng Hòa và bà Nguyễn Thị Uyển Năm 22 tuổi Doãn Bang Hiến thi Hương đỗ Tứ trường Năm Giáp

Thìn (1304), niên hiệu Hưng Long thứ 12, đời vua Trần Anh Tông thi đỗ Tiến sĩ, được

bổ nhiệm Hàn lâm Hiệu lý Đến năm 1312, ông được thăng Tả thị lang bộ Hình Năm

1314, vua Trần Minh Tông thăng cho làm Thượng thư bộ Hình, được đặc phong Thiếu

bảo Năm 1322, Doãn Bang Hiến với cương vị Thượng thư bộ Hình, được triều đình

chọn làm Chánh sứ sang nhà Nguyên tranh biện việc biên giới

3 Doãn Đình Tá 2 : tên húy là Tuấn, ông thi đỗ đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất

thân khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống 2 (1499) đời vua Lê Hiến Tông, làm quanđến chức Hiến sát sứ Về sự nghiệp và hành trạng của ông thì không thấy các nguồn sửliệu ghi chép

4 Lê Bật Tứ (1562-1627): Ông thi đỗ Đệ Nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)

khoa Mậu Tuất niên hiệu Quang Hưng 21 (1598) đời vua Lê Thế Tông, làm quan đếnchức Thượng thư bộ Binh, hàm Thiếu bảo, tước Diễn Gia hầu Khi mất được truy tặngThái bảo, tước Diễn quận công, tên được khắc trong bia đá ở Văn Miếu - Quốc TửGiám (Hà Nội), bia số 1545, tạc năm Thịnh Đức thứ 1 (1653), ghi rõ 4 người đỗ đạikhoa

5 Lê Nhân Kiệt (1635 - ?): Năm 27 tuổi ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ

xuất thân khoa Tân Sửu niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 4 (1651) đời vua Lê Thần Tông Làmquan đến chức Hình khoa Đô cấp sự trung, tước Nam Ngoài các nhân vật được ghi

chép ở các công trình khoa bảng, gia phả của dòng họ, thì căn cứ vào văn bia - Lê tướng công từ bi tại đền thờ Hoàng giáp Lê Bật Tứ cho biết, ngoài Lê Bật Tứ dòng họ

còn có 5 người đỗ Tiến sĩ gồm: Cụ tổ đời thứ 8 là Duy Thúc (tức Lê Duy Thúc), đỗTiến sĩ dưới triều Trần, làm quan đến chức Ngự sử Trung thừa Nhập nội Hành khiển,Chưởng Kim ngư, tước ấm đến Quan Nội hầu; người em ông tổ đời thứ 8 tên húy làDuy Xứ (tức Lê Duy Xứ) thi đỗ Tiến sĩ, người em rể ông tổ đời thứ 8 là Lê Thân thi

đỗ Bảng nhãn; Ông tổ đời thứ 7 tên húy là Vô Trụ thi đỗ Tiến sĩ, làm quan đến chức

An Phủ sứ lộ Lạng Sơn; Ông tổ đời thứ 6 tên húy là Hanh Phủ thi đỗ Tiến sĩ, làm quanđến chức chuyển vận sứ huyện Thanh Đàm (nay là huyện Thanh Trì, Hà Nội)

2 Doãn Đình Tá: Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919 chép ông đỗ Tiến sĩ, do vậy gia phả

họ dòng họ Doãn làng Cổ Định, tr 9 cho biết, ông sinh năm Tân Sửu (16011666), thi Hương đậu tứ trường, năm 25 tuổi thi Hội đỗ Tiến sĩ năm Đinh Dần (1626), làm quan thăng trải đến chức Hiến Sát

sứ, là có sự nhẫm lẫn

Trang 23

Trong các nhân vật khoa bảng được khắc ở văn bia thì Lê Thân được chép ở sách

Đăng khoa lục Thanh Hóa, Lê Duy 3 không thấy ghi chép ở các công trình khoa cửnhưng được khá nhiều các bộ chính sử ghi chép về sự kiện ông ra làm quan phụng sựcho triều Trần, Lê Bật Tứ là một trong những bậc đại thần dưới triều Lê Trung hưng,được ghi chép ở các công trình khoa cử hay thư tịch

Bảng 4.1: Thống kê số người đỗ đại khoa của làng Cổ Định

Stt Tên người đỗ Khoa thi Đại khoa Ghi chú

Nhãn

Bật Tứ

6 Doãn Bang Hiến

(Hài)

Giáp Thìn(1304)

Tiến sĩ Hợp phả họ Doãn

7 Doãn Đình Tá Kỷ Mùi 1499 Tiến sĩ

8 Lê Bật Tứ Mậu Thìn 1598 Tiến sĩ

9 Lê Nhân Kiệt Tân Hợi 1661 Tiến sĩ

Nguồn: 1 Cao Xuân Dục: Quốc triều Hương khoa lục, sdđ

2 Ngô Đức Thọ: Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919, sdd

3 Ngô Đức Thọ ( dịch ): Thu tỷ đề danh ký ( Đăng khoa lục Thanh Hóa ), sdd

4 Văn bia đền thờ Hoàng giáp Lê Bật Tứ

2.2.2 Những người đỗ trung khoa, tiểu khoa

Ngoài những người đỗ Tiến sĩ, ở làng Cổ Định còn có những Nho sĩ thi đỗ ở cácbậc Hương cống (dưới triều Lê Trung hưng), Cử nhân (dưới triều Nguyễn), Tú tài như:

1 Lê Đình Nghị, thi đỗ Hương cống khoa Ất Dậu, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 1

(1705) đời Lê Dụ Tông

2 Lê Tung, thi đỗ Hương cống khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 1

(1729), đời Lê Duy Phường, khoa thi này lấy đỗ 60 người

3 Về nhân vật Lê Duy sách: Đại Việt sử kí tiền biên, tập 2, tr 423 cho biết ông tham gia triều chính:

Bấy giờ các quan trong triều như Trần Thì Kiến (Hiến), Đoàn Nhữ Hài, Đỗ Thiên Hư, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Dũ, Phạm Mạ, Phạm Ngộ, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Lê Duy, Trương

Hán Siêu, Lê Cư Nhân kế tiếp nhau về triều Ngô Thì Sĩ cho biết cụ thể thêm là: “Lê Duy người Cổ

Định huyện Nông Cống”

Ngày đăng: 03/07/2023, 15:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (1990), Lịch sử Thanh Hóa (tập 1), Nxb Khxh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Thanh Hóa (tập 1)
Nhà XB: Nxb Khxh
Năm: 1990
2. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2000), Tên làng xã Thanh Hóa, (tập 1), Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xã Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2000
3. Đào Duy Anh (1992), Hán Việt từ điển, Nxb Khxh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khxh
Năm: 1992
4. Đinh Xuân Lâm (2012), Kẻ Nưa – Nông Cống (Thanh Hóa), đất phát tích của dòng họ Doãn trong lịch sử dân tộc, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3, tr 3-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kẻ Nưa – Nông Cống (Thanh Hóa), đất phát tích của dòng họ Doãn trong lịch sử dân tộc
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Năm: 2012
5. Hoàng Thị Thanh Bình (2011), bài văn bia về hành trạng nhà khoa bảng Lê Bật Tứ, tạp chí nghiên cứu Hán Nôm, số 3 (106), tr 60-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bài văn bia về hành trạng nhà khoa bảng Lê Bật Tứ
Tác giả: Hoàng Thị Thanh Bình
Nhà XB: tạp chí nghiên cứu Hán Nôm
Năm: 2011
6. Lê Đình Cảnh (Cb) (2015), Cổ Định – Tân Ninh làng quê văn hiến, Nxb, Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ Định – Tân Ninh làng quê văn hiến
Tác giả: Lê Đình Cảnh
Nhà XB: Nxb
Năm: 2015
7. Ngô Sỹ Liên và các sứ thần triều Lê (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb Khxh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Ngô Sỹ Liên
Nhà XB: Nxb Khxh
Năm: 1993
8. Nguyễn Dữ (2001), Truyền kỳ mạn lục giải âm, Trung tâm Khxh và nhân văn quốc gia – viện nghiên cứu Hán Nôm (dịch), Nxb Khxh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ mạn lục giải âm
Tác giả: Nguyễn Dữ
Nhà XB: Trung tâm Khxh và nhân văn quốc gia – viện nghiên cứu Hán Nôm
Năm: 2001
9. Nguyễn Duy Hinh (2004), Thần làng và thành hoàng, tạp chí di sản văn hóa, số 9, tr 56 – 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần làng và thành hoàng
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: tạp chí di sản văn hóa
Năm: 2004
10. Ngô Đức Thọ (2016), Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 – 1919), Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 – 1919)
Tác giả: Ngô Đức Thọ
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 2016
11. Phan Huy Lê (1959), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 2, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 2
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1959
12. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí, tập I
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2007
13. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, (tập 2), Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm định Việt sử Thông giám cương mục
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1998
14. Toan Ánh (1991), Phong tục Việt Nam (tục thờ cúng tổ tiên), Nxb Khxh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam (tục thờ cúng tổ tiên)
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Khxh
Năm: 1991
15. Trần Trọng Kim (2010), Việt Nam sử lược, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử lược
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2010
16. Vũ Duy Mền (2010), Hương ước cổ làng xã đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước cổ làng xã đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Vũ Duy Mền
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
w