Chương 2: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA LÀNG CỔ ĐỊNH (XÃ TÂN NINH, HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA)
2.2 Giáo dục khoa cử Nho học
2.3.1 Di tích thắng cảnh Núi Nưa – Đền Nưa – Đền Am Tiên
Triệu Sơn là vùng đất có bề dày lịch sử - văn hóa, đặc biệt có danh thắng và di tích lịch sử như Nghè Giáp, Phủ Hồ, Đảo Cò. Tọa lạc trên đỉnh Ngàn Nưa, xưa kia thuộc làng Cổ Định, xã Tân Ninh nay là thị trấn Nưa, huyện Triệu Sơn, quần thể di tích quốc gia Núi Nưa – Đền Nưa – Đền Am Tiên địa danh nổi tiếng thu hút du khách bốn phương vì là nơi vừa thờ Bà Triệu vừa là một trong ba huyệt đạo được xem là linh thiêng bậc nhất nước Nam.
Núi Nưa: Là tên nôm mà dân gian thường gọi còn tên chữ được các nguồn sử liệu ghi chép là Na Sơn, nằm cách Thành phố Thanh Hóa khoảng 10 km theo đường chim bay. Khu vực Núi Nưa là vùng đất thiêng và huyền bí, một vùng đất cổ, cảnh sắc đẹp, nơi gặp gỡ của những bậc tao nhân, họ đến với đây để lấy cảm hứng làm thơ bộc bạch tâm trạng. Các bộ chính sử ghi chép về núi Nưa với đạo tu tiên, người ẩn sĩ thời Hồ, chuyện về người tiều phu Núi Na.
Núi Nưa từ lâu còn được xem là chủ sơn ở đồng bằng xứ Thanh, sách Thanh Hóa tỉnh chí miêu tả như sau: “Mạch núi từ huyện Thọ Xuân thời cổ mà đến, sườn núi quanh co suốt mấy chục dặm, đến đây mọc lên núi đá, chỗ um tùm và cao nhất tức chỗ núi ấy. Phía ngoài có sông nhánh hợp lưu, giữa có động, thể núi trắc trở và sâu thẳm”;
Sách Truyền kỳ mạn lục miêu tả về Núi Nưa với những cảnh sắc đẹp và huyền ảo “Đất Thanh Hóa phần nhiều là núi, bát ngát bao la đến mấy nghìn dặm. Trong đó có một ngọn cao chót vót, tên gọi là Núi Nưa. Núi có cái động, dài mà hẹp, hiểm trở mà quạnh hiu, bụi trần không bén tới, chân người không bước tới”. Theo người dân kể lại, di tích lịch sử Am Tiên gắn với cuộc khởi nghĩa Bà Triệu chống quân Ngô vào năm 248.
Xung quanh vùng núi Nưa vẫn còn lưu truyền nhiều địa danh gắn liền với căn cứ kháng chiến của Bà Triệu như: Gò đống thóc (nơi để kho lúa của nghĩa quân), Đồng
Kỵ (nơi nuôi ngựa chiến của nghĩa quân). Đỉnh Am Tiên còn có mạch nước ngầm trong vắt, kỳ lạ thay nước có ở đỉnh núi nhưng lại không bao giờ cạn, mưa to nước không đầy, tạo thành một cái giếng rất tự nhiên nên người dân địa phương gọi là giếng Tiên. Tương truyền, đây là giếng chỉ dành riêng cho Bà Triệu lấy nước rửa mặt mỗi khi xuất trận. Các cụ cao niên trong xã Tân Ninh cũng không biết giếng Tiên có từ bao giờ, chỉ biết giếng sâu khoảng 3m, miệng rộng 2,5m, hằng ngày khách lên đây tham quan đều mang can to, can nhỏ lấy nước về thờ cúng Tổ tiên hoặc dùng rửa mặt thì thấy thoải mái, thanh tịnh tâm hồn. Bên cạnh giếng Tiên còn có lầu Cô, lầu Cậu. Du khách lên đây lấy nước, ai cũng cầu nguyện cho gia đình làm ăn phát đạt, sinh con theo mong muốn… Ngoài ra, ở một bãi đất rộng trên đỉnh núi Nưa (cao 540m so với mực nước biển), mới đây các nhà ngoại cảm phát hiện một huyệt đạo thiêng gọi là
“huyệt khí quốc gia” ở đỉnh núi Nưa này (đất nước ta có 3 huyệt đạo thiêng: một là núi Đá Chông (Ba Vì, Hà Nội); hai là ở núi Bà Đen (Tây Ninh); ba là huyệt đạo ở đỉnh núi Nưa, tỉnh Thanh Hóa). Đây là nơi giao hòa, đắc địa của trời đất, lãnh đạo, nhân dân các địa phương thường lên đây thắp hương cầu cho quốc thái dân an, cầu lộc, cầu tài.
Đền Nưa: Tên chữ là Na Sơn, nằm ở chân Núi Nưa, trên con đường từ làng Cổ Định lên núi. Đây là ngôi đền thờ Bà Triệu (tức Lệ Hải Bà Vương mà dân gian vẫn thường gọi là đền Đức Vua bà hay Chúa Ngàn Nưa). Đền tọa lạc theo hướng đông - nam, một vị trí cao đẹp, phía trước có hệ thống ao, hồ tự nhiên. Tương truyền ban đầu chỉ là một bệ đá thờ, trên có bát hương đơn sơ bằng ống bương, thờ người mẹ Ngàn Nưa: “Sơn trang thượng ngàn - Thiên tiên thánh mẫu”, theo lời sấm truyền về phong thủy có câu “Na Sơn thất phiến, nhất hô vạn biến”, ứng vào người con gái họ Triệu tên là Trinh Nương dấy cờ khởi nghĩa năm 248 và sau mất ở núi Tùng (huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) khi mới 23 tuổi. Sau này Bà Triệu được vua Lý Nam Đế ngợi khen:
“Bậc chính oanh liệt, hùng tài trinh thất phu nhân”, còn người dân Kẻ Nưa gọi bà là
“Lệ Hải Bà Vương” (bà vua đẹp xứ đồng bể). Tỏ lòng kính trọng đối với Bà, nhân dân đã cho lập đền thờ ở chân Núi Nưa, với mong muốn bà phù hộ cho dân làng mỗi lần lên rừng, hay cầu cho mùa màng tươi tốt.
Đến thời vua Tự Đức đền được tu sửa lại theo dấu tích của đền gồm 5 gian tiền đường, 3 gian hậu cung hợp lại thành chữ Đinh. Chuyện kể vào thời kỳ này có viên tri huyện Nông Cống tên là Cao Bá Đạt vì cúng lễ chu đáo, nên được Bà - vị chúa Ngàn Nưa phù hộ đã săn được hươu trong rừng để tiến vua, nhân đó mới tâu lên triều đình về tình trạng ngôi Đền Nưa bị tàn phá, hoang phế nhưng vẫn được nhân dân cầu cúng rất đông trước khi vào rừng, lên núi. Vì vậy, triều đình đã cho lấy công quỹ 1.200 quan tiền dựng đền, sau đó vị nữ thần nơi đây được phong là Thượng đẳng thần với duệ
hiệu là: “Đệ nhất Thiên tiên thánh mẫu, sơn trang thượng ngàn bạch y công chúa, Lệ Hải Đại Vương Ngọc bệ hạ”. Dựng đền xong, Cao Bá Đạt còn có bài thơ đề về Hòn đá bia. Trong những năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ, Hòn đá bia và các kiến trúc thời Nguyễn ở ngôi đền này đã bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn lại Nghinh môn với kiến trúc bốn tầng mái bề thế vẫn khá nguyên vẹn. Theo các cụ cao niên trong làng cho biết, năm 1926, vua Bảo Đại đến đây vãn cảnh, sau đó đã cho các nghệ nhân ở Huế ra tu bổ lại toàn bộ phần mái nên mới có kiến trúc giống Nghinh môn ở Huế.
Đền Nưa đến nay còn nguyên vẹn kiến trúc Nghinh môn thời Nguyễn, có chiều cao 14m, rộng 13,5m, nhưng khi làm đường do nâng mặt bằng nên tầng 1 bị lấp mất 1,5m. Hiện tại chiều cao của Nghinh môn là 12,5 m; hai cửa bên tả, hữu rộng 1,7m, cao 4,2m, cửa chính rộng 3,2m và cao 4,8m, gồm 4 tầng mái và 16 tầu đao được làm theo kiểu Nghinh môn của các lăng tẩm ở Huế nên rất bề thế mà không kém phần uyển chuyển. Mặt trước và mặt sau được trang trí bằng những bức tranh sơn thuỷ, rồng hoa lá, cá hoá long, cúc dây và hoa văn hình chữ thọ… Phía trước Nghinh môn, hai bên tả, hữu có hai tượng hổ chầu vào giữa. Trên hai cửa phụ là bức phù điêu tả cảnh nhà trên núi để nói về sự tích Am Tiên (gọi là tranh tiều phu trên núi). Các cửa Nghinh môn đều được xây theo kiểu cuốn vòm. Trên tầng hai có gác treo chuông, tầng 3, tầng 4 bịt kín, đắp tranh phù điêu. Ở các cột đều được đắp chữ Hán, nội dung nói về cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, tả cảnh Núi Nưa. Nhìn chung, đây là một công trình có kiến trúc độc đáo, nó làm tăng giá trị thẩm mĩ, cổ kính của di tích, đồng thời cũng là kiến trúc Nghinh môn tiêu biểu dưới thời Nguyễn còn lại trên đất Thanh Hóa. Hiện nay, về kiến trúc ngôi Đền Nưa không còn nhưng căn cứ vào dấu vết mặt bằng cũ và theo sự mô tả của các vị cao niên trong làng thì quy mô của đền ở thời Nguyễn khá bề thế. Đền có kiến trúc theo kiểu chữ Đinh gồm 5 gian Tiền đường, 3 gian Hậu cung, tuy nhiên trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều bị phá.
Năm 1993, chính quyền và nhân dân làng Cổ Định, xã Tân Ninh đã góp công sức khôi phục lại di tích. Xã Tân Ninh sưu tầm được ngôi nhà cổ có niên đại năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), (theo chữ Hán khắc ở thượng lương) để dựng lên trên nền móng nhà tiền đường cũ gồm 5 gian, bít đốc; cấu trúc vì kèo làm theo kiểu kèo suốt trụ trốn.
Mỗi vì kèo có 4 hàng chân cột, tất cả có 4 cột cái, 8 cột quân, 4 cột hiên. Hoa văn ở các đầu quá giang và các kẻ bẩy hình lá cúc cách điệu. Nối liền với nhà tiền đường là hậu cung dài 5,4m; rộng 4,2m. Các hiện vật cổ trong đền do chiến tranh tàn phá hầu như không còn giữ được, ngoài ngôi tượng cổ Bà Triệu được đắp, nặn bằng bột giấy, mật mía, sau đó quét màu và ba pho tượng Tam tòa thánh mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải), cùng một số hiện vật do nhân dân thu lượm được nay đem trả lại. Khu di tích quốc gia Đền Nưa – Am Tiên mặc dù qua trùng tu tôn tạo
nhưng vẫn giữ nét hoang sơ cổ kính giữa núi rừng điệp trùng nơi giao thoa giữa đất và trời. Từ trên đỉnh núi nơi trung tâm huyệt đạo linh thiêng, du khách có thể phóng tầm mắt xa khắp bốn phương ngắm những con đường uốn lượn, những thửa ruộng mảnh vườn xanh mướt cùng xóm làng trù phú miên man bao quanh chân núi.