Thời phong kiến độc lập có các dạng làng mới được thành lập làng khai canh, làngbiệt triện… * Ý kiến thứ hai: Làng Việt được hình thành trong quá trình liên hiệp gắn kết với nhau chống t
Trang 1LÀNG XÃ VIỆT NAM
Lớp học phần: 2211LITR191201 Nhóm: Mưa nắng thất thường
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC LỊCH SỬ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
1.4 Nguồn gốc lịch sử và quá trình phát triển 5
4.1 Tín ngưỡng - tôn giáo trong làng xã cổ truyền Việt Nam 28
4.5 Ý nghĩa tích cực và hạn chế của tính tự trị và tính cộng đồng trong làng xã cổ
4.7 Một số tác phẩm nghệ thuật xoay quanh chủ đề làng xã hay nông thôn Việt Nam
54
Trang 4CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC LỊCH SỬ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LÀNG XÃ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm làng, xã, thôn: Có nhiều khái niệm về làng
“Làng còn là danh từ dùng để chỉ đơn vị hành chính cơ sở ở Việt Nam thời xưa”
( Nguyễn Trãi, Dư địa chí; “Các trấn tổng xã danh bị lãm” (1810–1813)).
Làng là một đơn vị cư trú và một hình thức tổ chức xã hội quan trọng của nông thôn
ở Việt Nam
“Làng là một tế bào xã hội của người Việt Nó là tập hợp dân cư chủ yếu theo quan
hệ láng giềng, cùng sống trên một khu vực gồm một khu đất để làm nhà ở và một khu đất
để trồng trọt, một tập hợp những gia đình nhỏ sản xuất và sinh hoạt độc lập” (Phạm Hùng
Cường, Làng xã truyền thống Việt Nam, Bảo tồn và phát triển).
Trải qua quá trình phát triển, làng dần trở thành một đơn vị xã hội cơ bản Làng trởthành một đơn vị hành chính cấp cơ sở (xã) từ thế kỷ VII dưới thời thuộc nhà Đường.Đến thế kỷ thứ XIX có tới 12 loại đơn vị hành chính cấp cơ sở ở vùng Đồng bằng Bắc Bộnhư xã, thôn, phường, giáp, trang trại, xóm…
Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam).
Trang 5b) Thôn
Giữa thế kỷ X, thôn là danh từ chỉ một làng nhỏ thông thường dưới chế độ phongkiến Việt Nam; là một đơn vị hành chính dưới cấp xã
1.2 Phân loại làng xã
a) Theo thời gian hình thành: Về lịch sử thay đổi của làng xã, có ba lần biến cách:
Thế kỷ XV khi chế độ quân điền được thực hiện
Cuối thế kỷ XIX khi thực dân Pháp đặt ách thống trị trên đất nước ta
Cách mạng tháng Tám 1945 và cải cách ruộng đất đã làm thay đổi hẳn cơ chế làng
xã, tác động mạnh vào tổ chức cổ truyền này
b) Theo vùng địa lý: Thượng, Hạ, Đông, Đoài.
Làng miền núi (bản, mường, plây, buôn); làng trung du, làng đồng bằng (làng, ấp,phum, sóc)
Những người sống trên một khu vực mặc dù thuộc các dòng họ khác nhau cũng hợplại thành một làng
Được phản ánh qua tên gọi: Xá
Làng thành lập dựa trên hình thức di dân khai canh; đồn điền nông nghiệp chuyểnthành trại; điền trang gọi là trấn…
e) Theo tôn giáo
Làng thuần lương, làng công giáo toàn tòng
f) Theo đặc điểm văn hóa
Làng văn (làng văn vật), ngày nay chúng ta gọi là làng văn hóa
Trang 6“Làng văn là dạng làng nổi tiếng về văn học được mọi người kính nể, ngày nay concháu vẫn tiếp tục phát huy Đó là những làng có truyền thống học chữ Nho, nhiều người
đỗ đạt cùng sinh hoạt văn hóa của các gia đình Nho học tạo ra nét văn hóa riêng cho
các làng văn” (Chuyên khảo Làng văn hóa xứ Thanh)
Làng võ là những làng có truyền thống thượng võ, dân làng hầu hết mọi người đềubiết võ nghệ, trong làng thường có lò võ
1.3 Tên gọi làng xã: Các loại làng xã có thay đổi tên qua các thời kỳ lịch sử do nhiều
nguyên nhân khác nhau
Thời kỳ dựng nước, ở Việt Nam hình thành nhiều đơn vị tụ cư với những tên gọiriêng biệt nằm trong 15 bộ của nước Văn Lang
Tới thời kỳ Bắc thuộc, chính quyền phong kiến phương Bắc với tay sâu vào làng xãngười Việt (dịch âm tên đất, tên làng từ tiếng Việt cổ sang tiếng Hán) Thời này, làng xãđược gọi là các chạ, kẻ, chiềng
Thời thuộc Đường, chính quyền đô hộ biến được một số ít làng xã Việt thành làng
xã phụ thuộc vào chúng Ở bộ phận làng xã này, nhà Đường gọi là hương hay xã
Đầu thế kỷ X, Khúc Hạo tiến hành nhiều biện pháp cải cách đất nước Ông đã bỏ têngọi là hương của chính quyền nhà Đường đặt ra trước đó, đổi thành giáp Bên cạnh têngiáp, bấy giờ còn có một số tên như thôn, động, sách, trang, trại
Từ thời Lý – Trần trở về sau, đơn vị hành chính cấp cơ sở là xã (xã lớn, xã vừa và
xã nhỏ).Các làng xã mang tên nôm đều có thêm tên Hán Việt hay chỉ có tên Hán Việt Cómột số làng xã tên gọi phản ánh những đặc trưng của làng (về thiên nhiên, địa hình lịch
sử, đặc sản, nghề nghiệp)
1.4 Nguồn gốc lịch sử và quá trình phát triển
a) Làng xã Việt Nam có quá trình hình thành khá phức tạp
* Ý kiến thứ nhất:
Từ thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên cách ngày nay khoảng 4000 năm, trên đất nước
ta đã diễn ra quá trình tan rã của công xã thị tộc và thay vào đó là quá trình hình thành công nông thôn (làng Việt).
Trang 7Chính sự tư hữu về TLSX đã đưa đến sự phân hóa giàu nghèo xã hội, tạo ra sự
“phân ly” trong công xã nguyên thủy, khiến một bộ phận dân cư từ bỏ thị tộc của mình đinơi khác Bộ phận dân cư phân ly của các thị tộc khác nhau đã tập hợp lại trên một địa
điểm mới, tạo nên một công xã nông thôn mới, được bổ sung bằng một quan hệ mới – quan hệ láng giềng.
Lúc này toàn bộ ruộng đất cùng với rừng núi, sông ngòi, ao đầm trong phạm vi làngđều thuộc quyền sở hữu của làng Ruộng đất phân chia cho các gia đình sử dụng (mangtính chất bình đẳng, dân chủ) Đơn vị sản xuất chủ yếu trong làng là gia đình nhỏ Ngoàinhững ruộng đất phân chia cho các thành viên cày cấy, làng có thể giữ một phần ruộngđất để sản xuất chung nhằm sử dụng hoa lợi thu hoạch vào những chi phí côngcộng Công việc khai hoang, làm thủy lợi và các hình thức lao động công ích khác đềuđược tiến hành bằng lao động hợp tác của các thành viên trong làng
Làng Việt là một loại hình của công xã phương Đông, trong đó nông nghiệp gắn với
TCN, làng xóm gắn với ruộng đất, nên mang tính ổn định cao Tính ổn định cao này đã
hóa thân thành tinh thần công xã, thành truyền thống xóm làng trở thành nguồn sức mạnhtiềm tàng trong công cuộc dựng nước và giữ nước
Những làng Việt cổ thời hậu kỳ xã hội nguyên thủy hoặc thời Văn Lang-Âu Lạcthường được gọi tên kèm theo chữ Kẻ Đó là những làng truyền thống
Thời phong kiến độc lập có các dạng làng mới được thành lập (làng khai canh, làngbiệt triện…)
* Ý kiến thứ hai:
Làng Việt được hình thành trong quá trình liên hiệp (gắn kết với nhau chống thiêntai, bảo vệ cuộc sống…) giữa những người nông dân lao động trên con đường chinh phụcnhững vùng đất mới để trồng trọt
b) Phát triển
Cuối thời kỳ Hùng Vương: Tồn tại phổ biến loại hình làng định cư công xã nôngthôn Đứng đầu công xã là Bồ chính (già làng) và Hội đồng công xã để đảm nhận chứcnăng tổ chức và giải quyết những vấn đề có liên quan đến sinh hoạt cộng đồng Xuất hiệnliên minh giữa các công xã
Trang 8Thời kỳ Bắc thuộc: Phong kiến Trung Quốc đã tìm mọi cách nắm lấy và sử dụnglàng Việt truyền thống như một công cụ phục vụ cho mưu đồ thống trị và đồng hóa củachúng Người Việt không ngừng bảo tồn và củng cố cộng đồng xóm làng, biến xóm làngcủa mình thành những pháo đài chống Bắc thuộc, chống đồng hóa, dựa vào làng và xuấtphát từ làng mà đấu tranh giành lại nước.
Cuối thời kỳ Bắc thuộc, nhân cơ hội nhà Đường đang khủng hoảng, họ Khúc được
sự ủng hộ của quần chúng nổi dậy lật đổ chính quyền đô hộ Đầu thế kỷ X, chính quyền
tự chủ của họ Khúc bước đầu xác lập quyền sở hữu trên danh nghĩa của nhà nước đối vớiruộng đất công xã Tích cực thi hành chính sách cải cách hành chính, biến làng thành đơn
vị hành chính cấp cơ sở của nhà nước, gọi là xã Khái niệm “làng xã” như một đơn vị tụ
cư, kinh tế, tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đơn vị hành chính cấp cơ
sở Đây cũng chính là bước chuyển biến rất quan trọng của nông thôn Việt Nam truyềnthống
Trong suốt thế kỷ X-XI, XII: Nhà nước TW tập quyền với tư cách là người chủ sởhữu tối cao về ruộng đất bóc lột tô thuế và lao dịch đối với làng xã Chế độ tư hữu ruộngđất mới chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, nhưng ngày càng phát triển nhanh Cấp xã trở thành đơn
vị hành chính cấp cơ sở ở nông thôn, cấp thôn dường như đồng thời xuất hiện do nhu cầuquản lý hành chính của bản thân cấp xã Nhà nước thông qua xã quản lý dân làng, nhưng
xã khó có thể làm tốt chức năng quản lý hành chính của mình nếu không thông qua mộtcấp trung gian khác là thôn Thôn vì thế đã trở thành đầu mối giáp nối, gắn kết và điềuhòa hai hệ thống quản lý: hành chính và tự trị, luật pháp và tục lệ, chính trị và xã hội.Đầu thời Trần(1242), Trần Thái Tông tiến hành phân chia ra các xã lớn, nhỏ mà đặtcác chức đại tư xã, tiểu tư xã là các xã quan thay mặt nhà nước trực tiếp quản lý từ 1 đến
4 xã
Chiếm được nước ta, nhà Minh áp đặt mô hình nông thôn Trung Quốc vào nôngthôn Việt Nam Chúng tiến hành chia dân ta thành từng “lý” (mỗi lý gồm 110 hộ) vàđứng đầu lý là lý trưởng Dưới lý là giáp Những chức lý trưởng, giáp thủ đều luân phiênnhau làm trong thời hạn một năm với nhiệm vụ thu thuế và bắt phu dịch
Sau khi chiến thắng quân Minh (11-1428), Lê Lợi tiến hành tổ chức lại làng
xã Phân ra làm 3 loại xã theo số đinh Những xã loại vừa và nhỏ trong thực tế chỉ làthôn Thôn cũng được chia ra thành nhiều loại (thôn phụ thuộc xã và những thôn độc
Trang 9lập) Đặt các xã quan (viên chức của nhà nước, do nhà nước cử ra để quản lý làng xã) tùytheo từng loại xã
Năm 1466, Lê Thánh Tông tiến hành cải cách lại bộ máy quản lý hành chính: Đổichức xã quan thành xã trưởng, quy định việc bầu xã trưởng cũng như tư cách, đạo đức,năng lực của xã trưởng rất chặt chẽ Xã dưới thời Lê Thánh Tông được tổ chức theo
hộ Gia đình là tế bào của xã hội, là đơn vị sản xuất cơ bản nhất trong nền kinh tế tiểunông Tổ chức và quản lý làng xã theo đơn vị hộ gia đình
Giữa năm 1490, Lê Thánh Tông lại ban hành thể lệ tách xã cũ, lập xã mới Trong xãhội tồn tại phổ biến loại hình một xã có nhiều thôn phụ thuộc và bên cạnh xã trưởng xuấthiện thôn trưởng Đồng thời với việc cải tổ bộ máy quản lý hành là việc thi hành chínhsách mới về ruộng đất, thâu tóm toàn bộ ruộng đất của các làng xã trong tay nhà nước vàtiến hành phân chia theo thể lệ, thời gian cũng như quy định mức tô thuế chung cho cảnước, biến làng xã thành người quản lý ruộng đất công cho nhà vua và nông dân càyruộng đất công làng xã thành tá điền của nhà nước Những làng xã tương đối tự trị trướcđây giờ trở thành một đơn vị kinh tế phụ thuộc nhà nước, vừa cung cấp lương thực, thựcphẩm, lao dịch, binh dịch cho nhà nước, vừa cung cấp đất đai để nhà nước ban cho nhữngviên chức của mình.Ra điều luật cho phép các làng xã được lập hương ước riêng
Đưa ra được phương án tối ưu để xử lý hài hòa mối quan hệ giữa quyền quản lý
của nhà nước và truyền thống tự trị của xóm làng Các vương triều phong kiến sau đó(vua Lê đầu thế kỷ XVI, nhà Mạc, ) trên đại thể đều lấy mô hình tổ chức quản lý làng xãthời Lê Thánh Tông làm khuôn mẫu
Từ thế kỷ XVI, nhất là vào các thế kỷ XVII-XVIII, tình hình nông thôn có nhiềuthay đổi nên mô hình tổ chức quản lý làng xã nông nghiệp tự cấp tự túc, công điền, độccanh lúa nước không còn hiệu lực nữa 1658, vua Lê Thần Tông tiến hành cải cách bộmáy quản lý làng xã nhằm cứu vãn lại tình thế nhưng không được các làng xã ủng hộ Ítnăm sau, dưới thời Cảnh Trị (1663-1672), vua Lê Huyền Tông phải định lại việc bầu xãtrưởng nhằm kiểm tra chặt chẽ hơn người lãnh đạo làng xã
Bước sang thế kỷ XVIII, can thiệp một cách trực tiếp vào công việc của làng xã(1762, vua Lê Dụ Tông định lại phép khảo công xã trưởng ), nhưng đã không còn hiệuquả Long Đức (1732) và Vĩnh Hựu (1735) họ Trịnh đã buộc phải quyết định bãi bỏ phépkhảo khóa xã trưởng, phó mặc cho làng xã tự chọn lấy xã trưởng của mình Đây là sự bất
Trang 10lực hoàn toàn của nhà nước phong kiến trong việc quản lý các xã trưởng, bỏ mặc cho bọncường hào hoành hành, gây ra muôn vàn tệ nạn ở thôn quê
Tình hình nông thôn càng ngày càng nặng nề căng thẳng Người nông dân Việt Namgiờ đây bị bần cùng hóa, phá sản, phải rời bỏ đồng ruộng, xóm làng đi lang thang kiếm
ăn một cách tuyệt vọng
Bùng phát các cuộc khởi nghĩa nông dân rộng lớn và cuối cùng tất cả các chínhquyền (Lê - Trịnh, Nguyễn) đó đều bị lật nhào bởi phong trào nông dân Tây Sơn
Sau đó, Quang Trung lên ngôi vua kiên quyết và khẩn trương đưa dân phiêu tán trở
về quê quán sản xuất và thanh toán tình trạng ruộng đất bỏ hoang Chủ trương này vừamới được triển khai thì Quang Trung đã qua đời và người kế nghiệp ông không đủ bảnlĩnh và tài năng để tổ chức thực hiện chủ trương đó, nên tình hình không những khôngđược cải thiện mà thậm chí ngày một xấu đi
Gia Long khôi phục lại quyền thống trị của họ Nguyễn trong bối cảnh như thế, đãđặc biệt đề cao vai trò của làng xã trong quốc sách trị nước của mình Ông muốn cải tổlàng xã nhưng vì đây là vấn đề không đơn giản và chưa tìm ra được giải pháp thỏa đángnên chính sách của Gia Long đối với làng xã chưa có gì mới so với trước Dưới thời vuaGia Long, công việc điều tra ruộng đất, trên phạm vi toàn miền Bắc và lập sổ địa bạ đểquản lý ruộng đất một cách thống nhất và chặt chẽ đã được tiến hành một cách quy mô vàvượt xa bất cứ các triều đại nào trước đó
Minh Mệnh lên ngôi trong tình hình xã hội rất phức tạp: Ở nông thôn, nông dân đóikhổ phải bỏ đi phiêu tán rất nhiều, làng xã chứa chất đầy rẫy những vấn đề phức tạp, màphức tạp hơn cả vẫn là làm sao có thể quản lý được bộ máy quản lý làng xã Minh Mệnh
đã đi đến quyết định cải tổ lại bộ máy quản lý xã thôn: Bỏ chức xã trưởng và thay vào đó
là chức lý trưởng, quy định một xã chỉ có 1 lý trưởng và tùy theo quy mô làng xã đặtthêm phó lý; Lý trưởng và phó lý phải được chọn trong số những người “cật lực cầncán”, do dân bầu, được phủ huyện xét kỹ và bẩm lên trấn để cấp văn bằng, mộc triện;Trách nhiệm của lý trưởng rất nặng nề nhưng không nằm trong hàng quan chức nữa (biệnpháp hạn chế quyền hành của lý trưởng), nhưng lại chính là cơ hội tốt để cho bọn cườnghào đứng sau lý trưởng mà thao túng làng xã Cải cách của Minh Mệnh làm cho cườnghào có điều kiện phát triển mạnh thêm
Trang 11Suốt thời kỳ tồn tại của nhà Nguyễn, nhà nước bất lực hay không thể giải tỏa nỗi sựlộng hành, lũng đoạn của bọn cường hào, làm cho nhà Nguyễn không quản lý được làng
xã một cách chặt chẽ
Sau khi chiếm được nước ta: Thực dân Pháp đã chọn phương án không nhữngkhông thủ tiêu tổ chức xã thôn cổ truyền mà còn tìm mọi cách duy trì nó thông qua bọnđịa chủ phong kiến và hội đồng kỳ mục, biến nó thành công cụ hữu hiệu cho chính sáchthống trị và khai thác thuộc địa Nhưng thôn làng cổ truyền chính là nơi nuôi dưỡng tinhthần yêu nước, ý thức quốc gia dân tộc, nhiều làng xã đã trở thành những pháo đài,những căn cứ chống Pháp mà chúng không thể đàn áp nổi Để bảo đảm cho nền thống trịcủa mình, thực dân Pháp cải tổ lại tổ chức xã thôn cổ truyền, hướng hoạt động của bộmáy này vào việc phục vụ ngày một đắc lực cho chính sách đô hộ của thực dân Pháp Lợidụng truyền thống quản lý làng xã của người Việt thông qua hương ước, đưa luật phápcủa chính quyền bảo hộ vào lệ làng, lệ làng hóa phép nước, khuôn tất cả các hương ướcvào một khuôn mẫu chung có lợi cho thực dân Pháp và buộc các làng phải nghiêm luậtthực hiện
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công và sự thành lập chính quyền dân chủ nhândân về nguyên tắc là sự phủ định hoàn toàn bộ máy chính quyền cũ của đế quốc phongkiến từ TW đến cơ sở Trong những ngày đầu của chính quyền dân chủ nhân dân, các Ủyban nhân dân lâm thời ở cơ sở được thành lập dựa theo các đơn vị xã thôn của thời kỳtrước cách mạng Sau cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân xã (4-1946), nhiều thôn làng cũ sátnhập lại thành những xã tương đối lớn (có quan hệ về nguồn gốc lịch sử, văn hóa, có sựgần gũi về địa vực cư trú, có sự gắn bó tự nhiên về kinh tế, xã hội…)
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ: Xu hướng sáp nhập nhiều xã cũthành một xã lớn được đẩy mạnh hơn (do nhu cầu của việc thành lập các làng chiếnđấu) Cấp xã được xây dựng thành cấp cơ sở của hệ thống chính quyền, cấp thôn vẫn tồntại cho đến những năm cuối của cuộc kháng chiến Ở vùng thực dân Pháp tạm thời chiếmđóng: chủ trương lập bộ máy tề để quản lý làng xã, lập ra các làng tề trên cơ sở vẫn dựatheo quy mô các làng xã truyền thống
Trong công cuộc cải cách ruộng đất và thời kỳ xây dựng tổ đổi công: Đảng dựa vàothôn xóm mà phát động phong trào Đến thời kỳ hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp, thônkhông còn là đơn vị hành chính cơ sở, nhưng nó đã hóa thân vào HTX và còn giữ được
Trang 12nét truyền thống riêng của mình Từ khi HTX chuyển lên bậc cao với quy mô toàn xã thìthôn làng truyền thống hầu như bị giải thể Việc chia tách hay quy gọn các xã chỉ thuầntúy theo quy mô diện tích và dân số mà hầu như không tính đến cơ sở truyền thống củalàng xã.
Khi mô hình tập thể hóa nông nghiệp được đẩy tới đỉnh cao, khắp nông thôn miềnBắc cuộc sống của người nông dân đang dấn sâu vào cảnh nghèo nàn đơn điệu Để tồn tại
và phát triển, phải đổi mới mô hình tổ chức và quản lý nông thôn, nông nghiệp
Đây là sự mở đầu hết sức có ý nghĩa không chỉ công cuộc đổi mới nông nghiệp,nông thôn mà cũng chính là bước chuẩn bị hết sức cơ bản cho sự nghiệp đổi mới toàndiện của Đảng và nhà nước ta ở thập kỷ cuối thế kỷ XX và thập kỷ đầu thế kỷ XXI
Trang 13CHƯƠNG 2: KẾT CẤU KINH TẾ CỦA LÀNG XÃ
KHÁI QUÁT: Làng xã Việt Nam truyền thống từ trong lịch sử có nhiều loại hình kinh tế
phong phú như trồng trọt, chăn nuôi, thương nghiệp, nhưng có nét đặc trưng là không có
sự tách biệt dứt khoát giữa trồng trọt, chăn nuôi, thương nghiệp như nhiều nướckhác.Hầu hết các làng xã Việt Nam đều lấy hoạt động kinh tế nông nghiệp làm cơ sở, cókết hợp với các làng nghề thủ công, chăn nuôi gia súc, gia cầm Chăn nuôi không tách rờivới nông nghiệp trồng lúa nước ở Việt Nam trong các làng xã Cùng với sự phát triển củanền kinh tế nông nghiệp, các nghề thủ công, thương nghiệp ở các làng xã cũng ngày càngphát triển và được mở rộng hơn Thủ công từng bước tách khỏi nông nghiệp, xuất hiệnngày càng nhiều các làng nghề
2.1 Chế độ sở hữu ruộng đất
2.1.1 Ruộng đất công: là ruộng công làng xã, do làng xã trực tiếp quản lý và phân chia
cho các thành viên của làng theo lệ làng hoặc theo quy định của nhà nước (chính sáchquân điền thời Lê Sơ, thời Nguyễn)
a) Nguồn gốc và diễn biến
Thời Văn Lang- Âu Lạc, ruộng đất còn thuộc quyền sở hữu chung của cả cộngđồng Mọi thành viên trong các làng xóm đều bình đẳng, không ai có quyền chiếm giữlàm của riêng Mỗi thành viên trong làng (chạ) được phân chia một số lượng ruộng đất(theo quy định của làng) để cày cấy và hưởng thụ Người được chia chỉ có quyền sử dụng(chiếm hữu) mà không có quyền sở hữu Ruộng đất vẫn là của công của làng
Trong thời kỳ bị phong kiến Trung Hoa đô hộ, chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất về
cơ bản, nói chung vẫn thuộc làng xã, nhưng cũng có những chuyển biến nhất định trongmột bộ phận ruộng đất nào đó, một số hình thức sở hữu ruộng đất mới xuất hiện như sởhữu tư nhân, sở hữu tối cao của chính quyền đô hộ
Sang thời kỳ đất nước độc lập tự chủ, tình hình ruộng đất có nhiều chuyển biến tácđộng trực tiếp đến hoạt động kinh tế của các làng xã Dưới thời Lý Trần (XI-XIV), làng
xã vẫn giữ được quyền sở hữu của mình và ruộng đất công làng xã vẫn giữ một vị trí rấtquan trọng trong đời sống của nhân dân Hàng năm, làng xã vẫn tiến hành phân chiaruộng đất cho nông dân theo tục lệ và chịu trách nhiệm thu thuế theo diện tích đã trìnhlên quan trên nộp cho nhà nước
Trang 14Nhìn chung trong thời kỳ phong kiến bộ phận ruộng đất công ngày càng giảm Đếnthế kỷ XIX, ở Nam Bộ hầu hết là ruộng đất tư Ở Trung Bộ như Bình Định, ruộng đấtcông không còn là bao khiến Tổng đốc Bình – Phú là Vũ Xuân Cẩn phải 2 lần tâu vớivua Minh Mạng ban hành phép quân điền chia lại ruộng đất ở riêng Bình Định năm 1839.
Ở Bắc Bộ ruộng đất công cũng thu hẹp, ở các địa phương ruộng đất tư đã nhiều hơnruộng đất công
b) Nguyên tắc quản lý và cách phân chia
Từ thế kỷ X cho đến thế kỷ XIV, làng xã nắm quyền sở hữu và phân chia đất công,nhà nước chỉ có quyền sở hữu trên danh nghĩa
Từ thế kỷ XV, nhà Lê Sơ với tay xuống can thiệp vào việc phân chia bằng
chính sách “quân điền”
c) Tính hai mặt của ruộng đất công trong làng xã
Một mặt ruộng đất công làng xã có tác dụng hình thành nên truyền thống cộng đồngtương trợ giúp đỡ lẫn nhau của nhân dân ta như “Bán anh em xa mua láng giềng gần”,
“Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”
Nhưng sự tồn tại của ruộng đất công làng xã cũng tạo nên những mặt hạn chế nhưlàm thui chột vai trò cá nhân do bị hòa tan vào cộng đồng, làm cho con người ít sáng tạo,hình thành nên các tư tưởng cục bộ, bản vị, ngay thay đổi nên bảo thủ
2.1.2 Ruộng đất tư nhân
a) Nguồn gốc: Do cá nhân khai hoang, do mua bán, thừa kế hay nhà nước ban tặng, ban
thưởng
b) Phương thức khai thác: theo 2 phương thức chủ yếu:
- Ruộng tự canh là ruộng đất mà chủ ruộng tự cày cấy
- Ruộng phát canh là ruộng mà chủ ruộng thuê tá điền cày cấy để bóc lột địa tô
2.1.3 Nông nghiệp
Nền văn minh cổ truyền Việt Nam là nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước.Nhưng tùy điều kiện tự nhiên và nhu cầu cuộc sống từng vùng, nghề nông thường kếthợp với nhiều nghề phụ Dưới chế độ phong kiến, ở các làng xã Việt Nam, nông nghiệpluôn đóng vai trò là ngành kinh tế chủ đạo Do đất đai nước ta thuận lợi cho nên việc phát
Trang 15triển nông nghiệp có nhiều đồng bằng rộng lớn phì nhiêu nên cư dân Việt Nam thờiphong kiến chọn nông nghiệp làm nghề sinh sống chủ yếu Mặt khác, do lấy Nho gia làm
hệ tư tưởng thống trị nên các triều đại phong kiến Việt Nam luôn chủ trương xây dựng vàphát triển nền kinh tế đất nước lấy nông nghiệp làm nền tảng “dĩ nông vi bản” Các triềuđại từ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê Sơ, Mạc, Nguyễn đều thi hành chính sách trọng nông
2.2 Thương nghiệp làng xã
Do nhu cầu quá bức bách trong đời sống của người nông dân mà thời phong kiếncác chợ làng đã tự phát hình thành Chợ làng thường nằm ở các vị trí là ngã ba ngã tưđường giao thông, các khu vực trung tâm hành chính; còn nếu là vùng có sông thì bao giờcũng thường gắn với bến sông Chợ làng là nơi nông dân bán nông phẩm gồm lươngthực, rau, củ, quả do họ làm ra; đồng thời người nông dân chỉ ra chợ mua thực phẩm chủyếu là các loại cá, thịt, muối, mắm
2.2.1 Hệ thống chợ địa phương gồm chợ phiên - phố nhỏ và thị trấn – thị từ
2.2.2 Làng chợ, làng cuộn
2.3 Thủ công nghiệp làng quê
Do đặc điểm nghề nông nên ở nông thôn luôn tồn tại sẵn những nguyên liệu cho cácnghề thủ công phát triển, do đó hầu hết các làng xã Việt Nam đều có sản xuất thủ côngvới tư cách là nghề phụ của nông dân lúc nông nhàn Sản xuất thủ công do đó phần lớnmang tính chất gia đình như chăn tằm dệt lụa, làm nón, đan lát, thêu thùa
2.3.1 Làng nghề
Làng nghề Việt Nam là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư dân, chủ yếu ởcác vùng ngoại vi thành phố và nông thôn, có chung truyền thống sản xuất các sản phẩmthủ công cùng chủng loại tại Việt Nam Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thốngđặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặcđiểm du lịch tại Việt Nam
Phân bố: Các làng nghề truyền thống hầu hết tập trung ở vùng châu thổ sông Hồngnhư Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định Một số ít rải rác ở các vùng cao và châuthổ miền Trung và miền Nam
Hình thành và phát triển: những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được các làng nghềViệt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây Cùng với sự phát triển của nền văn
Trang 16minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, banđầu là những công việc phụ tranh thủ lúc nông nhàn, để chế tại những vật dụng cần thiếttrong sinh hoạt, sau phát triển lên thành nhu cầu trao đổi hàng hóa và tìm kiếm thu nhậpngoài nghề nông.
Những đặc điểm sản phẩm: bởi những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đemlại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triểndần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần bị maimột Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhấtnào đó như làng gốm, làng chiếu, làng lụa, làng chạm gỗ, làng đồ đồng
Những làng nghề nổi tiếng: Dù nhiều làng nghề đã biến mất cùng với thời gian,nhưng hiện nay, các con số thống kê cho thấy ở Việt Nam còn gần 2.000 làng nghề thuộccác nhóm nghề chính như: sơn mài, gốm sứ, vàng bạc, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt,giấy, tranh dân gian, gỗ, đá Trong đó có các làng nghề rất nổi tiếng như:
+ Làng sơn mài Cát Đằng (Ý Yến, Nam Định)
+ Làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội)
+ Làng tranh Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh)
+ Làng đá mỹ nghệ Non Nước (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng)
+ Làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội)
Ngoài ra, còn có các làng nghề truyền thống khác vẫn còn duy trì hoạt động
Trang 17CHƯƠNG 3: KẾT CẤU XÃ HỘI CỦA LÀNG XÃ
3.1 Các loại hình tổ chức làng xã
a) Tập hợp người theo địa vực ngõ, xóm gồm 4 cách:
Thứ nhất, tập hợp cư dân của làng dọc theo chân đê hoặc dọc theo bờ sông VD: các
làng ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Thứ hai, phân bố khu cư trú theo một hình khối liên tục không có khoảng cách giữacác thôn, xóm (các thôn, xóm liền nhau) hay ô bàn cờ
Thứ ba, phân bố theo hình vằn khanh (hình dạng thế đất của làng)
Thứ tư, phân bố lẻ tẻ cách biệt nhau bởi đồng ruộng và tách thành nhiều thôn xóm
b) Tập hợp theo dòng họ
* Khái niệm: Những gia đình cùng một huyết thống tập hợp lại trong một
cộng đồng gọi là họ Mỗi họ thường có nhà thờ tổ tiên chung và do một tộc trưởng
đứng đầu Ngôi tộc trưởng thường thế tập và giành cho người con trai trưởng củadòng trưởng trong họ Làng Việt Nam là một phức hợp của nhiều tổ chức xã hội
mà trước hết là dòng họ Các mối liên kết trong làng có nghề nghiệp, tín ngưỡngtôn giáo, địa vực láng giềng, xóm, giáp, đơn vị hành chính làng xã và họ hàngdòng máu, nhưng mối liên kết họ hàng vẫn là bền vững nhất Có thể coi cộng đồnglàng trước tiên là tập hợp của những dòng họ
* Quá trình hình thành và phát triển:
Từ khởi đầu cho đến nay là sự chuyển đổi và phát triển từ liên kết hộ gia đình tiếnlên là liên kết họ hàng và các dòng họ với nhau Đó cũng là mối liên kết tự nhiên theohôn nhân và theo sản xuất Từ đời xưa, tổ chức cư trú của nhiều làng đã theo dòng họ.Những địa danh làng mang tên họ còn lưu lại đến ngày nay khá nhiều từ Nghệ Tĩnh đếnđồng bằng Bắc Bộ như Đỗ Động, Lưu Xá, quan hệ tông tộc này được duy trì, tồn tại phục
vụ cho chế độ phong kiến
Có người cho rằng quan hệ tông tộc trong làng Việt tồn tại trong mấy thế kỷ qua cónguồn gốc trực tiếp từ thị tộc nguyên thủy Ý kiến này chỉ đúng một phần, còn một phầnnữa là cơ chế xã hội của chế độ phong kiến Việt Nam đã sản sinh ra và duy trì nó Cần
Trang 18phân biệt thị tộc và tông tộc Tông tộc và thân tộc ra đời muộn, phục vụ cho chế độphong kiến thời trung cổ.
Nhà nước phong kiến dựa vào tông tộc để thống trị, lợi dụng tông tộc làm một chỗ
dựa vương quyền Sự kết hợp vương quyền với dòng họ đã tạo ra những “danh hương, vọng tộc” Ở mỗi làng lại có một số dòng họ lớn sản sinh ra nhiều thế hệ sĩ phu quan lại,
khoa bảng Chế độ phong kiến Việt Nam đề cao gia tộc, gia trưởng, pháp lý hóa các quan
hệ họ hàng, tạo ra một dạng phong kiến mang đậm tông tộc chủ nghĩa
là nòng cốt của làng Có làng do một vài họ chi phối
c) Tập hợp theo giáp (tuổi)
Tất cả nam giới trong làng tập hợp lại trong những giáp Mỗi làng thường có nhiềugiáp Người con trai sinh ra được bố mẹ đăng ký vào giáp và từ đó cho đến lúc chết, theotuổi tác lần lượt giữ các cương vị trong giáp, được hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ đốivới làng, nước một cách bình đẳng Trật tự duy nhất của giáp là tuổi tác Từ 18 tuổi gọi làdân đinh, bắt đầu gánh vác nghĩa vụ cho đến 59 tuổi sau khi lên lão thì được miễn trừ.Giáp là một tổ chức rất năng động trong các hoạt động của làng xã Đứng đầu giáp là Caigiáp, giúp việc cho Cai Giáp có 3 ông Lềnh (Lềnh nhất, Lềnh hai, Lềnh ba) Lưu ý, ngoàigiáp tổ chức như nói ở trên thì trong lịch sử còn tồn tại loại hình giáp là đơn vị hànhchính
d) Tập hợp theo nghề nghiệp, sở thích và Phường, hội
Làng Việt Nam còn tổ chức theo chức nghiệp
VD: Hội Tư Văn là hội của những người đi học và làm quan lập ra, xuất hiện rấtsớm, có thể có từ thế kỷ XV duy trì phát triển vào các thế kỷ XVIII, XIX và đầu XX Hội
Trang 19Tư Văn là của các đồ nho có chữ Hán, trong thời Pháp thuộc có nơi kết nạp thêm ngườihọc chữ tây Một số làng có thêm Hội Tư võ, Hội Làng binh của những người đi lính vàcác quan võ về làng Hội theo giới tính có Hội Chư bà, hội theo lứa tuổi có Hội Mụcđồng (của trẻ chăn trâu), hội Lão (của những người già cả) và hội Đồng niên Tuy nhiên,
sự ràng buộc của các loại hội này không chặt chẽ và sâu sắc bằng phường và hội haydòng họ, nhưng cũng thường xuyên một năm vài ba lần họp hành, ăn uống, sự liên kếtnày cũng góp phần ràng buộc các cư dân làng xã theo một định hướng luân lý, đạo đức
Làng Việt Nam còn có phường hội, một mối dây ràng buộc con người họ Những
người cùng nghề trong một làng họp thành phường hay phe Phường là tổ chức nghềnghiệp của những người làm nghề thủ công và buôn bán, mà ở nước ta chủ yếu là củanông dân làm thêm các nghề thủ công hay buôn bán Phường thủ công hay buôn bán đều
có những quy định cụ thể gọi là phường lệ để ràng buộc người cùng nghề, ổn định sảnxuất, chống cạnh tranh, là mối dây ràng buộc khá chặt chẽ đối với những người làm thủcông hoặc buôn bán Hiện tượng phường tồn tại trong làng quê làm cho cơ cấu và cơ chếvận hành của làng nông thôn Việt Nam khác với phương Tây Như vậy, nông thôn nước
ta về kinh tế, bên cạnh nông nghiệp lại đan xen hay gắn liền với thủ công nghiệp và buônbán nhỏ
Cuối cùng, hợp tác theo quan hệ tương trợ: một số người do nhu cầu của cuộc sốnghọp nhau thành các hội Những hội này hoàn toàn mang tính tự nguyện và thường chỉhoạt động trong một thời gian Các mối quan hệ chằng chéo đan xen trên đây đã thắt chặt
sự gắn bó cộng đồng giữa các thành viên trong làng xã
3.2 Tổ chức bộ máy tự trị và hành chính
a) Bộ máy tự trị - tự quản
Tiên chỉ: là chức vụ do làng bầu ra, là người có uy tín và có quyền cao nhất,
là người đứng đầu Hội đồng kỳ mục, có phẩm tước cao nhất làng, tuổi đời nhiềunhất trong số các quan lại đã nghỉ hưu, các chức sắc và khoa mục Đây là nhữngnhân vật đứng đầu làng, có quyền quyết định mọi việc của làng
Thứ chỉ: là người thứ hai trong bộ máy quản lý của làng, thay mặt cho Tiênchỉ mỗi khi Tiên chỉ vắng mặt, không tham gia hội họp, hoặc trực tiếp thay mặtTiên chỉ giải quyết những công việc mà Tiên chỉ phân công
Trang 20Bô lão: gồm các người già cả trong làng từ 60 tuổi trở lên sau khi đã khaovọng làng Các cụ được quyền tham gia hội họp bàn bạc việc làng
Kỳ mục: bao gồm các quan lại đã nghỉ hưu, các chức sắc (từ cửu phẩm trởlên, các tú tài, cử nhân suất đội trở lên), các bậc khoa bảng, các cựu chánh phótổng và chánh, phó tổng đương chức, các hương trưởng, hào trưởng, các cựu lýtrưởng, phó lý, các xã nhiêu, chánh phó tổng do mua mà có Nhóm Kỳ mục doTiên chỉ đứng đầu, là cơ quan quản lý quan trọng nhất của làng xã, điều kiện vàohội đồng không nhất định mà tùy theo Hương ước của mỗi làng
b) Bộ máy quản lý hành chính (Hội đồng Kỳ địch)
Là cơ quan chấp hành do Lý trưởng đứng đầu Giúp Lý trưởng là phó lý Tuần đinhchịu trách nhiệm về trị an của làng, là người chỉ huy tự vệ làng đốc thúc việc canh phòng
và đốc thúc việc nộp thuế của đinh tráng
Bộ phận này có trách nhiệm đại diện cho làng khi làm việc với các cơ quan nhànước cấp trên, đồng thời chịu trách nhiệm trước nhà nước về các nghĩa vụ của làng đốivới nước như tô thuế, sai phái lao dịch, đi phu đi lính Bộ phận Kỳ địch quản lý sổ đinh,
sổ điền của làng trên cơ sở đó để điều động, sai phái dân đinh thu tô thuế và các khoản
mà làng đặt ra để chi dùng cho các hoạt động của làng và nộp cho nhà nước
Mặt khác, Lý trưởng và các thành viên của hội đồng Kỳ địch không có lương hàngtháng của nhà nước mà chỉ có ít phụ cấp Nhà nước phong kiến và thực dân cho phép họtích trữ những khoản thuế ruộng công bù vào Do vậy, Lý trưởng và dịch mục thườngphải đứng về phía kỳ mục, về phía làng xã, làm cho chính quyền nhà nước đến tận làng
xã mang nội dung “lưỡng tính”, pháp quyền chính thống đến đây bị khúc xạ, bị suy yếubớt
3.3 Hương ước
* Khái niệm:
Hương ước, tùy theo cách ghi chép của từng làng mà có tên gọi khác nhau (hươngước, khoán ước, hương biên, hương khoán ) Hương ước là bản ghi chép các điều lệ liênquan đến tổ chức xã hội cũng như đến đời sống xã hội trong làng, các điều lệ hình thànhdần trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết
Trang 21Xưa kia các điều lệ ấy quen được gọi là “lệ làng”, được truyền từ đời này sang đờikhác Rất có thể lúc đầu hương ước được đúc kết trong các áng văn vần để cho dễ nhớ và
dễ truyền khẩu, đại khái cũng giống như các áng văn mang tính chất luật tục, ngày naycòn thấy ở nhiều dân tộc thiểu số Trải qua thời kỳ Đại Việt, dần dần ở tất cả các làng,các lệ làng được sắp xếp thành hệ thống, thành hương ước Và tất cả các hương ước củangười Việt đều được ghi chép thành văn bản Hương ước có những nét đặc thù tùy theotừng làng Hương ước là danh từ thông dụng nhất và có ý nghĩa đầy đủ nhất để gọi bảnghi chép hệ thống các lệ làng Nhưng tùy theo từng nơi mà người ta còn dùng cả nhữngdanh từ khác nhau “hương biên”, “hương lệ”, “hội định”, “hội ước”
Hương ước được xây dựng trên cơ sở những mối quan hệ giữa các thành viên củacộng đồng làng xã với nhau, giữa mỗi thành viên với cộng đồng, giữa các cộng đồng nhỏtrong làng và cộng đồng làng
VD: Hương ước làng Quỳnh Đôi lại chia làm 3 phần: khoán hội, khoán làng,khoán phe Hoặc như làng Mộ Trạch (Cẩm Bình, Hải Dương) cũng là làng đông dân,lâu đời lại có nhiều quan lại sĩ phu thì hương ước cũng ra đời rất sớm và có trên trămđiều khoản Còn các làng bé nhỏ, nghề nghiệp không phức tạp (chủ yếu là nôngnghiệp), dân thưa thì hương ước ngắn gọn, sơ lược…
* Quá trình hình thành:
Một trong những tính chất của hương ước là tự điều khiển xã hội trong làng, dâncàng đông càng nhiều nghề mà lại muốn tạo nên một kết cấu chặt chẽ, ổn định thìhương ước phải phong phú, phức tạp, đề cập nhiều mặt của cuộc sống (bao gồm tưtưởng, tín ngưỡng, hội làng, kinh tế, giáo dục, hương ẩm ) Quá trình can thiệp củanhà nước vào làng, dần dần biến làng thành một đơn vị hành chính cấp cơ sở của nhànước đương nhiên là quá trình hạn chế và thu hẹp dần quyền tự trị của làng xã Tấtnhiên làng xã dù là đơn vị hiền lành nhất thì cũng không bao giờ dễ dàng chấp nhậnngay sự can thiệp này và khi ngấm ngầm, lúc công khai tìm mọi cách chống lại sự canthiệp đó của nhà nước
Cuộc đấu tranh giằng dai giữa làng xã với nhà nước, giữa truyền thống tự trị vớicách thức tổ chức quản lý tập trung thống nhất, khiến cho nhà nước không thể không
có nhân nhượng nhất định đối với làng xã trên nguyên tắc bảo đảm quyền quản lý củamình Hương ước ra đời vừa đáp ứng nhu cầu tự trị, tự quản của làng xã, vừa khẳng
Trang 22định quyền quản lý làng xã của bản thân nhà nước thống trị Một hương ước chính thứcthành văn bao giờ cũng phải bảo đảm cả hai yếu tố luật nước và lệ làng Chắc chắn sẽkhông có hương ước nếu như hoàn toàn chỉ có luật nước, nhưng cũng không thể trởthành một hương ước chính thức nếu như hoàn toàn chỉ có những tập tục cổ truyền củalàng xã từ ngàn xưa mà không hề biết đến đời sống chính trị và pháp luật hiện hành Hương ước phản ánh lợi ích, ý chí, nguyện vọng của các cộng đồng làng xã,buộc các chính quyền nhà nước phải tính đến trong việc ban hành và thực thi luậtnước Điều này có nghĩa là bộ máy nhà nước khi xây dựng và ban hành pháp luật đềuphải xử lý mối quan hệ lợi ích của nhà nước và lợi ích của các cộng đồng làng xã.Trong bối cảnh các làng xã Việt Nam trước đây là “một tiểu triều đình” thì lợi ích củacác cộng đồng làng xã chi phối mạnh mẽ lợi ích của nhà nước Do vậy, luật nước chỉ
có thể phát huy hiệu lực và “thẩm thấu” vào đời sống khi chúng tương đồng trên nhữngnội dung cơ bản về quan hệ lợi ích được xác định trong các hương ước
* Một số nội dung cơ bản của hương ước:
Nhìn chung, hương ước của các làng thường có các nội dung cơ bản sau đây: + Những điều khoản quy định về ranh giới lãnh thổ làng
+ Những điều khoản quy định về việc bảo vệ, sử dụng đất đai và môi trường cóliên quan đến sản xuất nông nghiệp
+ Những điều khoản quy định về tổ chức quản lý các mối quan hệ trong làng ví
dụ quy định về xóm ngõ, phe giáp
+ Những điều khoản quy định về bộ máy quản lý và quan hệ giữa các bộ phận
Trang 23VD: Dưới đây là nội dung một số điều trong bản hương ước làng Quỳnh Đôi:
Điều 21: Lệ hương ước là lệ chung cho cả làng, kẻ trên, kẻ dưới, người lớn, ngườinhỏ, đã có lệ đặt ra thứ tự rồi, quan viên nên vui lòng giữ phép để làm gương cho cả làng.Nếu quan viên nào cứ họp riêng một mình, các ông già và người trẻ không được dự vàothời cách ấy là không hợp lệ hương ẩm, các lệ ấy nên thôi, quan viên nên nghĩ lại điều ấy
Điều 63: Người ta phải lấy luân lý làm trọng, nghĩa là làm cha thì tính nết cholành, làm con thì thờ cha mẹ cho có hiếu, làm anh thì ở với em cho hiền hòa, làm em thì
ở với anh cho cung kính, chồng nói thì vợ nghe, làm người nên cư xử như thế Nếukhông như thế chẳng khác gì loài súc vật Ai có điều lỗi không đợi người nhà trìnhlàng, chỉ cần có người cáo giác với làng, theo tội nặng nhẹ, làng phạt
Điều 69: Học trò cốt giữ nết na làm đầu, gần đây học trò chỉ biết chuyện tập văn bài,
về mặt tu luyện tính nết cho tốt thì còn thiếu, làng có bàn bạc làm việc gì thì tụ họp gièmpha, phỉ báng này nọ, lấy lời bậy bạ viết vào giấy Cái tệ ấy nên bỏ, từ nay về sau ai còngiữ thói ấy có người phát giác, làng bắt phạt một con lợn đáng giá là 3 quan tiền
Điều 72: Phàm ai uống rượu thì phải có điều độ, không nên uống nhiều, nếu ai uốngquá say nói ầm ĩ huyên náo, nói cạnh khóe người ta, khen chê chính quyền trong làng,chửi bóng chửi gió hàng xóm láng giềng, trêu ghẹo đàn bà, con gái đều là vì rượu làm,nên cả làng bắt phạt: lợn một con đáng giá là 1 quan 5 tiền
Điều 73: Trong làng cốt lấy sự không kiện nhau là quý, phàm ai có sự gì uất ức thìphải trình làng để làng xét xử, không được đưa nhau đi kiện ở quan Nếu làng xét xửkhông được rõ ràng công bằng thì mới đưa nhau đến quan xử, quan xử y như làng xửathì làng phạt lợn 1 con đáng giá 3 quan Nếu không trình làng đi kiện ở quan, làng cũngphạt như vậy
Trang 24
Điều 84: Khi đi chợ gặp người già, có mang xách gì, mình là người trẻ tuổi, sứcmạnh bạo nên mang xách hộ cho người già, nếu cứ lững thững thì làm lơ như thể khôngbiết, thời phải phạt
Điều 95: Người ở với nhau cùng xóm nên thương nhau, giúp đỡ nhau là lẽ thường.Các nhà giàu làng ta thường có lúa gạo bán ở chợ, tháng bảy tháng tám gặp mưa gió, cóngười đến vay thì nói hết rồi, cần tiền đến mua thì họ bán cao giá như thế thật đáng ghét
Từ nay về sau, các nhà ấy phải nên chừa cái tệ ấy Người nào còn giữ thói xấu ấy, cóngười phát giác thì không cho người làm thuê đến nhà ấy làm công
Nội dung của các điều khoản trên đã phản ánh sự khác biệt giữa lệ làng vàphép nước Điểm nổi bật ở đây là nội dung hương ước nhằm bảo vệ trật tự xã hội,bảo vệ những điều kiện của sản xuất và an ninh thôn xóm Hương ước đó đượcnâng lên thành nguyên tắc, quy ước và trở thành sức mạnh của làng xã Hươngước không chỉ đơn thuần mang tính chất là một hệ thống luật tục Trong hươngước không chỉ có những điều cấm không được làm những gì mà lại còn có nhữngđiều khuyên nên làm những gì
Có bốn loại quy ước chủ yếu trong các bản hương ước, những quy ước về chế độruộng đất; những quy ước về việc khuyến nông, bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trường;những quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm của các chức trách trong làng; nhữngquy ước về văn hóa tinh thần và về tín ngưỡng Loại quy ước về chế độ ruộng đất có tầmquan trọng hàng đầu Tuy ở nông thôn cũng có những nghề như lâm nghiệp, ngư nghiệp
và thủ công, mỹ nghệ nhưng ở tuyệt đại đa số các làng, nhân dân chủ yếu làm nôngnghiệp
Trong hương ước, những quy ước về chế độ ruộng đất được xác định một cách rất
cụ thể và chi tiết
Trong loại quy ước về việc thúc đẩy và bảo vệ sản xuất, thì quan trọng nhất lànhững quy ước về việc duy tu đê đập, việc sử dụng nguồn nước, khơi vét kênh mương,việc cấm lạm sát trâu bò để bảo đảm sức kéo trong cày, bừa, việc cấm bỏ ruộng hoang,việc cấm chặt cây ở rừng chắn gió (nhất là ở vùng ven biển) Ngoài ra, ở những làng
Trang 25mà nghề thủ công hoặc mỹ nghệ là nguồn sinh nhai quan trọng thì lại có thể có nhữngquy ước nhằm khuyến khích sự phát triển nghề thủ công hoặc mỹ nghệ ấy
Loại quy ước về tổ chức xã hội và về trách nhiệm của các chức dịch trong làng cóthể mang những chi tiết khác nhau nếu xem xét hương ước của các làng khác nhau Tuynhiên, về vấn đề này, các hương ước của mọi làng nói chung đều bao gồm hai nội dungchủ yếu:
Chiếm phần khá quan trọng trong hương ước là loại quy ước về văn hóa tinh thần,
về tín ngưỡng Các quy ước này gồm hai phạm vi chính Đó là các quy ước về việc bảođảm những mối quan hệ tốt trong gia đình, trong dòng họ, trong toàn thể dân làng, vềviệc coi trọng sinh nghiệp, về việc cưu mang giúp đỡ lẫn nhau, về việc khuyến học Nóichung, những quy ước thuộc loại này không đơn thuần chỉ mang tính chất là những luật
lệ mà còn bao hàm cả ý nghĩa giáo huấn nhằm mục đích xây dựng thuần phong mỹ tục.Các quy ước liên quan đến tín ngưỡng là những quy ước về việc tổ chức chăm nom vàduy tu những nơi thờ cúng, đình, đền, miếu, chùa, những quy ước về việc tuân thủ nhữngđiều cấm kỵ mang tính chất tôn giáo, tín ngưỡng thể lệ tổ chức việc cúng tế, tổ chức cáchội lễ dân gian khác nhau, nhất là tổ chức hội lễ của làng
* Vai trò và tác động của hương ước trong quản lý làng xã: Hương ước của làng có
vai trò tích cực lẫn tiêu cực
Mặt tích cực:
Tác dụng đoàn kết, cố kết thắt chặt các thành viên của làng lại với nhau, do đócủng cố tinh thần cộng đồng, tinh thần tập thể, và liên đới trách nhiệm Hương ước cóvai trò quan trọng đối với việc ổn định nếp sống trong làng và có sức mạnh một phần
là do các hình phạt và hình thức khen thưởng Kẻ vi phạm phải nộp tiền phạt, nhiềuhay ít thì tùy loại vi phạm và mức độ vi phạm Với những tội nào đó thì lại phải làm
cỗ lớn để trước là làm lễ tạ tội với thần Thành hoàng ở đình, sau là mời dân làng dựtiệc Nhân dân thường gọi đó là phạt vạ
Hương ước phản ánh tâm lý của dân làng, phản ánh một phương diện quan trọngcủa văn hóa làng Đó là các quan niệm của dân làng về điều phải, điều trái Luật phápnhà nước khó phản ánh sinh động các quan niệm phải, trái, đúng, sai của dân từng làngnhư trong hương ước Hương ước vừa uốn người ta vào khuôn phép của cộng đồng, vừađộng viên người ta hành động Và nếu người ta quen nói “phép vua thua lệ làng” thì câu
Trang 26tục ngữ này trước hết cần phải được hiểu là lệ làng, hương ước gần với dân làng hơn,được dân tuân thủ một cách dễ dàng hơn
Áp lực của hương ước là một áp lực tinh thần, và người ta tuân theo vì thói quen, vìthấy mọi người đều làm như thế Như vậy, làng là gốc nước và luật nước ban hành chủyếu là cho các làng và thực hiện ở các làng Theo lý luận, luật nước là các quy phạm cótính phổ biến và điển hình tạo ra các khuôn khổ pháp lý chung cho sự điều chỉnh Tuynhiên, các khuôn khổ pháp lý chừng ấy không thể áp dụng chung cho mọi đối tượng, mọinơi trong hoàn cảnh làng xã Việt Nam tự trị và khép kín với lối sống và tập tục khácnhau Để có thể đi vào đời sống, phát huy khả năng điều chỉnh của mình, các quy phạmcủa luật nước phải tìm cách hoá thân vào các quy định của hương ước, thông qua hươngước để đưa các mục tiêu điều chỉnh của mình đến từng cộng đồng làng xã
Tóm lại, hương ước là một khế ước tự nguyện của toàn thể dân làng Khế ước ấygắn bó dân làng với nhau và điều tiết các trách nhiệm và quyền lợi của mọi thành viênnên nó có ý nghĩa trong việc bổ sung cho luật pháp khi cần xử lí, những vấn đề rất cụ thểnảy sinh từ nếp sống đặc thù từng làng Không chỉ có ý nghĩa như một thứ luật pháp mà
nó có ý nghĩa như một hệ thống tiêu chuẩn đạo đức, chứa đựng những giá trị văn hóa dângian hình thành từ lâu đời và thường xuyên được bổ sung Hương ước bao hàm cả yếu tốtích cực và tiêu cực và phần nào phản ánh được hệ ý thức của dân làng, trước hết là hệ ýthức liên quan đến thế giới hiện thực Trong hương ước cũng đã đề cập đến mối quan hệgiữa con người với thế giới siêu nhiên Những mối quan hệ này lại được thể hiện chủ yếutrong các lễ hội dân gian và nhất là trong lễ hội của làng
Mặt tiêu cực: Lệ làng góp phần tạo nên trong nhân dân tư tưởng cục bộ, coi
thường luật pháp của nhà nước, tâm lý phe phái, đua ganh hư vị Làm con người đánhmất cái tôi nên ít có ý thức khẳng định cá nhân, hạn chế sự sáng tạo
3.4 Tái lập hương ước và vai trò của hương ước mới trong quản lý làng xã hiện nay
Hương ước thường được gọi là lệ làng, và “phép vua thua lệ làng” là biểu hiệnsinh động và rõ nét tính tự trị của làng xã đối với nhà nước qua các thời kỳ lịch sử Vìthế việc tái lập hương ước và sử dụng những nội dung của hương ước để quản lý làng
xã là điều rất quan trọng
Trang 27Làng xã Việt Nam trong lịch sử không đóng kín cửa, không bàng quan với mọibiến động bên ngoài hay từ bên trên nó, trái lại nó rất quan tâm, nhạy cảm đối vớinhững vấn đề thiết thân như trị thủy, chống ngoại xâm Nét bao trùm là làng xã ViệtNam gắn bó chặt chẽ với đất nước Nhân dân gắn bó với quê hương Trong lịch sử lâudài của dân tộc, con người Việt Nam rất quan tâm đến vận mệnh của Tổ quốc sẵn sàng
hy sinh vì độc lập tự do của đất nước, đoàn kết chống ngoại xâm Mối liên kết bềnvững, lòng nhân ái, ý thức tự cường dân tộc là truyền thống tươi đẹp, là mặt tích cựccần được tiếp tục phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN ngàynay Bên cạnh đó, cũng cần khắc phục những tàn dư “phép vua thua lệ làng” của xãhội cũ còn rơi rớt lại để đi vào CNH – HĐH đất nước
Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay, Đảng và nhà nước ta đã đề rachủ trương cho phép các làng xã được tái lập hương ước nhằm tạo điều kiện cho việcquản lý chặt chẽ và hiệu quả hơn nông thôn nước ta, góp phần bài trừ các tệ nạn xãhội, tăng cường tình đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để thực hiện nếp sống mới,xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa Đây là một chủ trương đúng đắn được nhândân đồng tình ủng hộ và hiện đang là một trong những tiêu chí để công nhận làng vănhóa Đánh giá đúng vai trò của hương ước trong việc xây dựng một nền văn hóa ViệtNam đậm đà bản sắc dân tộc, đặc biệt là chủ trương xây dựng nông thôn mới hiện nay.Hương ước có sức mạnh to lớn trong việc điều chỉnh hành vi của quần chúngnông dân ở các làng xã, do đó đảng và nhà nước ta chủ trương các làng xã tái lậphương ước mới Tuy nhiên để tránh tình trạng lệ làng trái với phép nước thì nhà nướcphải có định hướng trong việc xây dựng nội dung của hương ước; các nội dung củahương ước đề ra phải là những quy định nằm trong pháp luật hoặc không được trái vớiHiến pháp và pháp luật của nhà nước Hương ước mới đảm bảo việc loại trừ các hủtục, các tệ nạn xã hội và xây dựng nếp sống mới ở làng xã
Trang 29CHƯƠNG 4: VĂN HÓA LÀNG XÃ VIỆT NAM
4.1 Tín ngưỡng - tôn giáo trong làng xã cổ truyền Việt Nam
4.1.1 Đình làng và tín ngưỡng Thành hoàng
a) Đình làng - đặc trưng tín ngưỡng độc đáo của người Việt
Đình làng là nơi thờ phụng Thành hoàng (thần bảo vệ làng) và ông Khai canh; trởthành một biểu tượng văn hoá tâm linh của mỗi người dân quê Việt Làng nào cũng cóđình, có khi mỗi thôn lại có một đình riêng Đình để thờ Thành hoàng nhưng đồng thờicũng trở thành nơi hội họp của chức sắc trong làng, hay là nơi sinh hoạt của cộng đồnglàng xã Mọi hoạt động này đều xảy ra ở đình với sự chứng kiến của Thành hoàng.Những sinh hoạt văn hóa tại đình làng nhằm củng cố ý thức cộng đồng Gắn với tínngưỡng này là hội làng và được tổ chức hàng năm Đây cũng là một tín ngưỡng thờ cúngngười có công với làng với nước Nó là cơ sở cho tín ngưỡng thờ cúng các anh hùng dântộc
Tín ngưỡng Thành hoàng: Thành hoàng là vị thần được tôn thờ chính trong đìnhlàng Việt Nam Vị thần này dù có hay không có họ tên và lai lịch, dù xuất thân bất kỳ từtầng lớp nào, thì cũng là chủ tể trên cõi thiêng của làng và đều mang tính chất chung là
hộ quốc tý dân (hộ nước giúp dân) ở ngay địa phương đó
Trong phạm vi gia đình, người Việt thờ tổ tiên và vài vị thần như Táo công, Thổcông, thần Tài ; ở phạm vi làng xã, người Việt thờ Thành hoàng Thành hoàng làng(Thành hoàng) là danh từ chung để chỉ vị thần được thờ trong một làng xã Việt Nam.Thường những người có công với làng hoặc với nước sẽ được tôn làm Thành hoàng.Giống như Táo công và Thổ công, Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc của mộtlàng và thường được thờ ở đình làng Do vậy hầu hết ở mỗi làng quê hay phố nghề (nơithị thành) đều lập đình (hoặc đền, miếu) thờ vị Thành hoàng của làng hay phường hội.Thành hoàng là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng ấp hay sáng lập nên mộtnghề (ông tổ của nghề).Thành hoàng là vị thần linh cai quản và che chở cho dân làng.Mỗi làng có một vị thần Thành hoàng riêng được dân làng tôn thờ Ở nhiều làng xã mớilập về sau do công cuộc khai hoang đều có dựng đền, đình, miếu để thờ thần Thànhhoàng của làng