Sự tồn tại và phát triển của làng luôn là một dòng chảy không ngừng nghĩ. Nhu cầu nâng cao chất lượng sống trong làng là đòi hỏi tự nhiên của một cơ thể sống. Song nếu sự biến động tất yếu đó tạo ra nguy cơ làm suy giảm hay mất đi những giá trị tốt đẹp của làng. Chính vì vậy, để bảo tồn văn hóa làng Cổ Định cần có những giải pháp sau:
Thứ nhất, cần có sự nhận thức đúng đắn và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành và các tổ chức xã hội, giữa Nhà nước với cộng đồng cư dân làng và với mỗi người dân trong mọi hoạt động nhằm bảo tồn di sản văn hóa làng.
Thứ hai, xác lập sự gắn bó giữa di sản văn hóa làng với cộng đồng cư dân làng xã thông qua việc tổ chức khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa làng nhằm đưa tới những thay đổi thật sự trong cơ cấu kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của dân làng.
Thứ ba, tổ chức tốt các hoạt động văn hóa làng nhằm tạo ra các sản phẩm văn hóa đích thực, qua đó vừa trực tiếp phục vụ nâng cao đời sống mọi mặt của dân làng, vừa đưa tới sự phát triển mạnh mẽ các hoạt động dịch vụ, du lịch.
Thứ tư, đầu tư cho cơ sở vật chất. Đầu tư cơ sở vật chất, nguồn vốn để bảo tồn di sản, sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm nguồn đầu tư đó. Đầu tư cho nhiệm vụ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để quản lý di sản.
Thứ năm, tăng cường biện pháp bảo vệ di sản: Tăng cường năng lực tổ chức, quản lý nhà nước đối với di sản. Xã hội hóa công tác bảo vệ, thông qua phát huy vai trò của địa phương, giải quyết hài hòa giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ sáu, phân cấp quản lý di tích danh thắng trên địa bàn toàn tỉnh một cách khoa học. Để tăng cường trách nhiệm, nâng cao hiệu quả quản lý di tích, trước hết cần phải có một cơ cấu phân cấp hợp lý. Đặc biệt, cần quan tâm đến lực lượng cán bộ chuyên trách cấp xã và Ban quản lý các ngôi đình làng, đền, chùa. Đây là bộ phận gần nhất, trực tiếp gắn liền với di tích nhất. Vì vậy, phải thường xuyên mở các lớp tập huấn, trang bị cho họ những kiến thức cơ bản và cách thức xử lý những tình huống có khả năng xảy ra đối với đình làng, đền, chùa nói riêng và hệ thống di tích nói chung.
Thực tế, trong những năm qua, Ban Quản lý Di tích danh thắng tỉnh Thanh Hóa cũng đã tổ chức nhiều đợt tập huấn nhưng do nguồn kinh phí có hạn nên thành phần tập huấn cũng rất hạn chế. Do đó, điều quan trọng nhất là địa phương phải tạo điều kiện cho họ tự tìm hiểu, nâng cao kiến thức, đặc biệt là những kiến thức mang tính chuyên môn về bảo tồn và phát huy di sản.
Đời sống văn hóa làng Cổ Định phong phú và đa dạng phản ánh những nét đặc trưng riêng của một ngôi làng cổ truyền thống. Thật hiếm có một làng xã nào dưới thời trung đại có tới 10 ngôi đình là nơi sinh hoạt văn hóa của làng xã và thờ Thành hoàng làng, những bậc tiền nhân có công khai khẩn đất đai lập làng. Phật giáo có ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống văn hóa của làng Cổ Định, nghiên cứu cho biết làng có đến 9 ngôi chùa, trong đó chùa Am Tiên được nhiều nguồn tư liệu ghi chép và từng là trung tâm Phật giáo của một vùng. Qua những ghi chép trong các bộ chính sử và những dấu tích, địa danh còn sót lại trên thực địa cho thấy vùng Núi Nưa dưới thời trung đại là một trong những trung tâm tu luyện lớn về Đạo giáo ở đồng bằng sông Mã. Nho giáo, được phản ánh qua Văn chỉ làng Cổ Định, nơi thờ Khổng tử, lưu danh những người đỗ đạt trong tổng Cổ Định, và là biểu hiện thiêng liêng, khuyến khích việc học tập trong nhân dân. Nhìn chung, trải qua các thời kỳ lịch sử cho thấy dấu ấn về các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở làng Cổ Định khá đậm nét so với các làng xã khác trong vùng.
Với truyền thống khoa bảng hơn 600 năm, làng Cổ Định có 9 người đỗ Tiến sĩ, 7 người đỗ Hương cống, Cử nhân, Tú tài. Những con số thống kê những người đỗ đạt trên chắc chắn vẫn chưa thể thật đầy đủ nhưng kết quả khoa cử trên thật đáng tự hào cho một làng ở vùng đồng bằng trung du. So sánh với các làng xã thuộc huyện Triệu Sơn cho thấy Cổ Định là một làng khoa bảng bậc nhất và là một trong những làng khoa bảng của xứ Thanh dưới thời trung đại. Từ nền khoa cử Nho học đã hình thành nên một tầng lớp trí thức trong làng xã, nhiều người đỗ đạt ra làm quan, có những đóng góp quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao được sử sách ghi danh. Sáng tác văn tự Hán - Nôm ở Cổ Định còn là sản phẩm của tầng lớp trí thức Nho học được thể hiện qua các văn bia, hoành phi, câu đối ở đền, đình, chùa, miếu và gia phả của các dòng họ. Sáng tác dân gian được xem là đặc sản ở làng Cổ Định, từ một vùng đất văn hiến, có lịch sử phát triển lâu đời với nhiều địa danh sông núi huyền thoại, nơi chứng kiến biết bao sự kiện quan trọng của đất nước, từ đó được nhân dân đúc kết lại thành những câu truyện kể dân gian, truyền thuyết, phản ánh quá trình khai sơn lập làng, hay gắn với các địa danh, sự kiện lịch sử.
Cổ Định là một vùng đất có truyền thống khoa bảng, yêu nước chống giặc ngoại xâm, một làng quê có nhiều danh sơn, thủy tú. Đây còn là nơi lưu giữ nhiều di sản văn hóa vật thể đặc sắc của dân tộc, hiện làng có 7 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, cấp tỉnh có giá trị về mặt kiến trúc, nghệ thuật, phản ánh đời sống kinh tế, văn hóa của làng xã qua các thời kỳ lịch sử. Các di tích, kiến trúc đình, đền, chùa, miếu, nghè là nơi thờ những người có công với làng xã, dân tộc trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao, dưới các triều đại quân chủ Việt Nam. Tất cả những yếu tố trên đã góp phần tạo nên những nét đặc trưng văn hóa của một làng quê văn hiến làng Cổ Định.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (1990), Lịch sử Thanh Hóa (tập 1), Nxb Khxh, Hà Nội.
2. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2000), Tên làng xã Thanh Hóa, (tập 1), Nxb Thanh Hóa.
3. Đào Duy Anh (1992), Hán Việt từ điển, Nxb Khxh, Hà Nội.
4. Đinh Xuân Lâm (2012), Kẻ Nưa – Nông Cống (Thanh Hóa), đất phát tích của dòng họ Doãn trong lịch sử dân tộc, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3, tr 3-6.
5. Hoàng Thị Thanh Bình (2011), bài văn bia về hành trạng nhà khoa bảng Lê Bật Tứ, tạp chí nghiên cứu Hán Nôm, số 3 (106), tr 60-72.
6. Lê Đình Cảnh (Cb) (2015), Cổ Định – Tân Ninh làng quê văn hiến, Nxb, Hội nhà văn.
7. Ngô Sỹ Liên và các sứ thần triều Lê (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb Khxh, Hà Nội.
8. Nguyễn Dữ (2001), Truyền kỳ mạn lục giải âm, Trung tâm Khxh và nhân văn quốc gia – viện nghiên cứu Hán Nôm (dịch), Nxb Khxh, Hà Nội.
9. Nguyễn Duy Hinh (2004), Thần làng và thành hoàng, tạp chí di sản văn hóa, số 9, tr 56 – 63.
10. Ngô Đức Thọ (2016), Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 – 1919), Nxb văn học, Hà Nội.
11.Phan Huy Lê (1959), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 2, Nxb giáo dục, Hà Nội.
12.Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb giáo dục, Hà Nội.
13.Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, (tập 2), Nxb giáo dục, Hà Nội.
14.Toan Ánh (1991), Phong tục Việt Nam (tục thờ cúng tổ tiên), Nxb Khxh, Hà Nội.
15.Trần Trọng Kim (2010), Việt Nam sử lược, Nxb Thời đại, Hà Nội.
16.Vũ Duy Mền (2010), Hương ước cổ làng xã đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
PHỤ LỤC
1. Bản đồ hành chính xã Tân Ninh
Nguồn: Phòng bản đồ - viễn thám và hệ thống thông tin địa lý – Viện địa lý nhân văn.
2. Bản đồ hành chính huyện Triệu Sơn
Nguồn: https://www.invert.vn/ban-do-thanh-hoa-ar2526.
Phụ lục 2: Một số hình ảnh di tích tiêu biểu 1.Di tích Núi Nưa – Đền Nưa và chùa Am Tiên
Núi Nưa
Nguồn: https://www.tuyenquangtv.vn/xa-hoi/202002/khu-di-tich-lich-su- quoc-gia-am-tien-noi-mong-den-chon-uoc-ve-84a71el.
Tam quan Đền Nưa
Nguồn: https://nhandan.vn/khai-hoi-den-nua-am-tien-post736568.html.
Huyệt đạo trên đỉnh Núi Nưa
Nguồn: https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/huyet-dao-thieng-tren- dinh-ngan-nua-20170115202142389.htm.
Lễ hội Đền Nưa – Am Tiên
Nguồn: https://thuonghieucongluan.com.vn/thanh-hoa-di-tich-lich-su- quoc-gia-am-tien-noi-giao-thoa-cua-dat-troi-a86405.html.
2.Đền thờ Hoàng giáp Lê Bật Tứ
Toàn cảnh Đền thờ
Nguồn: https://vhds.baothanhhoa.vn/van-hoa/le-bat-tu-nbsp-va-tu tuong-trung-quan-ai-quoc-cua-ke-si-co-dinh/26012.htm.
“Lê tướng công từ bi” ( Bia ông tướng họ Lê), do vua sai khắc bài minh ghi nhận công đức của Hoàng giáp Lê Bật Tứ.
Nguồn: https://vhds.baothanhhoa.vn/van-hoa/le-bat-tu-nbsp-va-tu tuong-trung-quan-ai-quoc-cua-ke-si-co-dinh/26012.htm.
3.Nghè giáp
Chính điện nghè Giáp mang dấu ấn kiến trúc thời Hậu Lê.
Nguồn: https://vhds.baothanhhoa.vn/van-hoa/ve-tham-nghe giap/21116.htm.
Năm 1992, Nghè giáp được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh Nguồn: https://vhds.baothanhhoa.vn/diem-den-xu-thanh/net-co-kinh- cua-nghe-giap-duoi-day-ngan-nua/21966.htm.
4.Nhà thờ họ Lê Sỹ
Nhà thờ họ Lê Sỹ Nguồn: https://hotoc.vn/lesy.
Phụ lục 3: Giếng cổ
Giếng cổ trên đỉnh núi Nưa – chùa Am Tiên
Nguồn: https://vanhoatamlinh.com/den-nua-am-tien-o-thanh-hoa.