cao năng suất lao động, rút ngắn thời gian xây dựng, đảm bảo chất lượng công trình mà trong rất nhiều trường hợp còn làm giảm tai nạn do điều kiện làm việc của công nhân được cải thiện,
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐAI HỌC SƯ PHẠM KĨ THUẬT
KHOA KĨ TH UẬT XÂY DỰNG
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
AN TOÀN LAO ĐỘNG
SV: Đặng Tiến Nghĩa
MSV: 1911506410117
LHP: 122ATLD01
CĐ: Máy thi công
GVHD : Đoàn Vĩnh Phúc
Trang 2Đà Nẵng, ngày 12 tháng 12 năm 2022
M C L C:Ụ Ụ
PHẦN 1: KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN NHÂN 3
1 Khái niệm 3
2 Nguyên nhân 4
PHẦN 2: BIỆN PHÁP PHÒNG TRÁNH 6
1 Về mặt tổ chức 6
2 Về mặt kĩ thuật 7
PHẦN 3:CÁC TRƯỜNG HỢP XẢY RA TAI NẠN 11
PHẦN 4: NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ 14
Trang 3Phần 1: Khái niệm và nguyên nhân
1.Khái niệm:
- máy thi công lao động là :
Các loại máy thi công đất: máy đào xúc, máy san gạt, đầm đất máy ép, đóng cọc
Các thiết bị nâng chuyển: thang tải, trụ nâng cần trục các loại được nâng chuyển,
lắp ráp các thiết bị công nghệ và vật liệu xây dựng
Các loại máy để gia công các chi tiết, linh kiện, phụ tùng như
Máy gia công gỗ (cưa bào…)
Máy gia công sắt thép (cắt uốn hàn…)
Các loại máy để sản xuất vật liệu xây dựng như;
Máy trộn bê tông, trộn vữa
Máy đập, nghiền, sàng rửa các loại sỏi đá…
Các loại máy làm công tác hoàn thiện: máy cưa, cắt, mài nhẵn
Máy đánh bóng
Máy phun vữa, phun sơn
Các loại thiết bị điện: máy phát điện, máy biến thế
Các thiết bị chịu áp lực: nồi hơi, máy nén khí các bình chứa khí
Các phương tiện vận chuyển: ôtô, máy kéo
Hầu hết các loại máy móc, thiết bị này đều được trang bị mô tơ, tời, có các phụ tùng
dây cáp, pu li, ròng rọc, móc cẩu, đòn treo
Hiện nay công nghệ xây dựng công trình phát triển theo hướng công nghiệp hóa, cơ giới hóa tất cả các dạng công tác có khối lượng lớn, tốn nhiều công sức đối với các quá trình thi công Quá trình thi công được công nghiệp hóa và cơ giới hóa sẽ không những nâng
Trang 4cao năng suất lao động, rút ngắn thời gian xây dựng, đảm bảo chất lượng công trình mà trong rất nhiều trường hợp còn làm giảm tai nạn do điều kiện làm việc của công nhân được cải thiện, tạo điều kiện an toàn và vệ sinh lao động trong các quá trình thi công Máy móc thiết bị sử dụng trong công nghệ xây dựng ngày càng phong phú và đa dạng về chủng loại, các tính năng kỹ thuật ngày càng tinh vi hiện đại hơn Hầu hết các loại máy móc thiết bị dùng trong thi công đều có nhiều bộ phận phức tạp như mô-tơ, tời kéo, đòn treo dây cáp, trục chuyển động, và các thiết bị phụ tùng khác Cho nên nếu không hiểu biết về cơ cấu tính năng hoạt động của máy, không nắm vững quy tắc vận hàng thì khi sử dụng có thể phát sinh những sự cố hư hỏng và tai nạn lao động
2 Nguyên nhân:
- Các trường hợp sự cố, tai nạn khi sử dụng máy móc thiết bị di nhiều nguyên nhân gây ra; ở đây chỉ giới hạn xem xét và phân tích các nguyên nhân chủ yếu do lắp đặt, sử dụng và quản lý theo những nguyên lý chung cho tất cả các loại máy móc thiết bị được dùng trong thi công
Có rất nhiều nguyên nhân xảy ra tai nạn trong quá trình thi công Một trong những nguyên nhân chính xảy ra là
do vận hành máy thi công trong quá trình làm việc : Dưới đây là một số nguyên nhân chính khi sử dụng máy :
1 Máy sử dụng không tốt:
a) Máy không hoàn chỉnh:
Trang 5Thiếu thiết bị an toàn hoặc có những đã bị hỏng, hoạt động thiếu chính xác, mất tác dụng tự động bảo vệ khi làm việc quá giới hạn tính năng cho phép
Thiếu các thiết bị tín hiệu âm thanh, ánh sáng (đèn, còi, chuông)
Thiếu các thiết bị áp kế, vôn kế, ampe kế, thiết bị chỉ sức nâng của cần trục ở độ vươn tương ứng
b) Máy đã hư hỏng:
- Các bộ phận, chi tiết cấu tạo của máy đã bị biến dạng lớn, cong vênh, rạn nứt, đứt gãy
- Hộp số bị trục trặc làm cho vận tốc chuyển động theo phương ngang, phương đứng, xoay không chính xác theo điều khiển của người vận hành
- Hệ thống phanh điều khiển bị gỉ mòn không đủ tác dụng hãm
2 Máy bị mất cân bằng ổn định:
Do máy đặt trên nền không vững chắc: nền yếu hoặc nền dốc quá góc nghiêng cho phép khi cẩu hàng hoặc
đổ vật liệu
Trang 6Cẩu nâng quá trọng tải.
Tốc độ di chuyển, nâng hạ vật với tốc độ nhanh gây
ra mômen quán tính, mômen ly tâm lớn Đặc biệt hãm phanh đột ngột gây ra lật đổ máy
Máy làm việc khi có gió lớn (trên cấp 6), đặc biệt đối với máy có trọng tâm cao
3 Thiếu các thiết bị che chắn, rào ngăn nguy hiểm:
Vùng nguy hiểm khi máy móc hoạt động là khoảng không gian hay xuất hiện mối nguy hiểm cho sức khoẻ
và tính mạng con người Trong vùng này thường xảy ra các tai nạn sau:
Máy kẹp, cuộn quần áo, tóc, chân tay ở các bộ phận truyền động
Các mãnh dụng cụ và vật liệu gia công văng bắn vào người
Bụi, hơi, khí độc toả ra ở các máy gia công vật liệu gây nên các bệnh ngoài da, ảnh hưởng cơ quan hô hấp, tiêu hoá của con người
Các bộ phận máy va đập vào người hoặc đất đá, vật cẩu từ máy rơi vào người trong vùng nguy hiểm Khoan đào ở các máy đào, vùng hoạt động trong tầm với cảu cần trục
4 Sự cố tai nạn điện:
Dòng điện rò rỉ ra vỏ và các bộ phận kim loại của máy do phần cách điện bị hỏng
Trang 7Xe máy đè lên dây điện dưới đất hoặc va chạm vào đường dây điện trên không khi máy hoạt động ở gần hoặc di chuyển phía dưới trong phạm vi nguy hiểm
5 Thiếu ánh sáng:
Chiếu sáng không đầy đủ làm cho người đIều khiển máy móc dễ mệt mỏi, phản xạ thần kinh chậm, lâu ngày giảm thị lực là nguyên nhân gián tiếp gây chấn thương, đồng thời làm giảm năng suất lao động và hạ chất lượng sản phẩm
Chiếu sáng quá thừa gây hiện tượng mắt bị chói, bắt buộc mắt phải thích nghi Điều này làm giảm sự thu hút của mắt, lâu ngày thị lực giảm
Thiếu ánh sáng trong nhà xưởng hoặc làm việc vào ban đêm, sương mù làm cho người điều khiển máy không nhìn rõ các bộ phận trên máy và khu vực xung quanh dẫn tới tai nạn
6 Do người vận hành:
Không đảm bảo trình độ chuyên môn: chưa thành thục tay nghề, thao tác không chuẩn xác, chưa có kinh nghiệm xử lý kịp thời các sự cố
Vi phạm các điều lệ, nôị quy, quy phạm an toàn: sử dụng máy không đúng công cụ, tính năng sử dụng đảm bảo các yêu cầu về sức khoẻ: mắt kém, tai nghễnh ngãng, bị các bệnh về tim mạch,
Vi phạm kỷ luật lao động: rời khỏi máy khi máy đang còn hoạt động, say rượu bia trong lúc vận hành máy, giao máy cho người không có nghiệp vụ, nhiệm vụ điều khiển
Trang 8Phần 2: Biện pháp phòng tránh
1.Biện pháp về tổ chức
Tổ chức tốt việc quản lý máy
Thủ trưởng đơn vị sử dụng quyết định bằng văn bản cho đơn vị và cá nhân chịu trách nhiệm quản lý và
sử dụng máy, bao gồm: Quản lý hồ sơ, lý lịch, thuyết minh, hướng dẫn kỹ thuật lắp đặt, bảo quản và sử dụng
an toàn; thực hiện đăng kiểm với cơ quan chức năng nhà nước những máy thuộc diện đăng kiểm; thực hiện bảo dưỡng và sửa chữa định kỳ theo kế hoạch Khi có sự
cố hay hư hỏng máy, phải thực hiện sửa chữa, đại tu, chạy thử và thử nghiệm theo quy chế của nhà sản xuất
Tuyển chọn và sử dụng thợ vận hành
Người vận hành máy phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn sau:
- Có giấy chứng nhận bảo đảm sức khỏe do cơ quan
y tế cấp
- Có văn bằng, chứng chỉ về đào tạo chuyên môn
do cơ quan có thẩm quyền cấp
- Có thẻ hoặc giấy chứng nhận đã được huấn luyện
về an toàn lao động
- Được trang bị đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân phù hợp với công việc thực hiện
2.Biện pháp về kỹ thuật
Bảo đảm chất lượng máy tốt, an toàn khi vận hành
Trang 9Có đầy đủ các thiết bị an toàn phù hợp, hoạt động chính xác và bảo đảm độ tin cậy
Theo chức năng và công dụng, các thiết bị an toàn được phân thành các nhóm chủ yếu sau: thiết bị an toàn tự động, thiết bị phòng ngừa và thiết bị phát tín hiệu khi có nguy hiểm
- Thiết bị an toàn tự động có tác dụng làm ngừng hoạt động của một bộ phận nào đó khi nó làm việc đến mức giới hạn cho phép (ví dụ: thiết bị không chế quá tải ở cần trục) hoặc làm giảm tác động của yếu tố nào
đó đã vượt qua giới hạn cho phép (ví dụ: van giảm áp của thiết bị chịu áp lực,….)
- Thiết bị phòng ngừa có tác dụng báo hiệu mức độ làm việc của máy (ví dụ: thiết bị chỉ sức nâng của cần trục ở tầm với tương ứng hoặc áp kế ở thiết bị chịu áp lực,….)
- Thiết bị phát tín hiệu khi có nguy hiểm như ánh sáng, màu sắc hoặc âm thanh
Kiểm tra, thử nghiệm độ bền và độ tin cậy của các bộ phận, cơ cấu chuyển động và các chi tiết máy:
- Kiểm tra độ bền của dây cáp hoặc dây xích: Không để dây cáp hay dây xích bị kéo căng quá lực căng cho phép
- Trong quá trình sử dụng, dây cáp hoặc dây xích sẽ
bị hư mòn, có thể bị đứt trong quá trình làm việc và gây nguy hiểm, do đó phải tiến hành kiểm tra để loại bỏ khi không còn bảo đảm tiêu chuẩn
- Kiểm tra thử nghiệm các bộ phận kết cấu: Tất cả các máy móc thiết bị sau khi lắp đặt, sửa chữa lớn hay
Trang 10sau một quá trình làm việc phải được kiểm tra thử nghiệm theo quy định của nhà sản xuất Một trong những phương pháp kiểm tra là thử quá tải Thử quá tải thường áp dụng với cần trục hoặc thiết bị chịu áp lực…
- Kiểm tra phanh: Phanh là một cơ cấu rất quan trọng để bảo đảm an toàn khi vận hành máy, tác dụng của nó là dùng để giảm hoặc ngừng chuyển động của một bộ phận nào đó Luôn kiểm tra để đảm bảo mômen
do phanh sinh ra thắng được mômen ở trục quay của máy Khi phanh không còn tác dụng thì phải loại bỏ ngay
Bảo đảm sự ổn định của máy
Sự ổn định của bất kỳ loại máy xây dựng nào đều là điều kiện cần thiết để sử dụng máy an toàn Sự ổn định cần được bảo đảm đối với máy đặt cố định ở một chỗ, khi di chuyển, trong lúc máy làm việc hoặc khi không làm việc
Cần chú ý một số nguyên tắc chính như sau:
- Không cẩu quá tải làm tăng mômen lật
- Không đặt cần trục lên nền hoặc đường ray có độ dốc lớn
- Không phanh đột ngột khi hạ vật cẩu
- Không quay cần trục hay tay cần nhanh
- Không nâng hạ tay cần nhanh
- Không làm việc khi có gió lớn (trên cấp 6)
Lắp đặt các thiết bị che chắn và rào ngăn vùng nguy hiểm của máy
Trang 11Thiết bị che chắn và rào ngăn có tác dụng ngăn cách các bộ phận cơ thể của người làm việc xâm phạm vùng nguy hiểm của máy để không xảy ra tai nạn lao động Tất cả các loại thiết bị che chắn và rào ngăn đều phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Phải ngăn ngừa được tác động của các yếu tố nguy hiểm lên người Thiết bị che chắn tay người làm việc chạm phải lưỡi cưa máy
- Phải bền chắc dưới các tác động của cơ, nhiệt hoặc hoá năng vì các tác động này có thể gây biến dạng hình học, nóng chảy hoặc ăn mòn máy
- Không gây cản trở cho việc quan sát, xem xét, làm vệ sinh hoặc tra dầu mỡ các bộ phận được che chắn
- Luôn khóa máy (để ngắt nguồn năng lượng) khi dùng xong để tránh những người không có trách nhiệm thao tác máy
Thực hiện các biện pháp đề phòng sự cố tai nạn điện
Đề phòng bị điện giật khi chạm vào các phần mang điện
- Đảm bảo cách điện tốt cho các thiết bị và đường dây Thường xuyên kiểm tra chất cách điện (ít nhất một năm một lần) Nếu dòng điện dò vượt quá 10mA đối với dòng điện xoay chiều và 50mA đối với dòng điện một chiều thì phải thay thế chất cách điện
- Bao che, ngăn cách các bộ phận mang điện
- Nếu vỏ máy, dây điện bị vỡ, hở hoặc thủng thì phải thay ngay
Trang 12- Cầu dao, công tắc điện của máy phải để trong hộp kín có khóa ở những nơi khô ráo và thuận tiện cho thao tác
- Khi đang làm việc mà mất điện thì phải ngắt điện cho các máy khỏi lưới điện
Đề phòng bị giật điện khi chạm vào vỏ máy bị chạm mát
Thực hiện nối đất từ vỏ máy Điện trở nối đất là cọc sắt hoặc nhôm có điện trở Rnđ nhỏ hơn 4 Ω Trường hợp a) nối vỏ máy qua dây trung tính, áp dụng trong trường hợp máy sử dụng nguồn điện có dây trung tính nối đất (thường là từ lưới điện quốc gia); trường hợp b) nối vỏ máy trực tiếp xuống đất, áp dụng trong trường hợp máy sử dụng nguồn điện mà không có dây trung tính (thường là từ máy phát điện chạy xăng hoặc dầu)
Phần 3: Các trường hợp xảy ra tai nạn
Trang 131.Khi máy được vận hành trong các điều kiện môi trường sử dụng khác nhau như: nhiệt độ, gió, mưa, giông bão, tuyết rơi, sấm sét, nhiễu loạn điện từ, bụi và sương mù…có thể gây trực tiếp các mối nguy hiểm cho
người vận hành cũng như sự cố trong quá trình vận hành máy
2 Tại công trường cải tạo hệ thống thoát nước, xe bơm hoàn thành việc đổ bê tông nền hệ thống thoát nước
Xe bơm lùi lại trên đường tạm và đâm chết một công nhân Vì vậy Khi làm việc với các máy móc xây dựng, cần đưa ra các chỉ dẫn về loại phương tiện được sử dụng, lộ trình di chuyển, mục đích sử dụng và phương thức vận hành Người lao động phải được thông báo trước khi công việc bắt đầu
Phần 4: Nhận xét và đánh giá
Tai nạn lao động (TNLĐ) xảy ra hằng năm gần đây đang
có chiều hướng gia tăng về số vụ cũng như mức độ
Trang 14nghiêm trọng Không ít lao động đã thiệt mạng, song sự phối hợp của các cơ quan chức năng để giảm thiểu những vụ việc thương tâm dường như vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn Vì thế cần phải có sự cương quyết hơn nữa của cơ quan quản lý Nhà nước, chủ sử dụng lao động và ý thức của người lao động, chung tay vì môi trường lao động an toàn, hiệu quả
Tăng số vụ và mức độ nghiêm trọng
Theo báo cáo từ Cục An toàn lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB và XH), trong năm 2017 cả nước đã xảy ra 8.956 vụ TNLĐ (bao gồm cả khu vực có quan hệ lao động và khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động) Đáng tiếc là đã có tới 898
vụ làm 928 người chết, còn số người bị thương nặng trong các vụ TNLĐ là 1.915 người Các vụ TNLĐ không những gây ra nỗi đau xé lòng cho các thân nhân người bị chết mà còn để lại hậu quả về cả tinh thần lẫn thiệt hại vật chất cho xã hội
Nhìn sâu hơn vào bức tranh này, giai đoạn 1995 - 2005 cho thấy trung bình mỗi năm xảy ra khoảng 2.600 vụ, làm
260 người chết Còn sang đến giai đoạn 2006 - 2016 số TNLĐ đã lên tới 6.000 vụ/năm, làm 600 người chết, thiệt hại khoảng 200 tỷ đồng Năm 2016, cả nước xảy ra gần 8.000 vụ Như vậy số TNLĐ đã tăng hằng năm cả về số vụ lẫn mức độ nghiêm trọng Có rất nhiều nguyên nhân, đôi khi chỉ là một sơ suất rất nhỏ như dừng xe ô-tô trên dốc cao để bốc hàng, trượt chân ngã, tường đổ Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia thì TNLĐ thường xảy ra do một số nguyên nhân như người sử dụng lao động, người lao động
vi phạm các quy định về an toàn, vệ sinh lao động
(ATVSLĐ) Đặc biệt, các DN coi thường việc tổ chức huấn luyện ATVSLĐ cho người lao động; Không kiểm tra định kỳ
Trang 15về kỹ thuật an toàn đối với các thiết bị, máy móc có yêu cầu nghiêm ngặt; Không xây dựng kế hoạch ATVSLĐ, không thực hiện khám sức khỏe định kỳ cho người lao động, không trang bị phương tiện bảo hộ Một điều khác nữa là thiếu kiểm tra giám sát, quản lý lỏng lẻo vấn đề ATVSLĐ Về phía người lao động thiếu ý thức tuân thủ pháp luật về ATVSLĐ, không sử dụng thiết bị an toàn lao động, nhất là những lao động tự do làm việc tại các công trình xây dựng Mặt khác, việc DN trốn tránh không thực hiện báo cáo tình hình tai nạn lao động cũng tiềm ẩn nguy
cơ sinh ra TNLĐ
Qua đánh giá, cho thấy có hơn 45% nguyên nhân xảy ra
do người sử dụng lao động Phân tích cụ thể các nguyên nhân, lãnh đạo Bộ LĐ-TB và XH cho biết, DN để xảy ra TNLĐ thường vi phạm vào “ba không”, gồm: “Không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn chiếm 14,6% tổng số vụ; Không huấn luyện hoặc huấn luyện an toàn lao động chưa đầy đủ cho người lao động chiếm 12,31 %; Không có thiết bị bảo đảm an toàn, chiếm 10% …”
Ông Nguyễn Tiến Tùng, Chánh Thanh tra Bộ LĐ-TB và XH cho biết thêm, việc các DN được báo trước khi đoàn Thanh tra đến làm việc cũng là một nguyên nhân khiến cho TNLĐ gia tăng vì đây là kẽ hở để họ bưng bít thông tin, che đậy
những sai sót trong công tác bảo đảm an toàn lao động.