Tìm hiểu nhận thức, thái độ, nội dung và phương pháp giáo dục giới tính của cha mẹ hiện nay và tìm hiểu nhận thức, nhu cầu về các vấn đề liên quan đến giới tính của học sinh THPT, nhận đ
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC – EURÉKA” LẦN THỨ 12 NĂM 2010
GIA ĐÌNH VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH Ở LỨA TUỔI
HỌC SINH THPT (Khảo sát tại trường THPT Nguyễn Huệ Q9 TPHCM)
Chủ nhiệm: Vương Thị Thuỳ Dương 0762084
Thành viên tham gia: Nguyễn Thị Thanh Hà 0762016
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 7
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Các khái niệm cơ bản và cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 9
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG GDGT CỦA PHỤ HUYNH ĐỐI VỚI HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN HUỆ 19
2.1 Vài nét về trường THPT Nguyễn Huệ Quận 9 TP Hồ Chí Minh 19
2.2 Nhận thức, thái độ, nội dung và phương pháp của phụ huynh về giáo dục giới tính 19
2.3 Nhận thức và nhu cầu của học sinh THPT về giáo dục giới tính 32
2.4 Thuận lợi và khó khăn trong việc giáo dục giới tính của phụ huynh và sự tiếp nhận của học sinh 48
2.5 Nguyên nhân của những khó khăn trong việc giáo dục của phụ huynh và sự tiếp nhận của học sinh THPT 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 59
Trang 4TÓM TẮT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề Tài: GIA ĐÌNH VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH Ở LỨA TUỔI HỌC
Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục đích của đề tài
3 Đối tượng nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Khách thể và phạm vi nghiên cứu
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
8 Phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung
Chương 1 Cơ sở lý luận đề tài
1.1.Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1.Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.2.Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.Các khái niệm cơ bản và cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1.Khái niệm giới tính, GDGT và vai trò của GDGT
1.2.2.Khái niệm gia đình, vai trò của gia đình với việc GDGT
1.2.3.Khái niệm, đặc điểm tâm- sinh lý và vai trò của HS THPT với vấn đề GDGT
Trang 5Chương 2 Kết quả nghiên cứu về thực trạng GDGT của gia đình đối với học sinh THPT Nguyễn Huệ
2.1 Vài nét sơ lược về trường Nguyễn Huệ
2.2 Nhận thức, thái độ và phương pháp về vấn đề GDGT trong gia đình
2.2.1 Nhận thức của PH về sự thay đổi cơ thể của học sinh ở lứa tuổi dậy thì
2.2.2 Nhận thức của PH về nội dung GDGT cho HS
2.2.3 Nhận thức về phương pháp GDGT của PH đối với HS THPT
2.2.4 Mức độ hài lòng của PH về việc GDGT cho học sinh
2.2.5 Thái độ của PH về các hiện tượng xã hội liên quan đến giới tính hiện nay
2.3 Nhận thức và nhu cầu của học sinh THPT về vấn đề GDGT
2.3.1 Nhận thức
2.3.1.1 Nhận thức của HS về sự thay đổi cơ thể
2.3.1.2 Nhận thức về các vấn đề liên quan đến giới tính
2.3.2 Nhu cầu
2.3.3 Nhận định của HS về ND, PP, mức độ hài lòng về việc GDGT của PH
2.3.3.1 Nhận định của HS về ND GDGT
2.3.3.2 Nhận định của HS về phương pháp
2.3.3.3 Mức độ hài lòng của HS về việc GDGT của PH
2.4 Thuận lợi và khó khăn trong cách giáo dục của PH và tiếp cận của HS
2.5 Nguyên nhân của những thuận lợi và khó khăn
1.2 Về kết quả nghiên cứu thực tiễn
1.2.1 Nhận thức, thái độ, nội dung và phương pháp của PH
1.2.2 Nhận thức, nhu cầu của HS đối với vấn đề GDGT
2.Kiến nghị
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa cùng với sự phát triển phức tạp của xã hội, nhất là sự bùng nổ thông tin như hiện nay, các giá trị phương tây du nhập vào từng thành phố làng mạc, các nước đang phát triển trong đó có nước ta Đã làm thay đổi và ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ và hành vi của lứa tuổi THPT, các em đi tìm kiếm những giá trị từ bố mẹ, thầy cô, bạn bè, ngôi sao điện ảnh…để tự khẳng định mình Trong bối cảnh đó sức khỏe của các em là yếu tố quan trọng đối với những nhà hoạch định chiến lược phát triển Cuộc sống không hoàn toàn dễ dàng đối với lứa tuổi THPT, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế hiện nay Đặc biệt đối với những em không được trang bị đầy đủ những kiến thức để đối mặt với các vấn đề đặc thù của lứa tuổi, chính là nhu cầu phát triển tâm-sinh lý dẫn đến những hành vi tình dục, rượu chè, ma túy…gây ra những hậu quả nghiêm trọng như mang thai ngoài ý muốn, mắc những căn bệnh nguy hiểm, trở thành hiểm họa của xã hội
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đáng báo động trong đời sống,
về lối sống buông thả của giới vị thành niên là sự thiếu vắng việc giáo dục giới tính phù hợp trong gia đình và ngoài xã hội Nếu chúng ta mong đợi ở các em những quyết định đúng đắn và có trách nhiệm trước những cạm bẫy và thách thức của xã hội chúng ta phải đảm bảo học sinh THPT được cung cấp đầy đủ thông tin, kỹ năng và phương tiện để quyết định các giá trị mà chúng cần tôn trọng và thực hiện.Chúng ta cần nhận thức rằng đã đến lúc để đặt ra kế hoạch cho tương lai và chúng ta hoàn toàn
có thể làm được điều đó
Chính từ những vấn đề trên mà giáo dục giới tính mang tính cấp thiết cần được quan tâm, không chỉ từ phía gia đính, nhà trường mà cả xã hội và vấn đề này cần được đặt lên hàng đầu Chúng ta phải nhìn thấy rằng tương lai của trẻ là tương lai thật
sự của nhân loại
Vậy “Giáo dục giới tính” là gì? Trước hết ta phải hiểu giới tính là những đặc điểm riêng biệt về giải phẫu sinh lý cơ thể và những đặc trưng về tâm lý tạo nên sự khác
Trang 7biệt giữa nam và nữ Qua đó ta hiểu giáo dục giới tính là giáo dục về chức năng là một con người có giới tính, điều quan trọng là đề cập vấn đề giới tính một cách công khai và đầy đủ ở lớp từ nhà trẻ đến đại học, giúp cho học sinh cảm thấy an toàn và tự
do trong việc biểu lộ cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính ( theo từ điển Bách khoa giáo dục)
Còn theo bác sĩ Hồ Mạnh Tường, giáo dục giới tính là một quá trình lâu dài để có được những thông tin chính xác, nó giúp hình thành thái độ, niềm tin và những giá trị
về bản ngã, về các mối quan hệ tình cảm Giáo dục giới tính bao gồm nhiều nội dung như: sự phát triển của giới tính, sức khỏe sinh sản, các mối quan hệ, tình cảm, về ngoại hình, về vai trò của giới Giáo dục giới tính giúp cho trẻ có quan điểm tích cực
về tình dục, đồng thời cung cấp các thông tin và kỹ năng cho trẻ có được thái độ và hành vi đúng, hiểu biết và có trách niệm với những quyết định của mình
2 Mục đích của đề tài
Tìm hiểu về quan niệm, nội dung, phương pháp giáo dục giới tính theo quan điểm của cha mẹ và nhận định của con cái ở lứa tuổi học sinh THPT hiện nay Đồng thời, tìm hiểu nhận thức, nhu cầu của học sinh về vấn đề này Từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao những hiểu biết của cha mẹ về con cái, về cách giáo dục giới tính một cách hiệu quả, rút ngắn khoảng cách giữa cha mẹ và con cái trong vấn
đề giới tính
3 Đối tượng nghiên cứu
Quan niệm, nội dung, phương pháp giáo dục giới tính theo quan điểm của cha mẹ cho con cái ở lứa tuổi học sinh THPT
Nhận thức, nhu cầu của học sinh THPT về vấn đề giáo dục giới tính Nhận định của học sinh về nội dung, phương pháp cha mẹ GDGT
4 Giả thuyết khoa học
Gia đình có sự quan tâm đến giáo dục giới tính cho học sinh THPT nhưng chưa đầy đủ
Giáo dục của gia đình về giới tính đối với học sinh THPT có tác động tích cực
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát các vấn đề lý luận của đề tài
Trang 8Tìm hiểu nhận thức, thái độ, nội dung và phương pháp giáo dục giới tính của cha
mẹ hiện nay và tìm hiểu nhận thức, nhu cầu về các vấn đề liên quan đến giới tính của học sinh THPT, nhận định của các em về việc giáo dục giới từ gia đình
Tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong cách giáo dục giới tính của cha mẹ và sự tiếp nhận của học sinh
Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1 Góp phần làm phong phú thêm lý luận và hiểu biết vấn đề giáo dục giới tính ở lứa tuổi (học sinh) THPT trong gia đình
7.2 Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo đối với các nhà nghiên cứu, nhà trường
và các tổ chức xã hội quan tâm đến vấn đề giáo dục giới tính ở lứa tuổi THPT
Làm rõ được vai trò, tầm quan trọng của gia đình trong việc giáo dục giới tính cho con em mình và giúp các em nắm bắt được những thông tin về giới tính một cách đầy
đủ, chính xác và rõ ràng, từ đó định hướng cho sự phát triển của bản thân
8 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp hệ thống các phương pháp sau:
8.1 Nghiên cứu, phân tích các tài liệu có liên quan đến đề tài
Sưu tầm và nghiên cứu các tài liệu (sách, luận văn, tạp chí….) và những vấn đề giáo dục giới tính nói chung, những vấn đề về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của gia đình, những vấn đề liên quan đến giới tính
Trang 98.2 Điều tra bằng phiếu hỏi
Bảng hỏi được đưa ra dưới dạng trưng cầu ý kiến Chúng tôi có hai bảng hỏi: dành cho phụ huynh và dành cho học sinh (phụ lục 1.1 và 1.2)
Các dạng câu hỏi: chúng tôi sử dụng các câu hỏi đóng, các câu hỏi mở, các câu hỏi
mở rộng
8.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu 30 học sinh và 30 phụ huynh đại diện ba lớp
10, 11, 12 của trường THPT Nguyễn Hụê
8.4 Phương pháp xử lí thông tin
Các thông tin, tư liệu được tổng thuật theo các chủ đề để trình bày khái quát về
lịch sử vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài
Thông tin định tính: được lọc ra theo các chủ đề dưới dạng trích dẫn bảng phỏng
vấn sâu cá nhân Kết quả đựơc xử lý bằng tay theo phương pháp phân tích nội dung
Thông tin định lượng: các thông tin thăm dò ý kiến bằng bảng câu hỏi được xử
lý bằng chương trình SPSS
Trang 10
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo Reuters ở Mỹ, một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu đến
từ Trung tâm Ngăn ngừa và Kiểm soát Bệnh tật Mỹ (CDC) có trụ sở ở Atlanta công
bố 19/12/ 2007 trên tờ Sức khoẻ Adolescent (Mỹ) đưa ra những thông tin gây sốc đối với các bậc phụ huynh
Nghiên cứu được thực hiện trên khoảng 2.000 đối tượng nam nữ học sinh tuổi từ
15 đến 19 trên toàn nước Mỹ chỉ ra rằng với các học sinh được học về giáo dục giới tính thì đến 15 tuổi mới quan hệ tình dục lần đầu, trong khi việc "thử trái cấm" đối với những em chưa qua khoá học này xảy ra sớm hơn Báo cáo kết luận: “ Giáo dục giới tính mang lại sự khác biệt trong tỷ lệ thanh thiếu niên Mỹ quan hệ tình dục sớm giữa các nhóm tham gia và không tham gia."
Theo Bách khoa toàn thư1, Một cuộc điều tra về tình dục của Tổ chức Y tế Thế giới liên quan tới thói quen của thanh niên châu Âu năm 2006 cho thấy:
Ở Đức, thanh niên Đức có quan tâm tới tránh thai Tỷ lệ sinh trong độ tuổi 15- tới 19- rất thấp, chỉ 11.7 trên 1000 dân, so với 27.8 tại Anh Quốc và đầu bảng là 39.0 của Bulgaria
Nước Anh là một trong những nước có tỷ lệ mang thai thanh niên cao nhất châu
Âu và giáo dục giới tính đang là một vấn đề sôi nổi tại chính phủ và trên truyền thông Cũng theo Bách khoa toàn thư, trong một cuộc nghiên cứu năm 2000 của Đại học Brighton về GDGT, nhiều trẻ em 14 tới 15 tuổi nói rằng chúng thất vọng với nội dung của những bài học giới tính và cảm thấy sự thiếu tin cậy khiến thanh niên ngại hỏi giáo viên về tránh thai Trong một cuộc nghiên cứu năm 2008 của YouGov cho Channel 4 kết quả cho thấy ba trên mười thanh niên nói rằng họ cần thêm giáo dục về giới tính và quan hệ
1
http://vi.wikipedia.org/wiki/giáo_dục_ giới_tính
Trang 11Một cuộc điều tra gần đây ở Trung Quốc cho thấy: thanh niên vẫn còn né tránh khi nói về vấn đề tình dục, giới tính Các bậc phụ huynh không biết bắt đầu như thế nào khi nói chuyện với con về vấn đề này
Ủy ban dân số và kế hoạch hóa gia đình, Trung tâm tư vấn về kế hoạch hóa gia đình và Trung tâm sức khỏe sinh sản của tỉnh Tô Châu, Trung Quốc thực hiện cuộc điều tra này Họ đã tìm đến với 13.780 người ở 12 tỉnh, thành phố, các trường học và công sở và những nơi tập trung nhiều người dân nhập cư Trong số những người được phỏng vấn này có 8.947 người là cư dân của thành phố Suzhou, 2.427 người là dân nhập cư và số còn lại là học sinh sinh viên Qua cuộc nghiên cứu này, các nhà hoạch định giáo dục cũng nói thêm rằng việc giáo dục giới tính trong thế hệ trẻ ngày nay vẫn chưa hiệu quả và đôi khi những điều chúng được học từ bố mẹ chưa chắc đã đúng hoàn toàn, nên rất dễ đem lại những hậu quả không mong muốn2
Giáo dục giới tính là việc làm cần thiết, cung cấp cho các em những kiến thức và
kỹ năng bảo vệ sức khoẻ, cũng như kỹ năng đưa ra những quyết định tình dục đúng đắn Chính vì vậy, mỗi quốc gia nên xây dựng cho mình những hệ thống tư vấn sức khoẻ sinh sản tốt để đảm bảo nhu cầu tìm hiểu cho công dân nước mình
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Kết quả nghiên cứu của đề tài KX-04-07 do Viện Khoa học giáo dục tiến hành vào năm 2000 ở Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng với gần 700 học sinh THPT (từ 17 - 19 tuổi) cho thấy, khoảng 32,8% số em được hỏi chấp nhận quan niệm đã yêu nhau là cho nhau tất cả và chỉ khoảng 34,7% số em phản đối quan niệm này, còn 32,4% số em tỏ thái độ phân vân3
Đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh sản của học sinh THPT hiện nay” của Nguyễn Hà Thành_trường Đại học FPT4, được tiến hành nghiên cứu ở trường THPT Thanh Hà và trường THPT Bán Công Thanh Hà huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, nhằm mục đích đánh giá chính xác nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh
Trang 12sản của học sinh THPT hiện nay Kết quả nghiên cứu này góp phần nâng cao hiệu quả của các chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản trong nhà trường hiện nay
PGS-TS Đào Trọng Hùng, Trung tâm Tư vấn Giáo dục- Tâm lý-Thể chất, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu “Đề xuất và thử nghiệm giải pháp đưa giáo dục giới tính vào Trường Trung học tại TP Hồ Chí Minh”5 Nghiên cứu đã khảo sát 327 giáo viên ở các trường THCS, THPT và 182 phụ huynh tại TP HCM về việc có nên đưa GDGT và nhà trường không? Có trên 90% người đã trả lời đồng tình với việc mời bác sĩ nói chuyện chuyên đề về GDGT và cung cấp tài liệu in sẵn cho học sinh
Những thông tin ngắn gọn từ bài viết “Quan niệm về tình dục trước hôn nhân và giáo dục giới tính” kết quả nghiên cứu từ Mỹ của tác giả Minh Tiến6 có giá trị định hướng giáo dục thật lớn, là tiếng chuông gióng lên hồi cảnh báo đối với nhiều ( quá nhiều) ý kiến ngộ nhận, lệch lạc về vấn đề GDGT trong các trường học hiện nay
1.2 Các khái niệm cơ bản và cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 khái niệm giới tính, giáo dục giới tính và vai trò của giáo dục giới tính
1.2.1.1.Khái niệm giới tính:
Theo giáo trình “Giáo dục học” của Trần Thị Tuyết Oanh7 giới tính là những đặc điểm riêng biệt về giải phẫu sinh lí cơ thể và những đặc điểm tạo nên sự khác biệt giữa giới nam và nữ
1.2.1.2 Giáo dục giới tính:
Theo giáo trình “Giáo dục học” của Trần Thị Tuyết Oanh NXB Đại học Sư phạm (tr74) giáo dục giới tính là giáo dục về chức năng làm một con người có giới tính, điều quan trọng là đề cập vấn đề giới tính một cách công khai và đầy đủ ở lớp từ nhà trẻ đến đại học, giúp cho học sinh cảm thấy an toàn và tự do trong việc biểu lộ cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính
Theo “Vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em trong gia đình” của Nguyễn Thị Tố Quyên8 giáo dục giới tính được hiểu là giải phẫu sinh lý cơ thể, vệ sinh thân thể, sức
Trang 13khoẻ sinh sản, tình dục, tâm lý giới tính, cách giao tiếp ứng xử với bạn khác giới và những vấn đề xã hội liên quan đến giới tính
Bruess C., Greenberg J., (2009), đề cập vấn đề GDGT đến chiều kích sinh học, văn hóa-xã hội, tâm lý và tinh thần trong lĩnh vực nhận thức, tình cảm và hành vi bao gồm cả các kỹ năng giao tiếp hiệu quả và có những quyết định có trách nhiệm
1.2.1.3 Vai trò của giáo dục giới tính
Giáo dục giới tính là một quá trình lâu dài để có được những thông tin chính xác,
nó giúp hình thành thái độ, niềm tin và những giá trị về bản ngã, về các mối quan hệ tình cảm Giáo dục giới tính bao gồm nhiều nội dung như: sự phát triển của giới tính, sức khỏe sinh sản, tâm lý giới tính, giao tiếp ứng xử với bạn khác giới, các vấn đề xã hội liên quan đến giới tính Giáo dục giới tính giúp trẻ có sự hiểu biết đúng đắn về tình dục, đồng thời cung cấp các thông tin và kỹ năng để trẻ có được thái độ và hành
vi đúng, hiểu biết và có trách nhiệm về những quyết định của mình
Theo Kirby (1997)9, GDGT hiệu quả cần có những đặc điểm sau:
Mục tiêu, phương pháp, tài liệu phù hợp với lứa tuổi, kinh nghiệm về giới tính, văn hóa của trẻ
Sử dụng nhiều phương pháp giáo dục khác nhau, có sự tham gia tích cực của trẻ Cung cấp thông tin cơ bản về các nguy cơ trong quan hệ tình dục không an toàn Hoạt động hướng dẫn giao tiếp ứng xử với bạn bè, kỹ năng thương lượng, từ
Trang 14Cung cấp cơ hội cho những câu hỏi, tìm hiểu về thái độ đối với tình dục, liên quan đến quan hệ với bạn cùng giới, khác giới trong tinh thần tôn trọng, trách nhiệm với người khác
Hỗ trợ phát triển các kỹ năng giao tiếp, quyết định, quả quyết, từ chối trong quan
hệ với bạn bè nhằm xây dựng các mối quan hệ an toàn
Giáo dục trách nhiệm trong quan hệ tình dục bao gồm việc không quan hệ, tránh những áp lực quan hệ tình dục sớm, khuyến khích sự dụng biện pháp an toàn trong quan hệ
Để GDGT đạt hiệu quả thì mỗi gia đình cần phải kết hợp các phương pháp giáo dục hợp lý, phù hợp với từng lứa tuổi và hoàn cảnh nhất định Đồng thời vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh cần sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội
1.2.2 Khái niệm gia đình và vai trò của gia đình với giáo dục giới tính cho học sinh THPT
1.2.2.1 Khái niệm gia đình
Theo giáo trình “Gia đình học” của Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý11
Gia đình là một thiết chế xã hội liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái
1.2.2.2 Vai trò của gia đình về vấn đề giáo dục giới tính
Đối với việc GDGT cho con thì gia đình cũng đóng vai trò quan trọng không kém Giáo dục giới tính tác động trực tiếp vào các thành viên của gia đình trước khi trở thành vấn đề của toàn xã hội Vì vậy giáo dục giới tính không thể nằm ngoài mối quan hệ gia đình, mà hơn nữa cần đặt điểm xuất phát của vấn đề đó vào gia đình và nếu muốn giải quyết được vấn đề cũng phải bắt đầu từ các giá trị của gia đình, lấy gia
đình làm nguồn động lực chính để vượt qua
Do đó, sẽ dễ tiếp nhận hơn nếu nội dung giáo dục giới tính được xây dựng như là những bài học của cha mẹ nói với con cái về một vấn đề rất tự nhiên và nghiêm túc khi các em bước vào tuổi dậy thì, là những bài học giúp các em nhận biết sự trưởng
11
Đặng cảnh khanh- lê thị quý (2007), Gia đình học, Nxb lý luận chính trị, trang 54
Trang 15thành về tâm lý, về giao tiếp nam nữ, về ứng xử với bạn khác giới… Cần phải làm rõ nội dung giáo dục giới tính chỉ có thể là một phần minh họa không tách rời của giáo dục lối sống, phải xuất phát từ giáo dục văn hóa truyền thống và lối sống Việt Nam, hướng về giá trị gia đình, làm cho các em hiểu được bản thân mình và xung quanh không sao chép, bắt chước một cách máy móc phim ảnh, phải phù hợp với từng lứa tuổi Nội dung giáo dục giới tính như vậy sẽ không chỉ đem lại cho lớp trẻ sự tự tin vững vàng về tâm lý, tế nhị về thái độ giao tiếp ứng xử với bạn cùng giới và khác giới, các kiến thức để tự bảo vệ và phòng tránh, mà còn lưu lại trong chúng một khát khao giữ gìn, một ước muốn về một nòi giống dân tộc được sinh nở, được nuôi dưỡng trong sự phát triển khỏe mạnh về thể chất, lành mạnh về tinh thần
Học sinh THPT là giai đoạn phát triển cả về tâm lí, tình cảm và thể chất, dễ diễn ra khủng hoảng trong tâm lí, tình cảm và nhận thức Chỉ một cú sốc nhỏ về tâm lí tình cảm trong quan hệ gia đình, bè bạn, hay do bị dụ dỗ, có khi đua đòi muốn “ khẳng định” họ rất dễ có những ứng xử bất thường như quá khích không làm chủ được mình, bỏ nhà đi lang thang, phạm tội, sử dụng ma túy hay tham gia hoạt động mại dâm vì vậy vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái là rất quan trọng
1.2.2.3 Phong cách giáo dục của gia đình
Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục và hình thành nhân cách cho con một cách toàn diện Tuỳ vào từng điều kiện, hoàn cảnh mỗi gia đình mà họ có những phong cách giáo dục con cái khác nhau Theo nghiên cứu của Baumrind, 1971 bao gồm các kiểu giáo dục: Độc đoán, Dễ dãi - nuông chiều, uy quyền, dân chủ – hỗ tương và kiểu giáo dục Thờ ơ – không quan tâm
Phong cách giáo dục độc đoán là quyền lực thuộc về cha mẹ, con cái chịu sự
kiểm soát của cha mẹ khi trẻ không vâng lời cha mẹ thường sử dựng những hình phạt mang tính bạo lực vì vậy trẻ thường có tính độc lập thấp, chỉ số lương tâm thấp và mức độ bạo lực của trẻ trên mức trung bình, trẻ thiếu năng lực xã hội, tự trọng thấp, thiếu tính khởi xướng thay vào đó là tính tự phát
Phong cách giáo dục dễ dãi -nuông chiều là dễ dãi chiều theo ý muốn của trẻ, ít
sử dụng hình phạt, không thể hiện uy quyền hay kiểm soát chặt chẽ cũng như ít đòi
Trang 16hỏi trẻ hành xử chín chắn, cho phép trẻ làm theo ý muốn, trong gia đình ít luật lệ, qui định cha mẹ sử dụng phong cách dễ dãi - nuông chiều với sự kiểm soát thấp và yêu thương, nâng đỡ cao sẽ hình thành ở trẻ hai xu hướng Nếu cha mẹ thường hay dễ dãi, trẻ sẽ thiếu chín chắn, không kiểm soát được sự nông nổi, thiếu tự tin và trách nhiệm
xã hội cũng như tính độc lập Ngược lại, trẻ thường rất vâng lời, hiền, thậm chí là thụ động, vô vị, không sáng tạo, tự phát cũng như tự trọng thấp nếu cha mẹ khắt khe
Phong cách uy quyền, dân chủ -hỗ tương là cha mẹ mong muốn cách cư xử
trưởng thành nơi trẻ và đặt ra những chuẩn mực rõ ràng Họ cương quyết tôn trọng các qui tắc, chuẩn mực đề ra, sử dụng mệnh lệnh hay hình phạt khi cần thiết và cũng khuyến khích con độc lập và phát triển cá nhân Trong gia đình có sự trao đổi cởi mở giữa cha mẹ và con cái, tôn trọng quan điểm của con cũng như quyền lợi của cả hai
Cha mẹ sử dụng phong cách này có kiểm soát và yêu thương, nâng đỡ đều cao
và ảnh hưởng tích cực đến năng lực của trẻ Theo Baunrind, trẻ nam trước tuổi đi học
sẽ độc lập như những trẻ khác, có trách nhiệm hơn Còn trẻ nữ trước tuổi đi học có trách nhiệm xã hội như những trẻ khác, độc lập hơn Và khi trẻ 8 – 9 tuổi thì dù giới tính nào cũng có năng lực xã hội và cá nhân cao
Cha mẹ uy quyền, dân chủ thì lòng tự trọng của trẻ cao vì cha mẹ đặt chuẩn mực cao về năng lực và vâng lời, cương quyết theo chuẩn mực đó Trẻ được tham gia vào các quyết định của gia đình và có sự trao đổi với cha mẹ về quan điểm của mình một cách công bình và hợp lí Bên cạnh đó, cha mẹ sử dụng phương pháp quy nạp thay vì cưỡng ép
Phong cách giáo dục thờ ơ, không quan tâm là cha mẹ dường như không
quan tâm đến cuộc sống của con, không để ý đến việc con làm gì, luôn thả lỏng và để các em làm theo ý mình muốn Cha mẹ ít đòi hỏi, ít bắt buộc trẻ Họ lơ là chối bỏ trách nhiệm làm cha mẹ, tránh sự phiền toái nơi trẻ Nhìn chung cha mẹ sử dụng phong cách này có những mâu thuẫn với con cái, thể hiện sự lạnh nhạt về tình cảm đối với con, xem con cái như một gánh nặng, ít thể hiện sự yêu thương chăm sóc con
Trang 17Cha mẹ sử dụng phong cách này ảnh hưởng lớn tới sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Trẻ em thường có biểu hiện bất ổn tâm lý, rối nhiễu về tình cảm, trẻ không kiểm soát được bản thân, ảnh hưởng tới quá trình hình thành bản ngã
1.2.2.4 Nội dung và phương pháp giáo dục giới tính của gia đình
Chúng ta đã biết, gia đình là môi trường xã hội hoá đầu tiên của con người, trong
đó bố mẹ là những người có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến sự phát triển nhân cách của con cái Cách cư xử giữa bố - mẹ là bài học sớm nhất đối với trẻ về cách ứng xử giới tính giữa một người nam và một người nữ Trẻ sẽ tiếp thu dần dần những kiến thức giới từ chính gia đình mình Từ đó dần theo năm tháng hình thành những hành
vi, thái độ mang tính chất giới nam hay nữ được mọi người và xã hội chấp nhận Cha mẹ tiến hành giáo dục cho con cái về giới tính, sinh lý sinh sản là một quá trình giáo dục từ mức độ thấp tới mức độ cao Tuỳ vào sự phát triển dần dần tâm lý của trẻ theo lứa tuổi mà các bậc cha mẹ có những cách thức, nội dung sao cho phù hợp với từng lứa tuổi
GDGT bao gồm những nội dung như: SKSS, Tâm lý giới tính, GTƯX với bạn khác giới, những vấn đề XH liên quan đến giới tính, trong đó còn bao gồm những nội dung cụ thể khác Như nội dung giáo dục về TLGT gồm có : nhận thức về tình bạn, tình yêu; biến đổi tâm lý ở tuổi dậy thì; sự khác biệt tính cách giữa nam và nữ,… Và
để thực sự mang lại hiệu quả thì bên cạnh việc lựa chọn một phong cách giáo dục phù
hợp, các bậc cha mẹ cần phải có sự kết hợp các phương pháp giáo dục cũng như áp dụng các phương pháp đó một cách linh hoạt để phát huy hiệu quả trong việc giáo
dục cho con cái, đặc biệt về giáo dục giới tính
Có nhiều phương pháp khác nhau: trao đổi trực tiếp với con về vấn đề giới tính; mua sách báo về giới tính cho con tự tham khảo; tham gia các buổi chuyên đề về giáo dục giới tính với con,…
Thông thường mỗi gia đình lựa chọn cho mình những phong cách giáo dục thì phương pháp GDGT cũng bị ảnh hưởng bởi phong cách giáo dục đó Chẳng hạn, với những gia đình có phong cách giáo dục quyền uy-dân chủ thì sẽ có sự trao đổi thẳng thắn, cởi mở giữa cha mẹ và con cái về mọi vấn đề nói chung và GDGT nói riêng…
Trang 18Trên thực tế không có một phương pháp GDGT hay phong cách giáo dục nào là toàn diện, bên cạnh những mặt tích cực thì nó vẫn còn những mặt hạn chế nhất định
Vì vậy để mang lại hiệu quả việc GDGT cho con cái thì mỗi gia đình nên có sự kết hợp các phương pháp và các phong cách giáo dục khác nhau, phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh nhất định
1.2.3 Đặc điểm tâm - sinh lí và vai trò của học sinh THPT với vấn đề GDGT
Để GDGT trong gia đình mang lại hiệu quả thì chúng ta cần tìm hiểu một số nội dung về HS THPT
1.2.3.1 Khái niệm về Học sinh THPT
Học sinh THPT là những người đang được đào tạo tại các trường THPT, thường ở
độ tuổi từ 16 đến 18
1.2.3.2 Đặc điểm sinh lí:
Từ 15, 16, 17 đến 18 tuổi là thời kỳ mà sự phát triển thể chất của con người đang
đi vào giai đoạn hoàn chỉnh Điều này thể hiện rõ ở chỗ:
Sự gia tăng chiều cao giảm dần: con gái khoảng 16, 17 tuổi, con trai khoảng 18, 19 tuổi Điều này giúp hình thành một cơ thể cân đối, đẹp, khỏe của người thanh niên Trọng lượng cơ thể phát triển nhanh, cân nặng của một thanh niên 16, 17 tuổi có thể gấp đôi cậu thiếu niên 11, 12 tuổi Các tố chất thể lực như sức mạnh, sức bền, sự dẻo dai được tăng cường
Cơ bắp, sức lực phát triển mạnh dễ đạt những thành tích trong thể thao
Thời kỳ trưởng thành về giới tính, là giai đoạn của những nam thanh, nữ tú Chấm dứt giai đoạn khủng hoảng của thời kỳ phát dục để chuyển sang thời kỳ ổn định hơn, cân bằng hơn xét cả trên các mặt hoạt động hưng phấn, ức chế của hệ thần kinh cũng như các mặt phát triển khác về thể chất
1.2.3.3 Đặc điểm tâm lí
Sự phát triển của tự ý thức
Khi đạt tới độ tuổi 16 vấn đề ý thức luôn luôn đạt tới đỉnh cao Thanh niên nhận thức được đặc điểm bản thân và nhận thức phẩm chất của mình trong nhóm xã hội,
Trang 19cộng đồng Ở một mức cao hơn là tự đánh giá về mình : những chuẩn mực xã hội có trên bình diện thể chất, tâm lí, đạo đức
Trong cách tự ý thức về thể chất của mình thì các em đánh giá hình ảnh cơ thể của mình một cách tỉ mỉ và nghiêm khắc thường thì các em không hài lòng về chiều cao, vóc dáng thân thể, các em luôn mơ ước đạt đến cái hoàn mỹ về cơ thể của mình Những trường hợp các em không đạt được thỏa mãn về thân thể thì hay lo lắng, thất vọng những nỗi đau khổ này giấu kín và dày vò, không ít những thanh niên, thiếu nữ, dẫn đến những “bi kịch về tiêu chuẩn hình thức” mà cũng tự đánh giá về ý thức về giới tính của mình Họ luôn cố gắng trở thành người đàn ông thực thụ và người thiếu
nữ dịu dàng theo tiêu chuẩn xã hội
Sự đánh giá về phẩm chất cá nhân chủ yếu được thể hiện thông qua giải quyết các câu hỏi họ là người như thế nào? Có năng lực gì? Có xứng đáng không? Và thường thì hành động theo hai cách:
Cách 1: so sánh mình với người khác, với những người xung quanh, đối chiếu ý kiến của mình với người khác
Cách 2: tự nhận những việc khó khăn, cố gắng hoàn thành nó Tuy nhiên do sự thiếu thốn về kinh nghiệm sống nên rất khó khăn trong quá trình tự kiểm tra
Thế giới nội tâm của học sinh THPT thường rất phong phú, đa dạng và phức tạp
Sự tự ý thức đánh giá về “cái tôi” cũng vậy, nó không chỉ bao hàm một số yếu tố đơn giản mà còn là sự đan xen phức tạp biện chứng và thường thay đổi theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Sự đánh giá về “cái tôi” chưa thật sự ổn định ở giai đoạn này
Song song với việc tự ý thức và tự đánh giá về phẩm chất của mình thì lứa tuổi này cũng phát triển mạnh về tính tự trọng thể hiện nhân cách của mình
Sự phát triển ý thức nghề nghiệp và sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai
Khác với các lứa tuổi trước, lứa tuổi này đã có những sự nhận thức cụ thể và biết hướng chọn một ngành, một nghề học cho mình trong tương lai Ý thức nghề nghiệp
Trang 20và sự chuẩn bị cho tương lai bị chi phối bởi yếu tố của nền kinh tế thị trường, của từng thời kỳ phát triển xã hội và đất nước
Tính tích cực xã hội của học sinh đầu thanh niên
Do sự phát triển về thể chất, tinh thần, năng lực, cộng với hoàn cảnh gia đình, các học sinh có cái nhìn đến tình hình kinh tế-chính trị của đất nước trên bình diện toàn thế giới Các em ở gía đình này luôn quan tâm và sẵn lòng tham gia vào công đoàn, công tác xã hội
Sự hình thành thế giới quan
Thế giới quan là cái nhìn hệ thống, tổng hợp và khái quát về thế giới tự nhiên và
xã hội của con người
Học sinh THPT đã có một quá trình tích lũy hệ thống tri thức, kỹ năng, lối sống, hành vi qua nhiều năm nên đã đúc kết những suy nghĩ của mình trong thế giới quan
Sự nhìn nhận này giúp cho thanh niên có những lý giải về các hiện tượng trong cuộc sống cũng như trong bản thân mình Nhưng bên cạnh lại có quá nhiều các câu hỏi khó khăn làm cho các em lúng túng, thất vọng, hoang mang thậm chí tuyệt vọng
Đời sống tình cảm của thanh niên, học sinh THPT
Học sinh THPT là lứa tuổi đầu thanh niên nên có rất nhiều đổi mới trong quá trình phát triển và xã hội hoá của các xúc cảm được biểu hiện:
Nội dung, chất lượng của các rung động được thể hiện phong phú hơn nhiều phạm
vi các khách thể gây nên sự đáp ứng xúc cảm được mở rộng rõ rệt, xúc cảm được phân hóa
Khả năng tự điều khiển tự kiểm soát cảm xúc và hành vi được hình thành
Sự nhạy cảm với các ấn tượng mới của đời sống và tính cởi mở được thể hiện rất
rõ rệt
Ở lứa tuổi này rất nhạy cảm đối với rung động của người khác Cùng với sự phát triển của đạo đức, tình cảm đạo đức được hình thành ở các em
Tuổi thanh niên đó là thời kỳ hình thành tình cảm đạo đức tích cực nhất
Thế giới quan tình cảm của tuổi thanh niên vô cùng đa dạng và nhiều mặt điển hình trong quan hệ tình cảm của các em
1.2.3.4 Vai trò của học sinh THPT
Trang 21Học sinh THPT chiếm vị trí trung gian giữa trẻ em và người lớn Họ không phải
là những trẻ em nữa mà đang trở thành những người lớn Vai trò xã hội của học sinh THPT thay đổi một cách cơ bản, vai trò độc lập và mức độ trách nhiệm đối với gia đình ngày càng rõ rệt, họ là anh chị lớn trong gia đình, tham gia lao động, có ý thức với việc chọn nghề nghiệp tương lai Nhiều em đã làm của cải vật chất, có vai trò khá quyết định đối với một số việc trong gia đình, tự quyết định các mối quan hệ với bạn khác giới, hành vi liên quan đến giới tính… Quyền lợi xã hội của các em được Hiến pháp quy định như quyền bầu cử, quyền công dân, có trách nhiệm thật sự trước xã hội như nghĩa vụ quân sự, phải chịu trách nhiệm hình sự trước hành vi của mình….Chính
vì vậy, việc trang bị những kiến thức về giới tính rất cần thiết, giúp các em nhận thức đúng đắn về các mối quan hệ, nhất là quan hệ với bạn khác giới và kiểm soát được hành vi của mình theo chuẩn mực xã hội; đồng thời, tự bảo vệ mình tránh khỏi những
tệ nạn xã hội liên quan đến giới tính (mại dâm, ma tuý, quan hệ tình dục trong lứa tuổi học trò, sống thử…)
Như vậy vai trò của học sinh THPT rất quan trọng cả trong gia đình và ngoài xã hội, các em chính là nền tảng, là nguồn lực để phát triển đất nước sau này
Trang 22CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG GDGT CỦA PHỤ
HUYNH ĐỐI VỚI HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN HUỆ
Chúng tôi đã tìm hiểu thực trạng về vấn đề GDGT ở trường THPT Nguyễn Huệ Quận 9 TP Hồ Chí Minh với những nội dung sau:
Vài nét sơ lược về trường
Gia đình với vấn đề GDGT cho học sinh THPT
Nhận thức và thái độ của phụ huynh về vấn đề GDGT
Nhận thức và nhu cầu của học sinh THPT về vấn đề GDGT
Thuận lợi và khó khăn trong việc giáo dục của phụ huynh và tiếp nhận của học sinh THPT về vấn đề giới tính
Nguyên nhân của những thuận lợi và khó khăn trong việc GDGT
2.1 Vài nét về trường THPT Nguyễn Huệ Quận 9 TP Hồ Chí Minh
Đôi nét khái quát về trường:
Trường THPT Nguyễn Huệ nằm trên địa bàn số 8 Nguyễn Văn Tăng, Q 9, TP HCM Đây là vùng ngoại thành tập trung là các khu công nghiệp, ví dụ khu công nghệ cao Trường mới thành lập vào tháng 6 năm 2003 do đó còn gặp nhiều khó khăn Tổng số học sinh hiện tại của trường là 2.149 học sinh được tổ chức thành 45 lớp Học sinh đang theo học tại trường phần đông là con em của gia đình khó khăn, thuộc diện xóa đói giảm nghèo, gia đình chính sách Từ khó khăn về kinh tế gia đình nên điều kiện học tập của các em cũng có nhiều hạn chế Phần nào cũng ảnh hưởng đến việc giáo dục của cha mẹ cũng như sự tiếp nhận của học sinh về vấn đề GDGT Bên cạnh đó, ở khu vực này cũng khá phức tạp do nhiều thành phần dân cư từ nhiều nơi đến sinh sống và làm việc, do đó, các em sẽ dễ dàng bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội nếu thiếu đi sự quan tâm của nhà trường, xã hội và đặc biệt là gia đình
2.2 Nhận thức, thái độ, nội dung và phương pháp của phụ huynh về giáo dục giới tính
Trong phần này, chúng tôi tìm hiểu nhận thức của phụ huynh về sự thay đổi cơ thể của con cái trong giai đoạn dậy thì cũng như nội dung và phương pháp GDGT của phụ huynh Từ đó, thấy đựơc mức độ hài lòng của phụ huynh về hiệu quả GDGT của
Trang 23mình đối với con cái Bên cạnh đó, tìm hiểu thêm về quan điểm của phụ huynh về những vấn đề xã hội liên quan đến giới tính hiện nay và quan điểm của họ về độ tuổi thích hợp để bắt đầu GDGT cho con
2.2.1 Nhận thức của phụ huynh về sự thay đổi cơ thể ở lứa tuổi dậy thì của học sinh
Để thấy được sự quan tâm của phụ huynh với con cái về những thay đổi của con ở lứa tuổi dậy thì, chúng tôi tìm hiểu qua 127 phụ huynh của ba lớp khối 10,11,12 tại trường THPT Nguyễn Huệ, Q9, TP.HCM thu được một số kết quả
Hầu hết các bậc phụ huynh đều cho rằng giới tính là sự khác biệt về cơ thể và tính cách, tâm lý giữa nam và nữ Chính vì vậy, họ nhận biết về sự thay đổi cơ thể của con
cái trong lứa tuổi dậy thì qua những biểu hiện như sau:
Bảng 2.1 Nhận biết về sự biến đổi cơ thể của con cái
Ngực phát triển, xuất hiện kinh
họ ít khi tâm sự với họ và chỉ thỉnh thoảng mới chia sẻ Theo bảng 2.2 con cái thường thắc mắc về sự thay đổi của cơ thể với cha mẹ chiếm tỷ lệ 52%, các vấn đề về tình
Trang 24cảm là 31%, tò mò về bạn khác giới 15% và có tới 23% là không chia sẻ, còn lại là chia sẻ về các vấn đề trong học tập
Bảng 2.2 Nội dung con cái chia sẻ với cha mẹ
15 ý kiến
Bảng 2.3 Cách chia sẻ của con cái với cha mẹ
Hỏi vấn đề của mình nhưng lại nói của người khác 37 29.2
Bên cạnh đó, các bậc phụ huynh cũng tiếp nhận những thắc mắc,chia sẻ của con cái một cách thẳng thắn, ít né tránh hay phản ứng gay gắt Được thể hiện ở biểu đồ 2.1
Trang 25Biểu đồ 2.1.Thái độ của cha mẹ khi tiếp nhận chia sẻ
của con cái
né tránh phản ứng gay gắt không trả lời
Qua phỏng vấn sâu, 27/30 phụ huynh cho cho biết họ chỉ trao đổi thẳng thắn khi con chủ động hỏi Bà L.A cho biết thêm “con tôi cũng ít khi hỏi tôi về vấn đề này, tôi nghĩ cháu biết rồi nên cũng không cần trao đổi” Điều đó cho thấy các bậc cha mẹ hiện nay không dành nhiều thời gian cũng như chủ động trong việc tìm hiểu những thay đổi cơ thể, tính cách của con cái để có thể trang bị kiến thức cần thiết cho con khi bắt đầu bước vào tuổi dậy thì
Hiện nay, các hiện tượng xã hội liên quan đến giới tính như xem phim sex, yêu đồng tính, quan hệ tình dục trong lứa tuổi học trò đang là một vấn đề đáng báo động đối với mỗi gia đình và toàn xã hội Gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ; lối sống lành mạnh và sự phát triển nhân cách, đạo đức của các em
Trong đó, gia đình là môi trường giáo dục tốt nhất cho các em về vấn đề giới tính Vậy các bậc phụ huynh nhận thức như thế nào về tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính cho con em mình ?
Trang 26Bảng 2.4 Tầm quan trọng của giáo dục giới tính
Vậy nhận thức được tầm quan trọng đó, phụ huynh đã trang bị cho con cái những nội dung giáo dục về giới tính nào?
2.2.2 Nội dung giáo dục giới tính của phụ huynh cho học sinh
Theo tình hình nghiên cứu thực tế, chúng tôi được biết nội dung chủ yếu mà cha
mẹ giáo dục cho con về giới tính là sức khoẻ sinh sản, tâm lý giới tính, giao tiếp ứng
xử với bạn khác giới và những vấn đề xã hội liên quan đến giới tính Đối với từng nội dung cụ thể mỗi phụ huynh lại trang bị cho con cái họ những kiến thức không hoàn toàn giống nhau
Với nội dung về sức khoẻ sinh sản (SKSS), chúng tôi có được kết quả sau
Bảng 2.5 Nội dung giáo dục về SKSS
Trang 27Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Những nguy cơ và hậu quả khi quan hệ
tình dục
Nguy cơ mang thai và các biện pháp
tránh thai, cách sử dụng, nơi cung cấp
và hậu quả của nó trong lứa tuổi THPT thì chưa được quan tâm nhiều Tìm hiểu thêm thông tin 18/30 phụ huynh cho rằng đây là vấn đề tế nhị khó trao đổi với các em, nhất
là trong lứa tuổi đang đi học Họ cho rằng lớn lên thì các em sẽ tự biết Một số khác cho rằng nhà trường đã cung cấp đầy đủ những kiến thức về giới tính nên họ cũng không cần chia sẻ thêm
Về nội dung tâm lý giới tính, kết quả được thể hiện trong bảng 2.6 dưới đây
Bảng 2.6 Nội dung giáo dục về tâm lý giới tính
Trang 28Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Từ những con số trên, chứng tỏ các bậc phụ huynh chú trọng đến việc giáo dục nhận thức về tình bạn, tình yêu cho con cái họ nhiều hơn với 93.7% Theo bà H-phụ huynh một học sinh lớp 10 tâm sự: “tôi cũng chỉ nói chuyện với con về các mối quan
hệ bạn bè, khuyên con tập trung vào việc học, không đua đòi yêu đương” Và nội dung về biến đổi tâm lý, tính cách ở tuổi dậy thì chiếm khoảng 50% Điều đó cho thấy các bậc phụ huynh chưa quan tâm nhiều đến việc tìm hiểu và cung cấp kiến thức
về tâm lý, tính cách cho con giúp con vững vàng hơn trước những biến đổi về tâm lý giới tính khi bước vào tuổi dậy thì
Cùng với những nội dung ở trên, các bậc phụ huynh cũng giáo dục cho con về giao tiếp ứng xử với bạn khác giới Nhằm góp phần định hướng cho con có những mối quan hệ đúng đắn, trong sáng
Bảng 2.7 Nội dung giáo dục về giao tiếp ứng xử với bạn khác giới
Tôn trọng mọi người, tự trọng với bản thân 82 64.6
Qua bảng 2.7 chúng tôi nhận thấy khoảng 86.6% phụ huynh giáo dục cho con với nội dung về cách GTƯX trong các mối quan hệ bạn bè và phải biết tôn trọng mọi người, tự trọng với bản thân khoảng 64.4% Giới thiệu về bạn bè cho cha mẹ biết thì
Trang 29ít đề cập hơn Phụ huynh của em N.V.T cho biết ông không có nhiều thời gian nên việc dành thời gian để tìm hiểu bạn bè của con là rất hiếm, thường thì con đi đâu hay làm gì với ai cũng có nói cho cha mẹ biết nên ông cũng không hỏi thêm chỉ dặn con
về đúng giờ thôi Đó là thực trạng của nhiều gia đình hiện nay, khi cha mẹ phó mặc con cái cho nhà trường, không quan tâm tìm hiểu về các mối quan hệ của con
Tìm hiểu nội dung giáo dục về những vấn đề xã hội liên quan đến giới tính chúng tôi thu được kết quả như sau
Bảng 2.8 Nội dung giáo dục về những vấn đề xã hội liên quan đến giới tính
Biểu đồ 2.2 Nội dung GDGT quan trọng nhất
Trang 30Vấn đề XH liên quan giới tính
Kết quả ở biểu đồ 2.2, thể hiện các bậc phụ huynh đều đã nhận thấy được tầm quan trọng của việc giáo dục tâm lý giới tính cho con cái Họ đã quan tâm chuẩn bị cho con tâm lý sẵn sàng đón nhận những thay đổi về tâm sinh lý, giúp con hiểu được tâm lý chính bản thân mình và bạn khác giới để hoà nhập cùng bạn bè, giữ được các mối quan hệ bạn bè bền vững, lành mạnh Tìm hiểu về nguồn thông tin mà phụ huynh sử dụng trong việc GDGT cho con cái, chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng 2.9 Nguồn cung cấp thông tin của phụ huynh
Trang 31phụ huynh cho rằng ai cũng phải trải qua sự thay đổi cơ thể, tâm lý khi đến tuổi dậy thì và họ tin tưởng vào kinh nghiệm đã trải qua của bản thân, lấy đó làm cơ sở để giáo dục cho con; ngoài ra, họ cũng tham khảo thêm các thông tin từ nhiều nguồn khác Tóm lại, qua tìm hiểu nhận thức và nội dung về GDGT cho con của các bậc phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn Huệ cho thấy: hầu hết họ đều nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc GDGT cùng với những nội dung cụ thể về SKSS, tâm lý giới tính, GTƯX với bạn khác giới, các vấn đề xã hội liên quan đến giới tính Tuy nhiên, mỗi gia đình họ lại chú trọng vào những nội dung khác nhau và chưa thực
sự quan tâm sâu sắc vào từng nội dung cụ thể
2.2.3 Phương pháp giáo dục giới tính của phụ huynh đối với học sinh
Cùng với việc tìm hiểu về nội dung GDGT cho con cái của các bậc phụ huynh, chúng tôi còn nghiên cứu sâu hơn về phương pháp GDGT của họ Giáo dục giới tính chỉ có hiệu quả cao khi phụ huynh sử dụng những phương pháp hợp lý, phù hợp với từng hoàn cảnh nhất định Kết quả nghiên cứu về vấn đề này ở phụ huynh trường THPT Nguyễn Huệ thể hiện ở bảng 2.10
Bảng 2.10 Phương pháp GDGT của cha mẹ
Tham gia các buổi chuyên đề về giới tính
cho con
Kết quả trên cho thấy, các bậc phụ huynh sử dụng nhiều phương pháp khác nhau: 84.2% là nói chuyện trực tiếp với con: khi con có những thắc mắc thì săn sàng giải thích, trao đổi và cùng tìm hiểu vấn đề với con
34.2% mua sách báo về giới tính cho con tự tìm hiểu: khi cha mẹ không có thời gian trao đổi và đây là vấn đề nhạy cảm nên mua sách báo cho con dễ tìm hiểu hơn
Trang 3220.8% cha mẹ tham gia các buổi chuyên đề về giới tính cùng con
Qua lời chia sẻ 26/30 phụ huynh chúng tôi được biết, họ chỉ nói chuyện trực tiếp khi con chủ động hỏi và ít khi gợi chuyện để con cái có thể chia sẻ những khó khăn của mình Họ cho rằng phương pháp nói chuyện trực tiếp mang lại hiệu quả cao, giúp cha mẹ dễ dàng chia sẻ, tạo sự gần gũi thân mật với con Nhưng để có hiệu quả tốt hơn thì cha mẹ nên chủ động trao đổi với con cái về vấn đề này nhiều hơn, đồng thời kết hợp nhiều phương pháp với nhau
2.2.4 Mức độ hài lòng của phụ huynh về việc GDGT cho học sinh
Với những nội dung và phương pháp giáo dục giới tính cho con của các bậc phụ huynh thì họ có hài lòng hay không?
Kết quả tìm hiểu mức độ hài lòng của phụ huynh về việc GDGT cho con được thể hiện ở biểu đồ 2.3
Biểu đồ 2.3 Mức độ hài lòng của học sinh về việc GDGT cho học sinh
không hài lòng hài lòng rất hài lòng
Biểu đồ cho thấy 78% phụ huynh trong mẫu khảo sát của chúng tôi đã “hài lòng”
và “rất hài lòng” với việc giáo dục giới tính cho con; 21.2% phụ huynh “ không hài lòng” Tuy nhiên so với nội dung và phương pháp đã phân tích ở trên chúng tôi thấy rằng các bậc phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc GDGT cho con cái, mặc dù
họ đều nhận thức được việc giáo dục đó là cần thiết Để nhận biết rõ hơn về thực
Trang 33trạng quan tâm đến vấn đề này của phụ huynh, chúng tôi tìm hiểu sâu quan điểm của
họ về độ tuổi nên bắt đầu GDGT cho học sinh và đã có được kết quả như sau:
Qua phỏng vấn nhóm 23/30 phụ huynh có ý kiến cho rằng độ tuổi 13-15 là phù hợp để GDGT cho con vì đây là độ tuổi bắt đầu có biểu hiện dậy thì ở con cái cùng thời gian này nhà trường cũng bắt đầu đưa chương trình GDGT trong bộ môn sinh học với những nội dung về giải phẫu cơ thể người Do đó họ thấy đây là thời gian hợp
lý nhất vừa hiệu quả vừa tiết kiệm được thời gian
2.2.5 Thái độ của phụ huynh về các hiện tượng xã hội liên quan đến giới tính hiện nay
Tìm hiểu sâu hơn về thái độ của phụ huynh học sinh đối với các hiện tượng nổi loạn giới tính ở lứa tuổi THPT trong xã hội hiện nay, chúng tôi có được kết quả bảng 2.12
Trang 34Bảng 2.12 Thái độ của phụ huynh đối với các hiện tượng xã hội liên quan đến
giới tính
Thái độ
Hiện tượng
Hoàn toàn không chấp nhận (%)
Không chấp nhận (%)
Chấp nhận (%)
Hoàn toàn chấp nhận (%)
Không ý kiến (%)
Xem phim sex, văn
hoá đòi trụy
Tìm hiểu thêm về nguyên nhân của những hiện tượng trên chúng tôi có được kết quả từ phụ huynh thể hiện bảng 2.13
Bảng 2.13 Nguyên nhân của những hiện tượng nổi loạn giới tính hiện nay
Trang 35Gia đình chưa có sự quan tâm 98 77.2
Đua đòi từ bạn bè, ảnh hưởng từ phim ảnh 97 76.4
2.3 Nhận thức và nhu cầu của học sinh THPT về giáo dục giới tính
Bên cạnh việc tìm hiểu về phụ huynh trong việc GDGT cho con cái, chúng tôi tìm hiểu thêm nhận thức, nhu cầu của HS về vấn đề GDGT từ cha mẹ
2.3.1 Nhận thức của HS về giới tính và các vấn đề liên quan đến giới tính
2.3.1.1 Nhận thức của HS về sự thay đổi cơ thể bản thân ở lứa tuổi dậy thì
Lứa tuổi THPT là độ tuổi đang hoàn thiện về tâm sinh lý, không phải ai trong lứa tuổi này cũng có nhận biết đầy đủ về những biến đổi của cơ thể mình Qua khảo sát
127 HS ở trường THPT Nguyễn Huệ Q 9, TP.HCM có kết quả:
Bảng 2.14: Sự biến đổi cơ thể ở tuổi dậy thì
Trang 36Khi mà cơ thể xảy ra sự biến đổi các em thường có tâm trạng lo lắng, băn khoăn thậm chí hoảng sợ Và điều đó được thể hiện thông qua bảng số liệu dưới đây:
Trang 37Bảng 2.15 Tâm trạng lần đầu tiên xuất hiện kinh nguyệt, mộng tinh của học
Để tìm hiểu sâu hơn nhận thức của học sinh về sự thay đổi cơ thể tuổi dậy thì, nhất
là ở bạn khác giới Chúng tôi đã nghiên cứu với câu hỏi “em có biết đến biểu hiện tuổi dậy thì của bạn khác giới không?” và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.16 Nhận thức về biểu hiện tuổi dậy thì của bạn khác giới
Trang 38
Kết quả kiểm định T-test cho thấy nhận thức về biểu hiện tuổi dậy thì của bạn khác giới có sự chênh lệch nên có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam (1.27)
và nữ (0.05) về sự biến đổi cơ thể của bạn khác giới ở tuổi dậy thì Như vậy do các
em nhận được thông tin từ nhiều nguồn và ở mức độ khác nhau nên nhìn chung học sinh cũng có những hiểu biết khác nhau về sự thay đổi của bạn khác giới ở lứa tuổi dậy thì Tuy nhiên các học sinh nam có sự hiểu biết nhiều hơn so với nữ và qua kiểm định t-test cho kết quả t=16.161 với p<0.001 cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
2.3.1.2 Nhận thức của học sinh về các vấn đề liên quan đến giới tính
Ngoài những biến đổi của cơ thể, trong lứa tuổi này các em cũng có những rung động đầu đời, có những biến đổi về tâm lý Các em bắt đầu biết chăm chút cho vẻ bề ngoài của mình nhiều hơn, các bạn nữ thích làm dáng, dịu dàng và nữ tính hơn, còn đối với các bạn nam thì luôn muốn thể hiện mình trước các bạn nữ và những người xung quanh Do sự hiểu biết còn hạn chế, suy nghĩ còn non nớt nên dễ bị nhầm lẫn và ngộ nhận giữa tình bạn và tình yêu Nhiều khi chỉ là một cái nhìn thân thiện, một sự quan tâm đặc biệt các em cũng có thể dễ dàng đánh đồng đó là tình yêu
Bảng 2.17 Quan niệm của các em về tình yêu
Cử chỉ yêu thương và cái nhìn đằm thắm 43 34.1
Sẵn sàng làm mọi việc vì người mình thích 21 16.7
Qua bảng khảo sát chúng ta thấy đa số các em đều nhận thức được phần nào về tình yêu nhưng khi tiến hành phỏng vấn sâu thì kết quả lại không tương đồng với bảng khảo sát Khi được hỏi: “quan niệm của em về tình yêu?” thì 27/30 các em trả
Trang 39lời rằng các em cũng chưa hiểu rõ lắm nhưng thấy bạn mình có người yêu mà mình không có thì bị lạc hậu, chính tâm lý không muốn thua kém bạn bè đó nên đã dẫn đến việc một số học sinh đi quá giới hạn cho phép ở độ tuổi của mình và nó thường dẫn đến hậu quả xấu mà bản thân các em không lường trước được Như vậy, việc các em
có người yêu là theo phong trào chứ không xuất phát từ tình yêu thật sự
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu về thái độ đối với việc quan hệ tình dục ở độ tuổi của các em
Bảng 2.18 Thái độ của học sinh với việc quan hệ tình dục ở độ tuổi THPT
Trong xã hội hiện nay đang nổi lên nhiều vấn đề liên quan đến giới tính, gây ra những hậu quả nghiêm trọng mà đối tượng chủ yếu là giới trẻ Khi được hỏi “suy nghĩ của em về vấn đề xã hội liên quan đến giới tính hiện nay?” thì các em thể hiện những thái độ và quan điểm khác nhau, với các mức độ khác nhau 1 Hoàn toàn
Trang 40không chấp nhận 2 Không chấp nhận 3 Chấp nhận 4 Hoàn toàn chấp nhận 5 Không ý kiến
Bảng 2.19 Thái độ của học sinh với các hiện tượng xã hội liên quan đến giới tính
Hiện tượng Trung bình Độ lệch chuẩn Xếp hạng
số học sinh tỏ thái độ chấp nhận đối với các hiện tượng trên chiếm từ 3.9% - 30.7% trong đó yêu đồng tính là cao nhất ( câu1.19 phần I, phụ lục 1.2) Như vậy qua số liệu khảo sát chúng tôi nhận thấy hầu hết các em đều có cái nhìn đúng đắn đối với các hiện tượng trên Tuy nhiên còn một số các em vẫn chưa thấy được hậu quả nghiêm trọng của những hiện tượng nêu trên Đó là nguyên nhân gây nên hiện tượng yêu đồng tính ở lứa tuổi học sinh THPT hiện nay, một quan niệm lệch lạc về lối sống tình cảm của các em Chính vì vậy mà gia đình và nhà trường cần quan tâm, giáo dục đầy
đủ, cụ thể những vấn đề về giới tính giúp các em nhận thức đúng đắn về tình cảm của