Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng lại một lần nữa nhấn mạnh: “Nâng cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hoá,
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ TRANG
GIA ĐÌNH VĂN HOÁ Ở PHÚ YÊN TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – 2009
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ TRANG
GIA ĐÌNH VĂN HOÁ Ở PHÚ YÊN TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Mã số: 60.22.85
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS HÀ THIÊN SƠN
TP HỒ CHÍ MINH – 2009
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Hà Thiên Sơn Các số liệu, kết quả nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Người cam đoan
NGUYỄN THỊ TRANG
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU - 1
Chương 1 GIA ĐÌNH VĂN HOÁ VÀ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH
VĂN HOÁ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm gia đình và xây dựng gia đình văn hoá ở
Việt Nam - 8 1.1.1 Khái niệm gia đình - 8 1.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ
tịch Hồ Chí Minh về xây dựng gia đình văn hoá - 19
1.2 Xây dựng gia đình văn hoá trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá - 31 1.2.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những yêu cầu
đặt ra đối với xây dựng gia đình văn hoá - 31 1.2.2 Những tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đối với gia đình hiện nay - 50
Chương 2 XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HOÁ Ở PHÚ YÊN
HIỆN NAY 2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội
và văn hoá - 61 2.1.1 Điều kiện tự nhiên và lịch sử - 61 2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá - 69
2.2 Thực trạng xây dựng gia đình văn hoá ở Phú Yên
trong những năm qua - 74 2.2.1 Quy trình thực hiện xây dựng gia đình văn hoá ở
Phú Yên - 75
Trang 52.2.2 Những thành tựu và tồn tại của quá trình xây dựng gia đình
văn hoá ở Phú Yên -
84 2.2.3 Nguyên nhân của những thành tựu và tồn tại của phong trào xây dựng gia đình văn hoá ở Phú Yên - 93
2.3 Phương hướng và giải pháp xây dựng gia đình văn hóa ở Phú Yên hiện nay - 105
2.3.1 Phương hướng xây dựng gia đình văn hoá ở Phú Yên 105 2.3.2 Những giải pháp xây dựng gia đình văn hoá ở Phú Yên ……… 112
KẾT LUẬN - 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 130
PHỤ LỤC………. 139
Trang 6BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
EU : Liên minh Châu Âu
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nhìn lại lịch sử phát triển của dân tộc, đặc biệt từ ngày có Đảng đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến gia đình Nhiều Nghị quyết của Đảng đã đề cập đến tầm quan trọng của gia đình Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của
xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Các chính sách của nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình ấm no, hoà thuận, tiến bộ Nâng cao
ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người”[33, tr.15] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng lại một lần nữa nhấn mạnh: “Nâng cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hoá, làm cho gia đình thật sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội”[36, tr.116] Bắt đầu từ năm
2001, Nhà nước ta đã quyết định lấy ngày 26-8 hàng năm làm Ngày gia
đình Việt Nam, điều đó nói lên tầm quan trọng của vấn đề gia đình ở nước
ta hiện nay
Gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc là mục tiêu phấn đấu của Đảng, Nhà nước và toàn dân ta trong nhiều năm nay Nhưng nhiều khó
Trang 8khăn, phức tạp đã nảy sinh trong hoàn cảnh mới, nhiều vấn đề đặt ra phải quan tâm Xu hướng ly hôn đang tăng lên, lối sống thực dụng, thế lực đồng tiền len lỏi trong nội bộ các gia đình; sự phân biệt đối xử với phụ nữ, với trẻ em gái, nạn bạo lực vẫn đang tồn tại trong các gia đình, số trẻ em lang thang tăng lên… Những điều đó gây nhức nhối đau lòng, hạn chế sự tiến bộ của các thành viên, phá vỡ hạnh phúc gia đình và ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá Vì vậy, xây dựng gia đình văn hoá là một yêu cầu cơ bản và cấp bách, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp và tiếp thu các giá trị tư tưởng tiên tiến, hiện đại Vun đắp những mối quan hệ giữa các thành viên gia đình, không chỉ đòi hỏi chúng ta có cái tâm, có thiện ý, xuất phát từ tình cảm và trách nhiệm của mỗi người, mà còn phải có những kiến thức khoa học về tâm sinh lý, về cách tổ chức đời sống gia đình…
Cùng với tiến trình phát triển chung của cả nước, Phú Yên cũng đang
đẩy mạnh cuộc vận động Xây dựng gia đình văn hoá và đã đạt được một số
thành tựu nhất định Song, bên cạnh đó việc xây dựng gia đình văn hoá ở đây cũng còn nhiều bất cập, hạn chế như: phong trào chưa phát triển đồng đều ở một số khu vực thuộc địa bàn trong tỉnh, phong trào đoi khi còn chạy theo hình thức, chất lượng chưa tương xứng với số lượng… Do đó, việc đẩy
mạnh hơn nữa phong trào Xây dựng gia đình văn hoá ở Phú Yên để đáp ứng
yêu cầu phát triển của địa phương đang đặt ra những vấn đề cần được nghiên cứu và giải quyết
Nhận thức rõ những vấn đề đã nêu trên, kết hợp với điều kiện nghiên cứu chuyên ngành lí luận của chủ nghĩa xã hội khoa học về vấn đề gia đình, tôi nhận thấy yêu cầu xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Phú Yên hiện nay vừa có ý nghĩa lý luận, vừa là vấn đề thực tiễn bức thiết Vì vậy tôi
Trang 9chọn đề tài: “Gia đình văn hoá ở Phú Yên trong giai đoạn hiện nay” làm
luận văn thạc sĩcho mình
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề gia đình, nhất là vai trò của gia đình đối với xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vai trò người phụ nữ trong gia đình, mối quan hệ giữa gia đình và xã hội ở nước ta hiện nay, đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Tiêu biểu là các tác phẩm, công trình
đáng chú ý như Giáo sư Lê Thi với các tác phẩm Cuộc sống và biến động
của hôn nhân, gia đình Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội, năm 2006; Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2002; Vai trò gia đình trong
xây dựng nhân cách con người Việt Nam, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội,
năm 1997; Vũ Ngọc Khánh với tác phẩm Văn hoá gia đình Việt Nam, Nhà
xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội 1998; Nguyễn Khắc Viện với tác phẩm
Tâm lý gia đình, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội, năm 1999; Nguyễn Từ
Chi với Những nghiên cứu về xã hội học gia đình Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1991; Trần Đình Hượu với bài viếât Gia đình
và giáo dục gia đình, Hoàng Thiệu Khang với bài Gia đình là tế bào của xã hội, Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc với Mối quan hệ làng họ và gia đình truyền thống… Trong công trình Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1996; TS
Lê Quý Đức - TS Vũ Thi Huệ với tác phẩm Người phụ nữ trong văn hoá
đô thị, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004; Hồng Hà với
bài viết Để nhận thức rõ hơn một số vấn đề cơ bản trong lý luận về gia đình
ở nước ta, Phạm Thị Nguyệt Lăng với bài Sự biến đổi mô hình ở Việt Nam,
Lê Thi với bài Thực trạng gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ trong
Trang 10gia đình, Lê Ngọc Vân với Những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực nghiên cứu hôn nhân và gia đình Việt Nam trong công trình nghiên cứu khoa học về
phụ nữ thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, xuất bản năm 1990; tác giả
Nguyễn Văn Kiều với tác phẩm Bàn về xây dựng gia đình xã hội chủ nghĩa,
Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1983; Trần Thị Kim Xuyến với tác
phẩm Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, năm 2002; Nguyễn Minh Hoà với tác phẩm Hôn nhân và gia
đình trong xã hội hiện đại, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh, năm 2000;
Đặng Cảnh Khanh với tác phẩm Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị
truyền thống, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, năm 2003; Nguyễn Thị
Oanh với Gia đình Việt Nam thời mở cửa, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh, năm 1999; Trần Nữ Quế Phương (Sưu tầm và biên soạn) với Gia
đình như một nền tảng tâm linh - mỹ học, Nhà xuất bản Hội nhà văn, năm
2006; tập thể tác giả Đỗ Thị Bình - Lê Ngọc Văn - Nguyễn Linh Khiếu với
công trình Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Trung tâm Khoa học về gia đình và
phụ nữ, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2002; GS Bác sĩ
Đặng Phương Kiệt với công trình Gia đình Việt Nam các giá trị truyền
thống và những vấn đề tâm - bệnh lý xã hội, Nhà xuất bản Lao động, Hà
Nội, năm 2006 Ngoài ra vấn đề gia đình còn có nhiều bài viết đăng trên các tuần báo, các nhật báo và tạp chí…
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về gia đình nói chung, ở nước ta những năm gần đây trước yêu cầu đổi mới và phát triển của đất nước, có nhiều công trình đã đi sâu nghiên cứu và đề cập vấn đề gia đình dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó có xu hướng nghiên cứu gia đình với tư cách như một nép đẹp văn hóa của đất nước, con người và dân tộc Việt Nam,
Trang 11còn gọi là gia đình văn hóa Tiêu biểu cho xu hướng này có các công trình
như: Gia đình văn hóa - Phụ san của Tạp chí Toàn cảnh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ấn hành, Hà Nội; Võ Nguyên Du: Một số nội dung và biện
pháp giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em trong gia đình Luận án Tiến sĩ
giáo dục, Hà Nội, năm 2000 Đặc biệt, kể từ khi có Quyết định số 01/2002/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể
thao và Truyền thông) Về việc ban hành Quy chế công nhận danh hiệu Gia
đình văn hóa, Làng văn hóa, Khu phố văn hoá thì các công trình nghiên cứu
về gia đình văn hóa ngày càng nhiều hơn nhưng cũng chỉ là bước đầu
Tại Phú Yên, công tác nghiên cứu về gia đình, đặc biệt là về gia đình văn hóa những năm gần đây đã và đang từng bước được chú trọng nhưng chưa thấy tác giả và công trình nào nghiên cứu về vấn đề này một cách hệ thống Đây đang thực sự là một khoảng trống nghiên cứu cần được khắc phục Vấn đề mà luận văn này lựa chọn làm đề tài nghiên cứu không nằm ngoài ý đồ muốn góp phần khắc phục một phần khoảng trống nghiên cứu đó
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn
Luận chứng cơ sở lý luận và thực tiễn về gia đình văn hoá, về vấn đề xây
dựng gia đình văn hoá ở Phú Yên Trên cơ sở đó đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm góp phần xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Phú Yên trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt mục đích nói trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
Trang 12- Làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng gia đình văn hoá trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
- Phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Phú Yên
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng gia đình văn hoá ở Phú Yên hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được triển khai trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp sử dụng các phương pháp thu thập và xử lý thông tin, phân tích tài liệu, tư liệu, phương pháp tổng hợp - thống kê, khảo sát thực tế, … Các phương pháp cụ thể trên đây được tiến hành trên cơ sở các phương pháp chung: Lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch và phương pháp khái quát hoá, …
5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ trên, luận văn chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu xây dựng gia đình văn hoá ở Phú Yên từ năm 2000 đến nay Ngoài ra để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được tốt hơn, tác giả đã tìm hiểu khái
quát về điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội và văn hoá của Phú Yên
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ cơ sở khoa học trong chỉ đạo phong trào xây dựng gia đình văn hoá cả nước nói chung và Phú Yên nói riêng
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan có chức
Trang 13năng và thẩm quyền ở tỉnh Phú Yên đề ra các chính sách, chương trình, nhiệm vụ cụ thể trong xây dựng gia đình văn hoá
- Luận văn cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu, giảng dạy và học tập chuyên đề “Vấn đề gia đình trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội” ở các trường đại học và cao đẳng
- Luận văn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn vì góp một phần nhỏ
vào việc “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” theo
chủ trương của Đảng và Nhà nước ta
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương, năm tiết
Trang 14Chương 1 GIA ĐÌNH VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH VÀ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VIỆT NAM
1.1.1 Khái niệm gia đình
Gia đình là một tổ chức xã hội được hình thành từ lâu trong lịch sử Hầu hết mọi người đều lớn lên trong gia đình và thừa hưởng những yếu tố vật chất và tinh thần từ nó Tuy nhiên, khi cần phát biểu một cách chính xác về gia đình thì người ta lại cảm thấy rất khó khăn Tìm ra được những định nghĩa tối ưu về gia đình và thống nhất với nhau là một yêu cầu không dễ gì thực hiện được Những khó khăn trong nỗ lực đưa ra được định nghĩa chung nhất về gia đình thể hiện ở chỗ gia đình biến đổi từ xã hội này, từ nền văn hoá này sang xã hội khác và nền văn hoá khác Thậm chí ngay trong một quốc gia, theo thời gian, gia đình cũng biến đổi Có nhiều định nghĩa được công nhận trong suốt thời gian dài nhưng sau đó, thực tiễn phát triển và biến đổi gia đình lại làm bộc lộ những khiếm khuyết của chúng Trong một thời gian dài, các nhà xã hội học đã coi định nghĩa của Murdock (một nhà xã hội học của phương Tây) như một chuẩn mực Theo ông: “Gia đình là một nhóm xã hội được xác định bởi một nơi trú ngụ chung, sự hợp tác và tái sản xuất về kinh tế, gồm những người trưởng thành trong đó có ít nhất là hai người duy trì mối quan hệ tình dục được xã hội công nhận với một hoặc nhiều đứa trẻ là con đẻ hoặc con nuôi của những người trưởng thành có quan hệ với nhau”[101, tr.42] Định nghĩa này có
Trang 15những điểm hạn chế của nó, do không bao quát được mọi vấn đề diễn ra trong thực tế, đặc biệt là trong xã hội đương đại
Một định nghĩa khác về gia đình của hai nhà xã hội học E.W Burgess và H.J Locker: “Gia đình là một nhóm người đoàn kết với nhau bằng những mối liên hệ hôn nhân, huyết thống và những mối quan hệ con nuôi tạo thành một hộ đơn giản, tác động lẫn nhau và thông nhất với nhau trong vai trò tương ứng của họ là người chồng và người vợ, người mẹ và người cha, anh em và chị em, tạo nên một nền văn hoá chung”[Dẫn theo 101, tr.43] Kingley Davis thì cho rằng: “Gia đình là một nhóm người mà quan hệ của họ với nhau dựa trên dòng dõi và do đó họ là họ hàng thân thích của nhau”[Dẫn theo 41, tr.24]
Những định nghĩa nói trên đã đề cập tới nhiều khía cạnh bản chất của gia đình nhưng sự khái quát khá chung chung, không rõ bản chất, chức năng và sự tác động của gia đình đối với xã hội và ngược lại
Ở nước ta, nghiên cứu về gia đình như một vấn đề mang tính cấp thiết, được nhiều người quan tâm, vì vậy có rất nhiều quan niệm về gia đình Nhà nghiên cứu mỹ học Hoàng Thiệu Khang đã viết: “Gia đình - khái niệm ấy vẫn đang nằm trong vùng bí mật đối với khoa học Cả khoa học xã hội lẫn khoa học tự nhiên Chỉ có thể đưa khái niệm ấy ra ánh sáng khi biết thực thi một cách tổng hoà các khoa học, có nghĩa là thực thi một cách tiếp cận triết học mang tinh thần biện chứng tự nhiên và biện chứng lịch sử”[62, tr.43] Vậy gia đình là gì? Theo từ điển Tiếng Việt: “Gia đình là một tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ,
chồng, cha mẹ và con cái”[97, tr.403] Tiến sĩ Phạm Việt Long trong Tục
Trang 16ngữ ca dao về quan hệ gia đình định nghĩa: “Gia đình là một thực thể vừa
mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội, gắn bó với nhau thông qua quan hệ hôn nhân, thân tình và dòng máu để đáp ứng nhu cầu về tình cảm, bảo tồn nòi giống, giữ gìn và phát huy văn hoá của cộng đồng và tộc người, góp phần nuôi dưỡng nhân cách con người, phát triển kinh tế - xã hội, phản ánh sự vận động của cộng đồng và quốc gia trong tiến trình lịch sử”[65, tr.24]
Khái quát lại, có thể nói: gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội
đặc biệt, được hình thành, duy trì và củng cố chủ yếu trên cơ sở hôn nhân và huyết thống Đúng như C.Mác đã nói: “… hàng ngày tái tạo ra đời sống của
bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở
- đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”[7, tr.41]
Như vậy, khái niệm “gia đình” thường gợi lên trong suy nghĩ của mỗi chúng ta hình ảnh về một mái nhà cùng với cha mẹ và con cái Nhưng kỳ thực sự quan niệm về khái niệm gia đình không hoàn toàn giống nhau Sự khác nhau không chỉ ở các quốc gia, các châu lục mà đôi khi ngay trong một quốc gia, dân tộc đã có rất nhiều điểm khác biệt nhau, thậm chí dị biệt nhau Do vậy, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã công nhận “sự tồn tại đồng thời các khái niệm khác nhau về gia đình trong hệ thống chính trị - xã hội và văn hoá khác nhau”
Gia đình là “tế bào của xã hội” Điều này trước hết chỉ ra rằng, gia đình
và xã hội có quan hệ mật thiết với nhau Trong mối quan hệ mật thiết ấy,
trình độ phát triển về mọi mặt của xã hội quyết định đến hình thức, tính
Trang 17chất, kết cấu và cả quy mô gia đình C.Mác nhiều lần lưu ý rằng: tôn giáo,
gia đình, nhà nước, pháp quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật… chỉ là những hình thức đặc thù của sản xuất phục tùng quy luật chung của sản xuất
Thực tế lịch sử cho thấy, gia đình lần lượt biến đổi tương ứng với những giai đoạn phát triển xã hội khác nhau Theo Ph.Ăngghen, trong xã hội nguyên thuỷ, trình độ lực lượng sản xuất rất thấp, cá nhân không tách rời tập thể, cuộc sống cộng đồng có nhiều mặt… đã tạo nên hình thức gia đình tập thể - quần hôn Mỗi bước tiến của xã hội cộng đồng nguyên thuỷ và kết quả của đào thải tự nhiên lại đưa đến những dạng mới, mang sắc thái tiến bộ hơn cho hình thức gia đình này Giai đoạn đầu của xã hội cộng
đồng nguyên thuỷ có gia đình cùng dòng máu (huyết thống), các tập đoàn
hôn nhân đều phân theo thế hệ Đến giai đoạn giữa của xã hội cộng đồng
nguyên thuỷ xuất hiện gia đình Punaluna (bạn thân), trong đó quan hệ tính
giao giữa anh em trai với chị em gái đã bị huỷ bỏ Và giai đoạn cuối của xã
hội này, đã hình thành gia đình cặp đôi (đối ngẫu), trong đó kết hôn từng
cặp đã tồn tại (tuy còn lỏng lẻo): “trong số vợ rất đông của mình, người đàn ông có một vợ chính, và trong số nhiều người chồng khác, anh ta là người chồng chính của người đàn bà ấy”[9, tr.79] Những kiểu trên của gia đình tập thể - quần hôn đều có đặc trưng là: tính giao tập thể, kinh tế cộng đồng nguyên thuỷ, chế độ mẫu hệ, không có áp bức và bất bình đẳng giữa các thành viên
Bước sang chế độ chiếm hữu nô lệ, trong xã hội nảy sinh hình thức gia
đình cá thể một vợ một chồng Đó là kết quả trực tiếp của việc hình thành
chế độ sở hữu tư nhân và sự phân hoá giai cấp Gia đình cá thể là “hình
Trang 18thức gia đình đầu tiên không dựa trên những điều kiện tự nhiên, mà dựa trên những điều kiện kinh tế - tức là trên thắng lợi của sở hữu tư nhân đối với sở hữu công cộng nguyên thuỷ và tự phát”[9, tr.103-104] Tất nhiên, kết quả ấy vẫn còn do tác động của quy luật đào thải tự nhiên, ngoài ra còn có thêm một nguyên nhân nữa là nguyên nhân tình cảm, thể hiện ở chỗ người phụ nữ ngày càng có nhu cầu chỉ cần sống với một người đàn ông nhất định… Từ đó gia đình trở thành một đơn vị kinh tế riêng lẻ, kết cấu và quy mô thu hẹp hơn, quan hệ chồng với vợ, bố mẹ và con cái… mang tính phục tùng và bất bình đẳng, nạn ngoại tình và nạn mại dâm phát triển…
Trải qua các xã hội nô lệ, phong kiến, tư bản và ở từng giai đoạn khác nhau gia đình cá thể còn có những nét đặc thù Theo Ph.Ăngghen, chính từ các xã hội có chế độ tư hữu tư nhân và đối kháng giai cấp, trong các tầng lớp nhân dân lao động cũng đã xuất hiện những mầm mống một kiểu gia đình mới mà hôn nhân không phải chủ yếu do mục đích kinh tế và vì kế thừa tài sản Mầm mống kiểu gia đình này mới chỉ hình thành đầy đủ và phổ biến trong những điều kiện mới của xã hội có tự do và bình đẳng thực sự Đến khi đó, gia đình mới có khả năng thể hiện đầy đủ vị trí xứng đáng của mình đối với sự phát triển chung của xã hội
Như vậy, gia đình là sản phẩm của lịch sử Nhưng với tư cách là tế bào
của xã hội, gia đình tác động tích cực đến tiến trình phát triển của xã hội
Ph.Ăngghen nhận định: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là
Trang 19sự truyền nòi giống Những trật tự xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: Một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình”[9, tr.44] Nhận định đó cho thấy rõ vai trò rất to lớn của gia đình đối với xã hội
Trong hệ thống cơ cấu xã hội có nhiều bộ phận khác nhau như: dân tộc, giai cấp, giới… ; nhiều thiết chế lớn nhỏ như: nhà nước, ngành, đoàn thể… Song với tính cách là tế bào của xã hội, gia đình là tổ chức cơ sở, là
cơ cấu và thiết chế xã hội nhỏ nhất Cơ cấu thiết chế nhỏ nhất này lại đa dạng và phong phú; trong quá trình vận động, vừa tuân thủ những quy luật và cơ chế chung của xã hội, vừa theo những quy định và tổ chức riêng của mình
Gia đình là nơi con người sinh ra và lớn lên Trước khi tiếp xúc với những quy tắc, chuẩn mực của xã hội, con người được tiếp xúc với những quy phạm trong xã hội, được trang bị những kiến thức cần thiết để đảm bảo cho những xử thế ngoài xã hội Người ta đã ví gia đình như một tế bào của xã hội Một xã hội muốn vững mạnh thì các tế bào của nó phải khoẻ mạnh Gia đình hạnh phúc tạo điều kiện cho xã hội phát triển; xã hội phát triển tạo điều kiện cho gia đình hạnh phúc Nếu trong gia đình có những người con bất hiếu, chúng sẽ phá hoại xã hội hoặc trở thành gánh nặng cho xã hội; còn nếu đó là những người con có hiếu thì tất yếu họ sẽ là những người có ích cho xã hội Chính vì lẽ đó trong lịch sử, vai trò của gia đình luôn được đề cao
Gia đình là cầu nối của mọi thành viên trong gia đình và xã hội Nhiều thông tin về xã hội tác động đến con người thông qua gia đình Xã
Trang 20hội nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về một người khi nhận rõ hoàn cảnh gia đình của người ấy Nhiều nội dung quản lý xã hội không chỉ thông qua hoạt động của các thiết chế xã hội, mà còn thông qua hoạt động của gia đình để tác động đến con người; nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người được thực hiện với sự hợp tác chung của các thành viên trong gia đình Qua đó, ý thức công dân của cá nhân được nâng cao và sự gắn bó giữa gia đình và xã hội có nội dung xác thực
Gia đình là tổ ấm thân yêu đem lại hạnh phúc cho mỗi người Trong gia đình; cá nhân được đùm bọc về mặt vật chất và giáo dục về tâm hồn; trẻ thơ được có điều kiện về an toàn và khôn lớn, người già có nơi nương tựa, người lao động được phục hồi sức khoẻ và thoả mái tinh thần… Ở đó, hàng ngày diễn ra các quan hệ thiêng liêng, sâu đậm giữa, vợ - chồng, cha
- con, anh - em, những người đồng tâm, đồng cảm, nâng đỡ nhau suốt cả cuộc đời Có rất nhiều vấn đề, ngoài môi trường gia đình, không ở đâu có thể đáp ứng và giải quyết có hiệu quả Chỉ khi nào được yên ấm trong gia đình và hữu ái trong xã hội Cá nhân mới thực sự yên tâm lao động và làm việc sáng tạo Một trong những bất hạnh lớn nhất của mỗi con người là lâm vào cảnh “vô gia cư”, gia đình lục đục, tan nát hoặc cảnh nghèo đói, khốn cùng… Vì vậy, việc xây dựng gia đình mới là một trong những vấn đề quan trọng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trong thực tế, vị trí và vai trò to lớn của gia đình với tính cách là tế bào của xã hội được thể hiện ở các chức năng cơ bản sau:
Chức năng tái sản xuất ra con người
Tái sản xuất ra chính bản thân con người không những là chức năng cơ bản mà còn là chức năng đặc thù của gia đình Chức năng này bao gồm các
Trang 21nội dung cơ bản là: tái sản xuất, duy trì nòi giống, nuôi dưỡng nâng cao thể lực, trí lực bảo đảm tái sản xuất nguồn lao động và sức lao động cho xã hội
Hoạt động sinh con đẻ cái của con người trước hết xuất phát từ nhu cầu tồn tại của chính con người, của xã hội Chức năng này đáp ứng một nhu cầu rất tự nhiên, chính đáng của con người Nhưng tốc độ gia tăng dân số, mật độ dân cư… và nhiều yếu tố khác liên quan đến các vấn đề chiến lược và trình độ phát triển kinh tế, xã hội… Vì vậy, sinh đẻ của mỗi gia đình không chỉ là việc riêng của gia đình mà còn là một nội dung quan trọng của mỗi quốc gia và toàn nhân loại Chiến lược về dân số hợp lý sẽ trực tiếp tạo ra một cách có kế hoạch nguồn lực mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, là mục tiêu, động lực quan trọng nhất của phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình
Hoạt động kinh tế và đời sống vật chất là một chức năng cơ bản của gia đình Hoạt động kinh tế hiểu theo nghĩa đầy đủ gồm có hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tiêu dùng để thoả mãn các yêu cầu ăn mặc,
ở, đi lại của mỗi thành viên và gia đình
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, nhiều gia đình có điều kiện (có sở hữu hoặc tham gia sở hữu tư liệu sản xuất) đều có thể trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh Để có thể phát huy mọi tiềm năng sáng tạo trong kinh tế, Đảng và Nhà nước đề ra, thực hiện các chính sách sao cho mọi gia đình, mọi cá nhân có thể làm giàu chính đáng bằng hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật
Cùng với sản xuất kinh doanh, các gia đình và hộ gia đình công nhân
Trang 22viên chức, cán bộ hành chính sự nghiệp, giáo viên, nhà khoa học, trí thức văn nghệ sĩ… cũng được khuyến khích trong lao động sáng tạo, tăng thu nhập chính đáng từ lao động sáng tạo của mình Các loại gia đình này tuy không trực tiếp thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh, nhưng cũng thực hiện một nội dung quan trọng của hoạt động kinh tế: bảo đảm hoạt động tiêu dùng đáp ứng các yêu cầu vật chất cơ bản của con người, qua đó kích thích sự phát triển hoạt động kinh tế của xã hội
Thực hiện tốt chức năng kinh tế sẽ tạo ra tiền đề và cơ sở vật chất vững chắc cho tổ chức đời sống của gia đình Đương nhiên, ngoài cơ sở kinh tế, thì còn nhiều yếu tố khác mới đảm bảo cho một gia đình trở nên văn minh, hạnh phúc
Chức năng giáo dục của gia đình
Sinh con, nuôi nấng, dạy dỗ là những hoạt động không thể tách rời nhau trong gia đình Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, chăm lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con cái cả về thể chất lẫn tinh thần
Chức năng giáo dục của gia đình là rất quan trọng và có nội dung rộng lớn Nội dung giáo dục gia đình chính là những yếu tố của vấn đề văn hoá gia đình và văn hoá cộng đồng nhằm tạo lập và phát triển nhân cách của con người, như: đạo đức, lối sống, ứng xử, tri thức lao động và khoa học… Giáo dục gia đình được thực hiện ở mọi chu trình sống của con người: lúc còn ẵm ngữa, giai đoạn tuổi thơ, khi trưởng thành, lúc già cả… Ở từng chu trình ấy có những nội dung và hình thức giáo dục cụ thể như: lời ru của mẹ, tấm gương sống và làm việc của người thân, những nhắn nhủ của cha mẹ, giảng giải của ông bà… Ngay trong hoạt động tiêu dùng để thực hiện tổ
Trang 23chức đời sống vật chất và tinh thần cho các thành viên cũng một phần lớn phục vụ chức năng giáo dục gia đình
Trong CNXH, với chức năng giáo dục, gia đình thực sự góp phần lớn lao vào việc đào tạo thế hệ trẻ và xây dựng con người mới nói chung, vào việc duy trì và phát triển đạo đức, văn hoá dân tộc Giáo dục gia đình là một bộ phận của giáo dục xã hội Giáo dục gia đình mới đòi hỏi sự cố gắng cao và những hiểu biết về khoa học, tâm lý… của cha mẹ và của mọi thành viên khác Kết hợp chặt chẽ các môi trường giáo dục (gia đình - nhà trường
- xã hội) để tiến tới mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là một yêu cầu quan trọng
Chức năng thoả mãn các nhu cầu tâm - sinh lý, tình cảm của gia đình
Nếu như trình độ sản xuất kinh doanh, hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống gia đình là điều kiện và tiền đề vật chất của xây dựng gia đình, thì thoả mãn các nhu cầu tâm - sinh lý được coi là một chức năng có tính văn hoá - xã hội của gia đình Chức năng này có vị trí đặc biệt quan trọng, cùng với các chức năng khác tạo ra khả năng thực tế cho xây dựng gia đình hạnh phúc Nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến giới tính và giới, tâm lý lứa tuổi và thế hệ, những căng thẳng mệt mỏi về thể xác và tâm hồn trong lao động và công tác… nhiều khi có thể được giải quyết trong một môi trường gia đình hoà thuận Sự hiểu biết, cảm thông, chia sẻ và đáp ứng các nhu cầu tâm sinh lý giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái… làm cho mỗi thành viên có điều kiện sống lạc quan, khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần là những tiền đề cần thiết cho một thái độ, hành vi tích cực trong cuộc sống gia đình và xã hội
Như vậy, gia đình là một thiết chế đa chức năng, mọi thành viên gia
Trang 24đình, tuỳ thuộc vào vị thế, lứa tuổi… đều có quyền và nghĩa vụ thực hiện các chức năng nói trên Trong đó, người phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi họ là người do đặc thù tự nhiên - sinh học, đảm nhận và thực hiện một số thiên chức không thể thay thế Ông bà ta có câu “con hư tại mẹ” không phải để đổ lỗi mà là để xác định vị trí, vai trò quan trọng của người phụ nữ trong gia đình Tuy nhiên, trong quá trình lịch sử, phụ nữ là những người vất vả, cực nhọc và chịu nhiều thiệt thòi nhất cả trong quan hệ xã hội lẫn trong quan hệ gia đình Do đó, giải phóng phụ nữ được coi là một mục tiêu quan trọng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, cần phải được bắt đầu từ gia đình Hồ Chí Minh đã từng nói: “Muốn có nhiều sức lao động thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ Nói phụ nữ là nói một phần nửa xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ, thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội một nửa”[70, tr.728]
Gia đình, thông qua thực hiện các chức năng khách quan vốn có của mình, có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, nhưng chỉ với tư cách là của cái bộ phận đối với cái toàn thể Nên mọi quan điểm tuyệt đối hoá, đề cao quá mức hay phủ nhận, hạ thấp vai trò của gia đình đều là sai lầm và với mức độ khác nhau sẽ gây ra mâu thuẫn gia đình và xã hội, ngăn cản sự phát triển của xã hội cũng như của chính gia đình
1.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng gia đình văn hóa
Kế thừa và phát triển những quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình
Trang 25tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì vậy muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải chú ý hạt nhân cho tốt”[72, tr.523] Luận điểm của người vừa khẳng định mối quan hệ không thể tách rời của gia đình và xã hội, vừa khẳng định vai trò to lớn của gia đình với xã hội, đồng thời khẳng định sự cần thiết phải xây dựng gia đình mới để có xã hội mới - xã hội XHCN thực sự
Gia đình tái tạo ra con người, tác động tới con người và cuộc sống của con người không chỉ với tính cách là thiết chế xã hội đầu tiên mà còn là yếu tố trung gian, nối liền mối quan hệ cá nhân và xã hội Quan hệ giữa các cá nhân của gia đình và xã hội là mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và tác động biện chứng Tuy nhiên, mối quan hệ đó không phải bao giờ cũng diễn
ra một cách trực tiếp Một phần rất cơ bản mối quan hệ đó được thực hiện chủ yếu thông qua gia đình (vì thế gia đình được xem là cầu nối giữa cá nhân và xã hội) Xã hội thông qua gia đình đã thể hiện vai trò và trách nhiệm đối với cá nhân, yêu cầu cá nhân thực hiện nghĩa vụ đối với xã hội Mỗi cá nhân, để thực hiện nghĩa vụ của mình đối với xã hội, một phần rất
cơ bản cũng phải thông qua gia đình và nhờ vào gia đình Không có sự tác động hoặc hỗ trợ tích cực của gia đình, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội rất dễ bị tách rời Với quan điểm đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương quan trọng về xây dựng gia đình mới - gia đình văn hoá, thể hiện sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam Ngay
từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong tác phẩm “Đời sống mới”
(1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn dân tham gia xây dựng đời sống mới trong một quốc gia độc lập mới Trong đó, Người coi xây dựng gia đình là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng đời sống
Trang 26mới Với bút danh Tân Sinh, Hồ Chí Minh đã viết: "Mỗi người làm đúng theo đời sống mới thì đời sống trong một nhà cũng dễ dàng thôi Cũng như mỗi viên đá trơn tru vững chắc, thì chỉ cần một ít vôi là đắp thành một bức tường tốt
Về tinh thần, thì phải trên thuận, dưới hoà, không thiên tư, thiên ái Bỏ thói mẹ chồng hành hạ nàng dâu, dì ghẻ ghét bỏ con chồng
Về vật chất, từ ăn mặc đến việc làm phải ăn đều, tiêu sài có kế hoạch, có ngăn nắp
Cưới hỏi, giỗ Tết nên giản đơn, tiết kiệm
Trong nhà ngoài vườn luôn luôn sạch sẽ gọn gàng
Đối với xóm giềng, phải thân mật và sẵn lòng giúp đỡ Đối với việc làng việc nước, phải hăng hái làm gương
Người trong nhà ai cũng biết chữ
Luôn luôn cố gắng, làm cho nhà mình thành một nhà kiểu mẫu trong làng… mà một nhà như thế nhất định phải phát đạt”[73, tr.100]
Đồng thời, Người còn chỉ ra phương pháp cũng như nội dung được thực hiện trong cuộc vận động này là: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ… Cái
gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý… Cái
gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm”[73, tr.94] Đây là tư tưởng của Người vừa hết sức sâu sắc, vừa dễ hiểu và quán triệt đầy đủ quan điểm kế thừa, phát triển của lý luận mác - xít để giúp phong trào xây dựng gia đình mới không bị rơi vào xu hướng tả hoặc hữu khuynh, kìm hãm sự phát triển của xã hội
Phong trào xây dựng gia đình mới được Người nhen nhóm ngọn lửa từ
Trang 27đó Nó được bùng lên và đánh dấu mốc phát triển bắt đầu từ năm 1960, từ sáu gia đình tại thôn Ngọc Tỉnh, xã Ngọc Long, tỉnh Hưng Yên Lúc đầu, sáu gia đình gương mẫu tham gia xây dựng hợp tác xã ở thôn Ngọc Tỉnh, xã Ngoc Long, đã tình nguyện đi đầu xây dựng gia đình văn hoá theo ba nội dung:
- Gương mẫu chấp hành Đường lối, Chính sách của Đảng và Nhà nước, trọng tâm là tham gia xây dựng hợp tác xã, không buôn bán bên ngoài
- Xây dựng tinh thần đoàn kết xóm thôn, giúp nhau trong lao động sản xuất
- Gia đình vệ sinh ngăn nắp, gọn gàng và chi tiêu tiết kiệm
Ba nội dụng trên đây đã trở thành ba tiêu chuẩn của phong trào xây dựng gia đình văn hoá trước hết là ở nông thôn, trong xã và mở rộng ra toàn huyện Cho đến năm 1962, 100% số xã của huyện Yên Mỹ đã có phong trào xây dựng gia đình văn hoá và tại Hội nghị văn hoá toàn miền Bắc, xã Ngọc Long được Bộ văn hoá khẳng định là “quê hương gia đình văn hoá”, được chọn là điển hình tiên tiến để làm đầu tàu nhân điển hình toàn miền Bắc Đến năm 1973, cũng từ Hải Hưng, Ban vận động xây dựng nếp sống văn minh - gia đình văn hoá đã sửa đổi bổ sung thành năm tiêu chuẩn gia đình văn hoá: lao động sản xuất giỏi; chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; vệ sinh ngăn nắp, chi tiêu có kế hoạch, thực hiện kế hoạch hoá gia đình; đoàn kết xóm giềng; gia đình hoà thuận Sau đại thắng mùa xuân 1975, thống nhất đất nước, phong trào xây dựng gia đình mới được phát động trong phạm vi cả nước, cũng với năm tiêu chuẩn nói trên nhưng tiêu chuẩn “gia đình hoà thuận” được đưa lên hàng đầu
Trang 28Bước vào thời kỳ đổi mới, phong trào được tiếp tục duy trì, mở rộng trong cả nước Từ 1986, phong trào “xây dựng gia đình mới” được gọi là “phong trào xây dựng gia đình văn hoá mới” Từ 1991 tên gọi đó được thay bằng
“xây dựng gia đình văn hoá” (bỏ chữ “mới” để tránh hiểu sai mà xoá đi tất cả những cái cũ nhưng tốt đẹp) Sau khi có Nghị quyết IV của Trung ương (khoá VII), Ban chỉ đạo nếp sống văn hoá Trung ương đã sửa đổi nội dung và tiêu chuẩn gia đình văn hoá thành bốn nội dung: xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ, hạnh phúc; thực hiện kế hoạch hoá gia đình; đoàn kết xóm giềng; thực hiện tốt nghĩa vụ công dân
Nhằm thực hiện Nghị quyết Trung ương V (khoá VIII), ngày 23 tháng
12 năm1999 Chính phủ ra quyết định số 235/1999/QĐ-TTg thành lập Ban
chỉ đạo Trung ương chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá” Ngày 21 tháng 4 năm 2000, tại Quảng Nam, Ban chỉ đạo
Trung ương đã tổ chức ra mắt và phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hoá” Ban chỉ đạo ra đời đã thống nhất sự chỉ đạo
trong toàn quốc Tiêu chuẩn Gia đình văn hoá được quy định: Gia đình ấm
no, hoà thuận, tiến bộ, khoẻ mạnh và hạnh phúc; thực hiện tốt nghĩa vụ công dân; thực hiện kế hoạch hoá gia đình; đoàn kết tương trợ trong cộng đồng dân cư Để phù hợp với sự phát triển của xã hội trong giai đoạn mới, ngày 23 tháng 6 năm 2006 Bộ Văn hoá - Thông tin ra Quyết định số 62/2006/QĐ-BVHTT quy định tiêu chuẩn danh hiệu “Gia đình Văn hóa” với những nội dung cụ thể như sau:
1 Gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào của địa phương
2 Gia đình hoà thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng
Trang 293 Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả
Đến nay, phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, toàn dân xây dựng làng, bản, xóm ấp văn hoá đã thúc đẩy mạnh mẽ công tác vận động toàn dân xây dựng gia đình văn hoá Xây dựng gia đình văn hoá được coi là yêu cầu không thể thiếu trong nội dung làng bản văn hoá, khu phố văn minh Nhiều địa phương đã vận động phát triển tốt, nổi bật là các tỉnh Hải Hưng, Hà Tây, Bắc Ninh, Thái Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Nội
Tinh thần quan tâm đến gia đình và xây dựng gia đình văn hoá của Đảng và Nhà nước ta mang tính chất nhất quán và nội dung rõ ràng
Tại Đại hội VI, Đảng ta xác định rõ: “gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới… Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây dựng gia đình văn hoá mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình Nâng cao trình độ tự giác, xây dựng những quan hệ tình cảm, đạo đức trong từng gia đình, bảo đảm sinh đẻ có kế hoạch và nuôi dạy con ngoan, tổ chức tốt cuộc sống vật chất, văn hoá của gia đình”[31, tr.95-96] Chủ trương “xây dựng gia đình mới” lại được nhấn mạnh tại Đại hội VII của Đảng Trong Văn kiện Đại hội VII của Đảng khẳng định: “xây dựng gia đình văn hoá có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, thực hiện kế hoạch hoá dân số, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hoá tốt đẹp của dân tộc Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người Kết hợp và phát huy vai trò của xã hội, các đoàn thể, nhà trường, tập thể lao động và tập thể dân cư trong việc
Trang 30chăm lo bồi dưỡng tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống có văn hoá”[32, tr.112]
Đến Đại hội VIII, Đảng ta đưa ra những tiêu chí cơ bản của gia đình văn hoá Việt Nam Đó là: “xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hoá dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác Thực hiện tốt luật hôn nhân và gia đình”[35, tr.112] Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đảng ta đã chỉ rõ: “giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ Coi trọng xây dựng gia đình văn hoá Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội”[39, tr.60]
Với sự cố gắng lớn, năm 2000, Nhà nước ta đã xây dựng Luật hôn nhân và gia đình mới Luật hôn nhân và gia đình mới được ban hành, có thể nói đó là văn bản pháp luật phù hợp với điều kiện mới của gia đình trong nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cũng từ điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, luật đã lưu ý đến yếu tố bền vững của gia đình và do vậy, tiêu chí của gia đình văn hoá Việt Nam không chỉ là no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc mà còn vững bền
Bước vào thế kỷ XXI, Đại hội IX của Đảng được tiến hành Tại Đại hội này, Đảng đã khẳng định gia đình không chỉ là tế bào của xã hội mà còn là tổ ấm của mỗi người, xây dựng gia đình văn hoá gắn với xây dựng xã hội văn hoá Tiếp đó, ngày 21 tháng 02 năm 2005, Ban Bí thư Trung
Trang 31ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra chỉ thị “Về xây dựng gia đình Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (Chỉ thị 49-CT/TW) Chỉ thị nêu rõ: “Mục tiêu chủ yếu của công tác gia trình trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá là ổn định, củng cố và xây dựng gia đình theo tiêu chí ít con (mỗi cặp vợ chồng chỉ một hoặc hai con), no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, để mỗi gia đình Việt Nam thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội”[81, tr.21] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam lại một lần nữa nhấn mạnh xây dựng gia đình văn hoá theo tinh thần của Chỉ thị 49-CT/TW: “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[38,tr.103-104]
Suốt hơn 45 năm qua, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới, vận dụng quan điểm của Đảng trong công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, Bộ Văn hoá - Thông tin hướng dẫn chỉ đạo phong trào xây dựng gia đình văn hoá trên phạm vi cả nước Đây là phong trào lớn có quy mô mang tính toàn dân, toàn diện và toàn quốc, có ý nghĩa sâu sắc, là động lực to lớn bao trùm trong thời kỳ đổi mới đất nước nhằm phát huy ý chí tự lực, tự cường, khơi dậy mọi tiềm năng và thế mạnh của mỗi người, mỗi gia đình, đề cao giá trị đạo đức gia đình, tạo môi trường để tôn vinh, nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách con người, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc Đặc biệt phong trào xây
Trang 32dựng gia đình văn hoá càng có ý nghĩa hơn khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang ra sức đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Từ quá trình phát triển của cuộc vận động “xây dựng gia đình văn
hoá” như đã đề cập trên, có thể nói Gia đình văn hoá là một phong trào do
Bộ Văn hoá - Thông tin phát động dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước
ta Trải qua các giai đoạn lịch sử, có nhiều tiêu chí để đánh giá Gia đình văn hoá Song về cơ bản, Gia đình văn hoá vẫn là mô hình gia đình vừa hội tụ được những giá trị tốt đẹp của văn hoá truyền thống và những yếu tố hợp lý tiến bộ trong nền văn minh đương đại Gia đình văn hoá là gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
Gia đình ấm no là gia đình có cuộc sống vật chất và đời sống tinh thần
đảm bảo Gia đình cần no ấm trong điều kiện mức sống nước ta hiện nay còn thấp Bởi vì giàu sang không đem lại hạnh phúc, nhiều gia đình giàu sang, vì đồng tiền mà lục đục với nhau Nhưng sự thiếu thốn, nghèo đói khiến gia đình không làm tốt chức năng của nó, đặc biệt là việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ thơ, người già, phụ nữ khi thai sản…
Muốn gia đình ấm no phải tập trung làm việc, kinh doanh để có đủ thu
nhập cho cuộc sống gia đình, nếu không mọi việc sẽ bị ảnh hưởng, đảo lộn Tập trung thời gian, sức lực cho sản xuất, kiếm sống lại mâu thuẫn với việc giành thời gian chăm lo gia đình, nuôi dạy con cái, chăm sóc cha mẹ già… Đã có những hiện tượng xảy ra trong quá trình làm kinh tế, tạo thu nhập, có ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình như: khi kinh tế gia đình thiếu thốn, thu không đủ chi, các thành viên gia đình bị đói, bị ảnh hưởng thì dễ xảy ra những lủng củng, con cái kêu ca, than phiền, tị nạnh nhau trong việc
Trang 33ăn uống, may mặc, học hành; hoặc khi kinh tế gia đình quá đầy đủ, cha mẹ kiếm ra nhiều tiền, lại bận rộn việc làm ăn, dễ bỏ mặc con cái sống tự do, miễn là cung cấp cho chúng nhiều tiền tiêu, ăn mặc, đi lại đầy đủ… chúng dễ sinh hư hỏng, hạnh phúc gia đình bị ảnh hưởng Điều này chứng tỏ, gia đình giàu có về kinh tế nhưng không hoà thuận thì không phải là gia đình
no ấm
Gia đình cũng cần xây dựng các quan hệ đối xử bình đẳng, dân chủ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa con trai và con gái, giữa anh chị em các thành viên khác trong gia đình, kiên quyết chống các hành
vi bạo lực trong gia đình
Gia đình bình đẳng là gia đình trong đó “Mọi thành viên gia đình có
khả
năng và tuỳ theo khả năng cùng chia sẻ, bàn bạc quyết định và tham gia mọi công việc; mọi thành viên gia đình đều có cơ hội như nhau để hưởng các quyền lợi trong học tập, nghỉ ngơi, chăm sóc sức khoẻ, hưởng thụ văn hoá, tham gia các công tác xã hội và sinh hoạt cộng đồng; truyền thống tốt đẹp kính trên, nhường dưới, tôn trọng, quan tâm lẫn nhau được phát huy; không có biểu hiện phân biệt con trai, con gái; không có bạo hành gia đình”[45, tr.13] Trong đó, mối quan hệ nhất trí, hài hoà giữa vợ và chồng những người chủ gia đình, có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng không khí gia đình đầm ấm, từ cách tổ chức việc ăn uống đến việc giải trí, vui chơi, nghỉ ngơi của các thành viên, cách ứng xử với nhau, cũng như đối xử với họ hàng, hàng xóm Nếu cha mẹ cứ “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” thì nhiều việc lủng củng sẽ diễn ra và đầu độc không khí hoà thuận, êm ấm của gia đình
Trang 34Xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa người vợ và người chồng trong cách điều khiển, chỉ đạo công việc gia đình là yếu tố quyết định thắng lợi Cần tạo nên sự thống nhất ý kiến trong việc giải quyết các sự kiện xảy ra, trên cơ sở tình yêu và sự thông cảm lẫn nhau về những khó khăn, vất vả của từng người Quan hệ hoà thuận yêu thương giữa cha và mẹ là tấm gương cho con cái, là sức mạnh giúp họ có điều kiện tổ chức cuộc sống gia đình có nền nếp, êm đẹp, hạnh phúc Điều 23 trong chương III của Luật Hôn nhân và Gia đình ở nước ta đã quy định: “Vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp, học tập, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người”[67, tr.19]
Gia đình tiến bộ là gia đình biết phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp
của gia đình truyền thống, đồng thời biết tiếp thu kịp thời những giá trị tinh thần tư tưởng của nhân loại tiên tiến để làm cho gia đình mình ngày một tốt hơn, phát triển hơn
Những giá trị đạo đức tốt đẹp của gia đình truyền thống cần được giữ gìn, phát huy như lòng chung thuỷ giữa vợ và chồng, lòng hiếu nghĩa của con cái với cha mẹ, sự kính trọng, biết ơn đối với ông bà, tổ tiên, sự chia sẻ ngọt bùi giữa anh em ruột thịt, thành viên gia đình, tình đoàn kết cưu mang lẫn nhau đối với họ hàng, làng xóm, lòng nhân ái đối với đồng bào cả nước
Những giá trị tinh thần, tư tưởng của nhân loại tiên tiến cần tiếp thu là: tinh thần bình đẳng, tự do, dân chủ trong quan hệ giữa người và người, sự tôn trọng quyền của trẻ em, quyền của phụ nữ, tinh thần hợp tác quốc tế rộng rãi, bình đẳng, tự nguyện, sự gần gũi trao đổi tình cảm, tâm tư giữa
Trang 35cha mẹ con cái, ông bà mà không phải là sự xa cách cứng nhắc, cũng như việc cố giữ khoảng cách theo phép tắc quy định cũ giữa người lớn và trẻ
em, hay giữa các thế hệ một cách hình thức như trước đây
Trong cuốn Làm thế nào để xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến
bộ, hạnh phúc do Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam biên soạn, xuất bản năm
2005 đã viết rất cụ thể và đầy đủ về vấn đề này: “Gia đình tiến bộ là gia đình thực hiện tốt bình đẳng gia đình; lao động giỏi, biết áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất; mọi thành viên gia đình có lối sống lành mạnh, thực hiện nếp sống văn minh, biết tôn trọng và giữ gìn thuần phong mỹ tục của văn hoá gia đình Việt Nam, có ý thức rèn luyện thể lực năng cao sức khoẻ, không sa vào tệ nạn xã hội, không mê tín dị đoan, không vi phạm pháp luật; các thành viên trong gia đình tích cực học tập Trẻ em trong độ tuổi đi học, không bỏ học sớm; các thành viên gia đình trong đôï tuổi sinh đẻ đều thực hiện kế hoạch hoá gia đình; thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường; mọi thành viên trong gia đình thực hiện tốt đường lối, chủ trương, luật pháp, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện tốt quy ước của cộng đồng dân cư”[45, tr.19]
Như vậy, sự tiến bộ của gia đình được xây dựng trên cơ sở các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, cùng với việc xây dựng các mối quan hệ họ hàng, làng xóm, láng giềng, thôn xã, khu phố, thuận hoà, hữu nghị Đồng thời gia đình thực hiện tốt các nghĩa vụ đối với đâùt nước, chấp hành đúng chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước, công việc làm ăn, sinh sống đi theo hướng tiến bộ của xã hội, của dân tộc và thời đại Khi một gia đình đạt cả ba tiêu chí: No ấm, bình đẳng, tiến bộ thì cơ bản là gia đình hạnh phúc Hay nói cách khác, gia đình hạnh phúc là mọi
Trang 36thành viên trong gia đình hoàn toàn hài lòng, toại nguyện với tổ ấm của mình Ở đó, vợ chồng thương yêu nhau vì nghĩa vì tình, mến nhau về tài năng, hoà hợp về tình dục Gia đình hạnh phúc không chỉ có hạnh phúc lứa đôi mà còn hạnh phúc giữa cha mẹ và con cái, con cái biết hiếu đễ với cha mẹ, chăm lo phụng dưỡng cha mẹ già, cả gia đình thương yêu, săn sóc, đùm bọc lẫn nhau, sống thuận hoà êm đẹp, dù gặp khó khăn hoạn nạn
No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc là những mục tiêu mà hầu hết
các gia đình Việt Nam hiện nay mong muốn đạt tới Song để đạt được cả bốn mục tiêu trên, các thành viên của mỗi gia đình phải cố gắng, nổ lực cùng chung sức xây dựng tổ ấm của mình trong đó quan trọng là biết cách tổ chức cuộc sống gia đình và tăng cường giáo dục gia đình
Như vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn khẳng định vị trí, vai trò to lớn của gia đình, từng bước quan tâm thiết thực và đầy đủ tới sự phát triển phồn thịnh của gia đình để xây dựng xã hội XHCN Đây là một trong những nhân tố quan trọng làm nên những thành tựu của công cuộc đổi mới Trong sự nghiệp đổi mới, con người Việt Nam đã nhận thức đúng về vị trí của gia đình đối với cá nhân nói riêng và đối với xã hội nói chung, đã nhận thức đúng việc nâng cao trách nhiệm của mình trước gia đình… Điều đó đã tạo thành yếu tố quan trọng tác động thúc đẩy sự phát triển của phong trào xây dựng gia đình văn hoá ở Việt Nam Tuy nhiên, do nhận thức không đồng đều, không đầy đủ, cùng nhiều nguyên nhân khác nữa cũng làm hạn chế nhất định sự phát triển của các gia đình Vì vậy, trong những bước đi tiếp theo của cách mạng Việt Nam, chủ trương, đường lối của Đảng ta tiếp tục đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề này
Tóm lại, quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí
Trang 37Minh và Đảng ta trên cơ sở quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã khẳng định vị trí và vai trò quan trọng của gia đình đối với xã hội, đã chú trọng tới sự tác động của mối quan hệ gia đình và xã hội, xác định nhiệm vụ tất yếu quan tâm xây dựng gia đình văn hoá vì công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Từ sự khẳng định ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đưa ra quan điểm chỉ đạo xây dựng gia đình văn hoá khá toàn diện cả về nội dung lẫn phương pháp Về phương pháp, nó có ý nghĩa chỉ đạo không chỉ với phong trào xây dựng gia đình mới - gia đình văn hoá, với phong trào xây dựng đời sống mới mà còn có ý nghĩa khẳng định quan điểm kế thừa trong phát triển Quá trình thực hiện những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt ấy với phong trào xây dựng gia đình văn hoá, Đảng ta đã bắt nhịp được với hơi thở của cuộc sống, với những tín hiệu về xây dựng gia đình tốt đẹp của cuộc sống - gia đình mới, từ đó mà nhân rộng thành phong trào phù hợp với điều kiện của Việt Nam Đồng thời, ở mỗi thời điểm lịch sử cụ thể, phong trào này đã được sửa đổi tên gọi cho phù hợp và bổ sung nội dung để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đặt ra
1.2 XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.2.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những yêu cầu đặt ra đối với xây dựng gia đình văn hóa
Đối với Việt Nam hiện nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ là quá trình mang tính tất yếu, khách quan, mà còn là một đòi hỏi bức thiết Bởi lẽ, từ một nền kinh tế tiểu nông phấn đấu đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, chúng ta chỉ có một con đường là thực hiện CNH, HĐH Như vậy, vấn đề đặt ra cho chúng ta là nội
Trang 38dung của khái niệm CNH, HĐH là gì? Và đặc điểm của CNH, HĐH ở Việt Nam ra sao?
Khái niệm về CNH, HĐH hiện đang còn có nhiều quan niệm khác nhau Song, kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại về vấn đề này vào điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay, Đảng ta đã quan niệm: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiến tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo năng suất lao động xã hội cao”[34, tr.4]
Quan niệm nêu trên cho thấy, quá trình CNH, HĐH ở nước ta phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong quá trình phát triển Quá trình ấy không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp mà còn thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại Quá trình ấy không chỉ tuần tự trải qua các bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, mà còn sử dụng kết hợp thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định
Nội dung cốt lõi của quá trình CNH, HĐH là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao động xã hội cao
Đảng ta cũng đã nhấn mạnh sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của
Trang 39đời sống xã hội Mục tiêu lâu dài của CNH, HĐH đã được Đại hội VIII (1996) của Đảng xác định là: “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”[35, tr.80], đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX tầm quan trọng của CNH, HĐH một lần nữa được nhấn mạnh: “Con đường CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt”[36, tr.91]
Như vậy, đối với Việt Nam hiện nay, tiến hành CNH, HĐH trong bối cảnh mà cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng sâu rộng, mô hình công nghiệp hoáù hỗn hợp (kết hợp giữa thay thế nhập khẩu với đẩy mạnh xuất khẩu) theo hướng hội nhập quốc tế tạo ra triển vọng hơn cả Về cơ bản, nước ta cũng đang vận động theo mô hình CNH, HĐH đó Do vậy, CNH, HĐH ở nước ta có những đặc điểm mới so với trước đây Những đặc điểm mới đó là:
Thứ nhất, công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá, kết hợp công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại hoá ở những khâu quyết định
Chúng ta hiện nay tiến hành CNH, HĐH vẫn trong điều kiện thiếu vốn, thừa lao động, cơ sở vật chất lạc hậu, chất lượng lao động còn thấp Trong khi đó các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã bùng nổ trên toàn cầu với sự thay thế của những phương tiện như máy tính, rô
Trang 40bốt… Đặc biệt quốc tế hoá trên mọi lĩnh vực, đòi hỏi chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá Bằng cách áp dụng đồng thời nhiều trình độ kỹ thuật và công nghệ của các nước đi trước Có như vậy chúng ta mới có thể vừa từng bước hiện đại hoá nền kinh tế, vừa khai thác được các nguồn lực lợi thế của đất nước
Tuy nhiên, cũng do điều kiện thực tế của nước ta nên chúng ta không thể nào đi ngay vào trình độ cao nhất của kỹ thuật và công nghệ trên quy mô toàn xã hội mà đòi hỏi chúng ta phải sáng suốt lựa chọn quyết định phát triển những ngành mũi nhọn, những lĩnh vực ưu tiên phát triển quan trọng, trong điều kiện cho phép có thể áp dụng được trình độ hiện đại nhằm thực hiện “đi tắt, đón đầu” Trong quá trình thực hiện CNH, HĐH
Thứ hai, CNH, HĐH được thực hiện trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn căn bản
Nói đến “cơ chế thị trường”, tức là chúng ta muốn nói đến môi trường hoạt động của các quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… Trong cơ chế thị trường, với những đặc trưng riêng đó sẽ rèn luyện cho người lao động trở nên chủ động, tích cực hơn, sáng tạo hơn, đồng thời cơ chế thị trường cũng tạo ra môi trường thuận lợi cho sự chuyển đổi cơ cấu lao động, cả người sử dụng lao động và người lao động đều có thể chủ động hơn trong việc lựa chọn lao động và việc làm
Để phát triển nền kinh tế xã hội thì CNH, HĐH nước ta thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, phải hướng vào việc ưu tiên thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của các ngành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, các vùng lãnh thổ, các doanh nghiệp có