Sự hi sinh của các con cháu và bản thân c Hồ Bá Ôn trong phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược là quá lớn.. Sự hi sinh đó đã được thể hi n trong hai câu thơ do bà Ngô Khôn Duy
Trang 3Để hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô giáo, các ban ngành và sự động viên của bạn bè, người thân
Xin gửi lời cảm ơn tới PGS TS Nguyễn Trọng Văn, người đã hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn tới U ban huy n u nh ưu, y ban nhân dân ã
u nh Đôi; Ban Nghiên cứu lịch sử Tỉnh ủy Ngh n; gia đình, con cháu c
ồ á n đã giúp tác giả trong quá trình sưu tầm tài li u
Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Sau Đại học, khoa ịch
sử đã tạo điều ki n giúp đỡ tác giải trong quá trình hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn tới những người thân, gia đình, bạn bè đã động viên tác giả trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Do năng lực bản thân còn nhiều hạn chế cũng như nguồn tư li u còn ít nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự góp ý và
in ghi nhận những đóng góp của ội đồng bảo v luận văn
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
gu n h ng
Trang 4MỞ 1
1 ý do chọn đề tài 1
2 ịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Phạm vi, nhi m v nghiên cứu 6
4 Nguồn tư li u và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp khoa học, giá trị thực tiễn của luận văn 7
6 ố c c của luận văn 8
Chương 1 Q Ê HƯƠNG VÀ DÕNG HỌ 9
1.1 uê hương 9
1.1.1 Vị trí địa lý 9
1.1.2 Truyền thống lịch sử - văn hoá 10
1.1.3 Truyền thống lao động 12
1.1.4 Truyền thống yêu nước 14
1.2 Gia đình và dòng họ 18
* Tiểu kết chương 1 20
Chương 2 HỒ BÁ ÔN VÀ NHỮNG NGƯỜI THÂN CỦA GIA ÌNH TRONG PHONG TRÀO YÊ NƯỚC C ỐI THẾ KỶ XIX THẾ KỶ XX 21
2.1 ồ á n 21
2.1.1 Vài nét khái quát cuộc đời ồ á n 21
2.1.2 ồ á n với cuộc chiến đấu giữ thành Nam Định 23
2.2 à Trần Thị Trâm 28
2.2.1 Vài nét về thân thế 28
2.2.2 Những hoạt động yêu nước của bà Trần Thị Trâm từ cuối thế k XIX đến những năm đầu thế k XX 29
Trang 52.3 ồ á Ki n 32
2.3.1 ồ á Ki n với phong trào Cần Vương (1889-1896) 32
2.3.2 ồ á Ki n với tổ chức Duy Tân hội (1905-1915) 35
2.4 ồ ọc ãm 39
2.4.1 Vài nét khái quát về thân thế, sự nghi p và gia đình 39
2.4.2 Những đóng góp của ồ ọc ãm với phong trào yêu nước từ cuối thế k XIX đến đầu thế k XX 41
* Tiểu kết chương 2 44
Chương 3 CON CHÁ HỒ BÁ ÔN TRONG C ỘC VẬN ỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TỪ NHỮNG NĂM 20 ẾN 1945 CỦA THẾ KỶ XX 45
3.1 ồ Tùng Mậu 45
3.1.1 Những hoạt động yêu nước của ồ Tùng Mậu từ 1920 đến 1930 45
3.1.2 Những hoạt động yêu nước của ồ Tùng Mậu từ 1931 đến 1945 52
3.1.3 Những hoạt động cách mạng của ồ Tùng Mậu từ năm 1946 - 1951 55
3.2 ồ Mỹ Xuyên và những người con 59
3.2.1 ồ Mỹ Xuyên 59
3.2.2 Những người con của ồ Mỹ Xuyên 71
* Tiểu kết chương 3 76
KẾ ẬN 77
TÀI LI THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Lịch sử dân tộc Vi t Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranh
dựng nước và giữ nước Trong suốt hơn 2000 năm lịch sử, đã có không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh diễn ra trên đất nước ta Có bao nhiêu cuộc chiến tranh diễn ra thì cũng có bấy nhiêu cuộc đấu tranh nổ ra để bảo v độc lập dân tộc, bảo v Tổ quốc Đó là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Lý Bí, Mai Thúc Loan, Ngô Quyền thời Bắc thuộc; Cuộc kháng chiến chống Tống, chống giặc Nguyên Mông, chống Minh thời phong kiến độc lập tự chủ Tinh thần yêu nước đã trở thành một nét đẹp truyền thống dân tộc, là dòng máu nóng chảy trong huyết quản của mỗi người dân Vi t Nam Như Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần yêu nước lại sôi nổi, lại kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả
lũ bán nước và lũ cướp nước”
1.2 Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, đưa cả dân
tộc bước vào một thời k đen tối của lịch sử Cùng với chế độ phong kiến, thực dân Pháp đã đưa ra một chính sách cai trị vô cùng tàn bạo đối với dân tộc
Vi t Nam Xã hội Vi t Nam khủng hoảng trầm trọng, đời sống nông dân vô cùng khó khăn Hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ đặt ra cho dân tộc ta là phải tìm
ra con đường cứu nước để đưa dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp Từ cuối thế k XIX đến đầu thế k XX, trên đất nước ta đã diễn ra hàng loạt phong trào yêu nước ở khắp mọi miền của đất nước: Đó là phong trào theo khuynh hướng dân chủ tư sản do Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh khởi xướng; Phong trào Cần Vương do Tôn Thất Thuyết lãnh đạo; Ngoài ra còn có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra như cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám đứng đầu
Trang 7Mặc dù các cuộc khởi nghĩa, các phong trào đó đều thể hi n lòng yêu nước căm thù giặc sâu sắc nhưng kết quả đều nhận lấy thất bại xót xa
Bằng nhận thức và nhãn quan chính trị tuy t vời, Nguyễn Ái Quốc đã nhóm họp và cải tổ tổ chức “Tâm tâm xã” thành tổ chức “ ội Vi t Nam cách mạng thanh niên” tổ chức tiền thân của Đảng Cộng Sản Vi t Nam
Ngày 3 tháng 2 năm1930, Nguyễn Ái Quốc đã tri u tập Hội nghị thành lập Đảng tại Ma Cao - Trung Quốc Hội nghị đã đánh dấu sự ra đời của Đảng Cộng Sản Vi t nam - một chính đảng của giai cấp công nhân Vi t Nam Từ đây cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Và thực tế lịch sử đã chứng minh chính Đảng Cộng Sản Vi t Nam đã lãnh đạo dân tộc Vi t Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Có thể khẳng định rằng: cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược kết quả là chúng ta giành thắng lợi nhưng cuộc chiến đấu đó diễn ra quá ác
li t cho nên chúng ta cũng gặp phải những tổn thất hết sức lớn Trong cuộc chiên này đã có không ít những người con anh dũng ngã xuống cho độc lập tự
do của dân tộc Tuy nhiên, thế h này ngã xuống thì thế h sau lại tiếp t c đứng lên chiến đấu Do vậy, trang sử vẻ vang của dân tộc cứ thế dày mãi bởi những hy sinh của các anh hùng cách mạng Gia đình c Hồ Bá Ôn là một gia đình tiêu biểu cho truyền thống cách mạng đó
1.3 C Hồ Bá Ôn người làng Qu nh Đôi, huy n Qu nh Lưu, tỉnh Ngh
An Qu nh Đôi là một vùng “địa linh nhân ki t”, ngay từ thế k XVII, XVIII,
Qu nh Đôi đã nổi tiếng là một làng học, một làng văn hóa trong tỉnh Ngh
An Nơi đây đã cống hiến cho đất nước nhiều bậc nhân tài, nhiều anh hùng cách mạng Như Nguyễn Tu, Phan Hoàng Nhiễu, Hoàng Chung, Hoàng Lữ
là những người có công cùng với Lê Lợi đánh thắng giặc Minhh xâm lược
Đặc bi t dòng họ Hồ của ông đã có rất nhiều người đậu đạt như: Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, nhân dân làng Qu nh nhất là con cháu họ Hồ
Trang 8không ai lại không nhớ sự tích ba vị đại khoa công danh hiển hách đó là: Hồ
Sỹ Dương, Hồ Phi Tích và Hồ Sĩ Đống,
Sinh ra và lớn lên trên quê hương có truyền thống cách mạng, truyền thống hiếu học nên c Hồ Bá Ôn cũng sớm hình thành lòng yêu nước, căm thù giặc không chỉ có c mà các con, cháu, em dâu, cũng đều có những đóng góp lớn lao cho phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược Bản thân c học hành đậu đạt làm quan, năm Ất Hợi (1875), ông thi hội đỗ Phó bảng Từ chân kiểm thảo sung nội các biên tu, rồi lĩnh tri huy n Hưng Thủy Năm Tân Tị (1881) Bá Ôn được giữ chức Án sát sứ Nam Định Tháng
2 năm Quý Mùi (1883), sau khi đã chiếm được thành Hà Nội, quân Pháp huy động tàu thủy theo sông Hồng xuống sông Vị Hoàng đánh vào thành Nam Định Dưới sự chỉ huy của Hồ Bá Ôn quân và dân thành Nam Định chống cự một cách quyết li t nhưng do so sánh tương quan lực lượng giữa quân quan ta
và thực dân Pháp quá chênh l ch nên cuối cùng thực dân Pháp đã chiếm được thành Nam Định, c Hồ Bá Ôn bị thương nặng và đã hi sinh
Con trai Hồ Bá Ôn là Hồ Bá Ki n, tham gia phong trào Đông Du bị giặc Pháp bắt đày đi Lao Bảo, rồi bị giặc sát hại
Con trai Hồ Bá Ki n là Hồ Tùng Mậu - một trong những học trò xuất sắc của Hồ Chủ Tịch, bị đế quốc Pháp bắt giam từ 1931 - 1945 Sau khi cách mạng thành công, Hồ Tùng Mậu được giao nhiều trọng trách Ông đã hi sinh trên đường đi công tác ở liên khu IV năm 1951
Ông Hồ Mỹ Xuyên là con trai duy nhất của Hồ Tùng Mậu cũng bị tai nạn và mất trong khi đang dẫn một đoàn Đặc ủy đi kinh lý các tỉnh biên giới năm 1947
Không chỉ có con, cháu của c mà trong gia đình c còn có bà Trần Thị Trâm (em dâu của c Hồ Bá Ôn), Hồ Học Lãm (con trai bà Trần Thị Trâm), cũng đã góp phần không nhỏ trong công cuộc giải phóng dân tộc
Trang 9Sự hi sinh của các con cháu và bản thân c Hồ Bá Ôn trong phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược là quá lớn Sự hi sinh đó đã được thể
hi n trong hai câu thơ do bà Ngô Khôn Duy vợ của ông Hồ Học Lãm viết:
“ am đại đồng đ ờng sầu t ng đối
Tứ trung tuận quốc lạc vô song”
Có nghĩa là:
“Bốn đời hi sinh vì n ớc
Ba đời sống trong một nhà nổi buồn không giống nhau”
Do vậy, tác giả đã chọn vấn đề: “Gia đình Hồ Bá Ôn trong phong trào yêu nước chống Pháp từ 1858 đến 1954” làm đề tài tồt nghi p của mình
1.4 Đất nước Vi t Nam ngày nay đang trên đường đổi mới và hội
nhập Chúng ta được hưởng cuộc sống thanh bình, vui tươi no ấm như ngày nay là do có những con người đã hi sinh cho sự nghi p cứu nước Vinh danh cho những người con cách mạng là công vi c nên làm để khơi sâu tinh thần
“Ôn cố tri tân” Ngày nay, trong sự nghi p xây dựng và bảo v đất nước vi c chúng ta cần làm là hãy tri ân, hãy khắc ghi công lao to lớn của ông cha trong
sự nghi p xây dựng và bảo v tổ quốc
Đặc bi t là một gia tộc với bốn đời l t sỹ liên tiếp và năm danh nhân cách mạng tầm cỡ quốc gia như gia tộc c Hồ Bá Ôn thì chúng ta lại càng phải coi đó là một tấm gương rạng ngời cho tinh thần yêu nước của con người
Trang 10thi u một cách khái quát về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, phong t c tập quán, các phong trào yêu nước và cách mạng của xã; Những điều ki n tự nhiên và kinh tế của Qu nh Đôi
+ Tác phẩm “ u nh Đôi những chặng đường nối tiếp” cũng của tác giả
Hồ Sỹ Giàng, Nxb Ngh An, 1993, lại viết về xã Qu nh Đôi với những năm tháng hào hùng trong cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1954, chống đế quốc Mỹ 1975 Đồng thời cuốn sách cũng viết về công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng cuộc sống mới ở Qu nh Lưu từ 1986 đến 1992
+ Tác phẩm “ ọ Hồ trong cộng đồng dân tộc Vi t Nam” tác giả Hồ Sỹ Giàng, Nxb VHTT, 1997, viết về quá tình hình thành và phát triển, những bước thăng trầm, những đóng góp cho đất nước trên các lĩnh vực của con cháu họ Hồ nói chung
Đối với gia đình c Hồ Bá Ôn đã có rất nhiều những bài viết, bài nghiên cứu đăng trên các báo, tạp chí và một số cuốn sách như:
+ Cuốn sách “Đời nối đời vì nước” của hai tác giả Hoàng Thanh Đạm
và Phan Hữu Thịnh, Nxb Ngh An, 1996, đã giới thi u một cách khái quát những hoạt động yêu nước của các thành viên trong gia đình Hồ Bá Ôn Bao gồm Hồ Bá Ôn, bà Trần Thị Trâm, Hồ Bá Ki n, Hồ Học Lãm, Hồ Tùng Mậu
và Hồ Mỹ Xuyên
+ Sở văn hóa thông tin Ngh An, Bảo tàng Xô viết Ngh Tĩnh “ ồ Tùng Mậu - Lịch sử và thời đại” (K yếu tọa đàm khoa học nhân k ni m 100 năm ngày sinh Hồ Tùng Mậu), Bảo tàng Xô viết Ngh Tĩnh, 1997 Đây là cuốn k yếu của các nhà khoa học nhà nghiên cứu viết về quê hương, gia đình
và công lao to lớn của đồng chí Hồ Tùng Mậu đối với sự nghi p cách mạng
+ Tác phẩm “Những người cộng sản” của tác giả Đức Vượng, Nguyễn Đình Nhơn, Nxb Thanh Niên, N 2000 đã tập trung viết về những nhà hoạt động cách mạng tiền bối của Đảng, trong đó có đồng chí Hồ Tùng Mậu
Trang 11+ Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng của Tỉnh ủy Ngh An với tác phẩm “Ngh An, những tấm gương cộng sản”, Nxb Ngh An, 1998 đã viết về những người cộng sản trên đất Ngh An trong đó có đồng chí Hồ Tùng Mậu
Mặc dù các công trình nghiên cứu đã phần nào làm rõ được cuộc đời hoạt động yêu nước của gia đình cách mạng Hồ Bá Ôn nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu rõ ràng và sâu về những hoạt động yêu nước của các thành viên trong gia đình Hồ Bá Ôn cũng như vi c đánh giá công lao to lớn của gia đình ông trong sự nghi p cách mạng của dân tộc
Tuy nhiên, đó là nguồn tư li u giúp tác giả rất nhiều trong quá trình nghiên cứu
3 Phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ những hoạt động yêu nước của gia đình Hồ
Bá Ôn từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858) đến khi cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi (1954)
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả tập trung làm r :
+ Những yếu tố hình thành tinh thần yêu nước của một gia đình cách mạng
+ Những đóng góp của gia đình Hồ Bá Ôn trong sự nghi p giành độc lập cho dân tộc
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử d ng những nguồn tư li u sau: + Tư li u được con cháu trong gia đình, dòng họ cất giữ và lưu trữ + Tư li u qua xác minh, điền giã
Trang 12+ Những ấn phẩm của nhiều nhà nghiên cứu gồm các sách, báo, tạp chí liên quan đến đề tài
+ Những công trình của nhiều nhà nghiên cứu, các tác giả Vi t Nam gồm các loại sách chuyên sâu về lịch sử Vi t Nam
4.2 Phương pháp nghiên cứu
* Sưu tầm tư liệu:
Để có nguồn tư li u ph c v cho luận văn, tác giả đã trực tiếp gặp gỡ những người đã từng có những nghiên cứu về vấn đề mà tác giả quan tâm, những người con, cháu trong gia đình, dòng họ Hồ Tác giả đã tiến hành nghiên cứu và sao chép tư li u ở các phòng ban nghiên cứu lịch sử huy n
Qu nh Lưu, Thư vi n Quốc gia, Thư vi n tỉnh Ngh An, Thư vi n trường Đại học Vinh
* Xử lý tư liệu:
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã vận d ng phương pháp lịch sử
và phương pháp logic để trình bày những nét khái quát về Hồ Bá Ôn và những người thân trong gia đình ông
5 óng góp khoa học, giá trị thực tiễn của luận văn
Luận văn khái quát những nét chính hình thành tinh thần yêu nước của gia đình Hồ Bá Ôn như quê hương - nơi sinh ra và lớn lên của những nhà cách mạng, nơi có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời Đồng thời làm rõ tinh thần yêu nước của những thế h trước trong dòng họ góp phần giáo d c thế h trẻ phát huy truyền thống cao quý của ông cha
Bên cạnh đó, luận văn còn góp phần khẳng định công lao to lớn của một gia đình yêu nước Hồ Bá Ôn, qua đó giáo d c truyền thống quý báu của gia đình, dòng họ, quê hương trong sự nghi p công nghi p hóa, hi n đại hóa đất nước
Trang 136 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài li u tham khảo và ph l c, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1 Quê hương và dòng họ
Chương 2 Hồ Bá Ôn và những người thân của gia đình trong phong
trào yêu nước cuối thế k XIX đầu thế k XX
Chương 3 Con cháu Hồ Bá Ôn trong cuộc vận động giải phóng dân
tộc từ những năm 20 đến năm 1954 của thế k XX
Trang 14Ngay từ đầu làng đã thấy bên đường một c m di tích lịch sử: nhà bia và nhà thờ Quận Công Hồ phi Tích, nhà bia nữ sỹ Hồ Xuân Hương, lăng mộ nhà cách mạng Hồ Tùng Mậu, bia tưởng ni m anh hùng quân đội Cù Chính Lan Nhìn sang cánh đồng phía Bắc là nghĩa trang của các dòng họ trong làng
Qu nh Đôi, chùa Đồng Tương và vườn cây Xô Viết - nơi tập trung đoàn biểu tình năm 1931
Đến giữa làng sẽ thấy Đình làng - một di tích lịch sử đã được xếp hạng
và đài li t sỹ Qu nh Đôi Nhìn ra cánh đồng phía Nam có di tích ba ngôi nhà thờ họ Hồ, họ Nguyễn và họ Hoàng - là ba họ đầu tiên khai cơ lập ấp trên đất
Qu nh Đôi
Cuối đời nhà Trần, vào năm thứ hai Trần Phế Đế (1378), ba c Hồ Hồng, Nguyễn Thạc, Hoàng Khánh cùng nhau đến nơi đây khai cơ lập ấp, đặt tên là Thổ Đôi Trang Thổ Đôi Trang nằm trong địa bàn của thôn Kim Lâu, xã Hoàn Hậu thuộc lộ Diễn Châu Năm 1528, ông Hồ Nhân Hy - một võ quan thời Lê - Mạt, tướng Bao Vĩnh ầu về hưu mới đổi tên Thổ Đôi thành Qu nh Đôi (Qu nh là viên ngọc màu đỏ tươi) - một thôn trong huy n Qu nh Lưu (huy n Qu nh Lưu hình thành từ năm 1430 dưới triều vua Lê Thái Tổ)
Địa giới hành chính Qu nh Đôi được phân định như sau: phía Bắc giáp làng Thanh Dạ (nay xã Qu nh Thanh); phía Nam giáp làng Tiên Yên (nay là
Trang 15xã Qu nh Bá); phía Đông giáp làng Thượng Yên (nay là xã Qu nh Yên) và phía Tây giáp làng Bào Hậu (nay là xã Qu nh Hậu)
Không phải ngẫu nhiên mà c tổ của ba họ Hồ, Nguyễn, Hoàng lại tìm đến Thổ Đôi - một nơi rậm rạp, gai góc, bùn lầy ướt át để khai cơ lập ấp Mà theo sách “ u nh Đôi hương biên” thì: Từ Thổ Đôi Trang nhìn sang phía Nam có núi đá Thiên Mã ở địa phận làng Tiên Yên, trông như hình yên ngựa; phía Tây có núi đá Hiên Hoa ở địa phận làng Bào Hậu trông giống như cái bảng, gọi là Bảng Canh; phía Đông có núi Quy Lĩnh ở làng Phú Đa, cũng trông giống cái bảng, gọi là Bảng Giáp; phía Bắc có núi Bát Nhã ở làng Bất
Hủ, trông như hàng cờ quạt đám rước Cảnh thế này hứa hẹn một tương lai đậu đạt cho con cháu
1.1.2 Truyền thống lịch sử - văn hoá
Qu nh Đôi chẳng những là làng văn hoá thời nay, mà còn là một làng văn hoá cổ với lịch sử trên 600 năm xây dựng và phát triển
Các sỹ phu thời xưa thường có câu nói: “ ắc Hà Hành Thi n, Hoan Diễn Qu nh Đôi” hoặc “Nam ành Thi n, Ngh Qu nh Đôi” để nói hai vùng đất có nhiều người đậu đạt ở Nam Định và Ngh An
Vào năm 1449, Hồ ước Lễ con của Hồ Hân - một hậu du của Hồ Hồng đậu Thái học sinh (tương đương Tiến sỹ) Ông là người đậu đại khoa đầu tiên của toàn huy n Qu nh Lưu Từ cuối thế k XV đầu thế k XVI trở đi vi c học hành đậu đạt ở Qu nh Đôi ngày càng phát triển Trong mỗi khoa thi Hương, thi Hội đều có người Qu nh Đôi đậu đạt Theo thống kê từ 1449 đến
1918 số người đậu đạt của 21 họ ở Qu nh Đôi là 757 người, trong đó có 539
tú tài, 203 cử nhân, 6 phó bảng và 10 tiến sỹ
Qu nh Đôi được coi là một làng văn hoá cổ chẳng những do vi c học hành đậu đạt nhiều mà còn do các công trình xây dựng văn hoá Sự ki n quan trọng nhất là các nhà khoa bảng Qu nh Đôi đã bàn với toàn dân xây dựng các
Trang 16khoán ước, điều l , tạo nên thuần phong mỹ t c, ổn định cuộc sống cộng đồng Có 3 loại khoán ước: khoán Hội, khoán Phe và quan trọng nhất là khoán Làng
Khoán Hội là của Văn Hội, xây dựng từ năm 1600, được bổ sung qua nhiều thời k , đến năm 1852 đã có 47 điều khoản, quy định hình thức tôn vinh cũng như quyền lợi và nghĩa v của các vị khoa bảng cao thấp khác nhau, quy định nề nếp tôn sư trọng đạo và thể thức hoạt động, đóng góp của các hội viên
Khoán Phe được xây dựng từ năm 1645, có 22 điều khoản quy định
vi c giúp nhau trong vi c tang Qu nh Đôi có 2 tổ chức gọi là Phe Tiền và Phe Đông chuyên lo vi c mai táng người quá cố
Khoán Làng còn gọi là Hương ước, xây dựng từ năm1638 do c Phan Khuê - Viên ngoại lang Bộ công đề xướng, được bổ sung qua nhiều giai đoạn, đến năm 1856 đã có 115 điều khoản với nội dung sau:
1 Yêu cầu mọi người phải giữ gìn đạo đức lễ nghĩa
2 Xây dựng tinh thần đoàn kết trong làng xóm
3 Kết hợp lợi ích và trách nhi m cá nhân với gia đình, thân tộc trong làng xóm
4 Thực hi n công bằng, dân chủ, chống áp bức bất công
5 Coi trọng giáo d c, khuyến học [16, tr 17-21]
Ngoài ra, còn nhấn mạnh phải coi trọng người cao tuổi và người có học hơn người làm quan
Ngoài các loại khoán ước như trên, nhân dân Qu nh Đôi còn xây dựng những công trình văn hoá quan trọng như:
Nhà Thánh (Văn Miếu) là nơi tôn thờ đức Khổng Tử, bậc thánh tối cao của Nho giáo, được xây dựng năm 1531, tôn tạo năm 1845, làm Nhà Thánh chung cho văn thân toàn huy n Qu nh Lưu
Trang 17Hiền Từ là nơi tưởng ni m những danh nhân nam nữ có đức hạnh cao đẹp và có những cống hiến đáng kể cho dân làng, không rõ xây dựng từ năm nào, tồn tại cho đến sau Cách mạng Tháng 8-1945
Đình làng Qu nh Đôi có từ thời nhà Lê, từng bị cháy và bão làm đổ mấy lần Năm 1857-1858, c Phạm Đình Toái - một danh sỹ, từng làm quan
Bố chánh, án Sát ở Sơn Tây, đã xuất tiền nhà 400 quan để xây dựng lại, nổi tiếng là ngôi đình cao đẹp trong vùng Ngh Tĩnh Đình làng đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá Hi n nay, Đình làng là nhà lưu
ni m truyền thống của xã Ngoài Đình làng, mỗi xóm đều có đình của xóm; mỗi xóm đều có lũy tre tạo thành hàng rào chung bảo v xóm làng
Đền Thành Hoàng Qu nh Đôi thờ một vị thiên thần mà sách Hương biên ghi là “nổi tiếng linh thiêng”, từng phù hộ dân làng qua khỏi những cơn đại hạn, những nạn sâu, chuột Đền được chính thức xây dựng năm 1757 và tôn tạo qua các năm 1805, 1856 Cuối thế k XIX, các c tổ ba họ Hồ, Nguyễn, Hoàng được phong sắc cùng phối tế ở đền Hàng năm vào ngày 12 tháng 2 âm lịch có lễ rước ki u thần từ Đền ra Đình làng để toàn dân cúng tế
1.1.3 Truyền thống lao động
Từ ngày khai cơ lập ấp (1378) đến giữa thế k XVII, nhân dân Qu nh Đôi chỉ có nghề cày ruộng, ph thêm là đánh bắt tôm cá Cho đến năm 1655 mới có thêm nghề mộc Nghề mộc ra đời ở Qu nh Đôi là do bà Trương thị Thành, phu nhân của Quận công Hồ Sỹ Dương, đưa thợ từ làng Phú Nghĩa, quê hương của bà về Qu nh Đôi, lập nên một xưởng mộc để đóng giường, ghế, bàn thờ, quan tài cho nhân dân Một số nông dân làng Qu nh học thêm được nghề mộc Có người thành thợ chuyên nghi p Nhưng nghề này phát triển ít, khi cần xây nhà ngói vẫn phải gọi thợ từ các làng khác đến
Nghề d t l a được truyền về Qu nh Đôi năm 1685 do bà họ Đàm, phu nhân của Quận công Hồ Phi Tích Bà quê ở làng La Khê, huy n Hoài Đức,
Trang 18tỉnh Hà Đông Nghề này rất hợp với ph nữ Qu nh Đôi, các gia đình có chồng con chuyên vi c đèn sách Từ một vài khung d t hồi cuối thế k XVII
đã phát triển thành một nghề phổ biến cho hầu hết gia đình trong các xóm, trở thành nghề chính của ph nữ Qu nh Đôi
Khoảng đầu thời nhà Nguyễn, Qu nh Đôi còn có thêm nghề làm bún Nghề này do bà Châu Ngọc Bội, quê ở Quảng Nam, là vợ ông tri huy n Nguyễn Th truyền cho bà con Qu nh Đôi Nghề này không phát triển như nghề d t l a
Vào thời gian này còn có nghề làm bánh mướt do bà Chu thị Ba, nàng dâu họ Hồ truyền từ Diễn Châu về Qu nh Đôi
Cũng vào thời nhà Nguyễn, Qu nh Đôi có thêm nghề rèn, tương truyền
do các c văn thân đưa từ làng Trung Lễ - Hà Tĩnh ra để rèn gươm giáo chống giặc Về sau chỉ sản xuất liềm hái, nông c cho dân làng
Đến đầu thế k XX, khi mà kinh tế thương mại bắt đầu phát triển ở
Qu nh Đôi còn có nghề cắt tóc, may bằng máy khâu, kéo xe, buôn tạp hoá và hàng xén…
Còn đối với các nhà nho Qu nh Đôi thi không đỗ hoặc thi đỗ mà không
ra làm quan đều đi dạy học, phần lớn là ra các tỉnh Bắc K Tuy nhiên, cũng
có người làm quan mà vẫn dạy học như c Hồ Phi Tích…Nghề dạy học thường đi đôi với nghề thầy lang Nhiều thầy đồ nho kiêm vi c bốc thuốc chữa b nh Một số nhà nho chuyển sang nghề làm thuốc nổi tiếng như c Hồ Vạn Phúc, c Cử Thống, c Hàn Sương…
Ngoài quá trình phát triển các ngành nghề truyền thống, nhân dân
Qu nh Đôi còn xây dựng các công trình ngăn mặn như: đập Bờ Re, đập Bờ Nậu, đập Bút, đập Đầm Huy n…được xây dựng dưới thời nhà Lê; đập Góc, đập Vũ Sỹ, đập Hói Nồi…được xây dựng dưới thời Nguyễn và thời Pháp thuộc
Trang 19Song song với vi c xây dựng các công trình trên là quá trình san lấp các cồn, gò, tùng, r c thành đồng ruộng bằng phẳng Từ một cánh Đồng Tương thủa ban đầu, nhân dân Qu nh Đôi đã tạo thêm những cánh đồng mới như Đồng Trước, Đồng Sau, Đồng Ngh …Do vậy,di n tích canh tác được mở mang đáng kể
1.1.4 Truyền thống yêu nước
Tryuyền thống yêu nước của người dân Qu nh Đôi được thể hi n ở những con người với nhân cách và tài năng Truyền thống yêu nước đó liên t c phát triển và truyền từ đời này qua đời khác, từ thế h này qua thế h khác
Cuối thế k XIV, ba c tổ khai cơ lập ấp Qu nh Đôi đã là những con người một lòng vì nước C Hồ Hồng là li t sỹ đầu tiên của Qu nh Đôi hy sinh trong trận đánh giặc Chiêm Thành năm 1402 ở vùng Thuận - Quảng; C Nguyễn Thạc - Ma lãnh công, một ẩn sỹ tích cực lao động mà không quên giáo d c con cháu phải một lòng vì nước; C Hoàng Khánh - Cương chính công, là một quan văn dòng dõi công thần, kiêm cả hành chính, võ bị, kinh tế
và văn hoá Đứng trước tình hình đất nước ngả nghiêng cuối thời nhà Trần vẫn một lòng cương trực, giữ vững chính nghĩa
Đầu thế k XV, trong quá trình khởi nghĩa chống quân đô hộ nhà Minh, người Qu nh Đôi đã có những ngưòi con anh dũng:
Trần Bá Đắc, tổ tiên họ Trần ở Qu nh Đôi, đã tìm đến Lam Sơn, đứng dưới cờ khởi nghĩa của Lê Lợi, được vua Lê phong tước Ki n Đô, tức là quan
võ bên cạnh nhà vua
Hồ Hân, con trưởng Hồ Hồng, từng kết bạn với Nguyễn Xí và Lê Lai, tìm gặp Lê Lợi ở Lam Sơn Do lập được chiến công trong trận Trà Lân (Con Cuông) và Bồ i (Anh Sơn) nên được phong tước Kiêu Thắng Hoài Viễn Tướng Quân - khai quốc công thần Sau khi toàn thắng ông không tham chính
mà lui về làm ruộng ở quê nhà
Trang 20Nguyễn Tu, con trưởng Nguyễn Thạc, tham gia đánh thành Diễn Châu (1425), quản một đội voi, tiến quân ra Thanh Hoá Đất nước hoàn toàn giải phóng, ông ph ng sự 4 triều vua Lê: Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông Đến khi Lê Dân thoán đoạt, ông liên kết với Nguyễn Xí, Đinh Li t trừ khử Lê Dân, đón Lê Tư Thành lên ngôi, tức là vua Lê Thánh Tông Ông được phong danh hi u quả cảm Tướng quân, giữ chức Tứ thành đề hạt, bảo v toàn bộ thành quách Thăng Long
Hoàng Chung, con trưởng Hoàng Khánh, tiếp nối nghi p cha, quản thủ Diễn Châu lộ trong giai đoạn thành Diễn Châu còn bị giặc Minh chiếm đóng, ông đã dũng cảm động viên nhân dân chống giặc, được phong danh hi u Cương Dũng Công
C tổ họ Phan (chưa rõ tên), từng khai phá một vùng rộng lớn ở phía Tây Qu nh Lưu, cống hiến nhiều lương thực và tiền của cho nghĩa quân Lam Sơn Sau chiến thắng ông được vua Lê Thái Tổ phong chức Đại Tư Nông
Trong các thế k XVI, XVII, XVIII và đầu thế k XX ở Qu nh Đôi xuất hi n nhiều nhà khoa bảng có công với nước như:
Hồ Sỹ Dương (1622-1681) nhà rất nghèo nhưng vẫn vươn lên học tập Năm 1645 đậu Giải nguyên, 1652 đậu Tiến sỹ, 1659 đậu thứ hai khoa Đông Các Đã ph c v qua 4 triều vua Lê: Thần Tông, Huyền Tông, Gia Tông và
Hy Tông Làm quan tới chức Tham T ng (Tể tướng) kiêm Đông các Đại học
sỹ, Tổng tài Quốc Tử Giám
Hồ Phi Tích (1665-1734), mẹ mất sớm, vừa làm gia sư vừa học tập, 29 tuổi đậu Cử nhân, 36 tuổi đậu Hoàng giáp, làm quan đến chức Ngự sử, Thượng thư Bộ công, Bộ hình, Bộ binh…
Hồ Sỹ Đống (1738-1785), 24 tuổi đậu Hương cống, 34 tuổi đậu Tiến
sỹ, 35 tuổi đỗ Đình Nguyên (Hoàng giáp) Làm quan văn, võ, được phong tước Quận công, Đô ngự sử, từng là Tham t ng (Tể tướng) Năm1782-1784
Trang 21xảy ra nạn kiêu binh, ông được chúa Trịnh Khải mời đứng ra ổn định tình hình Nhân dân thành Thăng Long rất biết ơn ông
Phan Hữu Tính (1774-1831), sớm mồ côi cha, rất ham học, năm 1807
đỗ Tú tài, 1821 đỗ Giải nguyên, 1822 đỗ Tiến sỹ Ông nổi tiếng thanh liêm, làm quan mà nhà rất nghèo Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng, trong
đó có Phan Thanh Giản là Tiến sỹ đầu tiên của đất Nam K
Văn Đức Giai (1807-1864), thuở nhỏ nhà nghèo phải đi làm con nuôi nhưng bấm chí học hành Hai lần đỗ Tú tài, 36 tuổi đỗ Cử nhân, 39 tuổi đỗ Tiến sỹ,thi Đình đỗ thứ 9, năm 1861 được phái vào Nam K đánh giặc Pháp, được vua khen có tài thao lược, ban cho tên mới là Văn Đức Khuê (Khuê là ngôi sao sáng)
Dương Doãn Hài (1812-1878), nhà nghèo phải vào Hà Tĩnh viết thuê
để có tiền ăn học Năm 1843 đỗ Giải nguyên Từng làm Đốc học Bình Định,
Án Sát Ninh Bình, Bố chính Thanh Hoá
Hồ Sỹ Tuần (1813-1862), nhà nghèo, khổ học Thi Hương đỗ Cử nhân, thi Hội đỗ thứ 10, thi Đình năm 1844 đỗ thứ 4 Từng làm Tri phủ, Viên ngoại
Bộ lại, Quốc sử quán biên tu Triều đình bàn vi c hoà hay chiến với Pháp, ông cương quyết chủ chiến Được điều ra làm chức Hộ lý tuần phủ Quảng Yên, ông đã cứu được dân làng Vi t Yên, công giáo toàn tòng, bị phong trào “ ình Tây sát tả” bao vây Năm 1862, ông đang lâm b nh thì được tin triều đình đã
ký hoà ước với Pháp, ông uất hận mà qua đời
Phạm Đình Toái (1826-1901) là danh sỹ dưới thời vua Thi u Trị, năm
1842 đậu Cử nhân Từng làm Tri huy n, tri phủ, án Sát Bình Định, Bố chính Sơn Tây
Hồ Trọng Định (1819-1883), ông đỗ Cử nhân năm 1847, từng giữ chức Ngự sử Bắc trực, phủ doãn Thừa Thiên, chánh sứ Hà Nội, thương chánh Hải Phòng, tán lý quân v đạo Lạng Sơn - Thái Nguyên, tuần phủ Quảng Yên Do
Trang 22có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông được thăng chức Thượng thư Bộ công kiêm Đô sát vi n
Bước vào cuối thế k XIX, đầu thế k XX hoàn cảnh đất nước có nhiều sự thay đổi, triều đình Huế đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp Từ đây, đất nước Vi t Nam chịu sự cai trị trực tiếp của thực dân Pháp Do đó
mà phong trào yêu nước cũng diễn ra rầm rộ hơn với nhiều khuynh hướng khác nhau Và ở mỗi phong trào yêu nước đó đều có con em của Qu nh Đôi tham gia nhằm đóng góp một phần công sức của mình vào sự nghi p giải phóng đất nước
Cuối thế k XIX trong phong trào Cần Vương, có nhiều chiến sỹ trung kiên người Qu nh Đôi như: Hồ Sỹ Lễ, giải nguyên Nguyễn Quý Yêm, giải nguyên Dương Quế Phổ, tri huy n Hồ Trọng Phiên, tú tài Hồ Trọng Hoàn, cử nhân Hồ Phi Tự, tú tài Hoàng Sỹ Liên, Nguyễn Xuân uang…
Đầu thế k XX trong các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Th c, Duy Tân Hội và khởi nghĩa Yên Thế, Qu nh Đôi lại có những gương mặt yêu nước mới như: Cù Sỹ Lương, Hồ Sỹ Hạnh, Hồ Thi n Trang, Nguyễn Xuân Lan, Hồ Sỹ Quý (tức Nho Quý), Hồ Trọng Chuyên (tức Cả Tùng), phó bảng Hoàng Mậu…
Chúng ta có thể nhận thấy rằng: từ thời khai cơ lập ấp đến đầu thế k
XX, Qu nh Đôi đã xuất hi n nhiều tấm gương xả thân vì nước Những tấm gương đó để lại ấn tượng sâu sắc, tác động một cách mạnh mẽ tới các thế h con cháu Qu nh Đôi Và gia đình Hồ Bá Ôn cũng không ngoại l
Gia đình Hồ Bá Ôn đã may mắn được sống trên mảnh đất có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời và truyền thống yêu nước bất khuất Chính điều này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến ông cũng như những người thân trong gia đình ông lòng yêu nước và tinh thần xả thân vì nước
Trang 231.2 Gia đình và dòng họ
Họ Hồ là họ lâu đời ở xứ Ngh Kể từ trạng nguyên Hồ Hưng Dật lập nghi p ở Hương Bào Đột (nay thuộc xã Qu nh Lâm, huy n Qu nh Lưu, tỉnh Ngh An) đến nay đã trên 1000 năm Người họ Hồ tập trung ở Châu Hoan (Ngh An và Hà Tĩnh) Con cháu họ Hồ còn có mặt nhiều nơi trong cả nước…
Họ Hồ chẳng những là họ lớn, khai cơ lập ấp, con cháu đông nhất làng,
mà còn là họ có thành tích lớn nhất về khoa bảng, với những tấm gương nổi bật cho truyền thống hiếu học cũng như công tịch đóng góp cho nước nhà Cháu 15 đời của trạng nguyên Hồ Hưng Dật là Hồ Quý Ly, trạng nguyên Hồ Tông Thốc, quản lĩnh hầu Hồ Hân, Hoan quận công Hồ Nhân
Cháu 27 đời là Vua Quang Trung (Hồ Thơm), Hoàng giáp Hồ Sỹ Đống, nữ sỹ Hồ Xuân Hương, tư nhân hầu Hồ Phi Tứ
Di du của c Hồ Hưng Dật nay đã đến đời 37-38, ở đâu, thời đại nào cũng có những đóng góp đáng kể cho đất nước Họ Hồ đã được Nhà nước công nhận nhiều di tích lịch sử và văn hoá (chưa kể bảo tàng Quang Trung huy n Tây Sơn, tỉnh Bình Định) Như: nhà thờ họ Hồ Qu nh Đôi tại xã
Qu nh Đôi, huy n Qu nh Lưu, tỉnh Ngh An; nhà thờ Trạng nguyên Hồ Tông Thốc ở xã Thọ Thành, huy n Yên Thành, tỉnh Ngh An- một trong những người mở đầu khoa bảng cho đất Lam Hồng; lăng mộ c Hồ Cương tức Hồ Hồng tại xã Nhân Trạch, huy n Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Trong số con cháu có đóng góp lớn cho họ Hồ đại tộc phải kể đến dòng trực h của gia đình Hồ Bá Ôn
C nội Hồ Bá Ôn là ông Hồ Trọng Kính, một ông tú tài hiền lành, đức độ, sống thanh bạch Ông thuộc về chi thứ năm của họ Hồ đại tộc ở
Qu nh Đôi
Ông nội Hồ Bá Ôn là Hồ Trọng Điền (1748-1826) Ông vốn nhà nghèo, quanh năm chỉ có một manh áo vải Nhưng nhờ chịu khó, quyết chí học mà
Trang 24thành đạt, thi Hội đậu Phó bảng năm 1785 dưới thời Lê - Trịnh Là sỹ phu từ triều nhà Lê, Hồ Trọng Điền không ra làm quan dưới thời Vua Quang Trung Ông tránh vào làng Hoa Lâm, huy n Đông Thành dạy học Đến năm 1820, dưới triều Vua Minh Mạng ông mới ra làm chức Giáo th tỉnh Ngh An Học trò của ông có trên năm sáu trăm người hầu hết đều thành đạt Có người đậu tới Tiến sỹ như Phan Hữu Tính ở Qu nh Đôi, Lê Duy Phác ở Đông Thành; có người làm đến chức Thượng thư như Nguyễn Trung Hậu ở Đông Thành
Những năm mất mùa đói kém, ông bà Hồ Trọng Điền hào hi p giúp đỡ người nghèo, được nhiều bà con mang ơn Trong làng có 4 người mắc vào tội trộm cướp, ông đứng ra nhận với quan trên, xin cho đưa về làng giáo d c Những người này không phải tội, được cải tạo và dân làng cũng được yên ổn Sau khi ông mất, làng đưa vào hậu kỵ (ngày giỗ ông, chức sắc trong làng đến nhà thờ thắp hương)
Thân sinh Hồ Bá Ôn là Hồ Trọng Toàn (còn gọi là Hồ Trọng Tuấn), con trai thứ 3 của Phó bảng Hồ Trọng Điền Ông sinh năm 1801, mất năm
1864 Ông đậu tú tài năm 1821, năm 1828 đậu cử nhân Ông làm quan Tri huy n Hoài An, rồi Tri phủ Tiên Hưng Sau đó được thăng Lễ khoa cấp sự trung, rồi thăng chức Án Sát, liên tiếp nhậm chức ở 3 tỉnh Quảng Yên, Hưng Yên và Thái Nguyên Vì một vi c gì đó trái ý triều đình Tự Đức, ông bị thất sủng, chuyển sang làm Đốc học tỉnh Ngh An
Thân mẫu Hồ Bá Ôn là bà Phạm Thị Kháng, con gái đầu lòng của quan Đốc học Phạm Đình Trọng, chị ruột của Phạm Đình Toái - Án Sát tỉnh Sơn Tây
Hai ông bà Hồ Trọng Toàn, Phạm Thị Kháng đối với dân làng có nhiều công đức, từng xuất tiền 400 quan, ruộng 4 mẫu cúng cho làng để sửa sang đền chùa, cống, đập, giúp dân trong xóm lập quỹ nghĩa sương phòng khi đói kém…Nhân dân rất kính ph c nên sau khi mất ông bà được dân làng đưa vào hậu kỵ
Trang 25Nối tiếp truyền thống của dòng họ, của gia đình, Hồ Bá Ôn và những người thân trong gia đình của ông lại viết tiếp những trang sử vẻ vang không chỉ của gia tộc mà còn của cả dân tộc trong sự nghi p đấu tranh giành độc lập
* Tiểu kết chương 1
Như vậy, chính những nét đẹp truyền thống của quê hương, của gia tộc cùng với tố chất thông minh, ý chí kiên cường đã tạo nên lòng yêu nước, thương dân của những con người trong gia đình cách mạng Hồ Bá Ôn Tuy nhiên, không phải chỉ có truyền thống một làng và một dòng họ có thể làm nên sự tích những nhân vật lớn Điều quan trọng là truyền thống chung, hoàn cảnh chung Nói về quê hương của gia đình Hồ Bá Ôn thì không phải chỉ có làng Qu nh Đôi, mà phải nói đến tỉnh Ngh An - một tỉnh có nhiều truyền thống đẹp trong sự nghi p dựng nước và giữ nước Nói đến truyền thống gia tộc Hồ Bá Ôn thì phải thấy mối liên quan từ truyền thống cả dân tộc Đây là những vấn đề thuộc về phạm trù thời thế, là nhân tố thúc đẩy con người, tạo điều ki n cho những con người có bản lĩnh làm được những công vi c có ý nghĩa lịch sử
Trang 262.1.1 Vài nét khái quát cuộc đời Hồ Bá Ôn
Hồ Bá Ôn sinh năm 1842, là người con thứ 2 trong một gia đình có 8 anh em trai Bố ông là quan Án Sát Hồ Trọng Toàn
Từ nhỏ, ông được học hành đến nơi đến chốn Gia phả họ Hồ chi thứ 5 ghi: “Ông thông minh, khi đã đọc được sách chỉ coi sách tự học là chính Trong nhà có nuôi ông anh họ là Hồ Trọng Tiến để dạy các em nhưng Hồ Bá
Ôn chỉ xem sách gặp đoạn nào khó thì hỏi, tự tìm đề, làm bài rồi nhờ thầy xem và sửa” Năm 1868 có khoa ân thi, Hồ Bá Ôn cùng mấy ch c nho sinh
Qu nh Đôi lều chõng vào trường Ngh ứng thí Năm đó, cả làng được 7 người đậu Tú tài trong đó có Hồ Bá Ôn Năm 1870, ông đậu Cử nhân Năm
1875, ông trẩy kinh thi Hội và đậu Phó bảng Gia phả dòng họ Hồ Trọng Toàn ghi rằng: Khoa ấy có 2 người làm bài giỏi đáng lấy Tiến sỹ, phân điểm ngang nhau Nếu lấy cả 2 thì dư ra 1 Tiến sỹ Ban giám khảo lập bàn thờ, rút thăm hỏi trời đất, chọn trong 2 người lấy 1, ông kia trúng thăm được xếp cuối hàng Tiến sỹ, Hồ Bá Ôn được xếp đầu hàng Phó bảng
Sau khi đậu đạt, Hồ Bá Ôn được giữ lại kinh thành, được nhà vua phong chức Hàn lâm biên tu, biên soạn các văn bản của triều đình Sau đó thăng Hàn lâm thị đọc, khi cần được nhà vua gọi vào cung đọc các văn án cho vua nghe Xét thấy ông là một quan văn có năng lực cai trị Triều đình lại giao cho ông chức v Tri huy n thừa chỉ (theo dõi các vấn đề về hành chính của các địa phương, làm vi c trong Bộ lại)
Trang 27Năm 1881, Hồ Bá Ôn được thăng chức Án Sát, bổ nhi m ra tỉnh Nam Định Tỉnh Nam Định cuối thế k XIX bao gồm cả tỉnh Thái Bình và phủ Lý Nhân giáp liền tỉnh Hà Nội, cùng với địa bàn Nam Định ngày nay, án ngự con đường thiên lý từ Nam ra Bắc, ôm trọn vùng hạ lưu sông Hồng và sông Đáy Đây là một vựa thóc lớn của đất nước, thường chở gạo cung ứng cho triều
đình và các tỉnh khác [10, tr 225]
Vua Tự Đức đã so sánh nhân dân Nam Định với các tỉnh khác ở Bắc
K như sau: “Bắc k từ trước tới nay có nhiều thương gia, thi n sỹ, nghĩa phu, tiết ph , nhưng dân du thủ du thực, ngoan phu, đãng tử lại không biết gấp mấy lần Chỉ có hạt Nam Định là nơi đất tốt mà lòng người có phần thuần
th c, thực thà; có những người như Phạm Văn Nghị, Doãn Khuê, Đỗ Phát là nhà nho lão luy n, những vị hưu quan mà biết vì nước dạy bảo dân, không đến nỗi để lo cho triều đình” [10, tr 152]
Dưới con mắt của thực dân Pháp, Nam Định là nơi có vị trí chiến lược quan trọng hàng thứ 2 ở Bắc k sau Hà Nội Hăngri Rivie đã nói: “Chiếm được Hà Nội và Nam Định là chiếm được cả Bắc k ” [40, tr 10]
Hồ Bá Ôn nhận chức Án Sát Nam Định trong khi nước nhà đang phải đối phó với cuộc xâm lăng của thực dân Pháp Thành Nam Định bị Pháp chiếm đóng ngày 11 tháng 12 năm 1873 đến năm 1874 thì trả lại Do đó, ông nhận chức với tâm trạng của một bậc nho thần được triều đình tin cậy, chỉ lo sao cho trọn lòng trung nghĩa với nước, với dân
Ở cương vị Án Sát, ông luôn nêu cao phẩm chất của một ông quan thanh liêm Ông trừng trị nghiêm khắc t tham nhũng của bọn quan lại cấp dưới Các v ki n t ng được ông xét xử một cách công minh
Không chỉ là một ông quan thanh liêm Hồ Bá Ôn còn là một nhà thi sỹ
có tài Ngoài công vi c hành chính, hàng ngày ông thường gặp gỡ, ngâm thơ với các nhân sỹ, văn thân Nam Định Tài văn chương của ông ai ai cũng khen
Trang 28ngợi Từ điển danh nhân Vi t Nam đã ghi lại câu đối của Hồ Bá Ôn viếng Phạm Văn Nghị (hy sinh năm 1880):
“Cao danh bất hủ Hoa L thạch Nghĩa phẫn do l u v chử đào”
Dịch:
“Tiếng th m truyền mãi Hoa L động Nghĩa uất trào dâng sóng V Hoàng”
2.1.2 Hồ Bá Ôn với cuộc chiến đấu giữ thành Nam Định
Hồ Bá Ôn nhận chức được một năm thì các sự ki n Bắc k trở nên dồn dập Thực dân Pháp ra sức diễu võ dương oai, quyết tâm thôn tính toàn bộ Bắc k Ngày 25-2-1882, Hăngri Rivie đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ 2 Tổng đốc Hoàng Di u chống cự một cách quyết li t nhưng không thể địch lại được với quân xâm lược nên khi thực dân Pháp chiếm được thành Hà Nội ông cũng tự sát cùng mất với thành Trước tình thế khẩn trương, triều đình Tự Đức cầu cứu nhà Thanh Chính phủ Mãn Thanh đưa quân từ Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam sang đóng tại Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Bắc Ninh Với danh nghĩa giúp người An Nam chống lại người Tây Mặt khác, vào thời điểm này đại sứ Pháp là Burê cũng đã ký với
Lý Hồng Chương - Thủ tướng Chính phủ Trung Hoa một bản điều ước trong
đó có nội dung: quân Trung Hoa sẽ kiểm soát mấy tỉnh biên giới Vi t Trung; Đổi lại quân Pháp được tự do hành động ở vùng châu thổ sông Hồng Hà
Tỉnh Nam Định lúc đó không có quân nhà Thanh đóng, nhưng triều đình cũng cho phép mộ thêm binh lính người Thanh (tức Hoa kiều) và chọn các võ sỹ người Thanh để đủ sức canh phòng [10, tr 171]
Tháng 2-1883, khi các quan tỉnh Nam Định đang theo dõi diễn biến của tình thế chung thì Suý phủ Sài Gòn tăng vi n cho Hăngri Rivie 750 quân lính, đúng vào lúc triều đình Huế đang giao mỏ than Hòn Gai cho quân Trung Hoa
Trang 29để trả ơn “cứu vi n” ăngri Rivie liền sử d ng lực lượng mới được tăng vi n đánh chiếm Hòn Gai ngày 12-3-1883 Sau đó 2 tuần lễ, đích thân chỉ huy quân đội tiến xuống phía Nam đánh chiếm Nam Định lần thứ 2
Lần này Hăngri Rivie đem 3 tàu chiến và 3 thuyền buôn, chở 2 đại đội
bộ binh và 1 trung đội thu quân l c chiến từ Hà Nội xuôi dòng sông Hồng Chiều ngày 26-3-1883, đoàn tàu địch tiến vào sông Vị Hoàng Chúng bắn trọng pháo để thị uy, đồng thời gửi tối hậu thư cho quan Tổng đốc Nam Định, yêu cầu phải đầu hàng, nộp thành, buộc các quan trong thành đến trình di n ở soái hạm Pơluyuê vào lúc 8 giờ ngày 27-3-1883, nếu không thì chúng sẽ kiên quyết tấn công
Lúc bấy giờ ở Nam Định, các quan trấn thủ là Tổng đốc Vũ Trọng Bình, Bố chánh Đồng Sỹ Vịnh, Án sát Hồ Bá Ôn và Đề đốc Lê Văn Điếm Ngay từ năm trước (1882), Tổng đốc Vũ Trọng Bình đã mật báo về kinh thành tình hình lực lượng quân Pháp ở Hà Nội, Hải Dương, dự kiến chúng có thể đánh Nam Định Khi nghe tin quân Pháp được tăng vi n và đánh chiếm Hòn Gai, các quan tỉnh Nam Định đã lo vi c bố phòng: Huy động nhân dân làm vật cản, đóng cọc ngăn tàu địch tiến vào thành Lực lượng chiến đấu chủ yếu là hai cơ lính Định uy và Tả tiếp đã được chấn chỉnh và tăng cường, từ 12 đội lên thành 20 đội, tổng cộng gần một ngàn quân
Ngay sau khi nhận được tối hậu thư của địch, Án Sát Hồ Bá Ôn chủ trương: giặc đã đến nhà không thể không đánh
Hồ Bá Ôn tuy không phải là quan võ, nhưng đứng trước cuộc tiến công của giặc đã hăng hái nhận lấy trách nhi m cầm quân, cùng với Lê Văn Điếm đương đầu với mọi nguy hiểm
Nhân dân Nam Định hưởng ứng thái độ quyết chiến của các quan đầu tỉnh, sẵn sàng tham gia chiến đấu Hầu hết các xã thôn đều rào làng, đắp luỹ [18, tr 20]
Trang 30Nổi bật là tấm gương của các thân hào như Nguyễn Hữu Bản và Ấm Chiêu, từ ngoại thành Nam Định, đã chiêu mộ dân binh, đài thọ kinh phí, đưa tới thành, xin phối hợp chiến đấu bảo v quê hương Ba trăm dân binh của của
Ấm Chiêu được phái sang phối hợp với cánh quân của quan Án Sát họ Hồ Nhìn các dân binh tề tựu trước mặt mình, Hồ Bá Ôn vô cùng trân trọng tấm lòng yêu nước của các anh em
Gần 8 giờ sáng ngày 27-3-1883, Hăngri Rivie nhận được thư trả lời của quan Tổng đốc Vũ Trọng Bình, biết rằng, người Vi t Nam không chịu đầu hàng, hắn cho nổ súng xối xả từ các chiến hạm và cho tất cả binh sỹ đổ bộ nhằm đánh vào thành
Ngay từ những giờ phút đầu quân dân ta đã chiến đấu rất dũng cảm Và
đã đánh bật được nhiều đợt tấn công từ các phía của địch, khiến chúng phải rút về khu căn cứ ở trên bờ sông Vị Hoàng [21, tr 204]
Đến gần trưa, một mũi xung kích của quân Pháp do Đại uý công binh Đuy-pommiê chỉ huy tiến đến trước Cửa Đông, đặt chất nổ phá vỡ cửa thành, chiếm lĩnh được trận địa
Cuộc chiến đấu giữ thành Nam Định diễn ra quyết li t từ chiều ngày 26 đến 3 giờ chiều ngày 27-3 Đề đốc Lê Văn Điếm và chỉ huy quân Nguyễn Hữu Bản hy sinh anh dũng trên chiến trường Án Sát Hồ Bá Ôn cầm cự trên mặt trận Cửa Đông với tinh thần rất kiên cường, gan dạ Ông luôn luôn động viên binh sỹ không được nản lòng mà kiên quyết bắn trả quân thù
Các nhân sỹ Nam Định đã ghi lại trong Đông La văn tập những dòng hào hùng: “Riêng một Cửa Đông, Hồ Án Sát tả xung hữu đột, hết sức chiến đấu không sờn Chính khẩu thần công ở Cửa Đông này đã bắn thủng tàu địch Một khẩu thần công khác, cũng ở Cửa Đông này đã bắn trúng đùi tướng giặc Viên tướng đó là trung tá Ca-rô, về tới Hà Nội thì chết vì vết thương này” [40, tr 304]
Trang 31Khoảng quá trưa, giữa chiến trường mịt mùng khói súng, một phát đạn giặc trúng vào đùi quan Án Sát Hồ Bá Ôn, gây vết thương trầm trọng Binh sỹ kịp đưa ông ra phía sau săn sóc, cứu chữa Do đó, khi quân Pháp tràn vào trong thành, Hồ Bá Ôn không sa vào tay chúng
Với vi c Lê Văn Điếm và Nguyễn Hữu Bản tử trận, Hồ Bá Ôn bị trọng thương, thành Nam Định đành chịu mất sau một ngày chiến đấu ngoan cường Nhân dân Nam Định đã sáng tác bài ca dao ngợi khen tinh thần của các chiến sỹ:
Thành Nam khói toả trống dồn Lòng vàng phò tá sắt son chẳng rời Bốn bên m a đạn bời bời
Liều thân vì n ớc giữa n i chiến tr ờng
Sau khi Án Sát Hồ Bá Ôn bị thương, quân dân Nam Định đã dùng cáng
và thuyền đưa quan Án Sát về tới quê nhà Tin quan Án Sát bị trọng thương làm cho cả dân làng Qu nh xúc động Bà con họ hàng và các nho sỹ Qu nh Đôi thường đến thăm hỏi, không mấy ngày vắng Bạn bè quan Án Sát có nhiều người khoa bảng như Hồ Phi Tự, Hồ Trọng Định… đang làm vi c quan
ở nơi xa đều có thư gửi về làng chia sẻ nỗi lo lắng với gia đình
Nhờ sự chăm sóc của gia đình và những người thân, sau hơn một tháng điều trị, vết thương đã nhẹ bớt Người b nh đã có thể ngồi dậy một đôi lúc tiếp chuy n bạn bè, bà con đến thăm
Vết thương trên da thịt hy vọng sẽ lành nhưng vết thương tinh thần thì khó lành Nhớ đến các bạn chiến đấu đã hy sinh như Lê Văn Điếm, Nguyễn Hữu Bản, ông hết sức đau lòng, thương tiếc Cùng với đó là lòng căm thù giặc sâu sắc đã khiến vết thương của ông ngày càng nhức nhối Trong đầu ông lúc nào cũng canh cánh một câu hỏi: Tình thế nước nhà rồi sẽ đi tới đâu? Mối hận của nước, của dân và của chính ông biết bao giờ sẽ trả được?
Trang 32Người thân trong gia đình hiểu thấu tâm trạng ông nên trong nhà không
ai nhắc đến chuy n đánh giặc ở Nam Định, không nói đến hai tiếng “thằng Tây”,”quân Tây”
Vào một ngày cuối xuân, có một người bà con đến thăm vô tình kể chuy n đánh giặc ở Hà Nội, Nam Định mà bà nghe được; kể chuy n kẻ nọ, người kia hèn nhát chạy trốn khi quân Tây đánh thành Hà Nội và Nam Định, chuy n ông quan Kinh lược ở Tam Đi p không dám đem quân tiếp vi n cho thành Nam… Nghe chuy n, quan Án gần như ngất xỉu, không thể tiếp chuy n người bà con được nữa Ba hôm sau, Hồ Bá Ôn lắng nghe cơn b nh trong mình, tự biết vết thương không có cách gì chữa lành được nữa Ông gọi vợ, con và các em đến bên giường b nh trăn trối
Ngày 22-3 năm Quý Mùi, tức 29-4-1883,ông trút hơi thở cuối cùng
Lễ khâm li m được tổ chức rất trọng thể Đông đảo nhân sỹ trong làng và hàng tổng, hàng huy n cùng các quan tỉnh đã về Qu nh Đôi đưa tang li t sỹ
Một năm sau khi Hồ Bá Ôn qua đời, triều đình Huế đã ký với Pháp bản
Hi p ước Patơnôt (6-6-1884) Bản Hi p ước là một minh chứng cho sự đầu hàng hoàn toàn của triều đình nhà Nguyễn đối với thực dân Pháp Nước mất sau khi Hồ Bá Ôn mất Nhưng một Hồ Bá Ôn không còn nữa thì hàng ch c
“ ồ Bá Ôn” khác tiếp t c đứng lên làm nhi m v cứu nước, trong đó có các con, cháu, người thân của Hồ Bá Ôn
Trang 332.2 Bà Trần Thị Trâm
2.2.1 Vài nét về thân thế
Bà Trần Thị Trâm sinh năm 1860 trong một gia đình khoa bảng yêu nước ở làng Đằng Cao thuộc phủ Diễn Châu, nay thuộc xã Qu nh Giang, huy n Qu nh Lưu Bố của bà là ông Trần Hữu Dực (1821-1861), là một người thông minh, giỏi văn chương từ nhỏ Năm 1849, ông đỗ Cử nhân, 1851 đậu Cát sỹ (tương đương Tiến sỹ) ở k thi Chế khoa Là một Cát sỹ xuất sắc, ông được tuyển vào Huế, làm vi c ở “Tập hiền vi n”, đảm nhận nhi m v tu thư và dạy dỗ con cái hoàng tộc Sau được bổ làm tri phủ Vĩnh Tường (nay là huy n Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú) Năm 1858, nước nhà đứng trước hoạ xâm lăng, ông thuộc phái chủ chiến Năm 1860, ông dâng sớ lên nhà vua xin đứng
ra chiêu mộ quân sỹ đánh Pháp xâm lược Năm 1861, khi về Hải Dương tuyển quân ông bất ngờ lâm b nh và mất tại đây
Mồ côi cha từ tấm bé, Trần Thị Trâm được mẹ và anh ruột là Trần Anh nuôi dạy Trần Anh đỗ tú tài ba lần, là một sỹ phu yêu nước, từng tham gia phong trào Văn thân ở Ngh An
Năm 1876, Trần Thị Trâm được danh sỹ Phạm Đình Toái - bạn học của cha bà, cậu ruột của Hồ Bá Trị, làm mai mối về làng Qu nh Đôi làm dâu gia đình c Án Thái, làm vợ cậu Ấm Bảy - Hồ Bá Trị
Lấy chồng mới được chín năm, Trần Thị Trâm đã phải chịu cảnh goá
b a với hai con thơ dại: Hồ Xuân Kiêm mới 5 tuổi và Hồ Xuân Lan (sau này
là Hồ Học Lãm) vừa đầy 2 tuổi Đã từng mồ côi cha, Trần Thị Trâm biết sau này lớn khôn các con sẽ cảm nhận nỗi cô đơn trống vắng trong khi nhà thiếu mất người cha Bà sớm lo trách nhi m dạy con đèn sách thay chồng Tâm trạng đó của bà được bộc lộ qua câu thơ tự sự:
Hai m i lăm tuổi kể chi
Th ng hai con dại mẹ đi không đành
Trang 34Trong 2 năm, hai cái chết vì làng vì nước của chồng và anh chồng đã nung nấu lòng hận thù, ý chí đấu tranh của bà Trần Thị Trâm
2.2.2 Những hoạt động yêu nước của bà Trần Thị Trâm từ cuối thế
kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX
Với uy tín danh da thế phi t và yêu nước của cả hai gia đình, nhờ vào
sự giới thi u của anh ruột và những nhà văn thân yêu nước ở Qu nh Đôi, bà Trần Thị Trâm liên h tương đối thuận lợi với các nhà lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa như: Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã… qua thử thách, bà đã tỏ ra là một ph nữ gan dạ và mưu trí Càng ngày bà càng được các thủ lĩnh tin cậy và mến ph c Lúc đầu công vi c của bà là làm giao thông liên lạc giữa các đơn
vị nghĩa quân đóng ở Ngh An và Hà Tĩnh, sau làm liên lạc giữa nghĩa quân Hương Khê của Phan Đình Phùng với nghĩa quân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám Dân làng Qu nh Đôi vốn làm nghề d t l a và luôn bán tơ l a nên bà Trần Thị Trâm cũng đi buôn l a để che mắt kẻ thù Từ đó mọi người thường hay gọi bà là cô “ a”
C Phan Đình Phùng còn u thác cho bà sang Xiêm (Thái Lan) mua sắm vũ khí Từ căn cứ Vũ Quang ở Hương Khê, bà theo đường rừng xuyên qua đất Lào sang đến thị trấn Nakhỏn Phanôm thuộc đất Xiêm
Cuối thế k XIX những tổn thất liên tiếp rồi thất bại hoàn toàn của phong trào Cần Vương ở Ngh - Tĩnh gieo vào lòng bà nỗi “xót xa sự thế”, nỗi cay đắng cho công lao cống hiến của mình
Tuy nhiên, bà vẫn không nản lòng, không nh t ý chí mà trái lại bà càng quyết tâm: “thua keo này ta bày keo khác” à biết khởi nghĩa Cần Vương ở Ngh Tĩnh bị dập tắt nhưng khởi nghĩa Yên Thế vẫn còn Bà tuyên truyền thuyết ph c nhiều thanh niên yêu nước của quê nhà gia nhập nghĩa quân rồi dẫn đường đưa họ ra giới thi u với c Đề Thám Riêng bản thân bà đã một đôi lần sang Trung Quốc qua đường Lào Cai - Vân Nam mua sắm, tiếp vận vũ khí cho nghĩa quân
Trang 35Bước sang thế k XX, bà gia nhập hội “Tri u Dương”- một tổ chức yêu nước do Đặng Thái Thân, Ngô Đức Kế… sáng lập
Cuối thế k XIX đầu thế k XX là thời khắc lịch sử đầy biến động của dân tộc, nhiều phong trào yêu nước đã diễn ra trong thời k này Mặc dù các phong trào yêu nước đó đã lôi cuốn được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và hoạt động đạt được một số kết quả nhất định nhưng cuối cùng phong trào vẫn bị thất bại là do chưa có một đường lối cứu nước phù hợp
Sinh ra và lớn lên trên quê hương Ngh Tĩnh - nơi mà phong trào yêu nước diễn ra rầm rộ hơn nơi nào hết, lại sống trong một gia đình có truyền thống cách mạng, nên vi c một người ph nữ goá b a nuôi 2 con nhỏ dại nhưng hoạt động cách mạng hết sức sôi nổi như bà Trần Thị Trâm là một điều
Vi t Nam đã thực sự trở thành một xã hội thuộc địa, một xã hội mà các yếu tố
Tư bản chủ nghĩa dưới dạng thực dân xen kẽ với những quan h sản xuất phong kiến mà bọn thống trị cố duy trì Bức tranh xã hội Vi t Nam đầu thế k
XX được đậm nét, trước hết vì sự hình thành lực lượng xã hội mới Đó là giai cấp tư sản và tiểu tư sản Nhưng các lực lượng xã hội mới này, bản thân chúng còn quá non trẻ, chưa thể đóng vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng của đất nước được Vì thế, vai trò ấy nằm trong tay các sỹ phu tư sản hoá Tiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh [20, tr 233]
Tháng 5-1904, tại Quảng Nam, Phan Bội Châu cùng với Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thành, Đặng Thái Thân, Đặng Tử Kính, Đỗ Tuyển… đã tuyên bố thành lập “Duy Tân hội” Từ sau chuyến đi Nhật đầu tiên năm 1905 cùng
Trang 36Đặng Tử Kính, được sự giúp đỡ của Lương Khải Siêu, Khuyến Dưỡng Nghi, Đại Ôn Trọng Tứ - những nhân vật nổi tiếng của Trung Hoa và Nhật Bản, Phan Bội Châu đã cùng Duy Tân hội dấy lên phong trào Đông Du, tuyển chọn thanh niên Vi t Nam sang Nhật Bản học tập
Với sự phát triển của phong trào Đông Du, bà Trần Thị Trâm cũng không đứng ngoài cuộc Bà hoạt động rất tích cực trong hội Duy Tân và phong trào Đông Du Bà và Hồ Bá Ki n (con trai Hồ Bá Ôn) rất tin cậy nhau, nương tựa, hợp tác chặt chẽ với nhau trong phong trào Duy Tân Những súng đạn do Hồ Bá Ki n mua sắm ở Bắc chuyển vào Ngh cho ông Đặng Thái Thân phần lớn đều do bà vận chuyển
Không chỉ làm đầu mối vận chuyển vũ khí, bà còn là người vận động nhân dân quyên góp, ủng hộ tiền của cho phong trào Đông Du Có bao nhiêu tiền quyên góp được bà đều gửi cho cháu mình
Từ năm 1905, bà được Phan Bội Châu giao nhi m v dẫn đường để đưa các thanh niên Vi t Nam sang Nhật Bản du học Bà đã đưa được một số thanh niên như Nguyễn Thức Canh, Trần Hữu Lực, Hồ Sỹ anh… vượt biên giới
Vi t Trung để sang Nhật du học Đặc bi t, trong số các thanh niên đó có con trai thứ 2 của bà Hồ Xuân Lan (tức Hồ Học Lãm sau này)
Những năm tiếp theo, bà hoạt động sôi nổi trong các phong trào yêu nước của các giai cấp tầng lớp khác nhau khởi xướng Như: vận động thanh niên sang Xiêm theo lời kêu gọi của c Đặng Thúc Hứa; phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu và truy đi u Phan Châu Trinh…
Bà là đầu mối liên lạc của cách mạng trong nước cũng như ở nước ngoài với các thanh niên yêu nước trong thời k 1925-1927
Với con mắt tinh đời trong vi c đánh giá con người, với sự am hiểu công vi c cứu nước chung, bà chủ động điều hành, tuyển chọn rồi thuyết
ph c, động viên những người đi ra nước ngoài học tập Thời Đông Du, sau
Trang 37khi trao đổi với Hồ Bá Ki n, bà quyết định: Hồ Bá Ki n đã đứng tuổi, ở lại tiếp t c hoạt động cho hội Duy Tân để Hồ Xuân Lan đi xuất dương; còn Hồ Thúc Linh và Hồ Xuân Kiêm ở nhà lo vi c từ đường Sau này, chính bà đã đưa Hồ Bá Cự (tức Hồ Tùng Mậu) và Hồ Văn Quýnh (con Hồ Thúc Linh) đi học chữ Quốc ngữ rồi đi dạy học Thấy Hồ Bá Cự sắc sảo và khí khái hơn, bà
đã giới thi u và bố trí cho đi sang Xiêm
Trong cuộc đời hoạt động yêu nước, bà Trần Thị Trâm không giữ một chức v gì lớn, chỉ làm những vi c bình thường như giao thông liên lạc, mua sắm vũ khí, vận động dân chúng quyên góp tiền của… Nhưng đối với thực dân Pháp và bọn tay sai thì bà là một đối tượng rất nguy hiểm Không thể kể hết những lần chúng bắt bớ, giam cầm bà Lúc d dỗ mua chuộc, lúc đánh đập tra khảo nhưng chúng không sao lay chuyển được lòng gan dạ kiên trung của bà
Tuy nhiên, kẻ thù tức tối, căm ghét bà bao nhiêu,thì anh em, con cháu trong gia đình cũng như đồng bào, đồng chí, kể cả những nhà lãnh đạo cao nhất của các phong trào yêu nước lại tin yêu, kính ph c bà bấy nhiêu
Bà mất vào ngày 27-3 năm Canh Ngọ, tức ngày 6-5-1930, kết thúc cuộc đời 71 năm với 45 năm liên lạc hoạt động yêu nước không biết m t mỏi
Nhân dân Qu nh Đôi đến nay còn có người nhớ bài ca dao kể chuy n
bà L a:
Bà Lụa là ng ời Quỳnh Đôi Lụa thời không mắc chỉ lôi ra là
Đi đến chợ Rạng, chợ Dà Chợ Chùa, Lá Mạc, trở ra làng Kè…
2.3 Hồ Bá Kiện
2.3.1 Hồ Bá Kiện với phong trào Cần Vương (1889-1896)
Hồ Bá Ki n sinh năm 1862, là con đầu của Hồ Bá Ôn Khi ông 21 tuổi thì bố ông qua đời vì bị thương sau trận đánh tại thành Nam Định Thực hi n
Trang 38lời di chúc của cha: “Phải cố gắng học hành, giữ trọn đạo làm người, lo rửa hận cho nước, cho cha…”, ông ra sức học tập và trở thành một nho sỹ giỏi văn thơ
Mặc dù, học rất giỏi và được nhiều bậc cha chú trong họ khuyên ông đi thi nhưng ông không đi vì ông luôn tâm ni m một điều rằng: Học đạo thánh hiền thì trước hết phải biết nỗi nh c mất nước, mối thù mất cha Mình đi thi
để trổ tài văn chương ư? Trổ tài để làm chi khi mà thù cha chưa trả, nợ nước chưa đền Mình đi thi để mong thành đạt ư? Thành đạt của ta lúc này là góp phần xứng đáng vào vi c chống giặc, cứu nước, chứ đâu phải là đậu đạt Tú tài, Cử nhân…
Năm 1885, kinh đô Huế có biến - Tôn Thất Thuyết đánh úp đồn Mang
Cá của giặc Pháp, nhưng bị thất bại, liền phò giá vua Hàm Nghi rời kinh đô ra Tân Sở, phát hịch Cần Vương, kêu gọi nhân dân cả nước nổi dậy chống Pháp Phong trào Cần Vương ở Ngh An do Nguyễn Xuân Ôn cầm đầu, đặt căn cứ
ở Đồng Thông, thuộc huy n Đông Thành (Diễn Châu) Ông thủ khoa Dương Quế Phổ, con trai Dương Doãn Hài, từ Qu nh Đôi vào Đông Thành làm một trợ thủ thân cận của Nguyễn Xuân Ôn Hai thím cháu Trần Thị Trâm và Hồ
Bá Ki n đọc được chiếu Cần Vương, cũng s c sôi nghĩa khí, theo Dương Quế Phổ, tìm vào với Nguyễn Xuân Ôn Những ngày hoạt động bên cạnh Dương Quế Phổ ở vùng Tây Bắc Ngh An, Hồ Bá Ki n luôn cố gắng vượt mọi khó khăn, đi vào các bản làng xa xôi để truyền bá hịch Cần Vương, đồng thời xây dựng lực lượng nghĩa quân
Tháng 5 năm 1887, trong một cuộc đ ng độ với giặc Pháp, Dương Quế Phổ hy sinh, Nguyễn Xuân Ôn bị thương nặng phải đưa về Diễn Châu điều trị Sau đó ông bị một tên nội gián chỉ điểm nên sa vào tay giặc Chúng đưa ông vào Huế, tìm cách d dỗ, mua chuộc, nhưng ông không chịu hàng B nh tình ngày càng nặng, ông qua đời vào năm 1888
Trang 39Cuộc khởi nghĩa ở Ngh An mất thủ lĩnh, nhưng Hồ Bá Ki n vẫn cùng với các nghĩa sỹ khác chiến đấu cho tới năm 1889 Sau đó, ông vào Hà Tĩnh tham gia hoạt động với nghĩa quân Hương Khê dưới ngọn cờ chỉ huy của Phan Đình Phùng
Sau một thời gian thử thách năng lực, Phan Đình Phùng giao nhi m v cho Hồ Bá Ki n đi vận động các nhà yêu nước trong Nam, ngoài Bắc nhằm
mở rộng phạm vi ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Hương Khê, tập hợp nhân tài, liên kết phong trào chống Pháp ở các miền trong nước
Nhận trách nhi m nặng nề, Hồ Bá Ki n đi từ vùng Quảng Ngãi tới vùng Yên Thế xa xôi Lúc làm người buôn tơ bán l a, khi làm một thầy thuốc rong, khi làm thầy địa lý xem mồ mả cho nhân dân… ồ Bá Ki n đã tránh được con mắt rình mò của bọn quan trường và mật thám
Dáng người tuy thấp nhỏ, nhưng với tài cao học rộng nên ông đã thuyết
ph c được nhiều nho sỹ và cả các quan trường đứng về phía nghĩa quân, quyên góp được nhiều tiền bạc của các nhà hào phú, liên kết được nhiều khách nghĩa hi p
Những hoạt động tích cực của Hồ Bá Ki n góp phần không nhỏ làm cho cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng có tiếng vang xa Cuộc khởi nghĩa cũng đã phối hợp với cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Đề Thám trong khoảng thời gian trước năm 1894 Nhờ đó, cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng đã trở thành một trong những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào Cần Vương, và là cuộc khởi nghĩa kéo dài nhất thời k Cần Vương
Năm 1896, phong trào Cần Vương thất bại sau hơn 10 năm chiến đấu ngoan cường Hàng vạn nhân dân Vi t Nam bị thực dân Pháp bắt bớ, giam cầm, giết hại Không biết bao nhiêu làng xóm bị chúng tri t phá Sang đầu thế
k XX chỉ còn những cuộc nổi dậy lẻ tẻ của các nghĩa sỹ tự xưng là Cai, Đội, Đốc, Đề…như Cai Biêu, Đội Quyền, Đốc Sung, Đề Kiều, Đề Thám…trong
Trang 40đó Đề Thám là người có thế lực mạnh, uy tín lớn, nổi dậy từ năm 1885, sau
đó tạm ngừng một thời gian đến 1894 lại tiếp t c chiến đấu trong căn cứ địa Yên Thế cho đến năm 1913 mới bị thất bại
Đầu thế k XX, tiếng vang của nghĩa quân Yên Thế vọng vào Qu nh Đôi khá mạnh Một số sỹ phu Qu nh Đôi tìm đường ra Yên Thế để theo Đề Thám nhưng Hồ Bá Ki n không đi theo luồng này Trào lưu yêu nước mới đang thu hút ông
2.3.2 Hồ Bá Kiện với tổ chức Duy Tân hội (1905-1915)
Đầu thế k XX, thực dân Pháp đẩy mạnh cuộc khai thác thuộc địa ở Đông Dương, đồng thời củng cố bộ máy thống trị của chúng ở đây Trên thế giới, cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1905-1907) đã diễn ra và kết thúc với chiến thắng của hải quân Nhật Có được chiến thắng đó là nhờ trước đó Nhật Bản đã tiến hành cuộc Duy Tân Minh Trị (1868) thành công, tạo được thế và lực để Nhật Bản bước vào cuộc chiến tranh và giành thắng lợi
Tình hình quốc tế và trong nước lúc này tác động sâu sắc tới các sỹ phu yêu nước Vi t Nam Tất nhiên, họ không thể dễ dàng cúi đầu đi theo thực dân Pháp được Và họ nhìn thấy Nhật Bản như một tấm gương sáng để mình noi theo Do đó, các sỹ phu yêu nước một mặt lợi d ng tình thế mới trong công cuộc khai thác kinh tế của Pháp để lập ra các hội buôn, hội học, công khai kêu gọi người Vi t Nam phải biết tự cường Mặt khác họ nghĩ đến
vi c học tập Nhật Bản, ấp ủ hy vọng có thể nhờ ngoại vi n của Nhật để đánh đuổi thực dân Pháp
Lúc này ở Vi t Nam có hai đường lối cứu nước khác nhau: Đường lối đấu tranh bằng yêu sách cải lương do Phan Châu Trinh đề xướng và đường lối đấu tranh vũ trang do Phan Bội Châu lãnh đạo Hai đường lối này cùng song song tồn tại và phát triển Có lúc Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh tranh luận với nhau gay gắt nhưng cuối cùng vẫn thông cảm và tôn trọng lẫn nhau