CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG GDGT CỦA PHỤ
2.5. Nguyên nhân của những khó khăn trong việc giáo dục của phụ huynh và sự tiếp nhận của học sinh THPT
2.5.1. Nguyên nhân từ phía phụ huynh.
Cha mẹ thường né tránh khi con cái đề cập đến những vấn đề liên quan đến giới tính, nhất là những vấn đề về tình dục. Họ ít giảng giải cho con về những biểu hiện sinh lý của bạn khác giới. Ví dụ như kinh nguyệt ở con gái, xuất tinh ở con trai...
phỏng vấn 17/30 phụ huynh tỏ ra ngượng ngùng khi trao đổi với con cái, né tránh không trả lời (câu 5. phụ lục 2.1) . Cha mẹ thường chỉ nói về cơ chế hoạt động của bộ phận sinh dục mà không đề cập đến những chủ đề khó nói như thủ dâm, đồng tính, khoái cảm, tình dục... Khi con cái có dấu hiệu quan hệ khác giới (quan hệ hẹn hò...) thì họ mới bắt đầu giáo dục cho con. Và những cuộc nói chuyện về vấn đề trên
thường biến thành những buổi tranh luận, thậm chí xảy ra xung đột gay gắt chứ không phải là cơ hội để cha mẹ đưa ra những lời khuyên và hướng dẫn cho con em mình.
Một số bậc cha mẹ còn cho rằng trường học phải đảm nhận việc giáo dục giới tính cho học sinh, cha mẹ phó mặc hết trách nhiệm cho nhà trường mà không nhận biết được tầm quan trọng của gia đình trong việc giáo dục cho con cái về giới tính. Bên cạnh đó, 24/30 phụ huynh cho rằng chỉ cần cung cấp đầy đủ nhu cầu vật chất là đã hoàn thành hết trách nhiệm với các con, vì vậy mà họ lao vào kiếm tiền họ cảm thấy rằng mình không có nhiều thời gian dành cho con nên bỏ qua việc gần gũi để có thể hiểu và chia sẻ với con cái (câu 10. phụ lục 2.1).
2.5.2 Nguyên nhân từ phía học sinh.
Một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến học sinh không nhận biết được đầy đủ về giới tính là do các em nhiều khi còn ngại ngùng, không dám chia sẻ những điều mình quan tâm tìm hiểu, sợ bị bạn bè chê cười, cha mẹ la mắng. Đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp nhất, chủ quan từ phía học sinh. Kết quả phỏng vấn 30 phụ huynh thì có đến 21 người thừa nhận con cái họ từ chối hoặc tránh né họ khi họ đề cập đến vấn đề này.
Tinh thần thái độ của học sinh là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến nhận thức của các em về vấn đề giới tính. Nếu học sinh có nhận thức sai hoặc không đúng thì sẽ dẫn đến hành vi vi phạm các chuẩn mực xã hội, thậm chí sa vào các tệ nạn xã hội. Có 19/30 học sinh cho rằng họ sa đà vào các tệ nạn là do họ bị ảnh hưởng từ những thông tin không phù hợp với lứa tuổi của các em.
Một nguyên nhân nữa là do học sinh đua đòi, chạy theo các thói hư tật xấu của bạn bè mà nhiều khi các em coi đó mới là mốt và sành điệu Phỏng vấn em H lớp 11A1 trường THPT Nguyễn Huệ, em nói rằng “Bạn em đứa nào cũng có người yêu, em mà không có sẽ bị cho là hai lúa và lạc hậu”. Qua đây chúng ta thấy các em nhìn nhận vấn đề rất đơn giản theo ý thích bản thân mà chưa có được cái nhìn sâu sắc và toàn diện về các vấn đề này.
Do vậy giáo dục cho học sinh có một thái độ đúng đắn là một việc làm hết sức cần thết để giải quyết các hiện tượng giới tính đang nổi lên hiện nay. Để có được kết quả đó không chỉ là công việc của gia đình mà còn cần sự hỗ trợ lớn của nhà trường và xã hội.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi đã thực hiện được các nhiệm vụ đề ra.
1.1. Về mặt lý luận
Khái niệm về giới tính, giáo dục giới tính, vai trò của giáo dục giới tính; khái niệm gia đình và vai trò của gia đình trong việc giáo dục giới tính cho học sinh THPT đã được làm sáng tỏ.
Cơ sở lý luận của việc tìm hiểu thực trạng giáo dục giới tính của các bậc phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn Huệ và sự tiếp nhận của học sinh đã được trình bày rõ nét. Từ cơ sở lý luận trên, chúng tôi đã xác định những nội dung cơ bản để triển khai nghiên cứu thực tiễn.
1.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng giáo dục giới tính của gia đình đối với học sinh trường THPT Nguyễn Huệ.
Qua nghiên cứu thực trạng giáo dục giới tính của phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn Huệ chúng tôi rút ra những kết quả sau.
1.2.1 Nhận thức, thái độ, nội dung và phương pháp giáo dục giới tính của phụ huynh.
Các phụ huynh thường dễ dàng nhận thấy sự thay đổi của con cái ở tuổi dậy thì qua biểu hiện bên ngoài như là tăng về chiều cao, ngực phát triển, vỡ tiếng (66.9%). Còn những thay đổi về tâm lý, tính cách của con cái thì cha mẹ ít nhận thấy được chỉ từ 35%- 45% và chỉ biết được khi con cái chia sẻ với mình
Đa số các bậc phụ huynh đánh giá cao tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính cho con cái (chiếm 86% ý kiến phụ huynh).
Nội dung mà cha mẹ giáo dục cho con về giới tính là sức khoẻ sinh sản, tâm lý giới tính, giao tiếp ứng xử với bạn khác giới và những vấn đề xã hội liên quan đến giới tính. Trong đó, phụ huynh đánh giá nội dung giáo dục về tâm lý giới tính khá quan trọng và được quan tâm giáo dục nhiều nhất chiếm 50.4%.
Các bậc phụ huynh sử dụng nhiều phương pháp giáo dục giới tính khác nhau, tuy nhiên phương pháp nói chuyện trực tiếp khi con có những thắc mắc chiếm tỷ lệ cao nhất 84.2%.
78% phụ huynh đã hài lòng với việc giáo dục giới tính cho con, và họ cho rằng độ tuổi hợp lý khi bắt đầu giáo dục giới tính là từ 13-15 tuổi (49.6%).
1.2.2. Nhận thức, nhu cầu của học sinh đối với vấn đề giáo dục giới tính.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số học sinh chỉ nhận biết đến sự biến đổi cơ thể ở mức đơn giản dễ nhận thấy mà chưa có hiểu biết một cách đầy đủ sự biến đổi cơ thể một cách toàn diện. Hầu như các em đều nhận biết sự biến đổi của cơ thể thông qua việc tăng về chiều cao chiếm 52.8%.
Nguồn mà học sinh được cung cấp nhiều thông tin về vấn đề giới tính nhất đó là từ người thân chiếm 28.3%.
Nội dung về giới tính học sinh được gia đình cung cấp SKSS (79.5%), tâm lý giới tính (15%), giao tiếp ứng xử với bạn khác giới (3.9%) và những vấn đề xã hội liên quan đến giới tính (1.6%).
Nội dung GDGT được học sinh quan tâm là như nhau, trong đó giao tiếp ứng xử với bạn khác giới là được các em qua tâm nhất (33.9%).
Đa số các em lựa chọn phương pháp nói chuyện, trao đổi trực tiếp với cha mẹ chiếm 86.6%.
Có tới 82.5% các em lựa chọn rằng mình hài lòng với các phương pháp giáo dục giới tính của cha mẹ.
Đối với việc nhận thức tầm quan trọng của giáo dục giới tính có 83.5% các em cho rằng điều đó là rất cần thiết.
Tóm lại, qua kết quả nghiên cứu thực tế khẳng định giả thuyết khoa học có ý nghĩa. Gia đình có sự quan tâm đến giáo dục giới tính cho học sinh THPT nhưng chưa đầy đủ. Giáo dục của gia đình về giới tính đối với học sinh THPT có tác động tích cực.
2. Kiến nghị
Từ kết quả nghiên cứu thực trạng gia đình với việc giáo dục giới tính cho học sinh THPT chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau:
2.1. Các bậc phụ huynh cần quan tâm đến những biến đổi tâm - sinh lý khi con bước vào tuổi dậy thì.
Khuyến khích cha mẹ chủ động tìm hiểu các thông tin liên quan đến giới tính để cung cấp đầy đủ kiến thức cho con.
Thẳng thắn trao đổi trực tiếp những vấn đề nhạy cảm liên quan đến giới tính cho con, kết hợp nhiều phương giáo dục giới tính để mạng lại hiệu quả cao.
2.2. Đối với nhà trường cần quan tâm hơn tới việc giáo dục giới tính cho học sinh, đưa nội dung giáo dục giới tính cụ thể hơn trong chương trình dạy học, tổ chức các buổi chuyên đề về giới tính.
2.3. Các tổ chức xã hội tăng cường tuyên truyền tầm quan trọng của giáo dục giới tính đến các gia đình, nêu những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra khi không giáo dục đầy đủ kiến thức về giới tính cho con.
Có các biện pháp ngăn chặn, kiểm soát và giảm thiểu bớt các luồng thông tin, văn hóa phẩm đồi trụy đang lan tràn trên các phương tiện thông tin đại chúng như hiện nay.
2.4. Khuyến khích học sinh chủ động tìm hiểu các thông tin về giáo dục giới tính từ phía cha mẹ.