1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Su hinh thanh cn cua asean

201 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Hình Thành Chủ Nghĩa Khu Vực Của ASEAN
Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÁI NIỆM KHU VỰC Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô xuất bản năm 1987, “khu vực” là một từ gốc La tinh regio, phái regionis để chỉ một vùng đất có đặc trưng xác định hoặc một s

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA KHU VỰC 7

I Khái niệm khu vực 7

II Những luận điểm chủ yếu về chủ nghĩa khu vực 17

III Chủ nghĩa quốc gia (nationalism) 24

IV Chủ nghĩa toàn cầu (globalism) 27

V Chủ nghĩa khu vực (regionalism) 36

VI Các mô thức cơ bản của chủ nghĩa khu vực 52

Chương 2: SỰ HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA KHU VỰC CỦA ASEAN 68

I ĐNÁ- một chỉnh thể khu vực địa lý-văn hóa - lịch sử 68

II Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN nhìn từ bình diện địa - chính trị 82

III Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN nhìn từ bình diện địa - kinh tế 117

IV Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN nhìn từ bình diện an ninh khu vực 132

Trang 2

Chương 3: CHỦ NGHĨA KHU VỰC ASEAN:

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC 155

I ASEAN trong trật tự thế giới mới 155

II ASEAN và các cơ hội phát triển 168

III Những thách thức phát triển của ASEAN 176

Kết Luận: 193

Phụ lục 207

Trang 3

Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA KHU VỰC

I KHÁI NIỆM KHU VỰC

Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (xuất bản

năm 1987), “khu vực” là một từ gốc La tinh (regio, phái regionis) để chỉ một vùng đất có đặc trưng xác định hoặc một

sinh-khu mặt nước rộng lớn, nhưng không nhất thiết trở thành mộtđơn vị phân loại trong hệ thống phân loại lãnh thổ nào đó.Trong tiếng Trung Quốc, chữ khi dịch sang tiếng Anh

tương đương với các từ region, area, district - chỉ một vùng

đất, địa khu (khu tự trị) vạch giới ruộng đất hoặc có những

nghĩa khác như limit, scope, range - chỉ giới hạn, phạm vi của

một vùng lãnh thổ Trên thực tế, việc sử dụng khái niệm “khuvực” hoàn toàn có tính ước lệ khi người ta nói “khu vực HàNội”, “khu vực ven biển miền Trung”, “khu vực ĐNÁ” Cáckhu vực trên không giống nhau về mặt kích thước, nhưng baogiờ cũng có những đặc trưng xác định để phân biệt chúng vớinhững khu vực khác

Là một thuật ngữ của ngành địa lý học, khái niệm “khuvực” phản ánh nhận thức của con người đối với môi trườngđịa lý tự nhiên và địa lý nhân văn Tuy vậy, buổi đầu, các nhàđịa lý học cổ điển chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu khu vực địa

lý dưới góc độ tự nhiên chứ chưa tiến đến việc nghiên cứukhu vực địa lý dưới góc độ xã hội - nhân văn Theo quan điểm

truyền thống thì “khu vực địa lý như thể một lãnh thổ với bất

kỳ kích thước nào mà trên diện tích ấy tồn tại những liên kết

Trang 4

D Uittlsi: Khuynh hướng khu vực hóa và phương pháp khu vực – địa lý Hart Shorne.R: The Nature of Geography Lancaster 1939

Đông Nam Á, vấn đề cộng đồng khu vực, Nxb Khoa học Mátxcơva 1977,

khơng gian tương tác; hơn nữa, lãnh thổ cần phải thuần nhất

trong quan hệ với các yếu tố tạo nền tảng, từ đĩ khu vực được

xác định”1 Quan điểm truyền thống nhìn nhận khu vực địa lý

như một hệ thống đặc thù Đĩ là hệ thống tự nhiên với các

yếu tố như địa hình, khí hậu, thủy văn mà chỉ khu vực ấy cĩ

Quan điểm này đã được R Hartshorne khái quát trong một

mệnh đề nổi tiếng “khơng cĩ tính tất yếu trong bất kỳ định đề

tổng quát nào khác ngồi quy luật chung của địa lý học rằng,

mọi khu vực đều mang tính đơn độc duy nhất”2 Việc chỉ đề

cập đến các yếu tố tự nhiên trong nghiên cứu khu vực địa lý

đã dẫn tới sự hình thành trong địa lý học trường phái “tính

độc nhất” của khu vực Nhưng sau này, các nhà bác học đã

vượt qua quan niệm đĩ Một loạt các cơng trình của A

Liesha, F Shefer, V Bunge, R Chorlu, P Haggta đã mở ra

những hướng nghiên cứu mới về tính hợp nhất và các đặc

điểm chung của khu vực địa lý3

Trường phái “khu vực địa lý xã hội - nhân văn” ra đời là

một bước tiến quan trọng trong nhận thức của con người về

khái niệm khu vực Từ đây xuất hiện những quan niệm mới

về “tính đơn giản cĩ tổ chức”, “tính phức tạp vơ trật tự”, “tính

phức tạp cĩ tổ chức”, của khu vực địa lý Phương pháp tiếp

cận hệ thống trong nghiên cứu khu vực vốn được áp dụng từ

nửa sau thế kỷ XVIII, đến những năm 40 của thế kỷ XX đã

Trang 5

Nguyễn Hữu Cát: Cơ hội và những vấn đề đặt ra khi mở rộng ASEAN ra

Z.E Dzenis: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu địa lý kinh tế

thực sự trở thành khoa học Khái niệm “địa hệ” (geosystem)

của địa lý học hiện đại đã bao hàm cả tính tự nhiên và tính xã

hội của một khu vực địa lý1 Theo đĩ, thế giới vật chất bao

gồm ba kiểu hệ thống cơ bản: 1/ Hệ thống tự nhiên vơ cơ (địa

quyển - hiểu theo nghĩa hẹp); 2/ Hệ thống tự nhiên hữu cơ

(sinh quyển); 3/ Hệ thống xã hội (nhân quyển)2

Trong mỗi địa hệ đều cĩ các hệ thống như vậy Chúng

tác động qua lại lẫn nhau Đến lượt mình, các hệ thống trên

cĩ thể phân chia thành các phân hệ Mỗi phân hệ lại cĩ thể

chia thành các phần tử Phần tử là thành phần khơng thể chia

nhỏ ra được trong phạm vi hệ thống nào đĩ Cho nên cĩ thể

coi địa hệ là tập hợp xác định của các phân hệ và phần tử

Mặc dù cĩ nhiều biểu hiện phức tạp, nhưng đặc trưng quan

trọng nhất của địa hệ là tính lãnh thổ và tính khơng rõ ràng về

quy mơ lãnh thổ của nĩ3 Vì thế trong chừng mực nhất định,

địa hệ hàm chứa cả nghĩa khu vực Giống như địa hệ, khu vực

là nơi thể hiện trình độ và đặc trưng liên kết của các hệ thống

địa quyển, nhân quyển và sinh quyển Khoa học địa lý đã đi

từ việc nghiên cứu cảnh quan tự nhiên đến nghiên cứu cảnh

quan kinh tế, văn hĩa, xã hội trên các khu vực cụ thể

Trong giới học giả Xơ viết, từ những năm 70, đối tượng,

1

tồn khu vực Đơng Nam Á Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “ASEAN hơm nay và

ngày mai” Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, t.1 H 1997,

2

– xã hội Nxb Giáo dục, H 1984, tr.12.

3 Nguyễn Hữu Cát, sđd, tr 37, 38.

Trang 6

Đông Nam Á, vấn đề cộng đồng khu vực, sđd, tr.10.

Ia.V Tresnov: Dân tộc học lịch sử của các nước Đông Dương, Nxb Khoa

nhiệm vụ của ngành khu vực học (area studies) đã trở thành

những đề tài của nghiên cứu xã hội nĩi chung Cĩ nhiều cách

hiểu về khu vực, nhưng phần lớn họ đều coi khu vực là tổng

thể của các tổ chức mang tính xã hội, được phân biệt bởi sự

tương đồng mang tính giai đoạn - hình thái1 Trên cơ sở tư liệu

về dân tộc học, nhà dân tộc học Xơ viết N.N Treboksarov đã

coi ĐNÁ là một khu vực địa lý - lịch sử - tộc người Quan

điểm này sau đĩ đã được Ia V.Chesnov kế thừa2

Đặc biệt, khái niệm “khu vực lịch sử” của V.V Boisov

được nhiều học giả Xơ viết chú ý và tán đồng Theo V.V

Boisov, “khu vực lịch sử” được hiểu như là “một cộng hợp cĩ

tính khơng gian - xã hội, được xác định bởi tính bền vững của

biên giới, độ đủ dài của một quá trình lịch sử” Quá trình lịch sử

ở đây được hiểu là nền tảng cơ sở, từ đĩ mà các yếu tố khu vực

được hình thành Tính thống nhất của quá trình lịch sử thể hiện

qua những lát cắt hiẹân đại Vì thế, phương thức hình thành khu

vực thể hiện ở việc khu vực hình thành trong những hồn cảnh

xác định và sự tiêu vong của nĩ cũng cĩ thể xảy ra trên một giai

đoạn nào đĩ của quá trình lịch sử Mỗi giai đoạn, khu vực cĩ

một hình thức tồn tại với các dấu hiệu hoặc đặc trưng tất yếu

Nhưng trong quá trình lịch sử, các dấu hiệu hoặc đặc trưng này

bị thay đổi theo từng thời kỳ mặc dù khu vực - nhìn chung là mộtthực thể bền vững Như vậy, khái niệm “khu vực lịch sử” khơng

bắt buộc phải cĩ liên quan trực tiếp đến các hình thái kinh tế

-xã hội Các đặc trưng của khu vực, trong khi chịu sự tác động

1

2

học Mátxcơva 1976, tr.5 (tiếng Nga).

Trang 7

mang tính quy luật của các hệ thống lớn khác thì vẫn giữ đượctính ổn định, mặc dù có sự thay đổi về hình thái.

Để xác định một “khu vực lịch sử”, V.V Boisov đã căn

cứ vào hai tiêu chí: 1/ Sự tương đồng khu vực; 2/ Các mốiquan hệ của khu vực Hai yếu tố này hiện diện trong suốt cácgiai đoạn khu vực hình thành và phát triển Sự tương đồng làkết quả phát triển của các yếu tố tiên khởi trong quan hệ vănhóa - tộc người của các dân tộc (tộc người) trên một lãnh thổxác định Sự tương đồng trở thành đặc trưng chủ yếu của giaiđoạn đầu tiên hình thành khu vực Đến giai đoạn thứ hai sẽxuất hiện các quan hệ giữa các yếu tố cấu thành khu vực,

trong đó có đường biên phân ranh giới Mặc dù xảy ra nhữngthay đổi về lịch sử, nhưng đường biên là một yếu tố quan

trọng để xác định khu vực Đường biên làm nổi bật lên cácmối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa bên trong và bên

ngoài khu vực Giai đoạn thứ ba hình thành khu vực lịch sử,gắn liền với việc xuất hiện các tiểu khu vực Mỗi tiểu khu vựcđều có một trung tâm mà trong quá trình vận động lịch sử,trung tâm ấy trở thành quốc gia Khi các quốc gia trong khuvực đã được thiết lập thì bang giao giữa chúng là điều khôngtránh khỏi trong lịch sử Đến đây, tổ chức khu vực đã hìnhthành với một hệ thống - cấu trúc, bao gồm các quốc gia

thành viên và mối quan hệ giữa chúng

Như vậy, “khu vực lịch sử” của V.V Boisov đã chứa cả

hệ thống tự nhiên lẫn hệ thống xã hội Trong tính lịch sử cụthể, các hệ thống này biểu hiện thành một cộng đồng kinh tế,chính trị, văn hóa, lịch sử của các quốc gia, dân tộc trên mộtlãnh thổ xác định

Trang 8

G Kadumov: Phân tích so sánh sự hợp tác khu vực của ASEAN và SNG.

Ngồi quan niệm “khu vực lịch sử” như đã trình bày ở

trên, đến đầu thập niên 90 xuất hiện một số quan niệm khác

nữa về khu vực Chẳng hạn, ý kiến của G Kadumov cho

rằng, khu vực là hình thức phổ biến của sự liên kết các quốc

gia và dân tộc Ơng nêu ra năm tiêu chí xác định khu vực:

1 Cĩ ranh giới địa lý rõ ràng Chỉ số địa - chính trị xác

định vị trí của nĩ trong hệ thống quan hệ quốc tế

2 Cĩ một mơi trường văn hĩa chung Cư dân ở đĩ hoặc

cĩ chung một tơn giáo hoặc cĩ chung một thĩi quen tâm lý,

dân tộc, cộng đồng văn minh (như người Ảrập chẳng hạn)

những thứ phân biệt họ với mơi trường văn hĩa khác

3 Cĩ đặc trưng bởi sự hiện diện của các liên kết kinh tế

- xã hội chặt chẽ và bởi những đặc điểm tương tự về kinh tế

và sản xuất

4 Các dân tộc ở khu vực cĩ chung một số phận lịch sử

giống nhau, bị lệ thuộc vào đế quốc, bị thực dân thống trị và

cùng đấu tranh chống kẻ thù chung

5 Cĩ một hình thức tổ chức nào đĩ (khơng phụ thuộc

vào tính chất của tổ chức), thí dụ tính khu vực: Tổ chức diễn

đàn Islam (OIC); tính kinh tế: cộng đồng châu Âu (EC) hoặc

thuần túy tính địa lý: Hiệp ước Andes1 Theo báo Sài Gịn

Giải phĩng ngày 3/6/1999, các nước Andes đang chuẩn bị

thành lập khối thị trường chung vào năm 2005)

Hạn chế của G Kadumov là các tiêu chí ơng đưa ra

1

Các nước Đơng Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI Nxb Khoa học

Mátxcơva 1994, tr.30-36 (tiếng Nga).

Trang 9

M.A Lewis: Mô thức chính trị thế giới Trung tâm nghiên cứu Việt Nam

Các nước Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Sđd, tr 30.

Colins.G: A Debate on Geopolitics The continued primacy of Geography,

khơng phản ánh hết được đặc trưng khu vực và các hình thức

tổ chức khu vực Đặc trưng khu vực khơng chỉ là ranh giới địa

lý mà cịn là vị trí, địa hình, khí hậu Bởi tất cả những yếu tố

này ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình phát triển lịch sử xã

hội của các dân tộc sinh sống trong khu vực đĩ Aristotle, triết

gia Hy Lạp, từ thế kỷ IV trước Cơng nguyên đã nhận xét

rằng, trong những vùng cĩ địa hình khác nhau thì tồn tại nhiều

khu vực chính trị thay vì một khu vực chính trị duy nhất được

cấu tạo nên1 Cịn các hình thức tổ chức khu vực thì muơn

màu muơn vẻ Vấn đề này chúng tơi sẽ trình bày ở phần sau

Trong sự tìm kiếm khơng mệt mỏi một khái niệm khu

vực hồn chỉnh, chúng ta cịn bắt gặp loại ý kiến xem xét khu

vực như “một cộng đồng văn minh”2 Cách tiếp cận khu vực

văn hĩa này chỉ nhấn mạnh đến những đặc trưng văn hĩa của

khu vực mà coi nhẹ các yếu tố chính trị, trạng thái kinh tế

-xã hội cùng những mối quan hệ của chúng ở cả trong lẫn

ngồi khu vực

Bên cạnh những khuynh hướng xem xét khu vực như là

các hệ thống tự nhiên và xã hội với những biểu hiện đa dạng,

phong phú, người ta cịn tiếp cận khu vực trên bình diện nhỏ

hẹp nhưng rất căn bản: bình diện địa - chính trị

Địa - chính trị là khái niệm chỉ mối tương quan giữa

quyền lực chính trị với bối cảnh địa lý3 Tùy theo đối tượng

Trang 10

Celerier.P: Geopolitique et geostrategie Presses Universitaires De

nghiên cứu mà khái niệm địa lý có thể bao hàm tất cả các

yếu tố về tự nhiên, kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa (địa lý

tự nhiên, địa lý kinh tế, địa lý chính trị, địa lý quân sự )

Như vậy địa lý, mặc dù về khái niệm phân biệt với kinh tế,

chính trị, quân sự nhưng nó có ảnh hưởng đến hành vi con

người trên từng phạm vi đó, nên các mối quan hệ giữa địa lý

với kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự có thể được nghiên cứu ởcác góc độ địa - kinh tế, địa - chính trị, địa - chiến lược

Các trường phái địa - chính trị xuất hiện vào cuối thế kỷ

XIX trong các quốc gia đứng đầu về tư tưởng ở phương Tây

Trường phái đầu tiên xứng đáng được nhắc đến là ở Đức với

tên tuổi của Ratzel (1844-1904), giáo sư địa lý Đại học

Leipzig Lý thuyết của Ratzel dựa trên hai yếu tố cơ bản mà

địa lý cung cấp cho chính trị: 1 Không gian (raum), được hạn

định bởi diện tích, tính chất vật lý, thời tiết ; 2 Vị trí (lage),

có chức năng phối trí không gian với mặt đất và buộc không

gian theo điều kiện cục bộ với tất cả những quan hệ của nó1

Hoạt động của con người bị chế ngự bởi chiều hướng không

gian (raum sinn) và sự chế ngự này mang tính định mệnh Sau

này Rudolf Kjellen (1864 - 1922) người Thụy Điển đã đi xa

hơn Ratzel trong việc xác lập một lý thuyết ưu việt của chủng

tộc Đức và thuyết về bản tính con người đối với raum sinn.

Đáng chú ý hơn cả là trường phái Anh với Mackinder

(1861-1947) Mackinder cho rằng trên trái đất chỉ có một

phần lục địa quan trọng nhất, bao gồm toàn thể châu Á, châu

1

France, Paris 1955, pp 127, tr.14.

Trang 11

Âu, châu Phi Phần đất này ông gọi là Đảo thế giới (World Island) Trung tâm của Đảo thế giới là Địa tâm (Heartland).

Theo Mackinder, trái tim của toàn bộ châu Á, Phi, Âu chính

là Nga Vì vậy mới có một định đề nổi tiếng: “Ai nắm giữ Đông Âu chính là nắm giữ Địa tâm; ai nắm giữ Địa tâm thì chế ngự được Đảo thế giới; ai nắm giữ Đảo thế giới thì thống trị cả thế giới”1

Sở dĩ Mackinder coi nước Nga là Địa tâm bởi ông nhậnthấy tình trạng phân phối đất đai và biển cả là cơ sở hình

thành sự phân biệt căn bản giữa các hải quốc và lục quốc

Một quốc gia vừa nắm giữ thế lực về đất đai, vừa nắm giữ thếlực về biển cả sẽ làm bá chủ Nước Nga đáp ứng được nhữngđiều kiện trên Vì thế các quốc gia khác lo sợ người Nga mộtngày nào đó sẽ thống trị thế giới

Tư tưởng của Mackinder đã du nhập sang tận châu Mỹ.Spykman, một học giả Mỹ đã vận dụng học thuyết của

Mackinder để xác định địa - chính trị của Tân thế giới (New world) Ông căn cứ vào phương pháp đo vẽ bản đồ và đi đến

kết luận rằng vai trò của Mỹ cũng tương đồng với Liên Xô(cũ) Người Mỹ không chỉ nắm thế lực về đất đai mà còn

bành trướng mạnh ra đại dương

Chắc hẳn lý luận của Mackinder chịu ảnh hưởng củathuyết “châu Âu trung tâm” (Europe Centralism), xuất hiệnkhoảng đầu thế kỷ XIX Học thuyết này chỉ đứng vững trongthời điểm thực dân châu Âu làm mưa làm gió ở châu Á, Phi,

Mỹ La tinh Nhưng vào đầu thế kỷ XX, khi Mỹ trở thành một

1 Celerier.P, sđd, tr.15, 18

Trang 12

trung tâm quyền lực mới thì sự độc quyền chính trị thế giớicủa châu Âu đã chấm dứt, cũng chấm dứt luôn sự độc quyềncủa châu Âu về kinh tế, văn hóa và cả tiềm lực quân sự nữa.Ngày nay, thế giới đang diễn ra quá trình đa cực hóa Sự trỗidậy của Trung Quốc ở thế kỷ 21 để trở thành một trong cáctrung tâm quyền lực thế giới đang trở nên hiện thực Đối vớicác cường quốc lớn như Nga, Mỹ, Trung Quốc, địa lý chính trịbiến thành một “hướng dẫn viên” cho ý thức chính trị củaquốc gia Dù sao, quan điểm của Mackinder đã đặt cơ sở nềntảng cho việc xác định một khu vực quyền lực Trong sự vậnđộng biến đổi của lịch sử, các khu vực quyền lực ấy không có

ý nghĩa vĩnh hằng

Ngày nay, người ta hiểu địa - chính trị cụ thể hơn so vớicác quan điểm có tính nguyên lý trước kia Địa - chính trị củamột khu vực - về cơ bản - gồm hai nhóm nhân tố: nhóm nhân

tố ổn định và nhóm nhân tố biến đổi Các nhân tố ổn định baogồm diện tích lãnh thổ, địa hình, địa chất, vị trí lục địa, vị tríbiển, bờ biển, cảng, eo biển, đảo Các nhân tố này ảnhhưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của từngquốc gia trong khu vực hoặc toàn bộ khu vực Các nhân tốtrên còn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác địnhtầm vóc địa - chiến lược của khu vực trong quan hệ quốc tế.Các nhân tố biến đổi gồm có: tình trạng dân số, trình độ pháttriển kinh tế - xã hội, các thể chế chính trị Có thể kể thêmkhả năng tàng trữ và sử dụng vũ khí hạt nhân như một thứquyền lực đặc biệt Nếu quy về tiềm năng thì có thể coi nhómnhân tố ổn định và nhóm nhân tố biến đổi là hai tiềm năng -tiềm năng “bất biến” và tiềm năng “khả biến” của một khuvực nhất định

Trang 13

Có thể coi ĐNÁ cũng là một khu vực địa - chính trị quantrọng, vì nó nằm án ngữ trên trục giao tiếp Đông - Tây, từThái Bình Dương thông qua Ấn Độ Dương Khu vực này có cảcác quốc gia lục địa và quốc gia hải đảo Singapore là một hảicảng lớn nhất trong khu vực, trạm trung chuyển hàng hóa đicác nơi trên thế giới Nhiều cảng nước sâu như Cam Ranh(Việt Nam), Subic (Philippines) trở thành quân cảng quantrọng trong vùng Ngoài khơi Thái Bình Dương nhấp nhô rấtnhiều quần đảo, đây là những lá chắn có ý nghĩa to lớn

về quân sự trong việc kiểm soát đường hàng hải và bảo vệđất liền

Tóm lại, khu vực thoạt tiên là một khái niệm địa lý với

nội hàm biến đổi theo nhận thức của con người ở mỗi thờiđiểm lịch sử Tuy không có quy ước rõ ràng về không gian,

nhưng khu vực hàm chứa những hệ thống khác nhau về tự

nhiên, sinh thái và nhân văn Các hệ thống đó, đến lượt mìnhlại chia ra các phân hệ và phần tử để tạo thành một cấu trúckhu vực Mặc dù khu vực là một thực thể phức tạp với nhiều

hệ thống đa tầng như vậy, nhưng đặc trưng quan trọng nhấtcủa khu vực là tính lãnh thổ Từ đây, tùy theo đối tượng

nghiên cứu mà người ta có được các ngành hoặc các lĩnh vựckhoa học khác nhau, như khu vực địa lý, khu vực lịch sử, khuvực văn hóa, khu vực địa - chính trị

II NHỮNG LUẬN ĐIỂM CHỦ YẾU VỀ CHỦ NGHĨA KHU

VỰC

Lịch sử thế giới hiện đại đã chứng kiến không ít nhữngxung đột về tư tưởng, về quân sự giữa một nhóm nước hoặckhu vực, thậm chí trên phạm vi toàn thế giới Bên cạnh đó,lịch sử cũng từng ghi nhận những hình thức phong phú của sự

Trang 14

Somsakdi Xuto: Regional cooperation in Sotheast Asia, Problems

Oemanjadi Njiotowijono: Regionalism in Southeast Asia: Commitment or

hợp tác giữa các quốc gia, nhóm các quốc gia trong khu vực

Hợp tác, đối thoại và tranh chấp, xung đột là những đặc trưng

cơ bản trong quan hệ giữa các quốc gia có chủ quyền Đó là

hai dòng chảy rất phức tạp, làm nên diện mạo chính trị thế

giới, tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch sử Các quốc

gia hợp tác với nhau vì có chung lợi ích; đối đầu nhau vì lợi

ích các bên không trùng hợp Lợi ích càng khác nhau thì càng

khó hợp tác, thậm chí có thể dẫn đến xung đột quốc tế trong

trường hợp lợi ích các bên trở thành đối kháng

Sự hợp tác quốc tế về bản chất, cũng tự nhiên như xung

đột quốc tế vậy Đó là những hiện tượng khách quan trong đời

sống xã hội nhân loại Về nguyên tắc, hợp tác quốc tế chỉ

xuất hiện khi có ít nhất hai quốc gia, bất chấp vị trí địa lý, có

nhu cầu quan hệ song phương (bilateralism) - hình thức phổ

biến trong hợp tác quốc tế Tuy nhiên, khi có từ hai quốc gia

trở lên trong một khu vực cùng cam kết hợp tác, thì chúng ta

có sự hợp tác mang tính tiểu khu vực hoặc khu vực Dựa theo

lập luận này, Somsakdi Xuto, một học giả người Thái Lan đã

đồng nhất sự hợp tác khu vực (regional cooperation) với chủ

nghĩa khu vực (regionalism)1 Số học giả khác thì cho rằng,

chủ nghĩa khu vực là một quá trình hợp tác với những mục

tiêu lâu dài2; hoặc chủ nghĩa khu vực đơn thuần là các hình

thức hợp tác, vì thế mọi tổ chức khu vực và quốc tế như

1

Possibilities and Prospects Institute of Asian Studies, Faculty of political

Sciences, Chulalongkorn Uni., 1973, p.2.

2

Intergration? “Regionalism in Southeast Asia”, Center for Strategic and

International Studies, Jakarta 1974, pp 147-156.

Trang 15

Palmer N.D: The New Regionalism in Asia and Pacific Massachusetts,

SEATO, ASA, MAPHILINDO, ASPAC đều là những biểu

hiện của chủ nghĩa khu vực trong cả vùng châu Á – Thái Bình

Dương1 Đó là một số ý kiến trong rất nhiều trường hợp phổ

biến về sự không rõ ràng trong nhận thức khái niệm “chủ

nghĩa khu vực” Vậy chủ nghĩa khu vực là gì ?

Xét về mặt từ vựng, theo từ điển Anh - Nga, chủ nghĩa

khu vực (regionalism) có ba nghĩa: 1/ Sự phân chia thành khu

vực; 2/ Sự tạo thành khu vực; 3/ Tình trạng địa phương, cục

bộ Còn theo từ điển Pháp - Việt của Đào Duy Anh,

“regionalisme” cũng có ba nghĩa chính: 1/ Óc địa phương,

thiên kiến địa phương; 2/ Địa phương chủ nghĩa; 3/ Địa

phương phân trị chủ nghĩa Như vậy, theo Đào Duy Anh chủ

nghĩa khu vực là một khuynh hướng tư tưởng Còn cách hiểu

chủ nghĩa khu vực của các nhà biên soạn từ điển người Nga

thì đầy đủ hơn Vì họ quan niệm chủ nghĩa khu vực không đơn

thuần chỉ là khuynh hướng tư tưởng, mà còn là sự tạo lập, sự

phân chia khu vực về mặt địa lý

Một số Bách khoa toàn thư ở các nước trên thế giới

cũng đưa ra khái niệm về chủ nghĩa khu vực, nhưng đó là thứ

chủ nghĩa khu vực trong văn chương hoặc hội họa Chẳng

hạn, theo Collier’s Encyclopedia (Bernard Johnston, chủ biên,

xuất bản năm 1996), chủ nghĩa khu vực là một trào lưu văn

học Mỹ sau nội chiến, khắc họa các tính cách nhân vật và

khung cảnh thời đại chung theo đặc trưng vùng Bởi vì, sau

nội chiến 1861 – 1865, chủ nghĩa tư bản ở Mỹ phát triển

1

Lexington Books, 1991.

Trang 16

Buu Hoan: Regionalism: Limitation and Possibilities Lecture given at the

mạnh Văn minh công nghiệp châu Âu có cơ hội ồ ạt tràn

đến Lúc này, để đối chọi với “thời đại vật chất”, các nhà văn

Mỹ bắt đầu chú ý thể hiện các khía cạnh sinh hoạt đời thường

trong lối sống của người châu Mỹ Đấy là nguyên nhân sinh

ra thứ chủ nghĩa khu vực trong văn chương Còn chủ nghĩa

khu vực trong hội họa được Bách khoa toàn thư Xô viết (xuất

bản năm 1987) giới thiệu là một trào lưu hội họa châu Mỹ,

xuất hiện từ những năm 30 Mô típ chủ yếu của trường phái

này bao gồm các phong cảnh châu Mỹ cùng lối sống sinh hoạt

của con người sống trên vùng đất này

Còn ở góc độ chính trị học, thì do tính chất phức tạp của đối

tượng nghiên cứu đã dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau và các

quan điểm này thường không đầy đủ Rải rác đây đó xuất hiện vài

định nghĩa hạn chế trên một phương diện nào đó của chủ nghĩa

khu vực Như việc coi rằng, chủ nghĩa khu vực là sự liên lập có tổ

chức (organized interdependence) dựa trên tính gần gũi về địa lý1

Quan điểm này xác đáng một phần bởi trên thực tế, các quốc gia

gần gũi nhau về địa lý thường hay chia sẻ những vấn đề chung

trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị hay văn hóa, quân sự Các dân

tộc đó bị cuốn hút bởi các khuynh hướng hợp tác khu vực Các

khuynh hướng này như một sự lựa chọn hiệu quả và ấn tượng

trong việc giải quyết các vấn đề khu vực nói chung Tuy nhiên, tự

thân yếu tố địa lý không trở thành cái quan trọng nhất quy định

khuynh hướng hợp tác Lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại đã từng

biết đến một số quốc gia cùng một lúc là thành viên của nhiều hệ

1

Seminar on “Beyond Nationalism” organized by the Press Foundation of

Asia, Bankok, Thailand, Oc., 15 th 1968, p.1.

Trang 17

Alvarez.A: La reforme du pacte de la societe des Nations surdes bases

Yalem R.J: Regionalism and World order Public Affairs Press, Washington D.C, Nguyễn Ngọc Bình: Về chủ nghĩa khu vực Tạp chí Quan hệ quốc te,á số 7/1992,

thống khu vực khác nhau Thí dụ, nước Pháp là hội viên của khối

“Hiệp ước Brussels”; “Tổ chức hiệp ước Bắc - Đại Tây dương”

(NATO), “Cộng đồng than, thép châu Âu” (ECSC) Quan hệ quốc

tế hiện đại cũng từng biết đến nhiều quốc gia khơng dính dáng

đến nhau về mặt địa lý nhưng vẫn cùng đứng trong một hệ thống

như khối “Thịnh vượng chung” của Anh quốc (Common Wealth),

“Hội đồng châu Á và Thái Bình Dương” (ASPAC), “Tổ chức các

nước xuất khẩu dầu mỏ” (OPEC) Tình hình rắc rối đến độ

Alejandro Alvarez, nguyên luật sư của Tịa án tư pháp quốc tế

cho rằng: “Khơng cĩ quy tắc nào để xác định các khu vực Sự hiện

hữu của chúng là do các trường hợp và đặc biệt là do sự thỏa hiệp

giữa các quốc gia cấu tạo nên chúng” “Các khu vực được cấu tạo

do một số các quốc gia nào đĩ cĩ liên hệ về nhân chủng, cơ cấu tổ

chức hoặc trên hết, về quyền lợi chính trị”1

Ngồi một số ý kiến nhấn mạnh đến yếu tố địa lý trong

thành phần chủ nghĩa khu vực cịn cĩ các ý kiến khác gắn chủ

nghĩa khu vực với yếu tố an ninh và trật tự thế giới2 Cĩ tác giả

coi chủ nghĩa khu vực “như là một bộ phận cấu thành của hệ

thống quan hệ quốc tế hiện nay, phản ánh một giai đoạn phát

triển mới về kinh tế - xã hội, chính trị và khả năng phối hợp

hành động của các nước, nhất là các nước đang phát triển để

bảo vệ quyền lợi quốc gia của mình”3

1

contineutales et regionales “International organization” edited by Normal Hill,

New York, Haper and Bross, 1952, tr.87.

2

1965, tr 6-37.

3

tr.13.

Trang 18

Những nhận thức chung chung về chủ nghĩa khu vực nhưvậy chưa làm sáng tỏ được những vấn đề thuộc tính của nó nhưnguồn gốc, nội dung, chức năng, vai trò của chủ nghĩa khu vựctrong đời sống xã hội quốc tế nói chung và cả những hình thứcbiến đổi của nó trong những điều kiện lịch sử cụ thể Muốn nhậnthức một cách căn cơ về chủ nghĩa khu vực - theo chúng tôi -phải có thế giới quan duy vật biện chứng Bởi lẽ, chủ nghĩa khuvực với tư cách là một hiện tượng trong đời sống chính trị - xãhội quốc tế phải có căn nguyên lịch sử.

Căn nguyên lịch sử đầu tiên của chủ nghĩa khu vực làviệc hình thành các cộng đồng văn minh, vốn xảy ra ở cácgiai đoạn lịch sử cổ - trung đại thế giới Trên quãng thời giandằng dặc như thế, rất nhiều các cộng đồng văn minh có tínhkhu vực được hình thành Hãy lấy cộng đồng văn minh HyLạp cổ đại làm thí dụ: vào khoảng thế kỷ VIII-VII trước côngnguyên, người Hy Lạp đã xây dựng lên các thành bang của

mình (Polis) Sự di cư của người Hy Lạp theo các hướng tây,

nam, đông, bắc đã kéo theo sự xuất hiện các thành bang HyLạp ở Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Ai Cập, Libi, ven bờ Địa TrungHải, Hắc Hải Mặc dù các thành bang này độc lập với nhau

về chính trị, kinh tế, phong tục tập quán, thậm chí cả tín

ngưỡng tôn giáo nhưng chúng vẫn là một cộng đồng thốngnhất Giữa chúng vẫn có những mối liên kết về kinh tế, chínhtrị, văn hóa nhất định Đại hội điền kinh Olympiad và các mốiquan hệ thương mại giữa các thành bang Hy Lạp là nhữngminh chứng thuyết phục về tính cộng đồng thống nhất ấy Chonên có thể nói, tất cả các thành bang Hy Lạp cổ đại đã tạothành một khu vực Khu vực này bị tan rã cùng với sự lụi tàncủa văn minh Hy Lạp trong những thế kỷ gần Công nguyên

Trang 19

Trường hợp đế quốc Ảrập (630-1258) cũng xứng đáng

là một điển hình Đây là một đế quốc có lãnh thổ trải dài suốt

từ Đông sang Tây, bao gồm cả ba lục địa châu Á, châu Phi,châu Âu Trải qua hơn sáu thế kỷ tồn tại, nó đã hình thành ramột khu vực Hồi giáo; có thể gọi là thế giới Hồi giáo Trừ thế

kỷ VIII, khi chính quyền trung ương vững mạnh, đế quốc Hồigiáo Ảrập là một quốc gia thống nhất Các thế kỷ còn lại, nóchỉ là một liên minh chính trị của các quốc gia bị người Hồigiáo Ảrập thôn tính Dù sao, liên minh chính trị này vẫn đảmbảo duy trì một cộng đồng Hồi giáo với các mối quan hệ kinh

tế, văn hóa thường xuyên, tạo ra một ranh giới khu biệt đếquốc Ảrập với các khu vực khác

Như vậy, khuynh hướng khu vực hóa đã từng tồn tạitrong lịch sử nhưng có thể chưa được nhận thức Trong thếgiới cổ - trung đại, khuynh hướng này biểu hiện chủ yếu dướidạng hình thành một cộng đồng văn hoá, văn minh

Căn nguyên lịch sử thứ hai của chủ nghĩa khu vực là sựhình thành và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa Trong khi các quốc gia - dân tộc ở phương Đông xuấthiện từ rất sớm thì ở phương Tây, đến thời đại tư bản chủ

nghĩa, các quốc gia - dân tộc tư sản mới hình thành, đồng thờicũng hình thành luôn thị trường quốc gia dân tộc của họ

Trong quá trình tồn tại và phát triển, chủ nghĩa tư bản đã kếtnối hầu hết các quốc gia - dân tộc trên thế giới vào một thịtrường chung thống nhất Bằng các cuộc chiến tranh xâm lượccướp bóc thuộc địa và việc áp đặt các mối quan hệ bất bìnhđẳng giữa các dân tộc, chủ nghĩa tư bản đã làm nảy sinh cácvấn đề vừa mang tính toàn cầu, vừa mang tính khu vực Đếnđây, chúng ta cần khảo cứu ba hiện tượng có quan hệ mật

Trang 20

thiết với nhau trong quan hệ quốc tế Đó là chủ nghĩa quốcgia, chủ nghĩa toàn cầu và chủ nghĩa khu vực.

III CHỦ NGHĨA QUỐC GIA (NATIONALISM)

Trên bình diện công pháp quốc tế, quốc gia được hiểunhư là một cộng đồng chính trị - xã hội, có chủ quyền thiêngliêng về lãnh thổ, độc lập về chính trị và bình đẳng trongquan hệ quốc tế Sự tạo lập quốc gia nhất thiết phải có ba yếu

tố căn bản : 1/ cộng đồng dân cư; 2/ lãnh thổ; 3/ chủ quyền tức một quyền uy chính trị khả dĩ đủ năng lực để đối nội, đốingoại1 Ở phương Đông, do các quốc gia xuất hiện sớm nênnội dung của chủ nghĩa quốc gia - theo chúng tôi - là trùng vớichủ nghĩa yêu nước, đó là tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức bảo

-vệ những quyền lợi quốc gia - dân tộc vốn thiêng liêng và bấtkhả xâm phạm Trước tiên là quyền độc lập về chính trị, toànvẹn về lãnh thổ Chủ nghĩa quốc gia, vì thế, trở thành nhữngnguyên tắc trong bang giao quốc tế Nhưng cũng cần phải lưu

ý rằng, ở phương Đông không chỉ tồn tại thứ chủ nghĩa quốcgia dân tộc chân chính như trên mà còn có nhiều chủ nghĩaquốc gia dân tộc mang tính sô-vanh lớn, nhỏ (đại bá, tiểu bá).Còn ở phương Tây, việc hình thành các quốc gia - dân tộc mớichỉ xảy ra trong vài ba thế kỷ về trước, lại trùng vào thờiđiểm phát triển của chủ nghĩa tư bản, nên chủ nghĩa quốc gia

dân tộc ở phương Tây thực chất là thứ chủ nghĩa quốc gia

-dân tộc tư sản Vì thế, Từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết

đã đưa ra một định nghĩa căn bản như sau: “Chủ nghĩa quốc gia (dân tộc) là hệ tư tưởng và đường lối chính trị của giai cấp

1Tăng Kim Đông: Quốc tế công pháp, quyển II, Sài Gòn 1972, tr.15.

Trang 21

tư sản, tiểu tư sản, đồng thời cũng là tâm lý trong vấn đề dân tộc, đối lập với chủ nghĩa quốc tế vô sản Nền tảng cơ sở của chủ nghĩa quốc gia là tư tưởng về tính vượt trội, siêu việt của một dân tộc, tính chất ngoại lệ của một hình thức cộng đồng siêu giai cấp Chủ nghĩa quốc gia trở thành ngọn cờ của giai cấp tư sản chống chế độ phong kiến Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, chủ nghĩa quốc gia có mối quan hệ mật thiết với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Trong chủ nghĩa quốc gia của các dân tộc bị áp bức có cả nội dung dân chủ lẫn các khía cạnh phản động Chủ nghĩa xã hội đã tạo ra những điều kiện

để vượt qua chủ nghĩa quốc gia, thủ tiêu sự áp bức và đối kháng dân tộc” Như vậy, chủ nghĩa quốc gia là một khái

niệm có tính lịch sử, phản ánh những biến đổi trong sự pháttriển lịch sử của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại

Điểm lại lịch sử cận đại chúng ta thấy có sự thay đổitrong quan niệm về quốc gia Các cuộc cách mạng tư sản

trong thời kỳ này đã dẫn đến sự cáo chung chế độ phong kiến

ở Tây Âu Phần lớn các vương quốc không còn nữa Các hìnhthức tổ chức quốc gia tư sản ở Tây Âu dần dần mang tính phổquát toàn thế giới Quốc gia bây giờ là một cộng đồng chínhtrị - xã hội, đáp ứng nguyện vọng, quyền lợi của toàn dân.Quốc gia đã trở thành nền tảng của cơ cấu chính trị - xã hội

quốc tế Vì thế, nguyên tắc “dân tộc tự chủ” (le principe des nationalités) đã xuất hiện trong bang giao quốc tế 1 Nhưngtheo khuynh hướng tự nhiên, các quốc gia mạnh thường tự cho

mình quyền bành trướng hoặc sô-vanh nước lớn (chauvinism).

Từ đó nảy sinh khá nhiều học thuyết về chủ nghĩa quốc gia

1 Tăng Kim Đông, sđd, tr 39.

Trang 22

Những người theo chủ nghĩa quốc gia - dân tộc tư sản lý giảirằng, dân tộc là một hình thức cộng đồng siêu giai cấp Dophẩm chất ưu việt của một số dân tộc đặc biệt mà họ trở nênvăn minh hơn các dân tộc khác Vì thế, họ có bổn phận “khaihóa” cho các dân tộc kém phát triển ở các thuộc địa và phụthuộc Cụ thể như trường hợp dân tộc Đức Trước Đại chiến

thế giới thứ hai, người Đức có thứ chủ nghĩa quốc xã (la

doctrine nationale - socialiste) Dựa trên ý niệm về ưu thế tự

nhiên của nòi giống Đức và khả năng thấp kém bẩm sinh củacác chủng tộc khác, những nhà tư tưởng của Đức quốc xã đãchia thế giới ra làm hai loại quốc gia cơ bản: quốc gia lãnh đạo

(reich) và quốc gia lệ thuộc (neben - lander)1 Những loại họcthuyết này trở thành kẻ dọn đường cho chiến tranh đế quốc.Những người mác xít quan niệm quốc gia chỉ tồn tại trong

giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” V.I Lênin đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa cộng

sản có hai giai đoạn Ở giai đoạn đầu (giai đoạn quá độ) giai cấp

vô sản thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản của mình Điều

đó cũng có nghĩa là giai cấp vô sản xây dựng một nhà nước xãhội chủ nghĩa Nhưng khi chế độ cộng sản chủ nghĩa được hoànthành thì nhà nước chuyên chính vô sản cũng tiêu vong2 Lúc đó,quốc gia Xô viết - nếu vẫn còn là quốc gia - sẽ trở thành một

cộng hòa thế giới (une république mondiale).

Đối với các dân tộc nhỏ bé, chủ nghĩa quốc gia hàm

chứa những nguyên tắc về quyền bình đẳng và quyền tự

1

2 Tăng Kim Đông, sđd, tr 49

V.I Lênin: Nhà nước và cách mạng Nxb Sự thật, H.1970, tr 11-54.

Trang 23

quyết dân tộc Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc kéodài hàng thế kỷ chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quốc gia

ở đây còn mang cả sắc thái bài thực Di sản nặng nề của chủnghĩa thực dân đã khuyến khích tinh thần quốc gia dân tộc ởcác nước vốn là thuộc địa cũ, đẩy chủ nghĩa quốc gia ở đâynhiều khi tới mức cực đoan Điều này gây rất nhiều trở ngạitrong bang giao quốc tế, kể cả quan hệ song phương hoặc đaphương Vì thế, chủ nghĩa quốc gia luôn có quan hệ mật thiếtvới chủ nghĩa khu vực và chủ nghĩa toàn cầu

IV CHỦ NGHĨA TOÀN CẦØU (GLOBALISM)

Trên bình diện lịch sử, những tiền đề của việc toàn cầuhóa chắc hẳn bắt đầu hình thành bởi những phát kiến địa lý,xảy ra ở cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI Nhờ có phát kiếnđịa lý mà hệ thống thực dân địa của bọn quý tộc và lái buônphương Tây dần dần được hình thành, góp phần thúc đẩy

quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển Mác đã nhậnxét rằng, hệ thống thực dân địa này đảm bảo cho những côngtrường thủ công mới mở có những nơi tiêu thụ và tích lũy

được thuận tiện gấp bội Nhờ có độc quyền trên thị trườngthuộc địa, những của cải trực tiếp cướp bóc được ở ngoài châu

Âu chảy dồn về chính quốc để làm tư bản1 Chủ nghĩa tư bảnphải trải qua hàng trăm năm vừa đấu tranh chống chế độ

phong kiến, vừa tiến hành tích lũy tư bản nguyên thủy Saucách mạng 1848-1849 ở châu Âu, cải cách nông nô ở Nga(1861) và sự thống nhất của hai quốc gia Ý (1870), Đức

(1871), chủ nghĩa tư bản đã thực sự trở thành hệ thống thế

1Mác – Ănghen tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, H 1980, tr 276.

Trang 24

giới Xu hướng toàn cầu hóa đã được khẳng định Xu hướngnày được phản ánh trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, về chính trị: đến thời điểm này, chủ nghĩa tư

bản đã phát triển đến giai đoạn chuyển sang chủ nghĩa tư bản

độc quyền (monopoly) còn gọi là giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Trong tác phẩm nổi tiếng “chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” V.I Lênin đã khái quát năm đặc

điểm lớn của chủ nghĩa đế quốc1; trong đó ông nhấn mạnhđến tình trạng độc quyền trong đời sống kinh tế-xã hội, tìnhtrạng xuất khẩu tư bản và việc hình thành các liên minh độcquyền tư bản nhằm phân chia lại thị trường thế giới Từ nửasau thế kỷ XIX các nước tư bản như Anh, Pháp, Mỹ, Đức,Nhật, Hà Lan dần dần hoàn thành việc xâm chiếm và phânchia thuộc địa ở khắp nơi trên thế giới Ở châu Á, thực dânAnh chiếm Ấn Độ, Mã Lai, Miến Điện; thực dân Pháp độcchiếm Đông Dương Riêng Thái Lan trở thành vùng tranhchấp ảnh hưởng giữa Anh và Pháp Ở châu Phi, các vùng đấtdọc bờ biển trở thành miếng mồi trước tiên cho thực dânphương Tây Đến cuối thế kỷ XIX thì hầu hết đất đai châu Phi

bị các đế quốc Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Bồ Đào Nha xâu xé.Riêng các nước Mỹ La tinh sau mấy trăm năm chịu ách thốngtrị của thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, đến đầu thế kỷ

XX bị lệ thuộc vào đế quốc Mỹ Nhưng do sự phát triểnkhông đều của chủ nghĩa tư bản, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX xuất hiện sự thay đổi trong cán cân so sánh lực lượng giữacác đế quốc Một số đế quốc mới trở nên hùng mạnh như Mỹ,

1 V.I Lênin: toàn tập, tập 27 Nxb Tiến bộ Mátxcơva 1981, tr 383-541.

Trang 25

Đức, Nhật rất cần thuộc địa Họ đã tiến hành các cuộc chiếntranh riêng lẻ nhằm phân chia lại thế giới Cuộc chiến tranhgiữa Mỹ và Tây Ban Nha năm 1898 đã dẫn đến việc Mỹ tướcđoạt Cuba và Philippines từ tây Tây Ban Nha Sau đĩ là chiếntranh Anh - Bơer (1899 - 1902) ở Nam Phi; cuộc can thiệp vũtrang của tám nước đế quốc vào Trung Quốc (1900); Chiếntranh Nga - Nhật (1904 - 1905) …

Như vậy, bước sang thế kỷ XX, vấn đề thuộc địa đã trởthành một vấn đề tồn cầu của chủ nghĩa đế quốc Vấn đề

này đã được quốc tế hĩa Chủ nghĩa đế quốc đã xâu chuỗihầu hết số phận các quốc gia, dân tộc trong một vịng tranhđấu quyền lực chính trị do các nước đế quốc thao túng Chiếntranh thế giới thứ nhất đã lơi kéo 38 quốc gia và rất nhiều

thuộc địa chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề tồn cầu củachủ nghĩa đế quốc

Thứ hai, về kinh tế: hệ thống kinh tế thế giới tư bản chủ

nghĩa đã hình thành, bao gồm tồn bợ nền kinh tế quốc dâncủa các nước tư bản chủ nghĩa và thuộc địa của chúng Do sựphát triển của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa mà hìnhthành sự phân cơng quốc tế tư bản chủ nghĩa Các nước tư bảnchủ nghĩa và thuộc địa của chúng vì thế biến thành các khâucủa nền kinh tế thế giới thống nhất Nhưng sự thống nhất ấymang tính đế quốc chủ nghĩa nên tạo ra sự phân cơng quốc tếphiến diện Những nước thuộc địa và phụ thuộc vốn là cácnước nơng nghiệp, phụ thuộc chặt chẽ vào nền kinh tế củacác nước cơng nghiệp phát triển Mặt khác, sự phân cơng

quơc tế tư bản chủ nghĩa lại diễn ra trong tình trạng cạnh

tranh gay gắt giữa các xí nghiệp tư bản chủ nghĩa ở chính

quốc cũng như ở thuộc địa Vì thế kinh tế thế giới tư bản

Trang 26

chủ nghĩa thường trải qua các chu kỳ khủng hoảng mang tínhtoàn cầu.

Thứ ba, về xã hội: khi chủ nghĩa đế quốc tiến hành

chiến tranh xâm lược thôn tính thuộc địa, biến thuộc địa thànhnơi tiêu thụ hàng hóa, nơi cung cấp nguyên liệu cho sản xuất

ở chính quốc, thì nó cũng phá vỡ luôn các xã hội truyền thốngcủa dân bản xứ Các nước đế quốc thi hành chính sách thựcdân trong tất cả các lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa tư

tưởng, hòng xiết chặt sự cai trị của chúng Vì thế, trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản, Mác và Ăngghen đã viết: “Vì luôn luôn

bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ mới, giai cấp tư sản xâm lấn khắp hoàn cầu; nó phải xâm nhập vào khắp nơi, khai thác khắp nơi và thiết lập các mối liên hệ ở khắp nơi”.

Kết quả là nền công nghiệp truyền thống ở các thuộc địa bịmất cơ sở dân tộc, không còn khả năng tồn tại Giai cấp tư sản

đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của các nước mang tính chấttoàn thế giới1 Các dân tộc thuộc địa ngày càng trở nên nghèođói, bị bóc lột thậm tệ cũng trở thành hiện tượng toàn thếgiới Nền văn hóa của họ bị tổn thất và lai căng văn hóaphương Tây (tất nhiên ở đây không loại trừ việc hấp thụnhững tinh hoa giữa các nền văn hóa) Những biến động xãhội có tính lịch sử đó đã tạo nên một tâm thức bài thực dântrong tất cả các dân tộc thuộc địa Đây cũng là vấn đề có tínhchất toàn cầu, gắn bó số phận của các dân tộc nhược tiểucùng đứng chung một chiến hào chống chủ nghĩa đế quốc.Như vậy, theo những phân tích trên, khuynh hướng toàn

1 Mác – Ănghen tuyển tập, tập 1, sđd, tr.545.

Trang 27

cầu hóa trong tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội

đã đặt ra các vấn đề cần giải quyết ở cấp độ quốc tế rộng lớn.Điều này, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của duy nhấtcường quốc nào Chủ nghĩa toàn cầu đã trở thành một khuynhhướng nhận thức, một hệ nguyên tắc nhằm giải quyết các vấn

đề nhân loại trong thế kỷ XX Nó được biểu hiẹân qua một tổchức toàn cầu tiêu biểu đầu tiên là “Hội Quốc liên”, thànhlập vào năm 1919 Ban đầu, Hội Quốc liên thu nhận khoảng

20 quốc gia, nhưng đến năm 1932 số hội viên đạt tới con số

60 Hội Quốc liên là một tổ chức chính trị quốc tế, xuất hiệnsau chiến tranh thế giới thứ nhất Hiến ước Hội Quốc liên

gồm 26 điều khoản, khởi sự bằng một lời nói đầu rất quantrọng, tuyên bố những nguyên tắc hoạt động căn bản của nó

Đó là những cam kết khuyến khích sự hợp tác quốc tế nhằmkiến tạo nền hòa bình và an ninh quốc tế; chấp nhận nhữngnghĩa vụ không gây chiến tranh; quy tắc bang giao cởi mở,công bằng; duy trì và triệt để tôn trọng các nghĩa vụ được quyđịnh trong các hiệp ước bang giao giữa các dân tộc Đặc biệt,Hiến ước Hội quốc liên đã yêu cầu các quốc gia thành viên

“củng cố sự công nhạân quốc tế công pháp như một nguyên tắc thực sự trong việc cư xử giữa các chính phủ”.

Để thực hiện mục đích, tôn chỉ và cam kết của mình,Hội Quốc liên đã thành lập ra các cơ quan căn bản thườngtrực và các cơ quan chuyên môn Cơ quan căn bản thường trực

gồm có Đại hội đồng (Assemble), Hội đồng (Conseil), Văn phòng Tổng thư ký (Secretariat General) Các cơ quan chuyên

môn gồm nhiều bộ phận như: Pháp viện thường trực quốc tế,

Trang 28

Tổ chức lao động quốc tế 1 Hoạt động của Hội Quốc liênxoay quanh mục tiêu hạn chế quyền khai chiến và tôn trọngcác quy luật quốc tế, ngõ hầu bảo đảm nền hòa bình thế giới

và sự an ninh của các quốc gia Vì thế, những biện pháp nhưtài giảm binh bị (điều 8), chấp nhận sự can thiệp của Đại hộiđồng, Hội đồng, trong trường hợp có chiến tranh hoặc có đedọa chiến tranh (điều 11) đã được ghi nhận trong Hiến ước

Sự ra đời và tồn tại của Hội Quốc liên (1919-1946) đánhdấu một bước quan trọng trong việc nhận thức về chủ nghĩatoàn cầu Đường lối hòa bình và an ninh thế giới cùng vớinhững hoạt động thực tiễn của Hội Quốc liên đã đóng vai tròquan trọng trong việc hình thành tổ chức Liên hiệp quốcsau này

Những nguyên nhân thất bại của Hội Quốc liên đềuxuất phát từ chỗ các đường lối, nguyên tắc quốc tế mà tổ chứcquốc tế này đề ra bị phá hoại Sự xuất hiện chủ nghĩa phát xítcùng với việc phát động chiến tranh phát xít thôn tính các dântộc đã phá vỡ những điều khoản căn bản nhất của Hiến ước.Bên cạnh đó, số lượng thành viên của Hội Quốc liên còn ít vìnhiều quốc gia không muốn gia nhập Đặc biệt tổ chức nàychưa quy tụ được tất cả các cường quốc Mỹ không gia nhập

vì thượng viện Mỹ từ chối việc phê chuẩn Hiến ước CònLiên Xô được thâu nhận vào năm 1934 nhưng bị khai trừ năm

1939 do xảy ra xung đột với Phần Lan Tuy nhiên, trên tinhthần công bằng, dân chủ, Hiến ước Hội Quốc liên đã thực sựlấy nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia làm nền tảng

1 Tăng Kim Đông, sđd, tr 355.

Trang 29

Các cường quốc bị mất uy quyền lãnh đạo Điều này giải

thích việc sắp đặt vị trí nước lớn của Liên Xô (cũ), Mỹ, Anh,Pháp, Trung Quốc trong tổ chức Liên hiệp quốc sau này

Khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Hội Quốc liênkhông còn mang ý nghĩa là một công cụ thực hiện đường lốihòa bình và an ninh quốc tế nữa Tuy vậy, nhiều cá nhân,

đoàn thể quần chúng ở châu Âu, châu Mỹ và các nước đồngminh vẫn thấy cần thiết có một tổ chức chính trị quốc tế đồngtôn chỉ, mục đích với Hội Quốc liên; nhưng có quy mô to lớnhơn, tầm cỡ hoạt động rộng lớn hơn, hữu hiệu hơn Vì thế,

trong “Hiến chương Đại Tây Dương” (Charte de l’Atlantique)

ngày 14/8/1941, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt và Thủtướng Anh Winston Churchill đã nói đến việc thành lập một

hệ thống an ninh toàn thể rộng lớn và có tính cách thườngxuyên Lời tuyên bố này sau đó được đại diện của 26 quốc giaxác nhận trong “Tuyên ngôn Liên hiệp quốc” ngày

01/01/1942 Kế đến là “Tuyên ngôn Mátxcơva” của tứ cườngAnh, Mỹ, Liên Xô (cũ), Trung Hoa Dân quốc vào tháng

10/1943 về tương lai của Liên hiệp quốc

Tại hội nghị San Francisco, họp từ 25/4 đến 26/6/1945,đại diện của 50 quốc gia phe đồng minh chống phát xít đãthông qua bản Hiến chương Liên hiệp quốc Đây là một hiệpước đa phương quan trọng nhằm duy trì nền hòa bình và anninh thế giới; khuếch trương bang giao giữa các quốc gia trêntinh thần dân tộc bình quyền và dân tộc tự quyết; thực hiện

sự hợp tác quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa hoặc nhân sinhbằng cách khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền và các

quyền tự do căn bản của con người Như vậy Liên hiệp quốctrở thành trung tâm điểm điều hòa hành động của các quốc

Trang 30

gia, theo những nguyên tắc căn bản như:

1 Liên hiệp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bìnhđẳng, chủ quyền của tất cả các nước thành viên

2 Tất cả các nước thành viên của Liên hiệp quốc phảilàm tròn những nghĩa vụ mà họ đảm nhận, chiếu theo Hiếnchương để được bảo đảm hưởng toàn bộ các quyền ưu đãi do

tư cách thành viên mà có

3 Tất cả các thành viên Liên hiệp quốc giải quyết cáctranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình, sao chokhông tổn hại đến hòa bình, an ninh quốc tế và công lý

4 Tất cả các thành viên Liên hiệp quốc từ bỏ sự đe dọabằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằmchống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lậpchính trị của bất cứ quốc gia nào, cũng như bằng cách kháctrái với những mục đích của Liên hiệp quốc

5 Tất cả các thành viên của Liên hiệp quốc giúp đỡđầy đủ cho Liên hiệp quốc trong mọi hành động mà nó ápdụng theo đúng Hiến chương và tránh giúp đỡ bất cứ quốc gianào bị Liên hiệp quốc áp dụng các hành động phòng ngừahoặc cưỡng chế

6 Liên hiệp quốc làm thế nào để các quốc gia khôngphải là thành viên Liên hiệp quốc cũng hành động theo nhữngnguyên tắc này, nếu như điều đó cần thiết đểø duy trì hòa bình

và an ninh quốc tế

7 Hiến chương này hoàn toàn không cho phép Liênhiệp quốc được can thiệp vào những công việc thực chấtthuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào và không

Trang 31

Nguyễn Xuân Linh: Một số vấn đề cơ bản về luật quốc tế Nxb TP Hồ

địi hỏi các thành viên đưa những cơng việc loại này ra giải

quyết theo quy định của Hiến chương1

Đối chiếu những nguyên tắc trên với tình trạng thơn tính

thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế

kỷ XX mới thấy rõ tầm vĩc của những biến đổi lớn lao trong

đời sống chính trị quốc tế Bản Hiến chương Liên hiệp quốc

trở thành một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để điều

chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng thế giới Theo tinh

thần và nội dung bản Hiến chương này, một loạt các biện

pháp nhằm tài giảm binh bị, ngăn ngừa chiến tranh, phát triển

các quan hệ hợp tác về kinh tế, xã hội giữa các dân tộc đã

được ghi nhân đầy đủ hơn rất nhiều so với Hiến ước Hội Quốc

liên Cĩ thể nĩi, tổ chức Liên hiệp quốc là biểu hiện sinh

động của chủ nghĩa tồn cầu, đã được các dân tộc nhận thức

sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai Tuy nhiên, tình

hình phức tạp trong quan hệ quốc tế sau năm 1945 đã khơng

cho phép Liên hiệp quốc cĩ thể kiến tạo một nền hịa bình và

an ninh cho các dân tộc như tơn chỉ, mục đích và các nguyên

tắc ghi trong bản Hiến chương của mình Trái lại, thế giới

chuyển sang một tình thế mới do sự hình thành trật tự thế giới

hai cực Sau này, sự sụp đổ của Liên Xơ và các nước xã hội

chủ nghĩa Đơng Âu cũ vào thập niên 90 đồng thời cũng là sự

tan rã của “hệ thống lưỡng cực Yalta” vốn tồn tại gần nửa thế

kỷ Nhưng dù mọi biến động chính trị quốc tế cĩ to lớn đến

chừng nào cũng khơng ngăn nổi xu hướng tồn cầu hĩa trên

hầu khắp các lãnh vực của đời sống xã hội quốc tế Đặc biệt

1

Chí Minh, 1995, tr 169-170.

Trang 32

sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệđang làm thay đổi dần các khái niệm về độc lập, chủ quyền,

an ninh; đặt ra các vấn đề về môi sinh, môi trường, ý nghĩacủa sự phát triển, tiến bộ xã hội đối với toàn nhân loại

Như vậy, chủ nghĩa toàn cầu hình thành cùng với quátrình phát triển của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thếgiới Chính quá trình này đã làm nảy sinh những vấn đề toàncầu cần phải giải quyết ở khắp các bình diện an ninh - chínhtrị, kinh tế, văn hóa - xã hội Việc giải quyết các vấn đề trênđòi hỏi cộng đồng quốc tế phải có những công cụ điều phối

và các nguyên tắc hoạt động (Hội Quốc liên, Liên hiệp quốc,Hiến ước, Hiến chương của các tổ chức này) Chủ nghĩa toàncầu là một khuynh hướng phát triển, thể hiện ý chí, nguyệnvọng hợp tác, nguyên tắc hợp tác của toàn thể các dân tộctrên thế giới, vì nền hòa bình và an ninh quốc tế, vì sự côngbằng và tiến bộ xã hội, vì trách nhiệm chia sẻ những vấn đềnảy sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người

V CHỦ NGHĨA KHU VỰC (REGIONALISM)

Trên đây, chúng ta đã đề cập đến chủ nghĩa quốc gia vàchủ nghĩa toàn cầu trên phương diẹân lịch sử Vẫn trên phươngdiẹân này, chúng ta sẽ thấy chủ nghĩa khu vực cũng là mộthiẹân tượng tất yếu của quá trình phát triển lịch sử nhân loại.Khi chủ nghĩa tư bản đã nối kết hầu toàn bộ thế giới vào mộtthị trường thống nhất thì nó đồng thời xóa bỏ dần các ngăncách về chính trị, kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia dân tộc

Từ đây xuất hiện các vấn đề “siêu quốc gia”, trong phạm vikhu vực và thế giới Đối với các khu vực khác nhau trên thếgiới thì quá trình hình thành chủ nghĩa khu vực, nội dung chủ

Trang 33

1945-1995: Liên hiệp quốc để làm gì? Người đưa tin UNESCO, số

nghĩa khu vực cũng khác nhau; mặc dù chủ nghĩa khu vực là

một khái niệm chung Muốn làm sáng tỏ vấn đề này, cần xuất

phát từ chính chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa tồn cầu vừa

được xem xét

Như đã biết, tổ chức Liên hiệp quốc là một biểu hiện

sinh động, điển hình của chủ nghĩa tồn cầu Từ khi ra đời, tổ

chức này đã phải đối chọi với những vấn đề lớn của tồn

nhân loại như các cuộc xung đột xảy ra ở hầu khắp các châu

lục1 Xung đột lớn đầu tiên là cuộc phong tỏa Berlin từ tháng

6/1948 đến tháng 5/1949 giữa Liên Xơ (cũ) với liên quân

Anh, Pháp, Mỹ, được Liên hiệp quốc giải quyết rốt ráo bằng

hình thức hiệp thương giữa các bên liên quan Tháng 6 /1950,

chiến tranh Triều Tiên bùng nổ Hội đồng Bảo an Liên hiệp

quốc đã thành lập một lực lượng quân sự quốc tế gồm 16 quốcgia tham dự, phối hợp tác chiến với lực lượng quân sự Nam

Triều Tiên Ngày 27/7/1953, các bên ký hiệp định đình chiến,

chấm dứt chiến tranh Sau những biến cố trên, đến lượt các

cuợc “khủng hoảng Cơng - gơ (1960-1961)”, “khủng hoảng

tên lửa ở Cuba (1962)” đều được Liên hiệp quốc giải quyết

thành cơng tốt đẹp Những thành tựu trên của Liên hiệp quốc,

mặc dù được cộng đồng thế giới ghi nhận, vẫn khơng khỏa

lấp được một sự thật hiển hiện là: những nguyên tắc tốt đẹp

của Hiến chương Liên hiệp quốc về quyền bình đẳng, sự cơng

bằng, cơng lý giữa các dân tộc nhiều khi chỉ là những từ ngữ

hoa mỹ Tổ chức Liên hiệp quốc ra đời, trên thực tế đã đánh

dấu cả sự tái lập quan hệ lẫn chia rẽ của các nước lớn Trạng

1

10/1995, tr.12.

Trang 34

thái liên kết và chia rẽ này hàm chứa những nguy hiểm cho

hệ thống thế giới Ngoài thủ đoạn gây sức ép chính trị và việntrợ có điều kiện, các cường quốc đã sử dụng diễn đàn Liênhiệp quốc như một công cụ thao túng nền chính trị thế giới,buộc các nước nhỏ phải khuất phục Chính sách nước lớn củacác cường quốc đã dẫn đến tình trạng một loạt các quốc giakhác phải phụ thuộc vào đường lối của họ Nhiều khu vựctrên thế giới trở thành nơi tranh chấp, ảnh hưởng giữa cáccường quốc Khi cán cân lực lượng trên thế giới thay đổi, họliền điều chỉnh đường lối chính sách của mình, bỏ qua quyềnlợi của các nước nhỏ Trước tình thế ấy, các quốc gia, dân tộcnhỏ bé có xu hướng chụm vào nhau, đoàn kếùt, tranh đấu vì lợiích chung của mình Như vậy về phương diẹân chính trị, sựtoàn cầu hóa làm nảy sinh tình trạng khu vực hóa, tổ chứcquốc tế kích thích sự nảy sinh tổ chức khu vực

Mặt khác, lịch sử cận hiện đại thế giới đã chứng kiến sựvươn lên mạnh mẽ của chủ nghĩa quốc gia trên khắp các châulục Đối với các quốc gia vốn là thuộc địa cũ của chủ nghĩa đếquốc, di sản thực dân để lại rất nặng nề, biểu hiện qua nềnkinh tế nghèo nàn, lạc hậu, đời sống nhân dân lao động khókhăn, tăm tối, tình trạng thất học phổ biến Hơn nữa, trongquá trình thôn tính thuộc địa, chủ nghĩa thực dân thường phânchia đường biên giới không dựa trên cơ sở của đường biêngiới cũ hoặc ranh giới giữa các sắc tộc Vì thế, các thuộc địasau khi giành được độc lập đã vừa phải đương đầu với mộttình trạng kinh tế - xã hội đen tối ảm đạm; vừa phải vướngvào các cuộc tranh chấp lãnh thổ hoăïc mắc kẹt trong các cuộcxung đột sắc tộc triền miên Việc đẩy mạnh phát triển sựnghiệp kinh tế, văn hóa, giáo dục, dàn xếp các vụ tranh chấp

Trang 35

lãnh thổ, xung đột sắc tộc trở thành những vấn đề chung củatồn khu vực chứ khơng của riêng bất kỳ mợt quốc gia nào.Các dân tộc nhỏ bé giờ đây khơng thể khư khư nắm lấy chủquyền quốc gia cực đoan để gây những bất ổn về chính trị và

an ninh khu vực, dọn đường cho chủ nghĩa đế quốc lợi dụng.Như vậy, bước quá độ từ chủ nghĩa quốc gia đến chủ nghĩakhu vực là một quá trình nhận thức về tính thống nhất của khuvực, về nhu cầu ổn định và phát triển của khu vực, trong đĩ

cĩ sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia thành viên Sau

đĩ là sự nhận thức về mối hiểm nguy ngồi khu vực Trêntrường quốc tế, nhất là trong quan hệ với các nước lớn, phátbiểu với tư cách một tổ chức khu vực cĩ lợi thế hơn là phátbiểu với tư cách một quốc gia đơn độc ở khu vực đĩ Trườnghợp quan hệ giữa thị trường chung châu Âu (EEC) với Mỹ,minh chứng rất rõ nhận xét này

Đến đây, về mặt lý luận, hồn tồn cĩ thể cho rằng, chủnghĩa khu vực là “vùng giao thoa” và sự dung hịa giữa chủnghĩa quốc gia với chủ nghĩa tồn cầu Ở gĩc độ tồn cầu,

chủ nghĩa khu vực là một cấp độ của “Globalism” nhưng

khơng hẳn là “Globalism”, vì trung tâm của nĩ là các vấn đề

khu vực Cịn ở gĩc độ quốc gia thì chủ nghĩa khu vực thựchiện một bước đi thích hợp từ chủ quyền quốc gia đến thứquyền lực siêu quốc gia trong khoảng thời gian nửa thế kỷgần đây Bởi chúng ta chỉ cĩ thể nĩi đến chủ nghĩa khu vựctrong nhĩm quốc gia cĩ độc lập, chủ quyền Mà tình trạngnhiều quốc gia, nhiều dân tộc cĩ độc lập, chủ quyền mới xảy

ra phổ biến từ sau 1945 mà thơi

Tất cả những gì được trình bày ở trên chỉ là cơ sở thựctiễn của việc hình thành chủ nghĩa khu vực Cịn cơ sở lý luận

Trang 36

Siegel.F: L’Europe de Maastrict Jelates (trích theo “Lieân minh chaâu

của sự hình thành chủ nghĩa khu vực như thế nào? Để trả lời

câu hỏi này, cần phải truy tìm trong lịch sử các tư tưởng về

chủ nghĩa khu vực đã được phát biểu, thông qua các trường

hợp ở châu Âu, châu Mỹ, châu Phi; sau đó là căn cứ vào tinh

thần và các điều khoản cụ thể của Hiến ước Hội Quốc Liên

và Hiến Chương Liên hiệp quốc

Có lẽ, những người đầu tiên nhạy cảm với những vấn đề

khu vực là một số nhà chính trị, quân sự có tham vọng

Napoleon Bonapart (1769-1821), trong quá trình chinh phục

châu Âu vào đầu thế kỷ XIX đã từng nói: “Chức phận của tôi

vẫn chưa hoàn thành, tôi muốn hoàn thành cái điều mới chỉ

được phác họa, tôi phải làm một bộ luật châu Âu ( ), một

đồng tiền cũng châu Âu, các đơn vị đo lường, các quy tắc

châu Âu Tôi phải biến tất cả các dân tộc ở châu Âu thành

một dân tộc và Paris thành thủ đô của thế giới”1 Không chỉ

Napoleon mà Hitler cũng đã từng mơ tưởng chinh phục và

thống nhất châu Âu Tư tưởng về sự thống nhất châu Âu còn

làm say mê cả những trí thức lớn Tại hội nghị hòa bình tháng

8 năm 1849, Victor Hugo đã phát biểu: “Sẽ đến một ngày,

chiến tranh giữa Paris và London, Peterburge và Berlin, Viene

và Turin trở nên phi lý và không thể chấp nhận được như là

một cuộc chiến giữa người Ruang và người Amian ngày hôm

nay Sẽ đến một ngày mà các bạn nước Pháp, nước Nga, nước

Ý, nước Anh, nước Đức, các bạn ở tất cả các quốc gia của lục

địa trong khi vẫn không đánh mất những phẩm chất riêng biệt

của mình sẽ hòa quyện trong một thể thống nhất châu Âu và

1

Âu”, Đào Huy Ngọc (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, tr 99).

Trang 37

Đào Huy Ngọc (chủ biên): Liên minh châu Âu, Nxb Chính trị quốc gia.

Đào Huy Ngọc (chủ biên), sđd, tr.10.

xây dựng tình anh em châu Âu Ngày ấy sẽ đến khi chỉ cịn cĩ

một chiến trường khác là các thị trường mở cửa cho thương

mại và những cái đầu cởi mở đối với các ý tưởng Ngày ấy sẽ

đến khi các cuộc bỏ phiếu thay thế cho bom đạn”1

Những tư tưởng vừa được trình bày ở trên khơng đơn

thuần là ý chí của một vài cá nhân mà cĩ căn nguyên từ lịch

sử Bởi văn minh châu Âu được bắt nguồn từ văn minh Hy

-La cổ đại Sau khi đế quốc Tây -La Mã sụp đổ (năm 476) bởi

các cuộc xâm chiếm của các “man tộc” (Barbars’), vương

quốc Frank ra đời và tồn tại suốt ba thế kỷ rưỡi (481-843) Tại

đây, văn minh châu Âu đã thành hình và khuếch tán Trung

tâm văn minh châu Âu chuyển dịch từ Địa Trung Hải lên phía

sơng Ranh, sơng Sen và vùng biển Bắc Mặc dù hội nghị

Vecdoong năm 843 đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của vương

quốc Frank nhưng đĩ lại là sự khởi đầu của Tây Âu trong

khuơn khổ một cộng đồng thống nhất về văn hĩa, chia rẽ về

chính trị

Tình trạng chia rẽ về chính trị đã dẫn đến các của chiến

tranh hoặc xung đột triền miên ở châu Âu Nếu tính từ cuộc

chiến tranh chinh phục xứ Gaule của người La Mã (61-50

trước cơng nguyên) cho đến hết chiến tranh thế giới thứ hai

(năm 1945), châu Âu đã mất ít nhất 60 triệu người vì chiến

tranh2 Đặc biệt, qua hai cuộc chiến tranh thế giới 1914-1918,

1939-1945, tồn châu Âu đã phải gánh chịu những thiệt hại to

lớn về vật chất và tinh thần Sau năm 1945, hệ thống xã hội

1

H.1995, tr.8.

2

Trang 38

Nguyễn Ngọc Dung: Quá trình hình thành EU và ASEAN qua cách tiếp

chủ nghĩa ra đời, dẫn đến việc hình thành một thế giới lưỡng

cực Nền địa - chính trị tồn cầu bị đảo lộn Những quốc gia

vốn là đồøng minh trong chiến tranh chống phát xít trước đây

như Liên Xơ (cũ), Mỹ đã trở thành kẻ thù của nhau Cịn

những quốc gia vốn là kẻ thù của nhau như Mỹ, Nhật giờ đây

lại liên kết trong khuơn khổ đồng minh chiến lược Châu Âu

bị chia ra làm hai khối Đơng và Tây Từ một trung tâm lớn

nhất của thế giới tư bản chủ nghĩa, Tây Âu bị suy yếu tồn

diện, đành phải dựa vào Mỹ và chấp nhận sự lãnh đạo của

Mỹ trong hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự,

thơng qua các tổ chức GATT, UECD, NATO Cơng cuộc khơi

phục và phát triển kinh tế của Tây Âu từ đầu thập niên 50 đã

làm thay đổi căn bản quan hệ kinh tế Tây Âu - Mỹ Trong

những điều kiện ấy, tồn châu Âu, đăc biệt là Tây Âu cĩ sự

nhận thức lại về một cộng đồng thống nhất Một Tây Âu chia

rẽ về chính trị sẽ khơng mang lại hịa bình và phát triển cho

các quốc gia trong khu vực Một Tây Âu chia rẽ về kinh tế thì

khơng cạnh tranh nổi với Mỹ Hơn nữa, nhu cầu mở rộng thị

trường của Tây Âu lúc này rất lớn Trong khi đĩ, Tây Âu lại

đang mất dần thuộc địa Điều kiện lịch sử lúc đĩ đã đặt trước

Tây Âu một tình thế, làm ý thức về một cộng đồng văn minh

chung được đề cao1 Bên cạnh đĩ, trong quan hệ quốc tế từ

cuối thập niên 40, ở Tây Âu (trừ Anh quốc) đã từng lưu

truyền tư tưởng coi Tây Âu như một lực lượng thứ ba, độc lập

1

cận đối chiếu khu vực, Tập san Khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại

học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí

Minh, số 4/1997

Trang 39

Regionalism in Southeast Asia Center for strategic and International Nguyễn Ngọc Dung, sđd, số 4/1997.

với Liên Xơ (cũ) và Mỹ1 Tháng 5/1950, ngoại trưởng Pháp,

Robert Shuman đã đưa ra đề nghị đặt tồn bộ việc sản xuất

than, thép của Đức và Pháp dưới một cơ quan quyền lực tối

cao, trong một tổ chức mở cho các nước châu Âu tham gia Đề

nghị này đã được các quốc gia Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan,

Luxemburg hưởng ứng Ngày 18/4 /1951, “Cộng đồng than,

thép châu Âu” (ECSC) ra đời, đánh dấu giai đoạn đầu của

tiến trình liên kết châu Âu Các giai đoạn tiếp theo của quá

trình liên kết, thống nhất đĩ là: “Cộng đồng năng lượng

nguyên tử châu Âu” (năm 1955) “Cộng đồng kinh tế châu

Âu” (năm 1957), “Cộng đồng châu Âu” (năm 1967), cuối

cùng là “Liên minh châu Âu” (năm 1993)2

Tất cả những điều trên đây chứng tỏ từ nhận thức lịch

sử, việc đưa ra các tư tưởng thống nhất hoặc liên kết khu vực

khơng phải là sự tưởng tượng (sản phẩm chủ quan của bộ ĩc

con người) mà là sự phản ánh một nhu cầu khách quan Bởi

bản thân châu Âu đã mang sẵn trong mình các yếu tố thống

nhất Trong trường hợp châu Âu, các đại biểu của chủ nghĩa

khu vực đã đưa ra những nhận thức chung về vị trí, vai trị,

tính thống nhất của khu vực, triển vọng hợp tác song phương

và đa phương giữa các quốc gia trong khu vực và cuối cùng là

những mối nguy hiểm khơng chỉ bên trong mà cả bên ngồi

khu vực phương hại đến tình hình an ninh của mỗi quốc gia

Từ những cơ sở đĩ, chủ nghĩa khu vực hiện ra với một vẻ đẹp

và sự hợp lý hồn tồn cảm nhận được

1

Studies, Jakarta 1974, p.57.

2

Trang 40

A.V Ado (chủ biên): Lịch sử cận đại các nước châu Âu và châu Mỹ,

Đối với châu Mỹ, cuộc chiến tranh giành độc lập của 13

xứ thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (1755-1783) và sự thành lập nước

Mỹ (The United States of American) ngày 4/7/1776 đã giải

phĩng Bắc Mỹ khỏi chủ nghĩa thực dân Anh, gây nên những

ảnh hưởng ghê gớm đối với các thuộc địa của Bồ Đào Nha,

Tây Ban Nha ở Mỹ La tinh Mỹ trở thành quốc gia đầu tiên

giành được độc lập ở châu Mỹ kể từ khi chủ nghĩa tư bản bén

rễ trên đại lục này Vào đầu những năm 20 thế kỷ XIX, các

cuộc cách mạng giải phĩng dân tộc của nhân dân châu Mỹ

La tinh đã lật nhào chế độ thuộc địa của thực dân Tây Ban

Nha và Bồ Đào Nha Trước nguy cơ xâm lược can thiệp của

khối “Liên minh thần thánh” (gồm Anh, Nga, Áo, Phổ) nhằm

khơi phục lại hệ thống thuộc địa của Tây Ban Nha ở châu Mỹ

La tinh, tổng thống Mỹ lúc đĩ, James Monroe (1758-1831) đã

tuyên bố cơng nhận nền độc lập của các nước châu Mỹ La

tinh Bức thơng điệp của Monroe gửi tới quốc hội Mỹ ngày

2/12/1823 đã đi vào lịch sử dưới tên gọi “Học thuyết

Monroe” Ơng khẳng định rằng, Tân thế giới (nghĩa là cả Bắc

Mỹ và Nam Mỹ) khơng thể một lần nữa được coi là đối tượng

của sự bành trướng thuộc địa; Mỹ khơng đụng chạm đến các

thuộc địa hiện tồn của các cường quốc Âu châu nhưng cũng

khơng cho phép thành lập các thuộc địa mới ở châu Mỹ1

Monroe đưa ra khẩu hiệu “châu Mỹ của người châu Mỹ”

Học thuyết Monroe đã đặt Mỹ vào địa vị của kẻ bảo hộ khu

vực, thực chất là muốn nắm chặt các nước châu Mỹ La tinh

để phục vụ cho lợi ích của tư bản Mỹ

1

Nxb Đại học Mátxcơva, 1986, tr 578 (tiếng Nga).

Ngày đăng: 01/07/2023, 23:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng trên cho thấy khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế của các nước trong khu vực là khá lớn - Su hinh thanh cn cua asean
Bảng tr ên cho thấy khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế của các nước trong khu vực là khá lớn (Trang 182)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w