1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự hình thành và phát triển của khu vực đầu tư ASEAN và gợi ý cho Việt Nam

15 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết phân tích sự hình thành, phát triển và nội dung của AIA, tình hình FDI vào ASEAN và triển vọng FDI trong ASEAN như là minh chứng cho sự phát triển AIA, từ đó đề xuất gợi ý để Việt Nam tăng cường thu hút FDI cũng như góp phần thúc đẩy hợp tác đầu tư trong ASEAN.

Trang 1

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KHU VỰC ĐẦU TƯ ASEAN

VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng1 – ThS Vũ Quang Hải2

Tóm tắt: Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) là cơ chế hợp tác khu vực mang lại lợi ích kinh tế và gây bất

lợi với các nước thành viên Việc phân tích sự hình thành và phát triển của AIA là cần thiết, tạo điều kiện để Việt Nam thu hút FDI và hội nhập sâu rộng khu vực và thế giới Bài viết phân tích

sự hình thành, phát triển và nội dung của AIA, tình hình FDI vào ASEAN và triển vọng FDI trong ASEAN như là minh chứng cho sự phát triển AIA, từ đó đề xuất gợi ý để Việt Nam tăng

cường thu hút FDI cũng như góp phần thúc đẩy hợp tác đầu tư trong ASEAN

Từ khoá: Khu vực đầu tư ASEAN, đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam

1 GIỚI THIỆU

Vào những năm 1990, các nước ASEAN chịu áp lực cạnh tranh gay gắt để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các nước đang phát triển khác trên thế giới cũng như khu vực Ngày 15/12/1995, tại Thái Lan, Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 5 ASEAN quyết định thành lập Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) nhằm tăng cường thu hút vốn và tăng khả năng cạnh tranh khuyến khích FDI, làm cơ sở đàm phán điều kiện ký kết thoả thuận chung về AIA

Ngày 07/10/1998, tại Manila, Philippines, AIA được ký kết với quyết tâm thực hiện tầm nhìn ASEAN xây dựng AIA môi trường đầu tư thông thoáng và rõ ràng giữa các quốc gia thành viên, nhằm đẩy mạnh đầu tư vào ASEAN từ các nguồn trong và ngoài ASEAN Hiệp định đề cập tới nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong đầu tư; chương trình và kế hoạch hành động; mở cửa ngành nghề và đối

xử quốc gia; quy tắc đối xử tối huệ quốc và quyền từ chối đối xử tối huệ quốc; biện pháp tự vệ khẩn cấp và biện pháp bảo vệ cán cân thanh toán; giải quyết tranh chấp…

Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của sự phát triển trong và ngoài khối, một số quy định của AIA không phù hợp với tình hình mới Ngày 29/3/2012, Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) chính thức có hiệu lực và là văn bản cam kết quan trọng trong hội nhập ASEAN, liên kết ASEAN với thế giới

Thông qua ký kết và thực hiện Hiệp định ACFTA, AJFTA, AKFTA, AANZFTA, AIFTA… năm

2019, FDI vào khu vực ASEAN thu hút 160,56 tỷ USD trên hầu hết ngành kinh tế Lượng vốn FDI chiếm trên 20% trong tổng số vốn FDI các nước đang phát triển FDI nội khối ASEAN tăng lên gấp đôi sau hơn hai thập kỷ, chiếm 16% vốn FDI trong ASEAN năm 2019

Tham gia AIA, Việt Nam thu được những lợi ích nhất định Đến ngày 30/9/2020, Việt Nam có 32.658 dự án FDI, tổng vốn đăng ký 381,53 tỷ USD AIA đóng góp trên 20%, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, Việt Nam cũng đối mặt với không ít bất lợi như áp lực cạnh tranh đến từ trong và ngoài ASEAN, điều chỉnh chính sách thu hút FDI theo cam kết trong AIA làm tăng chi phí

1 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Email: langnguyen2200@gmail.com

2 Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Email: vuquanghai94@gmail.com

Trang 2

2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Có một số nghiên cứu liên quan tới AIA như xu hướng gia tăng FDI vào ASEAN do triển khai tự

do hoá đầu tư gắn với bảo hộ hợp lý (OECD, 2019); môi trường đầu tư ASEAN và gợi ý điều chỉnh chính sách để hỗ trợ các nước ASEAN giải quyết thách thức nảy sinh từ tăng cường mở cửa đầu tư (OECD, 2014); so sánh luật đầu tư của 10 nước ASEAN, chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt trong chính sách khuyến khích FDI (Jonathan Bonnitcha, 2017); nghiên cứu luật đầu tư nước ngoài của các nước ASEAN và triển vọng cho cộng đồng kinh tế AEC (Mohamad, 2019); sự gia tăng dòng vốn FDI

từ Trung Quốc vào ASEAN (Edward Ng, 2017); nghiên cứu lựa chọn đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp của Trung Quốc tại ASEAN (Sheng Ma, Xinxin xu, Ziqiang Zeng, Lin Wang, 2019); nghiên cứu sự chuyển đổi trong nền kinh tế các nước ASEAN (Ponciano S.Intal, 2017); khuôn khổ hợp tác đầu tư trong ASEAN và tình hình đầu tư từ ASEAN vào Việt Nam (Phạm Thái Hà, 2017); chính sách thu hút FDI của Thái Lan, dữ liệu khảo sát thực nghiệm để kiểm định yếu tố ảnh hưởng đến FDI vào Thái Lan so với Indonesia, Malaysia, Singapore và Việt Nam chỉ ra nguyên nhân thay đổi FDI (Ampassacha Rakkhumkaeo, 2016); phân tích cam kết và thực hiện cam kết đầu tư của Việt Nam trong khuôn khổ AEC, quan hệ FDI giữa ASEAN và Việt Nam (Nguyễn Thị Minh Phương, 2015)

3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU

Bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để giải quyết vấn đề đặt ra Nguồn dữ liệu sử dụng trong bài viết được thu thập và xử lý từ Ban thư ký ASEAN, Tổng cục Thống kê các nước ASEAN, Cơ quan quản lý đầu tư của các nước ASEAN và các bài nghiên cứu chuyên sâu

5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1 Sự cần thiết thành lập Khu vực đầu tư ASEAN

Vào những năm 1990, tình hình chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực Đông Nam Á có nhiều thay đổi quan trọng, tác động lớn tới các nước ASEAN Về chính trị, chiến tranh lạnh chấm dứt cùng với sự giảm bớt cam kết về an ninh và giúp đỡ về kinh tế của Hoa Kỳ và Trung Quốc cho ASEAN Về kinh

tế, cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực thương mại từ các nước đang phát triển khác mới nổi lên, đặc biệt

là Trung Quốc cùng với sự xuất hiện và lớn mạnh của tác tổ chức hợp tác khu vực như EU, NAFTA,… làm cho hàng hoá của ASEAN khó thâm nhập hơn vào thị trường quốc tế

Trước bối cảnh khu vực và thế giới, các nước ASEAN ngày càng phải cạnh tranh mạnh mẽ để thu hút FDI từ các nước đang phát triển cũng như trong nội bộ khu vực Điều đó đòi hỏi ASEAN nâng cao tính hấp dẫn và tính cạnh tranh của ASEAN để thúc đẩy FDI

ASEAN coi FDI là “nguồn tài chính quan trọng để duy trì tốc độ phát triển kinh tế, công nghiệp,

cơ sở hạ tầng và công nghệ; do đó thừa nhận nhu cầu thu hút FDI vào ASEAN mức độ lớn và bền vững hơn” (Ban thư ký ASEAN, 1998)

Bên cạnh đó, ASEAN khẳng định lại tầm quan trọng của duy trì tăng trưởng và phát triển ở tất cả các quốc gia thành viên bằng nỗ lực chung thúc đẩy tự do hoá thương mại và đầu tư giữa các nước ASEAN; khẳng định “cam kết theo Hiệp định ASEAN năm 1987 về khuyến khích và bảo hộ đầu tư để củng cố lòng tin của nhà đầu tư khi đầu tư vào ASEAN, khuyến khích đầu tư lớn hơn vào khu vực” (Ban thư ký ASEAN, 1998)

Nhằm thực hiện tầm nhìn ASEAN, xây dựng AIA cạnh tranh với môi trường đầu tư thông thoáng

và rõ ràng, hướng đến tầm nhìn ASEAN 2020, AIA được thành lập

Trang 3

5.2 Quá trình thành lập Khu vực đầu tư ASEAN

AIA là khu vực đầu tư giữa các nước ASEAN trong đó các quốc gia thành viên tiến hành đầu tư tự

do, bảo hộ, xúc tiến và thuận lợi hoá đầu tư nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài khối, tăng cường khả năng cạnh tranh và phát triển năng động ASEAN

Nhằm khuyến khích và bảo hộ vốn di chuyển trong ASEAN hình thành từ nửa cuối những năm

1980, thời kỳ FDI đổ ồ ạt vào các nước ASEAN và xuất hiện ngày càng rõ nét xu thế di chuyển vốn từ các nước có trình độ phát triển cao sang những nước có trình độ phát triển thấp hơn trong khu vực Năm 1987, ASEAN đạt được Thoả thuận về Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư – tiền đề để tiến tới hợp tác sâu hơn trong lĩnh vực đầu tư của ASEAN

Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ tư tổ chức tại Singapore năm 1992, các nhà lãnh đạo ASEAN quyết định đưa sự hợp tác và phát triển kinh tế lên một bước mới, khác hẳn về chất, với việc

ký kết Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) làm cơ sở pháp lý cho quá trình tự do hoá thương mại trong khối, tiến tới thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) Cũng tại cuộc họp Thượng đỉnh, các nước ASEAN ký kết Thoả thuận khung về Khuyến khích hợp tác kinh tế nhằm tiến hành tự do hoá thương mại, khuyến khích buôn bán và đầu tư nội bộ ASEAN

Ngày 15/12/1995, Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 5 của ASEAN quyết định thành lập AIA nhằm tăng cường thu hút vốn và khả năng cạnh tranh để khuyến khích FDI vào khu vực ASEAN làm tiền đề

ký kết thoả thuận chung về AIA

Đến năm 1996, Công ước về AIA được ký kết tạo nền tảng tự do hoá FDI, tăng cường niềm tin nhà đầu tư ngoài khu vực đầu tư vào ASEAN Trong tuyên bố chung cuộc họp Thượng đỉnh không chính thức của ASEAN về tình hình tài chính, ngày 15/12/1997, tại Kuala Lumpur, các nhà lãnh đạo các nước thành viên ASEAN khẳng định cam kết tiếp tục duy trì mở cửa thương mại và môi trường đầu tư trong ASEAN, kể cả đẩy nhanh tiến độ thực hiện AFTA, AIA và Cơ chế hợp tác công nghiệp ASEAN Các nhà lãnh đạo nhất trí cần nỗ lực hơn nữa để loại bỏ rào cản thương mại và thúc đẩy thương mại và đầu tư nội bộ ASEAN

Trên cơ sở quyết định thành lập AIA của các Bộ trưởng kinh tế ASEAN, Uỷ bản soạn thảo Hiệp định AIA được thành lập để tập trung soạn thảo Hiệp định Hiệp định được hoàn thành và ký vào ngày 07/10/1998 tại Manila, Philippines sau nhiều vòng đàm phán

Hiệp định AIA quy định các nghĩa vụ chung của các thành viên trong đầu tư; chương trình và kế hoạch hành động; mở cửa ngành nghề và đối xử quốc gia; đối xử tối huệ quốc và quyền từ chối đối xử tối huệ quốc; các biện pháp tự vệ khẩn cấp và biện pháp bảo vệ cán cân thanh toán…

Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của sự phát triển trong và ngoài khối, một số quy định của AIA không phù hợp với tình hình mới, đặc biệt nhu cầu hội nhập của khối Để tăng cường hợp tác khu vực, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút FDI vào ASEAN và cũng để phù hợp hơn với tầm nhìn cộng đồng kinh tế ASEAN thống nhất, năng động đòi hỏi phải có văn bản hoàn chỉnh điều chỉnh toàn diện lĩnh vực đầu tư trong ASEAN Các nước thành viên ASEAN thống nhất quan điểm soạn thảo Hiệp định mới thay thế Hiệp định hiện hành Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 39 diễn ra tại Manila, Philippines tháng 8 năm 2007 giao Uỷ ban Điều phối Đầu tư ASEAN chủ trì soạn thảo Hiệp định điều chỉnh đầu tư thuộc khối ASEAN

Đến ngày 29/3/2012, Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) chính thức có hiệu lực Trong khuôn khổ AIA, ASEAN mở rộng hợp tác đầu tư Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc, New Zealand,… thông qua ký kết và triển khai thực hiện Hiệp định ACFTA, AJFTA, AIFTA, AKFTA,

Trang 4

AANZFTA,… để nâng cao năng lực cạnh tranh của ASEAN trong thu hút FDI từ cả trong và ngoài khối, thực hiện tự do hoá đầu tư Ngày 15/11/2020, Bộ trưởng Kinh tế các quốc gia ASEAN cùng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand ký kết thành công Hiệp định RCEP mở ra một giai đoạn hợp tác thương mại và đầu tư mới đối với ASEAN

5.3 Nội dung của Khu vực đầu tư ASEAN

5.3.1 Hiệp định khung về Khu vực đầu tư ASEAN

Hiệp định AIA được ký kết ngày 07/10/1998 tại Manila, Philippines

Về phạm vi điều chỉnh, Hiệp định AIA điều chỉnh đầu tư trực tiếp, không điều chỉnh đầu tư gián tiếp và những vấn đề liên quan đến đầu tư được các Hiệp định khác điều chỉnh như Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ

Về mục tiêu, Hiệp định hướng tới xây dựng AIA môi trường đầu tư thông thoáng và rõ ràng hơn giữa các thành viên nhằm: “(i) đẩy mạnh đầu tư vào ASEAN từ cả các nguồn trong và ngoài ASEAN; (ii) cùng thúc đẩy ASEAN thành lập khu vực đầu tư hấp dẫn nhất; (iii) củng cố và tăng cường tính cạnh tranh các lĩnh vực kinh tế trong ASEAN; (iv) giảm dần hoặc loại bỏ quy định và điều kiện đầu tư gây cản trở đầu tư và hoạt động của các dự án đầu tư trong ASEAN và đảm bảo thực hiện mục tiêu trên góp phần hướng tới tự do lưu chuyển đầu tư năm 2020” (Ban thư ký ASEAN, 1998)

Về nghĩa vụ chung, Hiệp định quy định các quốc gia thành viên đảm bảo biện pháp và chương trình thực hiện trên cơ sở công bằng và cùng có lợi; thực hiện các biện pháp thích hợp để đảm bảo tính

rõ ràng và nhất quán trong áp dụng và giải thích các đạo luật, quy định và thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư trong nước nhằm tạo ra và duy trì một thể chế đầu tư có thể dự đoán trong ASEAN; thực hiện hỗ trợ, xúc tiến và tự do hoá để có thể đóng góp liên tục và đáng kể thực hiện mục tiêu thiết lập môi trường đầu tư thông thoáng và rõ ràng hơn; áp dụng biện pháp phù hợp nhằm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư của các quốc gia thành viên đối với FDI và thực hiện các biện pháp hợp lý trong phạm vi cho phép để bảo đảm tuân thủ các điều khoản của Hiệp định

Về mở cửa ngành nghề và đối xử quốc gia, mỗi quốc gia thành viên mở cửa ngay lập tức tất cả các ngành nghề cho đầu tư từ nhà đầu tư ASEAN; dành ngay lập tức các nhà đầu tư ASEAN và đầu tư, đối với tất cả các ngành nghề và biện pháp tác động tới đầu tư đó, không chỉ giới hạn ở việc tiếp nhận, thành lập, nắm giữ, mở rộng, quản lý, vận hành và định đoạt đầu tư, sự đối xử không kém thuận lợi hơn

sự đối xử dành cho các nhà đầu tư và đầu tư tương tự ở trong nước Đồng thời, mỗi quốc gia thành viên xây dựng Danh mục loại từ tạm thời và Danh mục nhạy cảm (nếu có), bao gồm bất kỳ ngành nghề hoặc biện pháp nào tác động đến đầu tư mà quốc gia đó không thể mở cửa hoặc dành đối xử quốc gia cho các nhà đầu tư ASEAN Danh mục loại trừ tạm thời được xem xét lại 2 năm một lần và được tất cả các Quốc gia thành viên trừ Việt Nam, Lào và Myanmar, loại bỏ dần cho đến năm 2010 Danh mục nhạy cảm được xem xét vào ngày 01/01/2003 và vào từng giai đoạn tiếp theo do Hội đồng AIA quyết định

Về đối xử tối huệ quốc, mỗi thành viên dành ngay lập tức và vô điều kiện cho nhà đầu tư và đầu tư của quốc gia thành viên khác, sự đối xử không kém thuận lợi hơn đối xử dành cho nhà đầu tư và đầu tư của bất kỳ quốc gia thành viên nào khác đối với tất cả các biện pháp tác động đến đầu tư, không chỉ giới hạn ở việc tiếp nhận, thành lập, nắm giữ, mở rộng, quản lý, vận hành và định đoạt đầu tư Mọi ưu đãi theo các hiệp định hoặc thoả thuận hiện tại hoặc tương lai một quốc gia thành viên là một bên đều được dành cho tất cả các quốc gia thành viên khác trên cơ sở đãi ngộ tối huệ quốc Hiệp định không ngăn cản bất kỳ quốc gia thành viên nào dành đối xử đặc biệt hoặc các ưu đãi cho các nước láng giềng trong tam giác phát triển và các thoả thuận tiểu khu vực khác giữa các thành viên

Trang 5

Về ngoại lệ chung, Hiệp định không ngăn cấm bất kỳ quốc gia thành viên nào thông qua hoặc thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia hoặc đạo đức xã hội, bảo vệ cuộc sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật; bảo đảm sự tuân thủ pháp luật không trái với các điều khoản của Hiệp định; việc ngăn cản các hiện tượng lừa đảo, gian lận hoặc giải quyết tác động do không hoàn thành nghĩa vụ theo thoả thuận; việc bảo vệ sự riêng tư cá nhân liên quan đến đưa ra và phổ biến tư liệu

cá nhân và việc bảo vệ bí mật các hồ sơ và tài khoản cá nhân; việc bảo đảm an toàn và các biện pháp nhằm bảo đảm việc đặt ra và thu một cách công bằng hoặc hiệu quả các loại thuế trực thu đối với đầu

tư hoặc các nhà đầu tư của quốc gia thành viên Điều kiện là các biện pháp đó không được áp dụng theo cách tạo ra sự phân biệt đối xử tuỳ tiện hoặc bất hợp lý giữa các nước, nơi có các điều kiện tương tự hoặc hạn chế ngầm định đầu tư

Về giải quyết tranh chấp FDI, Nghị định thư về Cơ chế giải quyết tranh chấp ASEAN được áp dụng đối với “bất kỳ tranh chấp hoặc bất đồng nào phát sinh giữa các nước ASEAN liên quan đến việc giải thích và áp dụng Hiệp định này Khi cần thiết, một cơ chế giải quyết tranh chấp được thành lập phù hợp với mục đích của Hiệp định này và sẽ là một phần không tách rời của Hiệp định.” (Ban thư ký ASEAN, 1998)

5.2.3 Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN

ACIA ký kết 26/02/2009, có hiệu lực từ 29/3/2012 thay thế cho Hiệp định Khuyến khích và Bảo

hộ đầu tư ASEAN năm 1987 và Hiệp định AIA năm 1998

Hiệp định ACIA bao gồm 4 nội dung chính là Tự do hoá đầu tư, Bảo hộ đầu tư, Thuận lợi hoá đầu

tư và Xúc tiến đầu tư ACIA đưa ra các định nghĩa liên quan tới AIA một cách toàn diện hơn và có các biện pháp cụ thể nhằm bảo đảm lợi ích của các nhà đầu tư, bảo đảm nguyên tắc về đối xử quốc gia cũng như nâng cao nhận thức của ASEAN về một môi trường đầu tư khu vực thống nhất

Về nghĩa vụ, ACIA điều chỉnh biện pháp các nước thành viên áp dụng đối với các nhà đầu tư và các khoản đầu tư hiện tại hoặc tương lai (tính từ thời điểm ACIA có hiệu lực) của các nhà đầu tư đến

từ các nước thành viên; ACIA không áp dụng với các biện pháp liên quan đến thuế (trừ các trường hợp quy định khác trong Hiệp định); các khoản tài trợ hay trợ cấp của một nước thành viên; mua sắm công; các dịch vụ cung cấp nhằm thực hiện thẩm quyền của nhà nước bởi một cơ quan hoặc tổ chức nước thành viên; các biện pháp tác động đến thương mại dịch vụ theo Hiệp định AFAS, trừ một số biện pháp liên quan tới Phương thức cung ứng dịch vụ 3 – Hiện diện thương mại như quy định cụ thể trong Hiệp định

Về tự do hoá đầu tư, ACIA hướng vào mục tiêu cụ thể, giới hạn áp dụng các điều khoản tự do hoá trong các lĩnh vực: chế tạo, nông nghiệp, nghề cá, lâm nghiệp, khai mỏ, các dịch vụ hỗ trợ cho các ngành trên Ngoài ra, ACIA quy định cho phép tự do hoá đối với bất kỳ lĩnh vực nào được các quốc gia thành viên nhất trí Quy định này cho phép tự do hoá một số lĩnh vực, dịch vụ khác phát sinh trong tương lai

Về nguyên tắc đối xử quốc gia, tương tự như Hiệp định AIA, ACIA quy định mỗi quốc gia thành viên cam kết dành cho các nhà đầu tư và đầu tư của các nhà đầu tư từ quốc gia thành viên khác sự đối

xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử với các nhà đầu tư và đầu tư của nhà đầu tư trong nước

Về nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, mỗi thành viên cam kết dành cho các nhà đầu tư và đầu tư của nhà đầu tư từ quốc gia thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử với các nhà đầu tư

và đầu tư của nhà đầu tư từ bất kỳ quốc gia thành viên hay ngoài thành viên ASEAN, trừ trường hợp các thoả thuận tiểu khu vực giữa hai hay nhiều thành viên, thoả thuận của các nước thành viên với nước khác nhưng phải thông báo với Hội đồng đầu tư ASEAN

Trang 6

Theo Điều 6, Hiệp định ACIA, sau khi ACIA có hiệu lực, bất kỳ thành viên nào có bất kỳ thoả thuận nào với các quốc gia khác ngoài khối, trong đó có các cam kết dành sự đối xử ưu đãi hơn đối với các nhà đầu tư và đầu tư của các nhà đầu tư quốc gia đó so với các cam kết trong ACIA mặc định đối

xử ưu đãi hơn đó cũng sẽ được áp dụng với các nước thành viên ASEAN Tuy nhiên, theo Hiệp định, nguyên tắc này không áp dụng đối với các quy định liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp Nhà nước – Nhà đầu tư nước ngoài (ISDS)

Về yêu cầu thực hiện, Hiệp định ACIA khẳng định lại các quy định trong Hiệp định về các Biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại của WTO (Hiệp định TRIMS) trong đó có nội dung liên quan đến cấm các quốc gia đặt ra yêu cầu thực hiện như yêu cầu doanh nghiệp mua một tỷ lệ nhất định hàng hoá nội địa, xuất khẩu một tỷ lệ nhất định hàng hoá,… Các quốc gia cam kết tiến hành đánh giá chung các yêu cầu thực hiện để bổ sung thêm cam kết vào Hiệp định này sau 2 năm

kể từ ngày ACIA có hiệu lực

Về nghĩa vụ bảo hộ đầu tư, ACIA có rất nhiều quy định bảo đảm quyền lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài các khoản đầu tư của họ khi đầu tư vào một quốc gia trong ASEAN, trong đó có quy định

về đối xử công bằng và thoả đáng, tự do chuyển tiền (vốn, lợi nhuận,…) ra nước ngoài, đảm bảo an ninh, an toàn, không bị trưng thu, trưng dụng tài sản bất hợp lý…

Đặc biệt, ACIA đưa vào cơ chế ISDS cho phép nhà đầu tư khi có tranh chấp với nước nhận đầu tư

có quyền kiện nước đó ra trọng tài độc lập Quy trình và thủ tục giải quyết tranh chấp theo cơ chế ISDS được quy định khá cụ thể trong Hiệp định Phạm vi giải quyết tranh chấp là tất cả tranh chấp liên quan đến các nghĩa vụ về đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc, quản lý cấp cao và ban giám đốc, đối xử đầu

tư, bồi thường trong trường hợp xung đột, chuyển tiền, trưng dụng và bồi thường

ACIA có ngoại lệ cho phép các quốc gia ASEAN không phải tuân thủ một số nghĩa vụ trong Hiệp định, bảo đảm nước sở tại quyền điều chỉnh cũng như biện pháp bảo vệ môi trường và xã hội Hiệp định quy định các ngoại lệ liên quan đến bảo vệ đạo đức công cộng, bảo vệ tính mạng và sức khoẻ con người, động thực vật, bảo vệ các công trình quốc gia về văn hoá, lịch sử hoặc khảo cổ…; ngoại lệ về an ninh quốc phòng; Bảo lưu theo Danh mục bảo lưu của từng quốc gia Mỗi quốc gia có Danh mục biện pháp bảo lưu hai nghĩa vụ đối xử quốc gia và nghĩa vụ nhân sự quản lý cấp cao và ban giám đốc Theo quy định ACIA, các quốc gia thành viên phải cắt giảm hoặc xoá bỏ bảo lưu trong Danh mục bảo lưu quốc gia theo lộ trình để phù hợp với ba giai đoạn của Lộ trình chiến lược trong Kế hoạch tổng thể thực hiện Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

Tuy nhiên, ACIA vẫn chưa thúc đẩy hợp lý hiệp định đầu tư trong ASEAN, do đó các hiệp định này trở thành một trong những điều phức tạp nhất thế giới (OECD, 2019) Mặt khác, việc bổ sung hiệp định liên quan đến đầu tư của ASEAN vào mạng lưới hiệp định song phương đã có dẫn đến sự nhân lên gấp bội của các hiệp định khiến mạng lưới nghĩa vụ quốc tế phức tạp, dễ bị chồng chéo và không nhất quán Ví dụ, Úc và Malaysia ký một FTA vào năm 2012 sau khi AANZFTA có hiệu lực, Singapore ký FTA song phương và một chương trình đầu tư với Trung Quốc năm 2009, một năm trước khi ACFTA

có hiệu lực rộng lớn hơn… Mặc dù Điều 44 của ACIA cung cấp biện pháp bảo vệ chống lại sự mâu thuẫn pháp lý bằng cách tuyên bố ACIA không vi phạm quyền và nghĩa vụ hiện có của một quốc gia thành viên theo các hiệp định đầu tư khác mà họ là thành viên Tuy nhiên, sự tồn tại song song giữa một Hiệp định song phương và ACIA đã cung cấp hai nguồn bảo vệ cho nhà đầu tư Trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa các quốc gia ASEAN và nhà đầu tư, nhà đầu tư lựa chọn hiệp định có lợi nhất và điều đó gây bất lợi cho nước ASEAN

Trang 7

5.3.3 So sánh AIA và ACIA

a) Những điểm giống nhau

Cả hai Hiệp định có mục tiêu chung là cải thiện môi trường đầu tư ASEAN để thu hút FDI cả trong và ngoài khối Đồng thời, ACIA khẳng định lại một số quy định trong Hiệp định AIA như nguyên tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc tối huệ quốc, trưng dụng và bồi thường, minh bạch đầu tư

b) Những điểm khác nhau

Thứ nhất, AIA bao gồm 21 điều khoản, tập trung vào ba nội dung là Tự do hoá đầu tư, Thuận lợi hoá đầu tư và Xúc tiến đầu tư Trong khi đó, ACIA bao gồm 49 điều khoản, kèm theo 2 phụ lục và một danh sách bảo lưu của các quốc gia thành viên ASEAN ACIA là một hiệp định đầu tư khá toàn diện trong ASEAN, diễn ra trên bốn trụ cột là Tự do hoá đầu tư, Bảo hộ đầu tư, Thuận lợi hoá đầu tư và Xúc tiến đầu tư

Thứ hai, AIA chưa đề cập rõ về mối quan hệ giữa các quy định về Tự do hoá đầu tư và Bảo hộ đầu tư; ACIA đề cập rõ ràng mối quan hệ giữa các quy định của Tự do hoá đầu tư và Bảo hộ đầu tư

Thứ ba, AIA dành ưu đãi nhà đầu tư ASEAN trong thời hạn đến năm 2010 và các nhà đầu tư nước ngoài tại ASEAN với thời hạn môi trường đầu tư mở và tự do vào năm 2020 ACIA dành sự ưu đãi ngay lập tức cho các nhà đầu tư ASEAN và các nhà đầu tư nước ngoài tại ASEAN với thời hạn môi trường đầu tư mở và tự do được rút ngắn vào năm 2015

Thứ tư, AIA đưa ra định nghĩa rất hẹp về địa vị nhà đầu tư, ACIA đưa ra các định nghĩa liên quan tới AIA một cách toàn diện hơn và phù hợp với những hoạt động đầu tư hiện hành ACIA bổ sung một

số định nghĩa mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi áp dụng quy định liên quan một cách thống nhất Bên cạnh đó, AIA dẫn chiếu quy định của Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp làm cơ sở giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên về đầu tư nhưng chỉ dừng lại ở phạm vi tranh chấp liên quan tới việc giải thích và áp dụng AIA hoặc bất kỳ thoả thuận nào khác phát sinh từ AIA ACIA quy định một cách chi tiết trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư với quốc gia thành viên ACIA quy định một phần riêng về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và quốc gia thành viên từ Điều 28 đến Điều 41 Phạm vi giải quyết tranh chấp là những tranh chấp ảnh hưởng đến quyền lợi cơ bản của các bên liên quan, cụ thể là những tranh chấp về đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc, quản trị cấp cao và Ban giám đốc, bồi thường do xung đột, chuyển tiền, quản lý, điều hành

Theo ACIA, nhà đầu tư ASEAN giải quyết tranh chấp với quốc gia sở tại bằng cách sử dụng toà án trong nước hoặc trọng tài quốc tế, bao gồm toà án của Trung tâm quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu

tư (ICSID), theo quy tắc của Uỷ ban liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) hay bất

kỳ quy tắc nào khác được các bên tranh chấp thoả thuận Điều kiện là nhà đầu tư phải chứng minh tranh chấp phát sinh do vi phạm nghĩa vụ nước sở tại về quản lý, thực hiện, vận hành hoặc bảo đảm đầu

tư Tuy nhiên, ACIA khuyến khích nhà đầu tư sử dụng giải pháp thay thế tranh chấp (hoà giải, tham vấn, đàm phán,…) trước khi bắt đầu thủ tục tố tụng ISDS để ngăn ngừa tranh chấp gia tăng Quy định này tương tự với AANZFTA

5.4 Tình hình FDI trong Khu vực đầu tư ASEAN

FDI trong ASEAN tăng 10,36% từ 153,1 tỷ USD năm 2018 lên 160,56 tỷ USD năm 2019 Tỷ lệ vốn FDI toàn cầu của ASEAN so với các nền kinh tế đang phát triển từ 18% năm 2016 lên 20% năm

2017, tỷ lệ vốn FDI của khu vực Đông và Đông Nam Á từ 31% năm 2016 lên 34% năm 2017

Trang 8

Bảng 1: FDI vào ASEAN giai đoạn 2011–2019

Đơn vị: tỷ USD

Quốc gia 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

Brunei 0,62 1,21 0,86 0,73 0,57 0,17 – 0,15 0,46 0,52 0,37 Campuchia 0,78 0,89 1, 57 1, 27 1, 72 1, 70 2, 28 2,73 3,10 3,71 Indonesia 13,77 19,24 19,14 18,44 21,81 16,64 3,92 20,58 20,56 23,56 Lào 0,33 0,47 0,29 0,43 0,91 1,08 1,08 1,70 1,32 0,56 Malaysia 9,16 12,00 9,40 12,11 10,88 10,18 11,29 9,30 7,61 7,70 Myanmar 2,25 2,06 1,35 2,62 0,95 2,82 2,99 4,00 1,61 2,51 Philippines 1,30 1,81 2,80 3,86 5,81 5,64 8,28 10,26 9,95 7,65 Singapore 57,46 39,89 60,10 56,67 73,28 59,70 68,82 83,62 79,72 92,08 Thái Lan 14,75 2,47 12,90 15,94 4,98 8,93 2,81 8,23 13,21 6,31 Việt Nam 8,00 7,52 8,37 8,90 9,20 11,80 12,60 14,10 15,50 16,12 Tổng 108,42 87,56 116,77 120,97 130,11 118,67 113,92 154,97 153,10 160,56

Nguồn: ASEANstats

ơ

Có 6/10 nước ASEAN tăng vốn FDI, trong đó tăng mạnh nhất là Myanmar, 15,59% từ 1,61 tỷ USD lên 2,51 tỷ USD, tiếp theo là Campuchia tăng 11,96% từ 3,10 tỷ USD lên 3,71 tỷ USD và Singapore tăng 11,56 từ 79,72 tỷ USD năm 2018 lên 92,08 tỷ USD năm 2019 FDI vào Indonesia cũng tăng 11,46% từ 20,56 tỷ USD lên 23,56 tỷ USD, Malaysia tăng 10,12% từ 7,61 tỷ USD lên 7,70 tỷ USD, trong khi FDI vào Việt Nam tăng 10,4% từ 15,5 tỷ USD năm 2018 lên 16,12 tỷ USD năm 2019 (Bảng 1)

Năm 2019, 03 nước Singapore, Indonesia và Việt Nam chiếm 82,06% vốn FDI vào ASEAN cho thấy mức độ tập trung đầu tư cao (năm 2017 và năm 2018, con số này lần lượt là 76,33 và 75,62%)

Sự gia tăng về vốn FDI của Singapore lên mức cao nhất cho thấy Singapore vẫn là nước nhận FDI lớn nhất khu vực Năm 2018, dòng vốn FDI từ EU vào Singapore tăng 4,7 lần lên 18 tỷ USD, từ Nhật Bản tăng 32% lên 5 tỷ USD, từ Hàn Quốc tăng hơn 3 lần lên 2,3 tỷ USD FDI từ các nền kinh tế khác cũng tăng và tất cả đủ bù đắp sự sụt giảm đáng kể của FDI từ Hoa Kỳ (từ 28 tỷ USD năm 2017 xuống chỉ còn 4 tỷ USD năm 2018) Tỷ lệ vốn FDI vào Singapore tiếp tục tăng từ 52,07% năm 2018 lên 57,35% năm 2019

Tỷ trọng FDI vào ASEAN của 10 nhà đầu tư hàng đầu (Bảng 2) giảm từ 75% năm 2017 xuống 64% năm 2018, cho thấy sự đa dạng hóa các nguồn vốn FDI Mặc dù giảm 3% nhưng đầu tư nội khối ASEAN (25 tỷ USD) vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (16% FDI vào ASEAN) Singapore vẫn là nhà đầu tư lớn nhất trong khu vực và Indonesia là nước nhận đầu tư nội vùng lớn nhất Tuy nhiên, không phải tất

cả các khoản đầu tư nội vùng từ Singapore là nhà đầu tư Singapore vì có nhiều doanh nghiệp nước ngoài có trụ sở tại Singapore cũng đầu tư thông qua đến các quốc gia thành viên ASEAN khác

Trang 9

Bảng 2: Nhóm 10 đối tác đầu tư vào ASEAN 2017–2018

Đơn vị: tỷ USD,%

Đối tác Năm 2017 Đối tác Năm 2018

Nguồn: ASEAN Investment Report 2019

Luxembourg, Đan Mạch, Pháp và Vương quốc Anh Hơn 80% FDI từ EU đến hoặc qua Singapore (chủ yếu từ Hà Lan và Vương quốc Anh) Mặc dù dòng vốn FDI giảm, Hà Lan vẫn là nhà đầu tư lớn nhất của EU trong khu vực – vị trí mà Hà Lan nắm giữ vào năm 2017

FDI từ Nhật Bản tăng 30% lên 21 tỷ USD, tập trung ở Thái Lan, Singapore, Indonesia và Việt Nam FDI từ Nhật Bản vào 4 nước thành viên này chiếm hơn 91% đầu tư của Nhật Bản vào ASEAN FDI từ Hồng Kông (Trung Quốc) tăng 83% lên 10 tỷ USD năm 2018, khiến nền kinh tế này thành nhà đầu tư lớn thứ tư trong ASEAN Ba quốc gia thành viên (Singapore, Thái Lan và Malaysia) nhận được gần 60% FDI từ Hồng Kông

Hàn Quốc là nhà đầu tư quan trọng Năm 2018, ASEAN vẫn là một điểm nhận đầu tư quan trọng của FDI từ Hàn Quốc Phần lớn FDI từ Hàn Quốc tiếp tục tập trung ở Việt Nam và Singapore Tuy nhiên, FDI của Hàn Quốc có xu hướng tăng tại Campuchia, Indonesia, Myanmar và Thái Lan từ năm 2017

Bảng 3 cho thấy có sự khác biệt trong FDI vào ASEAN phân theo ngành kinh tế Lĩnh vực sản xuất và ba ngành dịch vụ chủ yếu là bán buôn và bán lẻ, tài chính và bảo hiểm, bất động sản là ngành thu hút FDI chủ yếu Riêng lĩnh vực sản xuất và ba ngành dịch vụ này chiếm tới 84,52% tổng vốn FDI vào ASEAN Con số này tăng nhẹ so với năm 2018 (80,39%) cho thấy mức độ tập trung của FDI vào ASEAN

Đặc biệt, FDI vào lĩnh vực tài chính và bảo hiểm tăng mạnh, từ 32.022,41 triệu USD năm 2018 lên 51.306,90 triệu USD năm 2019, đẩy tỷ lệ vốn trong ngành này từ 21,57% lên 31,95% tổng vốn FDI vào ASEAN

Trang 10

FDI vào lĩnh vực sản xuất tăng nhẹ, từ 54.818,77 triệu USD năm 2018 lên 56.242,30 triệu USD lên

2019 Sự gia tăng FDI lĩnh vực sản xuất ở ASEAN một phần là do chuyển dịch từ Trung Quốc và quốc gia đang phát triển khác do tác động của căng thẳng thương mại Hoa Kỳ – Trung Quốc Các quốc gia hưởng lợi chính về FDI trong lĩnh vực sản xuất là Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia Theo khảo sát của Phòng thương mại Hoa Kỳ tại Trung Quốc, khoảng 30% trong 430 doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Trung Quốc có xu hướng chuyển cơ sở sản xuất để giảm thiểu tác động mức thuế cao hơn trước biến động khó lường của căng thẳng thương mại Hoà Kỳ – Trung Quốc và 18,5% chuyển sang ASEAN Tuy nhiên, mức gia tăng này chậm hơn so với các ngành khác nên tỷ trọng FDI trong sản xuất

so với tổng vốn FDI vào ASEAN giảm nhẹ, từ 35,81% năm 2018 xuống còn 35,03% năm 2019

Bảng 3: FDI vào ASEAN theo ngành kinh tế 2018–2019

Đơn vị: triệu USD,%

Ngành/Lĩnh vực

Năm 2018 Năm 2019

Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 812,22 0,53 2.313,95 1,44 Cung cấp điện, ga, hơi nước và điều hoà 1.319,12 0,86 1.559,24 0,97

Hoạt động khoa học và công nghệ 1.269,07 0,83 688,67 0,43 Cấp nước, thoát nước và quản lý chất thải 150,15 0,10 559,11 0,35

Hành chính công, quốc phòng và an ninh 10,83 0,01 11,36 0,01

Nguồn: ASEANstats

Ngày đăng: 22/09/2021, 13:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w