MỞ ĐẦU Bé Gi¸o dôc vµ §µo t¹o Trêng §¹i häc Ngo¹i Th¬ng o0o C«ng tr×nh tham dù Cuéc thi “Sinh viªn nghiªn cøu khoa häc §¹i häc Ngo¹i Th¬ng n¨m 2008” Tªn c«ng tr×nh M« h×nh Temasek Holdings cña Singapo[.]
TẬP ĐOÀN TEMASEK HOLDINGS CỦA SINGAPORE
Tìm hiểu về Tập đoàn Temasek Holdings
Sau khi độc lập khỏi Malaysia, Thủ tướng Lý Quang Diệu nhận thức rằng phát triển kinh tế là mấu chốt cho hòa bình và cuộc sống tốt đẹp của người dân Singapore, một quốc gia nghèo tài nguyên và diện tích nhỏ Ông cùng các cộng sự đã vạch ra hướng phát triển kinh tế thông qua đầu tư ra nước ngoài để mở rộng thị trường và giải quyết vấn đề tài nguyên Tuy nhiên, sự bùng nổ đầu tư ra nước ngoài đã dẫn đến nhu cầu kiểm soát các công ty đầu tư, nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế Do đó, Singapore thành lập Tập đoàn Temasek Holdings, chịu trách nhiệm quản lý khoảng 30 vụ đầu tư khởi nghiệp, nhằm tách biệt vai trò điều hành của Chính phủ khỏi hoạt động kinh doanh Sau 34 năm hoạt động, Temasek đã trở thành mô hình học tập cho nhiều quốc gia có ý định phát triển kinh tế tương tự.
1.1 Đặc điểm tập đoàn Temasek Holdings
1.1.1 Là Tập đoàn kinh doanh vốn đầu tư Nhà nước
Singapore, mặc dù là một nền kinh tế năng động, nhưng không giống như các nước NICs ở Châu Á, tư nhân không đóng vai trò chủ chốt trong quyết định kinh tế; thay vào đó, chính phủ là thành phần quyết định chính.
Temasek là một thành phần chủ chốt trong nền kinh tế Singapore, đã phát triển vượt bậc so với ý định ban đầu, không chỉ kiểm soát thị phần trong nước mà còn mở rộng ra toàn cầu Danh mục đầu tư đa dạng của Temasek tập trung vào các lĩnh vực quan trọng như tài chính ngân hàng, bất động sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, vận tải, truyền thông, giáo dục, hàng hóa tiêu dùng, năng lượng và kỹ thuật, tất cả đều có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc gia Temasek không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ vi mô mà còn đóng vai trò vĩ mô trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế Dù trải qua nhiều thay đổi, Temasek Holdings vẫn giữ vững uy tín là tổ chức đầu tư danh tiếng thuộc Chính phủ Singapore và Bộ Tài chính.
1.1.2 Kinh doanh theo kiểu tư nhân
Temasek, mặc dù là công ty 100% vốn Nhà nước, hoạt động như một công ty tư nhân, không bị Nhà nước chi phối trong quyết định Ban giám đốc đã thuyết phục các nhà đầu tư nước ngoài rằng họ chỉ dựa vào các mối quan tâm thương mại Temasek khẳng định trên trang web của mình rằng các quyết định đầu tư không liên quan đến Thủ tướng và Chính phủ Singapore Từ năm 2002, Temasek đã đầu tư 1,5 tỷ đôla Mỹ vào các ngân hàng tại Indonesia, Hàn Quốc và Ấn Độ, cùng với cổ phần trong Telekom Malaysia, Global Crossing và Quintiles, chứng minh cam kết của họ với giới doanh nghiệp quốc tế.
Temasek đã trở thành hình mẫu cho các công ty đầu tư Nhà nước hoạt động theo kiểu tư nhân, được công nhận rộng rãi từ khi ra mắt vào ngày 04/01/2008 Vào giữa năm 2007, Chính phủ Trung Quốc cũng đã thành lập một công ty đầu tư tương tự như Temasek Ngay cả ở các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước phương Tây, Temasek được công nhận về tính năng động và hiệu quả, khẳng định vai trò quan trọng của khu vực tư nhân trong nền kinh tế.
1.1.3 Luôn theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Temasek luôn đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho công ty và cổ đông, điều này có nghĩa là hoạt động kinh doanh hiệu quả trong từng lĩnh vực mà họ tham gia Họ tập trung vào việc nâng cao giá trị các khoản đầu tư trong danh mục, với thước đo hiệu quả là mức lợi tức từ các khoản đầu tư Theo số liệu công bố, Temasek đã mang lại mức lợi tức đầu tư bình quân ấn tượng 18%/năm cho cổ đông, tính theo giá trị thị trường của danh mục đầu tư.
Temasek đã phát triển mạnh mẽ trong 30 năm qua, hiện có hơn 170.000 nhân viên và 32 công ty con, trong đó có 9 công ty ở nước ngoài Tại Singapore, Temasek nắm giữ khoảng 1/5 tổng giá trị thị trường chứng khoán và kiểm soát 7 trong số 10 công ty niêm yết lớn nhất Là cổ đông lớn nhất của Singapore Airlines, Temasek còn đầu tư vào nhiều tập đoàn lớn như Sing Tel, CMS, Keppel, và DBS Các công ty có Temasek là cổ đông đóng góp hơn 15% GDP của Singapore Từ vốn ban đầu 354 triệu đô la Singapore, tổng giá trị danh mục đầu tư ròng của Temasek hiện đạt 164 tỷ đô la Singapore, thể hiện mức tăng trưởng ấn tượng trong ngành đầu tư.
1.2 Các hoạt động của Tập đoàn từ khi thành lập cho đến nay (1974-2007 ) Đầu thập niên 1960, Chính phủ Singapore đã mua một số cổ phiếu của các ngành đóng tàu và chế tạo trong nước Các cổ phần này do Bộ Tài chính nắm giữ và đó chính là tiền thân của Temasek Holdings Với khởi đầu khiêm tốn, đến nay phạm vi đầu tư chính của Temasek gần như bao trùm toàn bộ các lĩnh vực và các ngành kinh tế mũi nhọn của Singapore
1.2.1 Tình hình hoạt động từ năm 1974 đến 2007 Để hiểu hơn về Tập đoàn này, chúng tôi sẽ tóm tắt các hoạt động chính của Temasek Holdings từ năm 1974 cho đến năm 2007 và các số liệu liên quan đến tình hình kinh doanh của Công ty
Từ năm 1974 đến 1985, Công ty đã được thành lập và xây dựng nền tảng cho các hoạt động của mình, với giá trị danh mục đầu tư ban đầu đạt 354 triệu đôla Singapore.
Temasek đã bắt đầu mở rộng danh mục đầu tư của mình, với giá trị danh mục đạt từ 5 đến 20 triệu đôla Singapore trong giai đoạn này.
Từ năm 1994 đến 2003, Công ty đã phải đối mặt với nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh SAR và sự kiện 11/9, dẫn đến giá trị danh mục đầu tư đạt mức cao nhưng không ổn định Cuối năm 1994, sự ra đời của công ty Sing Tel đã kéo giá trị đầu tư lên tới 64 đôla Singapore Từ năm 1995 đến 1999, giá trị này dao động từ 62 đến 100 triệu đôla Singapore, và năm 2000 ghi nhận kỷ lục với 120 triệu đôla Singapore Tuy nhiên, từ 2001 đến 2003, giá trị danh mục đầu tư giảm xuống còn 60 triệu đôla Singapore do tác động của sự kiện 11/9 và dịch bệnh SAR.
Tập đoàn Temasek đã công khai tài chính lần đầu tiên sau 30 năm thành lập vào ngày 12 tháng 10, với lợi nhuận 7.4 tỷ đôla Singapore trên tổng doanh thu 56.5 tỷ đôla Singapore trong năm tài chính kết thúc tháng 3 năm 2004 Tính đến năm 2004, Temasek sở hữu tài sản trị giá 90 tỷ đôla Singapore và đã cung cấp lợi nhuận hàng năm 18% cho cổ đông từ năm 1974 Tập đoàn này nắm giữ 1/3 vốn cổ phần của Singapore, đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong việc công khai thông tin Nhờ đó, Temasek được ghi tên trong danh sách đánh giá tín dụng của Standard & Poor’s và Moody’s, tạo lợi thế trong việc phát hành trái phiếu quốc tế.
Năm 2005 đánh dấu một cột mốc quan trọng với nhiều thương vụ thâu tóm cổ phần của các công ty nước ngoài và các khoản đầu tư lớn nhất trong lịch sử của Temasek Những công ty tiêu biểu trong năm này bao gồm MPlant, NDLC-Ific Bank, Russian TeleSystems, Amtel Holland Holdings, Ngân hàng Thương mại Chang Hwa của Đài Loan, Chinatrust Financial Holding Co, và Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc.
Temasek tiếp tục mở rộng sức mạnh tại Châu Á thông qua các dự án thâu tóm cổ phần của các công ty nước ngoài, nổi bật là vụ mua lại 49%.
% cổ phần của Shin Corporation từ gia đình cựu Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra
Năm 2007 Đây là năm mà lần đầu tiên giá trị danh mục đầu tư ròng của Temasek vượt ngưỡng
100 tỷ đôla Mỹ, được các tổ chức Standard & Poor’s và Moody’s xếp hạng AAA/Aaa, tức hạng tối ưu và gần tối ưu
Nguồn: Portfolio Highlights - Temasek Review 2007
1.2.2 Số lượng các Công ty thành viên và Công bố tài chính của Temasek Holdings a) Số lượng các doanh nghiệp thành viên tính đến năm 2007
Bảng 1: Số lƣợng các Công ty thành viên của Temasek Holdings tính đến năm 2007
Tài chính & Ngân hàng 11 http://svnckh.com.vn 8
Bất động sản 5 Đa nghành 3
Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia về Temasek Holdings b) Bản công bố doanh thu của Tập đoàn Temasek Holdings trong các năm từ 2004 đến
Bảng 2: Doanh thu hoạt động của Tập đoàn từ năm 2004 đến 2007
Tính theo tỷ đôla Singapore Năm tài chính (tính đến 31 tháng 3 hàng năm)
Thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác 1,482 3,334 7,678 8,370
Chi phí bán hàng và phân phối hppo
Lợi nhuận trước khi tính các hạng mục đặc biệt
Các hạng mục đặc biệt 2,165 404 1,66 -
Lợi nhuận sau khi tính thu nhập đặc biệt
Các hạng mục phát sinh 1,077 - - - http://svnckh.com.vn 9
Cổ phần của các công ty liên doanh và đối tác 1,472 1,410 1,163 (830)
Cổ phần từ các dự án liên doanh 787 1,037 1,263 1,566 Lợi nhuận trước thuế thu nhập 11,773 12,215 18,984 14,341 Chi phí cho thuế thu nhập (2,050) (1,837) (2,518) (1,381)
Lợi nhuận từ các hoạt động tiếp tục tiến hành 9,723 10,378 16,466 12,960
Lợi nhuận từ các hoạt động đã kết thúc - 31 67 16
Tổng lợi nhuận - 10,409 16,533 12,976 Đóng góp: - - - -
- Cổ đông của công ty 7,365 7,521 12,827 9,112
Tổng lợi nhuận cho năm tài chính 9,723 10,409 16,533 12,976
Nguồn: Group Financial Summary - Temasek Review 2007
Đánh giá hoạt động của Temasek Holdings
2.1.1.Thành công về tính hiệu quả Ước mong xây dựng một công ty đầu tư vốn Nhà nước thành công là khát khao của bất kỳ quốc gia nào nơi mà Chính phủ muốn áp dụng bàn tay can thiệp của mình vào thị trường một cách trực tiếp, nhanh chóng và hiệu quả Tuy nhiên, để đảm bảo được tính hiệu quả của riêng công ty đó mà vẫn không ảnh hưởng tới sự công bằng chung, đồng thời không gây những tác động xấu tới nền kinh tế bằng các chính sách một phía của mình, vốn chưa bao giờ là chuyện dễ dàng Ngoài Singapore, có rất nhiều các quốc gia Châu Á khác như Inđônêxia, Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia… hay thậm chí cả ở http://svnckh.com.vn 10 cường quốc số một thế giới là Mỹ cũng mong muốn xây dựng một loại hình kinh tế thành công tương tự như Temasek Holdings Nhưng cho đến nay, cũng chỉ có một Temasek Holdings là thành công duy nhất Từ lâu Tập đoàn này được giới quan sát đem ra làm khuôn mẫu cho hoạt động của các công ty đầu tư vốn Nhà nước trên toàn thế giới Với riêng Việt Nam, Temasek cũng là gợi ý và động lực cho sự ra đời của SCIC
2.1.2 Đóng góp vào sự phát triển của Singapore
Kể từ khi thành lập, Temasek Holdings đã đóng góp to lớn vào nền kinh tế Singapore, tương tự như vai trò của các Cheabol ở Hàn Quốc và các Tập đoàn tài phiệt Keiretsu ở Nhật Bản trong những năm 1950 Temasek Holdings không chỉ là một nhà đầu tư chiến lược mà còn là động lực chính cho sự phát triển kinh tế của quốc gia.
Trong tổng thu nhập quốc nội, Temasek chiếm tỷ trọng không nhỏ Tính đến năm
Năm 2007, Tập đoàn Temasek đã tích lũy được 110 tỷ đô la Mỹ, đóng góp 15% vào GDP của nền kinh tế Singapore Temasek không chỉ hoạt động tại các nước đang phát triển ở Châu Á mà còn mở rộng ra thị trường các nước phát triển như Nhật Bản, Canada và Mỹ, không ngừng mở rộng quy mô và sức mạnh.
2.2 Những mặt chƣa hiệu quả và cách giải quyết của Temasek Holdings
2.2.1 Chưa tách hết được yếu tố Nhà nước ra khỏi Tập đoàn
Yếu tố Nhà nước tại Temasek thể hiện qua sự ưu đãi đầu tư từ Chính phủ, với nhiều khoản đầu tư vào các công ty độc quyền hoặc trong môi trường bảo hộ Việc đánh thuế thấp đối với Tập đoàn, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới, cũng là một hình thức bảo hộ Bà Ho Ching, Tổng Giám đốc điều hành, nỗ lực thuyết phục nhà đầu tư nước ngoài rằng Temasek, dù là công ty 100% vốn Nhà nước, hoạt động độc lập và không bị chi phối bởi Nhà nước Temasek cam kết hoạt động như một công ty thương mại, với quyết định dựa trên lợi ích thương mại, không bị ảnh hưởng bởi Chính phủ Tuy nhiên, việc tách bạch yếu tố Nhà nước là khó khăn do sự can thiệp có thể rất tinh vi Dù vậy, Temasek vẫn nỗ lực để được công nhận là một thực thể độc lập trong kinh doanh.
2.2.2 Quản lý vốn chưa minh bạch
Công ty Nhà nước thường bị nghi ngờ về mục đích chính trị trong các dự án kinh doanh Temasek đã mua lại nhiều cổ phần từ các công ty danh tiếng nước ngoài, làm gia tăng lo ngại về tính minh bạch Điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và tham vọng mở rộng tại Châu Á của Tập đoàn Để giải quyết vấn đề này, vào năm 2004, Temasek Holdings đã công bố báo cáo thường niên đầu tiên, nhằm chứng minh sự minh bạch trong quản lý vốn Bản công bố tài chính này không chỉ xoa dịu lo lắng của nhà đầu tư mà còn giúp Temasek phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế để thực hiện chiến lược đầu tư mở rộng.
Các công ty đầu tư vốn Nhà nước, như Temasek Holdings, GIC của Singapore, SASAC của Trung Quốc và SCIC của Việt Nam, đều phải đối mặt với những trở ngại chung Điều quan trọng là tìm ra giải pháp để xua tan nghi ngờ thông qua hiệu quả kinh doanh và thực hiện nghiêm túc các cam kết Temasek đã thành công trong việc này nhờ nỗ lực và khả năng của mình, thể hiện ý chí của một doanh nghiệp có tham vọng chính đáng.
Cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi chỉ trích Temasek, vì ngoài những vấn đề khách quan khó tránh, Temasek còn là mô hình tiên phong trong việc quản lý công ty đầu tư vốn Nhà nước theo kiểu tư nhân Hai nhược điểm của Temasek chính là bài học quý báu cho các công ty có ý định tiếp bước, giúp họ phân tích và rút ra kinh nghiệm.
Từ Temasek Holdings tới kinh nghiệm xây dựng một mô hình công ty đầu tƣ vốn Nhà nước hiệu quả
Việc xác định rõ ràng công ty đầu tư Nhà nước thuộc thành phần kinh tế nào là một thách thức lớn, vì sự lưỡng thể này có thể gây khó khăn cho các công ty Nếu thành công, họ có thể bị nghi ngờ về việc nhận ưu đãi từ Chính phủ, trong khi nếu thất bại, họ sẽ bị chỉ trích vì phụ thuộc vào Nhà nước Do đó, các công ty đầu tư vốn Nhà nước cần nỗ lực rất nhiều để đạt được thành công Quan sát từ Temasek cho thấy rằng sự kết hợp giữa các định chế hoạt động hiệu quả, lãnh đạo sáng suốt và nỗ lực không ngừng đã mang lại kết quả ấn tượng Dưới đây là những kinh nghiệm từ Temasek Holdings và các công ty tương tự, được tổng hợp như một mô hình tham khảo cho các công ty đầu tư vốn Nhà nước.
3.1 Độc lập hoá khỏi Nhà nước trong quá trình ra quyết định và cơ chế tự chịu trách nhiệm
Nhà nước, ngoài chức năng chính trị, có quyền tham gia vào hoạt động kinh doanh thông qua việc đầu tư vốn Đối với các công ty có vốn đầu tư Nhà nước, Nhà nước đóng vai trò như cổ đông, hưởng lợi nhuận và bù đắp thiếu hụt Để các công ty này hoạt động hiệu quả, cần có ban quản lý độc lập với cổ đông Đây là bản chất của công ty đầu tư vốn Nhà nước, giúp công ty ra quyết định độc lập và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra khung pháp lý cho các công ty, nhưng cũng cần để các công ty này phát triển độc lập và tự chịu trách nhiệm Công ty đầu tư vốn Nhà nước, mặc dù là sản phẩm của Nhà nước, không nên để sự can thiệp của Nhà nước ảnh hưởng đến quyết định của mình, vì điều này có thể dẫn đến việc trở thành công cụ của Chính phủ Các công ty này cần có tư tưởng độc lập và tự tạo ý thức "tự làm tự chịu" trong mọi thương vụ Chính sách bảo hộ chỉ nên áp dụng trong giai đoạn đầu, sau đó cần có cơ chế thưởng phạt rõ ràng để thúc đẩy sự phát triển Chỉ những công ty tự cường mới có thể đứng vững và phát triển bền vững trong thị trường Cuối cùng, công ty đầu tư vốn Nhà nước phải tạo ra lợi nhuận và có tác động tích cực đến nền kinh tế quốc gia.
3.2 Hoạt động theo kiểu tư nhân
Một mối quan hệ tốt với Chính phủ có thể mang lại lợi thế cho công ty, nhưng việc đầu tư vốn Nhà nước kèm theo ý tưởng chính trị có thể gây khó khăn cho sự thành công Điều này xuất phát từ các yếu tố khách quan liên quan đến chính sách xã hội và đối ngoại Chính phủ thường chỉ thực sự hiệu quả khi thiết lập các chính sách vĩ mô, trong khi việc thực thi các chính sách vi mô thường do khu vực tư nhân thực hiện tốt hơn Do đó, các công ty đầu tư vốn Nhà nước nên định hướng hoạt động kinh doanh theo mô hình tư nhân để đạt hiệu quả tối ưu Temasek Holdings đã thành công khi tự xem mình như một phần của nền kinh tế tư nhân, từ đó cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường.
Mọi công ty tư nhân đều hướng đến lợi nhuận và phải đưa ra các quyết định nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế Điều này cũng áp dụng cho các công ty đầu tư vốn Nhà nước, khi họ cần phải năng động như các công ty tư nhân để không bị đối thủ cạnh tranh vượt qua Do đó, các công ty Nhà nước cần xác định rõ bản thân, chiến lược cạnh tranh và hoạt động hiệu quả, thay vì chờ đợi sự hỗ trợ từ Chính phủ, vì điều này có thể dẫn đến sự tự tiêu diệt Temasek Holdings là một ví dụ điển hình về thành công nhờ vào những quyết định đúng đắn và sự độc lập khỏi Nhà nước.
3.3 Ban lãnh đạo có năng lực và không bị ràng buộc quyền lợi với Chính phủ
Sự sống còn của các công ty đầu tư vốn Nhà nước không chỉ quan trọng đối với chính công ty mà còn ảnh hưởng đến Chính phủ và nền kinh tế Việc điều hành một tập đoàn đòi hỏi các nhà quản lý cấp cao phải có năng lực quản lý và chuyên môn vững vàng, cùng với ý thức trách nhiệm cao Temasek thành công nhờ vào sự lãnh đạo tốt và sự hỗ trợ từ ban cố vấn quốc tế danh tiếng, bao gồm các lãnh đạo từ Merrill Lynch Điều này giúp Temasek có khả năng ra quyết định độc lập, không bị ảnh hưởng bởi Nhà nước hay các yếu tố chính trị, với mục tiêu duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận.
3.4 Nhận thức đúng đắn từ phía Chính phủ
Chính phủ cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định thành lập Tập đoàn vốn đầu tư Nhà nước, xem xét cả hiệu quả kinh tế và xã hội Họ phải nhận thức rõ trách nhiệm và quyền hạn khi can thiệp vào hoạt động của công ty, đồng thời hiểu bản chất của công ty Nhà nước để hỗ trợ mà không làm méo mó quy luật thị trường Nhà nước cần phân định rõ quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp, và thiết lập các điều luật hay chính sách phù hợp để quản lý loại hình kinh tế này Cuối cùng, Chính phủ cũng cần giới hạn rõ quyền hạn của mình đối với các doanh nghiệp thuộc mô hình trên.
TỔNG CÔNG TY SCIC CỦA VIỆT NAM
Tìm hiểu về Tập đoàn SCIC
Tổng công ty SCIC, viết tắt từ tiếng Anh là State Company of Investment and Commerce, có tên gọi tương tự như Temasek Holdings Điều này đặt ra câu hỏi liệu SCIC có phải là bản sao của Temasek Holdings hay không.
Vào đầu năm 2005, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt thành lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn Nhà nước SCIC đại diện duy nhất cho sở hữu vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp, thực hiện quyền đầu tư tài chính và kinh doanh theo nguyên tắc thị trường Sự ra đời của SCIC là một phần trong tiến trình cải cách kinh tế và doanh nghiệp, giúp tách quản lý Nhà nước khỏi quản lý kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư và giảm lãng phí nguồn vốn.
1.1.1 Cơ sở pháp lí cho việc thành lập
SCIC được xây dựng dựa trên những nguồn luật sau đây:
3 Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước
4 Quyết định số 152/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về http://svnckh.com.vn 18 phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước
1.1.2.Tổ chức bộ máy quản lý
SCIC, với vai trò là một "siêu" Tổng công ty, quản lý hàng trăm doanh nghiệp thành viên, sở hữu bộ máy tổ chức chặt chẽ với nhiều ban chuyên môn, mỗi ban chịu trách nhiệm riêng trong phạm vi hoạt động của mình.
Bảng 3: Sơ đồ bộ máy quản lý
Nguồn:http://www.scic.vn/index.php?option=com_content&task=blogcategory&id=3&I temid
CÁC UỶ BAN CHUYÊN TRÁCH
BAN TỔ CHỨC CÁN BỘ
CHI NHÁNH KHU VỰC PHÍA NAM
BAN KIỂM TOÁN NỘI BỘ BAN GIÁM ĐỐC
BAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
CÁC CÔNG TY THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG TƯ VẤN
CÁC CÔNG TY LIÊN KẾT http://svnckh.com.vn 19
1.1.3 Qui định trong cơ cấu hoạt động
SCIC đang gánh vác trọng trách tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) kém hiệu quả, với mục tiêu trở thành nhà đầu tư tin cậy của Chính phủ Để thực hiện nhiệm vụ này, SCIC đã xây dựng một bộ khung pháp lý tương đối quy mô cho hoạt động kinh doanh của mình Dưới đây là một số điểm chính yếu để phân tích về vấn đề này.
Vai trò và vị thế
1 Đổi mới quan hệ giữa Nhà nước và DNNN trên nguyên tắc phân định tách quyền quản lí Nhà nước khỏi quyền quản lí kinh doanh Tách quyền chủ sở hữu vốn Nhà nước tại doanh nghiệp với quyền sử dụng vốn Nhà nước
2 Chuyển việc quản lí doanh nghiệp có vốn của Nhà nước từ phương thức hành chính sang phương thức kinh doanh vốn
3 Đổi mới cơ chế đầu tư kinh doanh vốn của Nhà nước vào các nghiệp vụ phù hợp với cơ chế thị trường, chuyển từ cơ chế bao cấp về vốn (cấp vốn không hoàn lại) sang hình thức đầu tư tài chính vào doanh nghiệp
4 Tạo công cụ để đẩy nhanh quá trình cải cách sắp xếp và chuyển đổi DNNN, thúc đẩy thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển
5 Làm đầu mối để hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tiếp cận các hỗ trợ của Nhà nước để chủ động trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới
Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu
1 Tiếp nhận và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước đầu tư
2 Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước vào các ngành, lĩnh vực kinh tế trong nước và nước ngoài dưới hình thức
3 Thực hiện việc đầu tư và quản lí vốn đầu tư của Tổng công ty vào các lĩnh vực, ngành kinh tế quốc dân theo nhiệm vụ Nhà nước giao
4 Tổ chức huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước để bổ sung vốn kinh doanh thông qua việc vay vốn, phát hành trái phiếu công ty, trái phiếu công trình, lập quỹ tín thác đầu tư theo qui định của pháp luật đối với công ty Nhà nước
Vốn hoạt động http://svnckh.com.vn 20
Vốn điều lệ ban đầu của công ty là 5000 tỷ đồng, trong đó bao gồm 1000 tỷ đồng từ ngân sách Nhà nước và vốn tiếp nhận từ các công ty khi thực hiện việc tiếp nhận và đại diện quyền chủ sở hữu vốn Nhà nước tại thời điểm thành lập.
2 Vốn Nhà nước bổ sung cho Tổng công ty để thực hiện việc đầu tư và vốn tiếp nhận bổ sung từ các công ty
3 Vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế, vốn huy động và các nguồn vốn hợp pháp khác
Thẩm quyền quyết định đầu tư vốn
Tổng công ty có quyền quyết định lựa chọn dự án đầu tư, phương thức đầu tư, mức vốn và thời gian đầu tư cho từng dự án và doanh nghiệp trong phạm vi vốn mà Tổng công ty quản lý Ngoài ra, Tổng công ty cũng có quyền giảm bớt phần vốn của mình tại các doanh nghiệp khác thông qua việc chuyển nhượng vốn và bán cổ phần.
Thủ tướng Chính phủ quyết định các trường hợp đầu tư bao gồm: mức đầu tư vượt thẩm quyền của Tổng công ty theo quy định pháp luật, đầu tư vào các dự án và lĩnh vực có rủi ro cao, cũng như đầu tư vào các ngành không có khả năng sinh lời, cần có chính sách ưu đãi và sự hỗ trợ tài chính từ Nhà nước.
Tài chính của Tổng công ty
Tổng công ty hoạt động như một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính và thực hiện chế độ hạch toán kế toán tập trung Đơn vị này có trách nhiệm thực hiện chế độ kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo thống kê và kiểm toán theo quy định Đồng thời, tổng công ty cũng phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính và được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.
1.2.1 Là một công ty đầu tư vốn Nhà nước http://svnckh.com.vn 21
SCIC là tổ chức kinh tế đặc biệt của Nhà nước, quản lý và đầu tư vốn Nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định pháp luật Sự ra đời của SCIC là kết quả nghiên cứu của Chính phủ, tham khảo mô hình Temasek Holdings của Singapore, nhằm cải cách quản lý DNNN SCIC tách biệt chức năng chủ sở hữu và quản lý hành chính, kỳ vọng chấm dứt tình trạng không rõ ràng về người đại diện sở hữu vốn Nhà nước tại các công ty cổ phần, giúp vốn Nhà nước hoạt động hiệu quả hơn Tổng công ty đóng vai trò là đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước, nhà đầu tư chiến lược của Chính phủ, và cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính cho khách hàng.
1.2.2 Hoạt động vẫn phụ thuộc quá nhiều vào Chính phủ
Đánh giá hoạt động của SCIC
2.1.Những đóng góp thiết thực cho nền kinh tế
2.1.1 Tập trung góp vốn phát triển nền kinh tế, giúp Nhà nước đầu tư hiệu quả
Các DNNN và doanh nghiệp cổ phần hoá gặp khó khăn trong việc phối hợp và điều hành do bị chi phối bởi nhiều cơ quan chủ quản, dẫn đến hoạt động kém hiệu quả SCIC ra đời nhằm chấn chỉnh tình trạng này bằng cách tập trung quản lý vốn Nhà nước, giúp Nhà nước nắm rõ số tiền, vị trí và phương pháp quản lý Điều này tạo điều kiện cho việc tính toán giải pháp kinh doanh hiệu quả hơn Một trong những hoạt động của SCIC là thoái vốn, rút vốn khỏi những ngành nghề hoặc doanh nghiệp khó quản lý và không sinh lời, từ đó tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro thiệt hại vốn cho Nhà nước.
Cải cách thủ tục hành chính thông qua việc tách biệt mệnh lệnh hành chính khỏi hoạt động kinh doanh là một bước tiến quan trọng, giúp giảm bớt trở lực cho doanh nghiệp SCIC không có quyền ra lệnh mà chỉ chi phối các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thông qua vốn chủ sở hữu Việc phân tách quản lý nhà nước khỏi quản lý kinh doanh là ý nghĩa cốt lõi trong việc thành lập SCIC, khác với cơ chế hành chính trước đây Nhà nước trở thành một cổ đông bình đẳng, giúp doanh nghiệp tự chủ hơn và tăng cường tiềm lực, đồng thời quản lý vốn hiệu quả hơn.
Sự đóng góp thiết thực cho nền kinh tế được thể hiện qua các mặt sau:
Trước đây, tại các doanh nghiệp cổ phần hóa, Nhà nước cử đại diện xuống doanh nghiệp nhưng thường là những cán bộ kiêm nhiệm với kỹ năng quản trị yếu, không bị ràng buộc trách nhiệm về đồng vốn Nhà nước Điều này dẫn đến tình trạng lãng phí và thất thoát tài sản, đặc biệt trong việc định giá tài sản doanh nghiệp Nếu không được chỉnh đốn, tài sản Nhà nước có thể rơi vào tay một số bộ phận cơ hội với giá rẻ Hiện nay, Nhà nước đã có SCIC, một cơ quan chuyên quản lý vốn, nhằm giảm thiểu tình trạng lộn xộn và tập trung vốn SCIC tuân thủ Luật Doanh nghiệp và có trách nhiệm với đồng vốn Nhà nước, giúp ngăn chặn thất thoát vốn Để xác định giá trị doanh nghiệp, SCIC áp dụng các công cụ định giá quốc tế, phân loại doanh nghiệp thành ba nhóm A, B, C để có phương án đầu tư quản lý vốn phù hợp.
Cơ chế người đại diện
Các đại diện phần vốn Nhà nước cũ sẽ được rà soát, chỉ giữ lại những người phù hợp với cơ chế mới, tách chức năng quản lý Nhà nước khỏi kinh doanh Việc quản lý nguồn vốn sẽ được giao cho một đơn vị độc lập, áp dụng các chuẩn mực quản trị doanh nghiệp mới nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư của Nhà nước Từ cuối năm 2006, khi SCIC hoạt động ổn định, cơ chế bộ chủ quản cấp tỉnh đã không còn, thay vào đó là cơ chế người đại diện, giúp chấm dứt tình trạng "bình mới rượu cũ" trong các doanh nghiệp có vốn Nhà nước đã cổ phần hóa Điều quan trọng hiện nay là nâng cao hiệu quả nguồn vốn đầu tư và xác định rõ trách nhiệm sử dụng nguồn vốn, với tiền đề là phân định trách nhiệm rõ ràng và hạn chế cán bộ kiêm nhiệm.
Theo quy chế của SCIC, "người đại diện" là cá nhân được cấp có thẩm quyền chỉ định hoặc thuê để đại diện cho phần vốn góp của Tổng công ty tại các doanh nghiệp Người đại diện có trách nhiệm quản lý phần vốn đầu tư của Tổng công ty tại những doanh nghiệp này Việc cử người đại diện sẽ dựa vào quy mô vốn, đặc điểm và hình thức kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như năng lực của cán bộ.
- Cử trực tiếp nhân viên thuộc Tổng công ty;
- Uỷ quyền cho cán bộ hoặc lãnh đạo đang làm việc tại doanh nghiệp;
- Uỷ quyền cho lãnh đạo doanh nghiệp thay mặt Tổng công ty thực hiện một số nhiệm vụ;
SCIC luôn sẵn sàng thuê người đại diện mới hoặc cử cán bộ chuyên trách khi cần thiết Quy chế người đại diện được xây dựng một cách tỉ mỉ và khoa học, bao gồm các điều khoản về chế độ báo cáo, đánh giá và thay thế người đại diện nếu không đáp ứng yêu cầu Điều này giúp minh bạch hóa chức năng quản lý và hành chính, đảm bảo các doanh nghiệp có vốn Nhà nước được đối xử bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác, đồng thời tránh sự cẩu thả trong quyết định kinh doanh Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, người đại diện sẽ có thẩm quyền khác nhau trong việc thực hiện tái cơ cấu và xây dựng chiến lược hoạt động Mối quan hệ giữa Tổng công ty và người đại diện cũng linh hoạt thay đổi theo từng loại hình doanh nghiệp như Công ty TNHH một thành viên, hai thành viên, hay Công ty cổ phần.
Thiết lập quan hệ kinh doanh với nhiều đối tác quốc tế
SCIC, với vai trò là Tổng công ty quản lí và đầu tư vốn của Nhà nước, tổ chức các lớp bồi dưỡng về quản trị và kinh doanh cho lãnh đạo doanh nghiệp Công ty thiết lập quan hệ hợp tác với nhiều đối tác trong và ngoài nước, bao gồm các tổ chức tài chính lớn như WB, ADB, Tập đoàn Temasek (Singapore) và Tập đoàn Merrill Lynch (Mỹ) Điều này giúp SCIC tiếp cận những mô hình quản trị tiên tiến, mang lại lợi thế cho các doanh nghiệp so với những công ty nhỏ hơn Hơn 20 tổ chức tài chính và quỹ đầu tư đã ký biên bản ghi nhớ với SCIC, mở ra nhiều cơ hội mới cho việc phát triển đồng vốn Nhà nước.
2.1.2 Hỗ trợ Nhà nước kiểm soát tốt hơn nền kinh tế
SCIC có tiềm lực tài chính lớn, dự kiến sẽ đầu tư vào các lĩnh vực trọng yếu cần vốn, nhằm thu hút các thành phần kinh tế khác tham gia Để giải quyết tình trạng trì trệ của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), SCIC đã tập trung vốn đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài Một ví dụ là SCIC sẽ hợp tác với Tổng công ty Điện lực Việt Nam để thành lập công ty cổ phần mới xây dựng nhà máy điện, thay vì vay vốn nước ngoài Phương pháp này cũng sẽ được áp dụng cho các ngành như xi măng và xây dựng cảng biển, tuy nhiên, cần thận trọng để không làm mất đi sự kiểm soát của Nhà nước đối với DNNN.
2.2 Những vấn đề tồn tại chƣa đƣợc giải quyết
2.2.1 Chưa có những đóng góp tương xứng so với vai trò trong nền kinh tế
2.2.1.1.Trở ngại lớn nhất của SCIC hiện nay là phần vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp đang được đầu tư quá dàn trải trong một thời gian dài Nguyên nhân của việc bố trí vốn dàn trải là do nhu cầu đầu tư phát triển của các bộ, ngành và địa phương là rất lớn trong khi khả năng tăng đầu tư từ vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển lại có hạn, chỉ đáp ứng được từ 40 - 50% nhu cầu dẫn đến tình trạng các địa phương đều muốn kéo vốn về ngành mình, địa phương mình, thậm chí ngay cả khi chưa có dự án Ngoài ra, trong bố trí kế hoạch vốn đầu tư, còn tâm lý ỷ lại, trông chờ vào nguồn vốn bổ sung của ngân sách Trung ương Đây là một mâu thuẫn thường gặp ở các nước đang phát triển, song đối với nước ta, nó lại càng trở nên gay gắt, đặc biệt là trong giai đoạn thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Để quản lý nguồn vốn Nhà nước hiệu quả hơn, cần xem xét việc bán bớt hoặc bán hết phần vốn đầu tư tại các công ty, theo chỉ đạo của Thủ tướng Số tiền thu được từ việc này sẽ được sử dụng để đầu tư vào các dự án mang lại hiệu quả cao.
2.2.1.2 Có một điều không rõ ràng là SCIC đã cố gắng thâm nhập được đến đâu trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mà nó đã tham gia đầu tư, và liệu nó có cho phép ban lãnh đạo một khoảng thời gian đủ để thực hiện trách nhiệm của mình, hoặc liệu nó đã cố gắng thực thi có hiệu quả quyền chủ sở hữu vốn Nhà nước của mình hay chưa Đã ba năm kể từ khi thành lập, vẫn còn những băn khoăn về hiệu quả thực sự của mô hình đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước này Số liệu thống kê các chỉ số kinh doanh của SCIC chủ yếu lưu hành trong nội bộ doanh nghiệp, không cho phép sự tiếp cận từ bên ngoài nên rất khó để có nhận định chính xác và cụ thể về nỗ lực của Tổng công ty Một khi kết quả kinh doanh không được công bố công khai thì những thắc mắc http://svnckh.com.vn 32 như trên ắt hẳn sẽ còn tồn tại, và những nghi ngờ về tính hiệu quả mà SCIC đạt được sẽ còn tiếp tục trong đánh giá của dư luận cũng như của các chuyên gia
2.2.1.3 Gánh nặng là những trì níu của cơ chế cũ Cơ chế chủ quản với hệ thống chế tài lỏng lẻo, lạc hậu đã làm phương hại đồng vốn Nhà nước nhưng lại là mảnh đất màu mỡ cho nhiều tổ chức, cá nhân liên quan Do là mô hình mới và lại đứng ra quản lý vốn đầu tư của hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước nên SCIC đụng chạm lớn đến quyền lợi của nhiều bộ, ngành, địa phương, những cơ quan trước đây là chủ sở hữu, quản lý doanh nghiệp Lực lượng này gồm lãnh đạo cơ quan chủ quản và lãnh đạo doanh nghiệp thuộc diện chuyển giao Với cơ quan chủ quản, phần lớn lãnh đạo tìm cách từ chối, né tránh hợp tác với SCIC trong việc định giá doanh nghiệp hoặc tự đặt các điều kiện về quyền lợi cục bộ và đòi hỏi SCIC đáp ứng Một số bộ, ngành, địa phương buông lỏng quản lý doanh nghiệp trước khi chuyển giao phần vốn Nhà nước về SCIC, dẫn đến bộ máy doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả; nội bộ doanh nghiệp mất đoàn kết kéo dài, người đại diện không tuân thủ các quy định pháp luật Bộ máy còn thiếu nhân lực của SCIC đã phải mất rất nhiều thời gian cơ cấu lại các doanh nghiệp này trong vai trò là cổ đông lớn nhất
Nghị định 109/2007/NĐ-CP quy định rằng khi cử người đại diện trong công ty cổ phần, cần lấy ý kiến của UBND địa phương, điều này gây khó khăn cho việc tách bạch quyền sở hữu doanh nghiệp với cơ quan chủ quản UBND không có liên quan đến quyền sở hữu DNNN, dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp lớn vẫn bị kìm hãm trong sự quản lý của các bộ ngành Những khó khăn mà SCIC gặp phải không chỉ xuất phát từ một phía, mà còn do một số cán bộ vẫn giữ quan điểm cũ rằng Nhà nước phải quản lý chặt chẽ doanh nghiệp.
“Chuyển giao vốn là khả thi, nhưng nhân sự vẫn cần được giữ lại theo quyết định của bộ Nguyên nhân chính là quyền lợi cá nhân, dẫn đến việc trì hoãn và bán rẻ phần vốn Nhà nước, làm lợi cho cá nhân Một số doanh nghiệp đang tìm cách sáp nhập để tránh bị chuyển giao Nếu không cải thiện tình hình, SCIC sẽ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động Việc các doanh nghiệp về dưới mái nhà SCIC sẽ giúp điều hành hiệu quả và kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, việc quản lý các công ty TNHH một thành viên có thể gây lo ngại về khả năng cạnh tranh giữa các DNNN, khi họ trở thành đối thủ trong cùng một hệ thống.”
2.2.2 Phụ thuộc quá nhiều vào Nhà nước trong việc ra quyết định dẫn đến những quyết định lệch lạc
SCIC, với tư cách là một tổ chức kinh tế đặc biệt trực thuộc Chính phủ, có khả năng cao bị phụ thuộc và chi phối trong quyết định Điều này đã được thể hiện qua các quyết định gần đây của SCIC, không chỉ là sự can thiệp của Chính phủ mà còn là sự lệch lạc khỏi ý định ban đầu Hệ quả là các hoạt động của công ty cũng bị ảnh hưởng, như đã chỉ ra trong phần 1.2, việc SCIC can thiệp vào thị trường chứng khoán là một ví dụ điển hình Uy tín của công ty đã bị suy giảm khi thực hiện những nhiệm vụ không thuộc trách nhiệm của mình.