1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn cơ chế hình thành cái “tôi” chấn thương trong tiểu thuyết “khởi sinh của cô độc” (paul auster)

81 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Chế Hình Thành Cái “Tôi” Chấn Thương Trong Tiểu Thuyết “Khởi Sinh Của Cô Độc” (Paul Auster)
Tác giả Nhóm tác giả
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Văn Chương
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 105,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tương tự khi nghiêncứu các tác phẩm của nhiều tên tuổi của dòng văn học này như Saul Bellow, Jerome DavidSalinger, Bernard Malamud hay Philip Roth, những vấn đề nghiên cứu trong văn chươ

Trang 1

A - MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Phạm trù cái “tôi” vốn luôn được xem xét trong không gian của thế giới riêng

tư, một thế giới ẩn sâu chất chứa những nỗi niềm và cá tính khu biệt Trong văn chương,cái “tôi”chính là cốt lõi của sự sáng tạo, là đáp số mà kẻ viết và người đọc đều muốn đitìm Tuy nhiên, nhà văn trên con đường tìm kiếm và xác lập chính mình cũng cần chấpnhận sự tạm lãng quên bản thân để đại diện cho những giá trị phổ quát và vững bền Bởithế, mặc dù thuộc sở hữu của riêng mỗi cá nhân, cái “tôi” vẫn luôn cất tiếng nói đại diệncho thời đại, cho nhân loại Và đằng sau sự thể hiện, sự phô diễn cái “tôi” luôn là cả mộtthế giới bị bỏ ngỏ Thế giới ấy bao gồm những yếu tố đã trở thành động lực, thành cơ sở

để con người tự ý thức về mình trong mối dây liên hệ vô tận Nghiên cứu cơ chế hìnhthành cái “tôi” chính là đi truy nguyên nguồn gốc, đi tìm nguyên cớ bản chất nhất để cái

“tôi” trong tác phẩm được nảy sinh, được phát triển và hoàn thiện

1.2 Cái “tôi” chấn thương là một trong những vấn đề nổi bật của văn chương hậu

hiện đại, là đề tài đang được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm Cũng như phạm trù cái

“tôi”, cái “tôi” chấn thương tự mang trong mình nhiều nhân tố thúc đẩy, hình thành phứctạp Cốt lõi của nó là sự tổng hòa nhiều phương diện liên quan như tâm lý, văn hóa, xãhội, văn chương Đặc biệt, cái “tôi” chấn thương tìm thấy mình trong các hình thức vănchương của ký ức và tự thuật Việc nghiên cứu cái “tôi” chấn thương trong các tác phẩm

tự truyện vì thế cũng chính là con đường nhìn ra các giá trị lịch sử, văn hóa, văn chươngcũng như các vấn đề của nhân loại, của thời đại

1.3 Paul Auster ( 1947) là một đại diện nổi bật của văn chương hậu hiện đại Mỹ.

Đồng thời, ông cũng thuộc thế hệ tiếp nối của dòng văn chương Do Thái – Mỹ (JewishAmerican literature) Sau nhiều năm làm công việc phê bình và dịch thuật, ông bắt đầu sự

nghiệp viết văn bằng tiểu thuyết tự truyện đầu tay “Sự phát minh của cô độc” (The invention of solitude) Tác phẩm đã giúp Auster để lại một ấn tượng về một nhà văn pha

trộn nhiều đặc điểm văn hóa thú vị Đặc biệt, các yếu tố đời thường của ông được đưavào làm chất liệu sáng tạo tác phẩm đã tạo nên một hướng tiếp cận tiểu thuyết đầy thú vịxuất phát từ những ảnh hưởng tâm lý, văn hóa, xã hội, xung quanh nhà văn Nghiên cứu

Trang 2

tìm hiểu các yếu tố trong tác phẩm, trong đó có cái “tôi” - phạm trù tổng hợp những phẩmchất văn hóa, tính cách con người Paul Auster chính là một con đường khai thác, tìm hiểutác phẩm một cách khá toàn diện

1.4 Paul Auster là một tác giả hậu hiện đại dành được khá nhiều thị phần độc giả

Tại Việt Nam, các tác phẩm mang xu hướng trinh thám của ông được chuyển ngữ và

nhận được nhiều sự quan tâm “Sự phát minh của cô độc” (The invention of solitude) là

tác phẩm đầu tay của ông song lại đến với bạn đọc Việt muộn hơn hẳn Tác phẩm lần đầu

được Phương Huyên chuyển ngữ với nhan đề “Khởi sinh của cô độc” nằm trong tủ sách

“Cánh cửa mở rộng” do Nhà xuất bản Trẻ phát hành vào năm 2013 Cuốn sách tập hợp

nhiều vấn đề về quan điểm, phong cách văn chương của Auster trong suốt sự nghiệp củamình Vì vậy, lựa chọn đi sâu nghiên cứu tác phẩm là một cách tiếp cận văn chương PaulAuster, xét xem nhà văn đã bắt đầu con đường viết của mình từ đâu

Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn cơ chế kiến tạo cái “tôi” chấn thương trong

tiểu thuyết tự truyện “Khởi sinh của cô độc” (Paul Auster) làm đề tài nghiên cứu

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là tiểu thuyết tự truyện “Sự phát minh của

cô độc” (The invention of solitude) Chúng tôi lấy bản dịch tiếng Việt của Phương Huyên với nhan đề “Khởi sinh của cô độc” [4] làm nguồn phân tích, khai thác chủ yếu.

Khi dịch bản của Phương Huyên được ấn hành, đã có những tranh cãi về tên nhan đề

của tác phẩm Các tranh cãi chủ yếu xoay xung quanh việc chuyển nghĩa từ “invention”.

Theo đó, các ý kiến phản bác cách dịch của Phương Huyên chỉ ra rằng: cách dịch

“invention” thành “khởi sinh” được xem là chưa sát nghĩa về cả nghĩa gốc của từ lẫn ý

nghĩa trong tác phẩm “Invention” trong tiếng Anh là danh từ, mang nghĩa là phát minh, chỉ sự sáng chế, phát hiện ra một điều mới Trong khi đó “khởi sinh” mang nghĩa sự bắt

nguồn, chỉ cội nguồn xuất phát Mặt khác, trong tác phẩm, Paul Auster cũng luôn hàm ý côđộc được phát minh ra trong mối dây liên kết thế giới chứ không đi truy tìm nguồn gốc của

nó Như vậy, tên nhan đề khi dịch sang tiếng Việt nên được để là “Sự phát minh/Sáng chế của cô độc”.

Trang 3

Ở đây, chúng tôi cũng đồng ý với ý kiến rằng nhan đề theo cách dịch của PhươngHuyên là chưa thỏa đáng Tuy nhiên, vì khóa luận này chủ yếu lấy dịch bản của PhươngHuyên làm đối tượng nghiên cứu cũng như để đảm bảo tính thống nhất và tôn trọng dịch

giả nên kể từ đây về sau, chúng tôi xin phép được giữ nguyên nhan đề “Khởi sinh của cô độc” trong mọi trích dẫn có tên tác phẩm.

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong khóa luận này, chúng tôi tập trung khảo sát, phân tích, làm rõ cơ chế hình

thành cái “tôi” chấn thương trong tiểu thuyết “Khởi sinh của cô độc” (Paul Auster)

4 Lịch sử vấn đề

4.1 Nghiên cứu về cái “tôi” chấn thương trong tự truyện

Tự truyện là thể loại thu hút được khá nhiều mối quan tâm nghiên cứu Nhất là trongbối cảnh hậu hiện đại với sự bùng nổ của các tác phẩm có yếu tố tự thuật, ngày càng cónhiều công trình nghiên cứu, khai thác thể loại này Trong các mảng nghiên cứu xoayquanh tự truyện, cái “tôi” là một phạm trù rất được quan tâm Cùng với những chuyển biếntrong quan niệm về thể loại tự truyện, cái “tôi” tự truyện cũng mang theo một lịch sửnghiên cứu của mình

Trước hết, đại diện cho quan niệm xem tự truyện là một thể loại nằm ngoài lĩnh vực

văn chương là Philippe Lejune Trong “Quy ước tự truyện” (The autobiographical pact)

[25], ông cho rằng, với thể loại tự truyện, giữa tác giả và người đọc luôn có một cam kếtngầm rằng mọi thứ kể ra đều là sự thật Quan niệm này đồng nghĩa với việc xem cái “tôi”đời thực và cái “tôi” trong tác phẩm là đồng nhất Tác giả này cũng chỉ ra nếu cam kết nàyđược thực hiện thì vẫn chấp nhận được một tự truyện ở ngôi số ba, thay thế cho ngôi thứnhất thường thấy

Quan niệm đối lập với Philippe Lejune là quan niệm coi tự truyện là một thể loại vănhọc Hiện nay, các nghiên cứu đều thiên về hướng quan niệm này Với việc xếp tự truyệnnhư một thể loại văn học giáp ranh đứng giữa những đường biên phức tạp, nghiên cứu cái

“tôi” trong tự truyện cũng mở ra nhiều hướng đi đầy triển vọng Các nhánh, các hướngnghiên cứu cái “tôi” tự truyện trên thế giới vô cùng đa dạng: từ lý thuyết phân tâm học, phêbình chấn thương đến diễn ngôn tự truyện hay lý thuyết tự sự học,

Trang 4

Trong các nhánh rẽ đó, lý thuyết phê bình chấn thương có liên quan trực tiếp đến việcnghiên cứu cái “tôi” chấn thương trong tự truyện Lý thuyết phê bình này gắn liền với tên

tuổi của Cathy Caruth với hàng loạt các bài viết, công trình như:“ Kinh nghiệm không được khẳng định: Chấn thương và những khả năng của lịch sử” (Unclaimed Experience: Trauma and The Possibility of Histor), ), “Bạo lực và thời gian: những di chứng chấn thương” (Violence and time: : Traumatic Survivals) và bài dẫn luận “Vết thương và giọng nói (The Wound and the Voice) được in trong “Kinh nghiệm không được thừa nhận: chấn thương, truyện kể và lịch sử” (Unclaimed Experience: Trauma, Narrative, and History) Violence and Time,…đã nêu lên những vấn đề cốt lõi của chấn thương và văn học Từ đó

mở đầu cho hàng loạt các nghiên cứu về cái “tôi” chấn thương trong tự truyện như:

“Những giới hạn của tự truyện: chấn thương và sự làm chứng” (The limits of autobiography: trauma and testimony) [22] của Leigh Gilmore Trong đó, tác giả chỉ ra

mối quan hệ giữa cái “tôi” chấn thương và hình thức tự truyện có liên quan đến việc làmchứng Theo đó, quá trình cái “tôi” kể lại câu chuyện của mình nhằm mục đích làm chứngcho mình và làm chứng cho cả kẻ khác nữa

Hay dưới góc độ của tự sự học, Amos Golberg trong “Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết” [9] cho rằng tự sự chấn thương nhằm giúp cho chủ thể, cái “tôi” đi sâu

vào trạng thái “bị đóng khung” của vùng ký ức chấn thương, để tránh rơi vào cái chết bởi

sự biểu đạt

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu tự truyện và các vấn đề liên quan, bao gồm cả cái

“tôi” chấn thương là một hướng đi không mới Tuy nhiên các giá trị nghiên cứu còn rất

hạn chế Có một số bài viết, công trình đáng lưu ý như: “Tự truyện như một thể loại văn học” của Lê Tú Anh; “Tiếng nói của “cái tôi bị chấn thương” và tính khả dụng của yếu

tố nhật ký, trinh thám trong tiểu thuyết (nhân đọc “Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần) của Nguyễn Thành Thi, luận án tiến sĩ Viện văn học Việt Nam của Đỗ Hải Ninh “Tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện trong văn học Việt Nam đương đại” (2012),… Các lý thuyết cũng đang được tiếp nhận một cách linh hoạt Và việc đi sâu

nghiên cứu các vấn đề xoay quanh chấn thương trong những tác phẩm mang tính tựtruyện của thế giới thì vẫn chưa có một công trình nào đáng kể

Trang 5

4.2 Các nghiên cứu về văn chương Paul Auster và tiểu thuyết “Khởi sinh của cô độc”.

Trên thế giới, các tác phẩm của Paul Auster đã trở thành đối tượng quen thuộc đối vớinhững nghiên cứu của văn chương hậu hiện đại Cũng tương tự như nhiều tên tuổi hậu hiệnđại khác, Paul Auster được xem xét từ nhiều các góc độ nghiên cứu, tiếp cận khác nhau

“Khởi sinh của cô độc” là tác phẩm đầu tay của Paul Auster, đồng thời là nguồn bao

chứa những đề tài, những vấn đề nổi cộm mà ông triển khai và theo đuổi trong sự nghiệpvăn chương của mình cho tới tận bây giờ Do vậy, hầu như khi nghiên cứu về Paul Auster,tiểu thuyết tự truyện này luôn được lấy làm đối tượng để so sánh, trích dẫn, khái quát,…Dưới đây, chúng tôi xin tạm điểm qua các vấn đề và thành tựu nổi bật nhất trong hai

góc nhìn khi nghiên cứu về Paul Auster và tác phẩm “Khởi sinh của cô độc” Do rào cản

về ngôn ngữ và những hạn chế về mặt tư liệu, những thống kê và nhận định của chúng tôichắc chắn sẽ có những giới hạn nhất định Bởi vậy, chúng tôi cố gắng khái quát sơ lượcnhất những nét chính trong lịch sử nghiên cứu Paul Auster và tác phẩm của ông Đồng thời,chúng tôi cũng sẽ đưa ra những nhận định về các nghiên cứu ở Việt Nam trong từng xuhướng và cách tiếp cận các vấn đề

4.2.1 Paul Auster được xem xét nghiên cứu theo dòng chảy văn chương Do Thái – Mỹ

(Jewish American literature)

Xuất phát từ nguồn gốc trong tiểu sử của Paul Auster, các nhà nghiên cứu thường đặtông trong một mạch phát triển của lịch sử văn chương Do Thái – Mỹ Tương tự khi nghiêncứu các tác phẩm của nhiều tên tuổi của dòng văn học này như Saul Bellow, Jerome DavidSalinger, Bernard Malamud hay Philip Roth, những vấn đề nghiên cứu trong văn chươngPaul Auster là: ám ảnh về thân phận, cuộc đời lưu vong; hành trình đi tìm căn cước; cáchứng xử đối với nguồn gốc của mình cũng như các vấn đề liên quan đến nhân dạng, bảnngã; sự khác biệt của Paul Auster với tư cách là một đại diện của thế hệ thứ ba trong mộtgia đình gốc Do Thái, sự pha trộn tính Mỹ và tính Do Thái,…

Thành tựu nổi bật lên trong những nghiên cứu theo xu hướng này là tiểu luận mang

tên “Khát khao phải được bảo vệ bằng mọi giá: Một cách đọc hiểu “Khởi sinh của cô độc”” (The hunger must be preserved at all cost: A reading of The invention of solitude)

của Derek Rubin [23] Tiểu luận đã chỉ ra tính nước đôi trong căn cước của Paul Auster,

Trang 6

trở thành một trong những chỉ dấu quan trọng trong việc nghiên cứu cũng như đọc hiểu tácphẩm “Khởi sinh của cô độc” và các tác phẩm khác của ông

4.2.2 Paul Auster được nhìn nhận như một cây bút đại diện của các hình thức văn

chương hậu hiện đại

Nhiều năm sống tại Pháp, làm công việc dịch thuật và phê bình văn chương Pháp,Paul Auster đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi triết học cũng như văn học hậu hiện đại Pháp

Vì thế, các công trình nghiên cứu về ông cũng thường xoay quanh các đề tài liên quan đếncác hình thức văn chương hậu hiện đại điển hình như: tự sự mê lộ, chất trinh thám, kĩ thuậtliên văn bản, cấu trúc giải ngôn ngữ, yếu tố hư cấu trong văn bản tự thuật,…

Một số những nghiên cứu đáng kể đến là:“Những đường biên: Tự truyện và hư cấu trong tác phẩm tự thuật hậu hiện đại” (Borderlines: Autobiography and Fiction in Postmodern Life Writing) [21] của Gunnthórunn Gudmundsdóttir lấy tác phẩm của Paul

Auster bên cạnh những sáng tác của các tác giả hậu hiện đại khác làm đối tượng nghiêncứu để chỉ ra mối quan hệ của kí ức, hư cấu, tiểu sử,… trong đời sống văn chương hậu hiện

đại hay bài viết“Paul Auster như là một nhà tiểu thuyết đại chúng hậu hiện đại” (Paul Auster as a popular postmodern fiction writer) của Bent Sorensen, …

4.2.3 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, các độc giả không còn xa lạ với những sáng tác của các nhà văn thuộcdòng văn học Do Thái – Mỹ Đặc biệt, số lượng các tác phẩm của Paul Auster được dịchsang tiếng Việt khá nhiều và nhận được sự đón nhận khá tốt từ phía công chúng, nhất là bộ

ba tác phẩm “Bộ ba New York” (The New York Trilogy) do dịch giả Trịnh Lữ tiến hành chuyển ngữ với tên gọi “Trần trụi với văn chương” do NXB Phụ nữ ấn hành

Tuy vậy, các công trình nghiên cứu về dòng văn học này cũng như về Paul Auster với tưcách như một đại diện còn rất khiêm tốn và hạn chế Những vấn đề thường chỉ được gợi rahoặc điểm xuyết trong các bài giới thiệu hay phân tích tác phẩm Có thể nói, về cách tiếpcận Paul Auster từ góc nhìn dòng văn chương Do Thái – Mỹ chưa có bài viết hay côngtrình nghiên cứu tiếng Việt nào đáng lưu ý

Ngược lại với xu hướng nghiên cứu trên, hướng nghiên cứu đặt Paul Auster trong vănchương hậu hiện đại thu hút được nhiều sự quan tâm hơn hẳn Số lượng các bài viết, công

Trang 7

trình có phần nhỉnh hơn so với xu hướng thứ nhất Có thể kể đến bài viết “Paul Auster và Nhạc đời may rủi” của Lê Huy Bắc đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học; cuốn sách “Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam”( Lê Huy Bắc làm chủ biên) do Nhà xuất bản Tri thức

ấn hành với hai bài viết về Paul Auster là: “Siêu hư cấu và Thành phố thủy tinh” của Nguyễn Thị Thanh Hiếu, “Bộ ba New York của Paul Auster và tiểu thuyết phản trinh thám trong văn học hậu hiện đại” của Đặng Thị Bích Hồng; luận văn thạc sĩ tại Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh “Tự sự mê lộ trong tiểu thuyết Paul Auster”(2011) của Võ

Thị Mỹ Lam,…

4.3 Vấn đề tiềm năng

Thông qua việc thống kê các vấn đề và thành tựu nghiên cứu trên, có thể thấy:

- Việc nghiên cứu cái “tôi” trong tự truyện mở ra nhiều hướng đi khác nhau, song chưa

có công trình nào mô tả và đi sâu nghiên cứu cơ chế thúc đẩy sự hình thành nó trongcách nhìn tổng hợp nhiều yếu tố

- Việc nghiên cứu Paul Auster từ nhiều góc độ mở ra nguồn khai thác đầy triển vọng đểdẫn đến sự tổng hợp thành một cơ chế kiến tạo cái “tôi” chấn thương trong tiểu thuyết

tự truyện của ông

- Tại Việt Nam, việc tiếp nhận và nghiên cứu Paul Auster trên nhiều phương diện cònhạn chế Trong khi đó, các tác phẩm của ông đang được dịch thuật và ngày càng phổbiến trong đời sống văn hóa đọc của một bộ phận không nhỏ độc giả yêu văn chương

Từ đó, chúng tôi mạnh dạn đề xuất nghiên cứu cái “tôi” chấn thương trong tiểu thuyết

tự truyện “Khởi sinh của cô độc” theo hướng tổng hợp các yếu tố tâm lý, lịch sử, văn hóa,

xã hội,…mặc dù hướng đi này khá phức tạp Hướng đi này bước đầu sẽ đóng góp vào việchình thành nên những cơ sở tiếp nhận văn chương Paul Auster, mở rộng hơn nữa là dòngvăn chương Do Thái – Mỹ và văn học hậu hiện đại

5 Mục đích nghiên cứu

Khi lựa chọn đề tài nghiên cứu này, mục đích của chúng tôi là:

- Thứ nhất: tổng hợp các yếu tố liên quan đến cái “tôi” chấn thương trong tác phẩm củaPaul Auster trên các phương diện tâm lý, lịch sử, văn hóa, văn chương,…

Trang 8

- Thứ hai, trên nền tổng hợp các yếu tố liên quan, tiến hành xâu chuỗi, chỉ ra cơ chếkiến tạo cái “tôi” chấn thương trong tiểu thuyết tự truyện “Khởi sinh của cô độc”

6 Phương pháp nghiên cứu

Để xác lập một cơ chế hình thành nên cái “tôi” chấn thương trong tiểu thuyết củaPaul Auster, chúng tôi lấy các phương pháp sau làm chủ yếu:

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu sự kiến tạo cái “tôi” chấn thươngtrong “Khởi sinh của cô độc” trên cơ sở kết hợp, tổng hòa các nghiên cứu từ cácngành liên quan như tâm lí, văn hóa, lịch sử

- Phương pháp tổng hợp: phương pháp này được sử dụng để nhìn ra bản chất cốt lõi củacái “tôi” của tác phẩm thông qua sự pha trộn của nhiều yếu tố tâm lý, lịch sử, vănhóa, văn chương,…

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: sử dụng phương pháp so sánh để xác định vị trí củaPaul Auster trong dòng chảy của văn chương Do Thái Mỹ, qua đó thấy được nhữngtiếp thu và biến đổi của Paul Auster trong cách ứng xử đối với nguồn gốc, căn cướccủa mình so với các thế hệ trước của dòng văn chương này

- Phương pháp phân tích văn bản và liên văn bản: phương pháp này được sử dụng để đisâu tìm hiểu, phân tích, cắt nghĩa những chi tiết, sự kiện cụ thể của tác phẩm “Khởisinh của cô độc” trong mối liên hệ tổng hợp của các trích dẫn, liên tưởng từ các tácphẩm, công trình văn học, nghệ thuật khác

7 Cấu trúc của khóa luận

Khóa luận của chúng tôi gồm có ba chương:

Chương I: Cái “tôi” chấn thương và những mối liên hệ

Chương II: Những chiều kích của cái “tôi chấn thương

Chương III: Cái “tôi” chấn thương và những hình thức tự sự

Trang 9

NỘI DUNG Chương I Cái “tôi” chấn thương và những mối liên hệ

Trước khi đi vào nghiên cứu trực tiếp cơ chế kiến tạo cái “tôi” chấn thương trong

tiểu thuyết “Khởi sinh của cô độc”, trong chương này, chúng tôi sẽ giải quyết các vấn đề

lý thuyết cần thiết xoay quanh chấn thương để đi vào làm rõ cơ chế kiến tạo cái “tôi”chấn thương trong tác phẩm của Paul Auster Các vấn đề bao gồm: mối quan hệ giữachấn thương và tự truyện, sự xuất hiện của chấn thương trong văn chương Do Thái – Mỹ

và các hình thức của văn học hậu hiện đại dung nạp cái “tôi” chấn thương

1 Chấn thương và tự truyện

1.1 Chấn thương – những điểm neo của ký ức

Thế kỷ XX đầy biến động đã chứng kiến những bước đi sai lầm của lịch sử loàingười, để lại biết bao nỗi kinh hoàng cho nhân loại Những ký ức bám đuổi, bủa vây lấycon người trở thành những ám ảnh về thần kinh như một trạng thái của bệnh lý Hiệntượng con người bị đeo bám bởi những chấn động trong quá khứ không phải chỉ là vấn đềriêng của nhân loại thế kỷ XX, nhưng chỉ sau những thảm họa diệt vong của chủ nghĩaphát xít, sự bùng nổ thế chiến II, sự hủy diệt của thời kì kĩ trị,… người ta mới bắt đầu đi

lý giải cội nguồn của những nhu cầu thức tỉnh mạnh mẽ, nhìn nhận lại những nỗi khổ đaukhông thể chấm dứt

Bắt đầu từ thuật ngữ “vết thương” (trauma) trong y học, có gốc nghĩa từ tiếng Hy

Lạp chỉ những tổn thương trên cơ thể con người, Sigmund Freud dưới góc độ phân tâmhọc đã sử dụng nó để gọi tên cho những lỗ hổng và nỗi đau trong tinh thần Cũng theo đó,khi một sự kiện có tính chất đường đột và vượt quá kinh nghiệm kiểm soát của chủ thểxảy ra, nó sẽ tiếp tục được tái hiện trong suốt quãng thời gian còn lại của cuộc đời, chiphối từng nhận thức, hành động của con người Hành động lặp lại dưới sự áp chế của ký

ức được gọi là “hành động về sau” (belateness) 1

1 “Belateness”: xuất phát từ khái niệm “Nächtraglichkeit”của Sigmund Freud được in trong cuốn “Dự

án cho một tâm lý học khoa học” (Project for a Scentific Spychology ) – 1985 [14]

Trang 10

Từ nghiên cứu phân tâm học về chấn thương và những lý giải về khái niệm “hành động về sau” của S Freud, Cathy Caruth đã mở ra một hướng phê bình mới cho văn học

của thế kỷ XX: phê bình văn học chấn thương Hàng loạt các bài viết của bà về chấnthương và văn học như đã bước đầu tạo dựng nền tảng lý thuyết, xác lập những kháiniệm, định nghĩa về “chấn thương” trong văn học cũng như cơ chế và trạng thái hoạtđộng của nó

Trong “Vết thương và giọng nói”(The wound and the voice), từ việc phân tích

hành động của Tancred, nhân vật chính của câu chuyện mà Tasso kể trong thiên sử thi

lãng mạn Gerusalemme Liberata, Cathy Caruth đã chỉ ra rằng: “Câu chuyện về chấn thương, do đó, là câu chuyện về một thứ kinh nghiệm đến muộn, nó hoàn toàn không phải

là sự kể lại việc thoát ly một hiện thực – chạy trốn cái chết, hay áp lực tính quy chiếu của chấn thương, mà đúng hơn, nó là sự chứng nhận cho cái tác động vô hạn của chấn thương lên một cuộc đời.” [11] Như vậy, với sự quy chiếu của mình, chấn thương in hằn

dấu vết lên những không gian, thời gian khác sau điểm mốc diễn ra sự kiện gây ám ảnh.Suốt khoảng thời gian còn lại của cuộc đời, chấn thương vẫn hiện diện như một lỗ khoétkhông thể hàn gắn và lấp đầy

Liên quan đến chấn thương và các tự sự xung quanh nó, Amos Goldberg đã đềxuất một góc độ tiếp cận khác song vẫn cho ta thấy được sự in dấu của chấn thương trong

dòng ký ức miên man của cuộc đời con người Trong “Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết” (Trauma, Narrative and Two Forms of Death) [9], Goldberg chỉ ra

chấn thương giống như một điểm mốc có nguy cơ ăn mòn bản thể tự nhiên Tại thời điểmxảy ra chấn thương, con người đứng trước một khả năng bị “đóng khung” cuộc đời trongnhững thứ kinh nghiệm tồi tệ, trong những hình thức biểu đạt mà kẻ hủy diệt muốn áp đặtlên họ Quãng thời gian sau chấn thương, con người ta luôn cố gắng đi tìm kiếm bản thântrong sự chi phối bởi suy nghĩ rằng cuộc đời mình chỉ gắn liền với trải nghiệm tàn bạo mà

họ đã từng kinh qua

Từ những phân tích về khái niệm “chấn thương” trên đây, có thể thấy rằng: Trongchuỗi dài nối các sự kiện liên kết lại với nhau của cuộc đời một con người, chấn thươngchính là những điểm neo của dòng ký ức Tính chất nghiêm trọng và dư chấn mạnh mẽ

Trang 11

của một ký ức nào đó sẽ mãi lưu đọng trong não bộ con người Thực chất, chấn thươngmãi mãi ở lại trong cuộc đời của con người Nó chiếm lấy một vị trí trong ký ức để rồitiếp tục di chuyển theo thời gian, quy chiếu lên những khoảng không – thời gian khác…

1.2 Hậu ký ức – những chấn thương bị giãn cách

“Chấn thương” rõ ràng luôn kéo theo những hệ quả liên lụy của nó đối với chủthể Ngay tại thời điểm kết thúc sự kiện tạo tác nên “chấn thương”, con người đã phảibước ra khỏi nó, rời bỏ nó như một hành động bắt buộc Những di chứng liên tục tái diễnnhư là một cơ chế duy trì chấn thương vĩnh viễn trong thế giới ký ức một con người Tuyvậy, chấn thương và những hệ lụy của nó liệu có phải chỉ đeo đuổi và ám ảnh trong cuộcđời của một cá nhân, trong kinh nghiệm của một cá thể hay không? Vấn đề quy chiếu củanhững chấn thương sẽ trả lời cho câu hỏi này

Trong “Kinh nghiệm không được khẳng định: chấn thương và những khả năng của lịch sử” (Unclaimed Experience: Trauma and The Possibility of Histor) [10], Caruth thông qua việc đọc – hiểu tác phẩm “Moses và Nhất thần luận” (Moses and Monotheism)

của Sigmund Freud đã phủ nhận tính quy chiếu trực tiếp, đơn giản của một chấn thương

Và từ câu chuyện Moses giải phóng người Do Thái thoát khỏi mảnh đất Ai Cập đượcS.Freud hàm ý rằng đó vừa là sự trở về với quá khứ vừa là sự xuất phát đi tới tương laicủa tôn giáo nhất thần luận, Caruth đã đưa đến khẳng định tính quy chiếu gián tiếp của

chấn thương, mở ra những khả năng của lịch sử Theo đó, chỉ trong và sau khi “thời kỳ tiềm tàng” (latency)[10], thời kỳ mà hệ quả của những kinh nghiệm chưa phát tác diễn ra,

những chấn thương mới bắt đầu sự trải nghiệm của nó Và bằng cách thức ấy, tương laichính là hành trình trải nghiệm của quá khứ chấn thương đã qua Đồng thời, Caruth cũngchỉ ra lịch sử Do Thái chính là sự chịu đựng những nỗi đau của kẻ khác thông qua bảnchất của cuộc hành trình mà người Hebrew thực hiện như là để sửa chữa và hàn gắn chấnthương đến từ mặc cảm tội lỗi giết chết người cha nguyên thủy

Từ sự phân tích của Caruth, ta nhận thấy một chấn thương bắt đầu hoạt động baogiờ cũng đi kèm với sự khởi nguồn quay về quá khứ Sự khởi nguồn này mặc dù được táihiện bởi những hình ảnh, sự kiện đã trôi qua song luôn diễn ra trong những phân khukhông gian - thời gian của hiện tại và tương lại Từ đó, lịch sử bám đuổi hiện tại và tương

Trang 12

lai; con người tiếp tục sự sống bằng cách gánh chịu những tội lỗi của kẻ khác gây ra trongquá khứ Sự quy chiếu của chấn thương không chỉ đi kèm với sự thay đổi không gian,thời gian mà còn kéo theo sự biến đổi trong mối dây liên hệ giữa những con người trongchấn thương ấy Điều này đồng nghĩa với việc ngoài chủ thể trải nghiệm trực tiếp nhữngchấn thương của bản thân, bao giờ cũng tồn tại một/một vài chủ thể khác liên đới cùngnhững dư chấn tưởng như không thuộc về họ thông qua mối liên hệ với kẻ sở hữu chấnthương Lịch sử của chấn thương kéo dài nhờ sự quy chiếu của nó lên những phân vùngkhác cùng cái cách mà các chủ thể sở hữu nó liên đới, chịu đựng nỗi đau của nhau

Để làm sáng rõ thêm tính quy chiếu của chấn thương tạo ra sự gián đoạn và sự liên

kết nỗi đau xuyên suốt lịch sử của nhân loại, ta tìm hiểu định nghĩa“hậu ký ức” mà Marianne Hirsch trong “Thế hệ hậu ký ức” (The Generation of Postmemory) đã đưa ra

khi nói đến sự tiếp nhận chấn thương lịch sử của thế hệ thứ hai từ sau những trải nghiệm

về Holocaust như sau:

“Hậu ký ức mô tả mối liên hệ giữa thế hệ thứ hai với những trải nghiệm có sức nặng, thường là những trải nghiệm mang tính chấn thương đã xảy ra trước khi họ ra đời; tuy nhiên chúng vẫn được chuyển giao tới họ một cách đầy mạnh mẽ như để cấu thành nên những ký ức theo quy luật riêng của nó.” [24; tr.103]

Tại đây, Hirsch đã cho thấy phạm vi nằm ngoài sự biết trong ký ức của chủ thể “hậu ký ức” Trong dòng ký ức của thế hệ thứ hai, những trải nghiệm chấn thương không đến với

họ một cách trực tiếp Họ bị tước đi tư cách người làm chứng vốn dĩ phải có như mộtđiều kiện bắt buộc để hình thành chấn thương Những chấn thương bủa vây lấy họ dường

như nằm ngoài sự chủ động và mong muốn của bản thân “Hậu ký ức” cho thấy khả năng

quy chiếu gián tiếp của những chấn thương, vượt ra ngoài vòng vây một cá nhân

Sự chuyển giao thần bí của những ký ức Holocaust đến thế hệ này chính đến từ quá trìnhtiếp diễn sự sống của họ dựa trên mục đích hàn gắn những mất mát mà thế hệ nhữngngười cha, người mẹ từng gánh lấy, chịu đựng những nỗi đau trong quá khứ do tội ácthảm họa mà kẻ khác đã gây ra cho lịch sử nhân loại

Trang 13

“Chấn thương” và “hậu ký ức” là hai khái niệm liên quan đến nhau thông qua sự

dắt nối của những giãn cách, của những khoảng trống bỏ ngỏ Nếu “chấn thương” lànhững điểm neo trong ký ức của con người thì “hậu chấn thương/hậu ký ức” chính là nơinhững điểm neo bị giãn cách về hai mặt: một là sự giãn cách của không – thời gian, hai là

sự giãn cách của quá trình chuyển tiếp chủ thể sở hữu, chịu đựng những chấn thương

Những nhận định, phân tích của Cathy Caruth và Marianne Hirsch đã cho thấy khảnăng tồn tại vĩnh viễn của những chấn thương lịch sử và chỉ ra khoảng cách thế hệ củanhững chấn thương đó, ở đó, thế hệ sau luôn phải gánh chịu những chấn thương và tội lỗicủa thế hệ trước cũng như của tổ tiên xa xôi loài người đã phạm phải

1.3 Tự truyện như là một hình thức của chấn thương

Trong phần này, chúng tôi sẽ không bàn luận nhiều về quá trình nghiên cứu và tìmhiểu thể loại “tự truyện” Chúng tôi sẽ đưa ra cách hiểu chung về khái niệm thể loại“tựtruyện” và chủ yếu chỉ ra khả năng chứa đựng những chấn thương của thể loại này

Về khái niệm, “Từ điển Oxford dành cho người học” (Oxford advanced learner’s dictionary) giải nghĩa “tự truyện” (autobiography) là “câuchuyện về cuộc đời của một người, được viết bởi chính người đó” [19; tr 85] Còn “Từ điển thuật ngữ văn học” do

Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên đưa ra quan niệm: “Tác phẩm văn học thuộc loại tự sự do tác giả tự viết về cuộc đời mình.”, đồng thời phân biệt hai khái niệm “tự truyện” và “bản tự thuật về tiểu sử” [1; tr.389] Từ hai cách giải nghĩa

trên, ta có thể đi đến thống nhất cách hiểu khái niệm này như sau: “tự truyện” là một thểloại văn học kể về cuộc đời mình của chính tác giả, trong đó luôn tồn tại một sự hư cấutrên cơ sở những yếu tố đời thực

Khái niệm “tự truyện” (autobiography) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp Thuật ngữ này bao gồm ba yếu tố: auto (tự động), bio (tiểu sử), graphy (viết) Như vậy, ta có thể thấy

ngay đây là một thể loại giáp ranh, đứng giữa ranh giới tranh chấp của nhiều yếu tố

Trước hết, yếu tố quan trọng để khu biệt “tự truyện” với thể loại khác là “tiểu sử” Nó đóng vai trò cung cấp những chi tiết, tình tiết để tác giả tạo ra tác phẩm của

mình Yếu tố này liên quan mật thiết với những ký ức trong cuộc đời nhà văn

Trang 14

Viết là một hoạt động sáng tạo ngôn từ dựa trên những xúc cảm đòi cất tiếng nóitrước hoàn cảnh cần kíp của hiện tại Rõ ràng, khi viết, chủ thể cần làm chủ những hiểubiết, những trải nghiệm của bản thân đã được đúc kết trong thứ gọi là kí ức Do vậy, thểloại văn chương nào cũng bước ra từ sâu thẳm kí ức trong trí não chủ thể viết Suy chocùng, mọi hình thức văn chương cũng chỉ nhằm để chủ thể sáng tạo tự thuật bộc lộ nhữngxúc cảm và câu chuyện của riêng mình Và cứ thế, văn chương xét ở một góc độ nào đóluôn thuộc về vùng miền của ký ức.

Hình thức văn chương tự thuật có chăng khác với các hình thức khác là bởi nó sửdụng chất liệu kí ức riêng tư trực tiếp thêu dệt nên tác phẩm, hay nói cách khác, ít nhiềucác yếu tố, sự kiện đời thực sẽ xuất hiện nguyên vẹn, tạo sự liên tưởng tức khắc với đờithực nhà văn

Với hai yếu tố còn lại: “tự động” và “sự viết”, “chấn thương” chính là nhân tố tác

thành nên sự viết tự động, hay chính là những tự sự mang tính tự thuật Giữa thể loại tựtruyện và những chấn thương có một mối dây liên hệ kết nối, đó là ký ức Tự truyện lấy

ký ức làm chất liệu, trong khi đó, chấn thương lại là một yếu tố nằm trong ký ức Nhưvậy, chấn thương cũng là một yếu tố quan trọng của tự truyện Tính quan trọng của yếu tốnày có liên hệ trực tiếp với tính tự động Tại sao lại tự động kể ra, viết ra những câuchuyện trong cuộc đời mình?

Ký ức là tập hợp một chuỗi dài những sự kiện neo đọng lại trong tâm trí conngười Nó tạo thành một động lực khiến con người luôn khao khát được giải tỏa, được cấtlên tiếng nói từ trong quá khứ từ cái nhìn của hiện tại Khi viết về một ký ức là đồngnghĩa rằng não bộ ta đã chọn lựa nó và tạm loại bỏ, để lại những ký ức khác ở phía sau.Như vậy, viết về ký ức luôn gắn liền với một sự lựa chọn có lý do Những chấn thươnglàm nên lý do của sự lựa chọn đó Những ký ức được chọn lựa sẽ luôn nằm trong vùngkiểm soát, chi phối bởi những chấn thương Một ký ức gây ấn tượng mạnh lưu đọng lạitrong trí nhớ với một lực trấn áp buộc nhà văn phải viết để giải tỏa, để cất tiếng nói u uất

từ trong sâu thẳm bản thể Một ký ức đủ mạnh để thúc đẩy sự viết đó chỉ có thể là do

“chấn thương” gây ra

Trang 15

Đối với các thể loại của tự truyện, sự viết trở thành một quá trình gồm hai giaiđoạn diễn ra song song nhau: một là sự tự đào sâu những mảng kí ức riêng tư, hai là khaithác, kiểm nghiệm khả năng của sự viết về những kí ức đó Việc viết tự truyện luôn buộcnhà văn phải men theo trí nhớ của bản thân, và trong sự tuân theo lối đó, người viết thửlửa độ hằn sâu của một kỉ niệm hay sự kiện nào đó Điều này có nghĩa rằng trong quátrình viết tự truyện, những kỷ niệm/sự kiện có ấn tượng, tác động mạnh mẽ sẽ chứngminh sức mạnh của mình bằng cách chi phối sự viết của nhà văn Những chấn thương sẽdần bộc lộ vị thế mạnh mẽ của mình trong hành trình tự thuật ký ức

Trong “Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết”, Amos Goldberg nhận

định: “những câu chuyện được các nạn nhân kể lại là nơi mà chấn thương bị “đóng khung” để nó không rơi vào hai hình thức triệt để hơn rất nhiều của cái chết – cái chết của chủ thể nạn nhân bởi cái biểu đạt của kẻ huỷ diệt (annihilator’s signifier) và “cái chết tượng trưng” (symbolic death) của nạn nhân” [9]. Nhận định chỉ ra vai trò quan

trọng của “tự truyện” đối với “chấn thương” Đó là một thể loại dành cho những giãi bàycủa ký ức, là nơi để con người ít nhất có được nỗ lực vượt thoát khỏi những định hìnhđóng khung khắc nghiệt của cái chết

Qua việc phân tích mối liên hệ giữa ba yếu tố của “tự truyện” trên đây, chúng tôithấy rằng “tự truyện” không chỉ là mảnh đất dành cho ký ức, nó còn là thể loại phù hợp

để truyền tải những chấn thương cũng như những kiểm chứng sự đóng dấu của chấnthương lên những vùng ký ức riêng của con người Và cũng chỉ có những chấn thươngmới có đủ khả năng thúc giục, thúc đẩy sự viết tự truyện của nhà văn

2 Chấn thương trong văn chương Mỹ - Do Thái

Cùng với các làn sóng di cư đến nước Mỹ kể từ lần đầu tiên vào năm 1654, dântộc Do Thái đã mang những truyền thống, văn hóa của họ hòa nhập vào cuộc sống nơi đấtkhách Cho đến nay, người Do Thái đã đóng góp một phần không nhỏ cho những thànhtựu lớn của nước Mỹ cũng như của nhân loại Trong văn học cũng vậy, một bộ phận lớncác thành tựu văn chương đều do những tên tuổi nổi tiếng, lừng danh mang trong mìnhchất Mỹ - Do Thái tạo dựng

Trang 16

Dòng văn chương Do Thái – Mỹ nằm trong bộ phận văn học Do Thái nói chung,cũng như là một yếu tố cấu thành bề dày văn hóa người Do Thái Thực chất, dòng vănhọc Do Thái – Mỹ là dòng văn học pha trộn các yếu tố văn hóa, khởi nguyên từ sự tranhchấp bên trong căn cước của các chủ thể cầm bút Và sự tranh chấp này thường đi kèmvới tình trạng di cư Bởi vậy, để thấy rõ được những chấn thương trong dòng văn họcnày, ta cần bắt đầu bằng việc đi tìm hiểu lịch sử của dân tộc Do Thái và sự khởi đầu củanhững tranh chấp khi chủ thể Do Thái va chạm với môi trường, căn cước Mỹ

Lịch sử dân tộc Do Thái gắn liền với sự ra đời của Do Thái giáo và được ghi chéptrong Kinh Thánh Vùng đất Israel được xem là quê nhà của người Do Thái Dân tộc nàyđịnh cư tại đây vào khoảng 1800 năm TCN Sau đó, họ di chuyển sang đất Ai Cập sinhsống Tại đây, người Do Thái đã trở thành nô lệ cho dân Ai Cập và bị ngược đãi trongkhoảng mấy trăm năm cho đến khi xuất hiện một bậc thánh triết là Moses dẫn họ quay trở

về quê nhà Thế nhưng vào năm 722 TCN, dân Do Thái buộc phải rời khỏi mảnh đất quêhương mình khi Israel bị chinh phục và xâm chiếm bởi người xứ Assyria Và bắt đầu từđây, dân tộc này phải chịu đựng cuộc sống tha hương đồng thời xây dựng một cộng đồng

Do Thái lưu vong Người Do Thái trở thành những kẻ tị nạn luôn bị nghi ngờ và dòm ngóvới sự mỉa mai, cảnh giác lẫn thương cảm Cộng đồng Do Thái di cư tiếp tục phát triểncho tới ngày nay Như vậy, lịch sử dân tộc Do Thái luôn gắn liền với trạng thái di dân vàlưu vong

Tình trạng di dân bao giờ cũng bắt nguồn từ những sự kiện mang tính tranh chấp,gây ra sự hỗn loạn, phá vỡ trật tự tại một mảnh đất nào đó, đồng thời đưa con người vàothế phải ra đi, rời bỏ nơi chốn thân thuộc Những điểm mốc di dân sẽ trở thành một ký

ức gắn chặt với các vấn đề di chuyển, lưu lạc, các vấn đề về thay đổi điều kiện, môitrường, ngôn ngữ, văn hóa,… Và tại đó, những chấn thương bùng nổ Có thể nói, các sựkiện di dân luôn là điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh và khơi nguồn những chấnthương Điều này đã tạo nên những chấn thương và mặc cảm trong văn chương của người

Do Thái

Nhưng những chấn thương của dân tộc Do Thái cũng chính là chấn thương trongdòng văn chương Do Thái – Mỹ không chỉ dừng lại ở mức độ xoay quanh các vấn đề cơ

Trang 17

bản của tình trạng lưu lạc, di dân do mất nước Thực chất, những chấn thương của dân

tộc Do Thái như S.Freud đã chỉ ra trong tác phẩm “Moses và Nhất thần luận” (Moses and Monotheism) được Cathy Caruth phân tích trong “Kinh nghiệm không được khẳng định: chấn thương và những khả năng của lịch sử” (Unclaimed Experience: Trauma and The Possibility of Histor) [10] luôn đến từ mặc cảm tội lỗi giết Moses hay chính là người

cha nguyên thủy Sự đổ vỡ niềm tin, sự sợ hãi nguyên thủy trong tôn giáo Do Thái mớichính là vấn đề thiết yếu của những chấn thương trong lịch sử và văn chương dân tộc

Không có tài liệu nào nói rằng dân tộc Do Thái là dân tộc đầu tiên và chắc chắnkhông phải là duy nhất bị buộc rời bỏ mảnh đất quê hương của mình Song, người DoThái đã khiến lịch sử vong quốc, lịch sử di cư của họ trở nên vẻ vang, khiến nỗi đau mấtnước trở thành một chấn thương điển hình được nhắc mãi cho đến tận hôm nay, đồng thờiduy trì được niềm tin về sự tái hợp của dân tộc, của đất nước lan tỏa và kéo dài bằngchính tội lỗi, chấn thương nguyên thủy của họ

Những chấn thương này vẫn tồn tại trong cộng đồng di dân Do Thái nhờ quy ước,tục lệ của họ từ sau sự kiện mất nước Mỗi năm vào ngày kỷ niệm vong quốc, nhữngngười Do Thái còn ở lại trong đất nước, bất luận già trẻ trai gái, đều về cả tại thành

Jerusalem, ôm lấy tường thành mà khóc Đồng thời, họ luôn nhắc tới câu nói: “Năm sau

ở Jerusalem” (Next year in Jerusalem) như một lời hứa, lời nhắc, lời hi vọng vào sự tái

hợp đất nước Điều này cho thấy sự bám đuổi vĩnh cửu của những chấn thương trongtừng mạch máu của người Do Thái Đồng thời cho thấy mặc cảm tội lỗi của họ và khátkhao hàn gắn, sửa chữa sai lầm vẫn không ngừng tiếp tục Tại đây, chấn thương củangười Do Thái trở thành chấn thương chung của nhân loại: những sai lầm nguyên thủykhông thể sửa chữa đang ngày càng ngấm sâu, ăn mòn cuộc sống của loài người chúng

ta

Văn chương Do Thái – Mỹ bởi thế cũng mang trong mình những chấn thương ấy,những chấn thương chung của nhân loại, của dân tộc mình Song những chấn thươngchung về mặc cảm tội lội nguyên thủy, về quá khứ mất nước đi vào dòng văn chương này

có sự biến đổi trước cuộc di dân, đổ bộ vào nước Mỹ của người Do Thái

Trang 18

Cụm từ “Do Thái – Mỹ” xuất hiện trong văn học Mỹ lần đầu tiên gắn liền với cuộc đổ bộcủa người dân Do Thái vào đảo Ellis vào cuối thế kỷ XIX Sau đó, những tài liệu văn

chương nói về cuộc đổ bộ này được tập hợp trong hợp tuyển “Dòng thủy triều vĩ đại” (The Great Tide) (tên do các nhà biên soạn của “Hợp tuyển văn chương Norton” (Norton Anthology) đặt) [29] Và chính điều này đã dẫn đến sự phát triển ổn định của những cây

bút Do Thái – Mỹ trong sự tiến sâu vào lĩnh vực sân khấu nhạc kịch Broadway, vào thếgiới của Hollywood, vào làn sóng phổ biến của phát thanh và công nghiệp truyền hìnhcũng như sự gia nhập vào dòng chính của văn chương Mỹ

Trong “Đảo Ellis – mô tả một dự án”, Georges Perec viết:

“Mở cửa năm 1892 trên một hòn đảo nhỏ xíu rộng vài mẫu tây nằm cách Đảo Liberty vài trăm mét, trung tâm tiếp nhận Đảo Ellis đánh dấu sự cáo chung của một kiểu di cư hầu như là hoang loạn và khởi xướng một kiểu di cư chính thức hoá, theo thể chế, và do đó, trở thành công nghiệp Phần lớn chỉ ở lại đây có vài tiếng đồng hồ; chỉ từ hai đến ba phần trăm trong số là bị đẩy lui Tóm lại, Đảo Ellis không gì khác hơn một nhà máy chế tạo người Mỹ, một nhà máy biến những dân di cư thành dân nhập cư, một nhà máy kiểu Mỹ, nhanh chóng và hiệu quả như một lò heo ở Chicago: ở đầu này dây chuyền, người ta nhét một người Ái-nhĩ-lan, một người Do-thái ở Ukraine hay một người vùng đông nam nước Ý, ở đầu kia - sau khi kiểm tra mắt, kiểm tra các bọc túi, chích ngừa, tẩy uế - một người Mỹ ló

ra. ” [12]

Sự mô tả này của Perec đã chỉ ra tính chất khắc nghiệt của những luật lệ kiểmsoát, máy móc hóa con người của Chính Phủ Mỹ đối với người nhập cư lúc bấy giờ.Những ký ức về sự kiện bị Mỹ hóa này đã ăn sâu vào tâm trí những cây bút Do Thái Mỹ

để họ không ngừng thổn thức và băn khoăn khi đứng trước bi kịch phải tước bỏ bản sắctruyền thống và hòa nhập với những thế tục trên mảnh đất sinh sống mới Kể từ đây,những chấn thương về một thời kỳ lưu vong, đánh đổi quyền được lưu giữ căn cước DoThái của mình, chấp nhận bị công nghiệp hóa để được gia nhập môi trường nước Mỹthực dụng bắt đầu được hình thành trong tâm trí con người

Trang 19

Bên cạnh đó, với hàng loạt các sự kiện mang đậm tính hủy diệt của chiến tranh thếgiới II đã khiến nỗi ám ảnh khiếp sợ bị truy đuổi, bị triệt tiêu của dân tộc Do Thái từtrong quá khứ quay trở về Bởi thế, thế kỷ XX trở thành thế kỷ bùng nổ của những tiểuthuyết mang đậm tính Do Thái – Mỹ gắn liền với các tên tuổi nổi tiếng như: Saul Bellow,Bernard Malamud, J D.Salinger,Norman Mailer, Chaim Potok và Philip Roth Nhữngnhà văn này đã ghi dấu trong lịch sử văn chương Do Thái bằng những vấn đề lưu vonghay về những đề tài liên quan đến các sự kiện như Holocaust, Nazi, thế chiến XX… đượcđặt ra trong các sáng tác của mình Thậm chí, sự kiện gây ra tác động mạnh mẽ Holocaust

đến nỗi nó đã tạo nên một nhánh trong dòng văn học Do Thái – Mỹ, được gọi là “văn học Holocaust” (Holocaust literature).

Thế hệ nhà văn Do Thái – Mỹ ngày nay bao gồm cả Paul Auster bên cạnh nhữngtác giả khác như  Nicole Krauss, Michael Chabon, Jonathan Safran Foer, Art Spiegelman,

… đứng trước những thay đổi của thời đại, của lịch sử vẫn đang tiếp tục đi sâu vào trăntrở về bản sắc nước đôi giống như các tiền bối đi trước Nhưng họ cũng cho thấy một tâmthế sẵn sàng dung hòa tính Mỹ và tính Do Thái như một cách bảo vệ truyền thống, căncước, nguồn gốc của mình

Thông qua lịch sử của dòng văn chương Do Thái – Mỹ, có thể thấy những sự kiệnchung của nhân loại, của thế giới cũng như các dấu mốc riêng trên đất nước Mỹ từ sauthế kỷ XIX chính là điều kiện tạo nên cái “tôi” chấn thương trong những sáng tác của cácnhà văn thuộc dòng này Đó là cái “tôi” vừa mang trong mình những tổn thương chung

về một lịch sử lưu vong từ những tội lỗi nguyên thủy của loài người, vừa mang nặngnhững mặc cảm về sự truy đuổi, di cư, lưu lạc trong các sự kiện tàn sát dã man và cảnhững chấn thương từ cuộc nhập cư mang đậm tính Mỹ bắt đầu bằng sự kiện diễn ra trênđảo Ellis

3 Cái “tôi” chấn thương trong các hình thức văn chương hậu hiện đại

Văn học hậu hiện đại đã và đang chứng kiến sự gia tăng và bùng nổ của nhữngtác phẩm viết về đề tài chấn thương Đặc biêt là kể từ sau những chuyển biến lớn vàkhủng khiếp của lịch sử như nạn diệt chủng của phát xít, thế chiến II,… nhu cầu nhìn lại

và đánh giá những bước đi sai lầm của lịch sử dâng cao, con người bắt đầu cất lên những

Trang 20

tiếng nói từ trong quá khứ hủy diệt, từ trong sâu thẳm những cảm giác bi đát và đauthương Đi cùng với cấu trúc phức tạp của những cảm thức, nỗi niềm chấn thương đó là

sự chuyển mình của các hình thức văn chương

Sự ảnh hưởng của hai khái niệm “giải cấu trúc” (deconstruction) và “hậu hiện đại” (postmodernism) lần lượt gắn liền với hai tên tuổi Jacques Derrida và Jean Lyotard

đã tạo nên những thay đổi lớn về tư tưởng triết học cũng như văn học Trong văn học,

bản chất bất ổn định của “hậu hiện đại” và sự đả phá các trật tự của “giải cấu trúc” đã

làm nảy sinh những hình thức văn chương mới

Trong khuôn khổ của một khóa luận, ở phần này chúng tôi sẽ chỉ điểm qua tínhkhả dĩ của ba hình thức văn chương hậu hiện đại điển hình trong việc dung chứa nhữngchấn thương Đó là ba hình thức văn chương: siêu văn bản, cấu trúc phân mảnh và kếtcấu ma trận ngôn từ

Xuất phát là một cách thức lưu trữ và chuyển giao thông tin do “ một khoa học gia điện toán người Mỹ có cái tên rất lạ, Vannevar Bush” [16] sáng tạo nhằm tạo ra một hệ thống mạng lưới quản lí và sử dụng thông tin một cách hiệu quả,“siêu văn bản” (hypertext 2 ) đã trở thành một hình thức sáng tác trong văn chương vào cuối thế kỷ XX.

Hình thức này đã mở ra triển vọng về một hướng đi mới trong cách sáng tác cũng như

tiếp nhận văn học Với “siêu văn bản”, người viết xóa bỏ tính chất tuyến tính khi sáng

tác, tạo ra một chỉnh thể được lắp ghép không trật tự bằng các mảnh, đoạn rời rạc từ

những văn bản khác Như vậy, một “siêu văn bản” chính là một hệ thống bao gồm các

bộ phận từ nhiều nguồn văn bản, nhiều nguồn tác phẩm liên kết lại tạo thành một chỉnh

thể Hoạt động liên kết các nguồn đó là kĩ thuật “liên văn bản”.Với kĩ thuật này, ngườiviết thu thập các trích dẫn, các mảng ngôn từ để đính ghép, đặt chúng gần nhau tạo ra sựliên đới, móc ngoặc giữa chúng Sự kết hợp ngẫu nhiên ấy tạo thành những lớp nghĩariêng đến từ sự tổng hợp hoặc nằm ngoài các lớp nghĩa của nguồn tạo tác

Như vậy, “siêu văn bản” và cái “tôi” chấn thương có mối liên hệ gì? Thực ra, cái

“tôi” chấn thương chính là một khái niệm mang trong mình nhiều nét tương đồng với nội

2 Siêu văn bản (hypertext): thuật ngữ được đặt tên bởi Theodor H Nelson trong những năm 60 của thế kỷ trước, dùng để lưu hành một văn bản điện tử như một kiểu mẫu xuất bản với một kỹ thuật thông tin hoàn toàn mới lạ, trong đó Nelson lần đầu tiên đặt nền móng và ứng dụng một lối viết phi tuyến tính.

Trang 21

hàm của khái niệm “siêu văn bản” Dựa vào khả năng lịch sử của chấn thương đến từ

tính quy chiếu của nó lên từng phân vùng của quá khứ - hiện tại – tương lai mà chúng tôi

đã chỉ ra ở phần trên, nếu ta coi cái “tôi” chấn thương là một “siêu văn bản” thì các yếu

tố đóng vai trò là nguồn cấu thành nên nó không gì khác là những nỗi đau, sự chịu đựngcũng như tội lỗi mà con người đã gây ra trong quá khứ Cũng như trong quá trình sáng

tạo nên một “siêu văn bản”, trong hành trình cấu thành chấn thương, chủ thể đi góp nhặt,

nhận lấy những chấn thương từ trong quá khứ, từ trong lịch sử để tự thêu dệt nên chấnthương riêng của mình

Tuy nhiên, cái “tôi” chấn thương hay “siêu văn bản” đều là những khái niệm

không mang tính thực thể, vượt khỏi vòng kiểm soát của bất kỳ cấu trúc cố định nào.Điều đó nằm ở khả năng quy chiếu đến tương lai của những chấn thương và độ rộng mở

về ý nghĩa cũng như khả năng chêm xen của mỗi “siêu văn bản” Chính đặc điểm này đã

tạo ra sự thiếu hụt của trong chủ thể chấn thương và trong chính các sản phẩm của “siêuvăn bản” Sự thiếu hụt ấy được giải thích bằng phân tâm học của Jacques Lacan 3

Lacan cho rằng con người tiếp cận thế giới thông qua hệ thống từ ngữ Trong quá trìnhquan sát thế giới bằng các giác quan, thế giới bị con người cấu trúc hóa khi cảm nhận nó

bằng ngôn ngữ Do đó thế giới“tiềm thức” (subconscious) cũng được cấu trúc, định hình

bởi lớp ngôn ngữ Chúng ta sử dụng ngôn ngữ để hình dung và tri nhận thế giới song luônluôn lại có cảm giác thiếu hụt Cảm giác nằm ngoài ngôn ngữ chính là những thiếu hụt doviệc tư duy về thế giới thông qua ngôn từ

Quan niệm của Lacan đã chỉ ra tính chất vượt ngưỡng của những cảm xúc màbằng ngôn ngữ không bao giờ có thể truyền tải hết được Tính chất vượt ngưỡng nàycũng được xem như là bản chất của những chấn thương: chủ thể luôn có những cảm giácnằm ngoài hiện thực bởi nỗi đau vô thức phát tác và ăn sâu vào từng bước đi của thờigian Bởi vậy, bằng cách tìm đến với cấu trúc phân mảnh và kết cấu ma trận, “siêu vănbản” và cái “tôi” chấn thương mới được đảm bảo được bao chứa một cách phù hợp

3 Jacques Lacan (1901 – 1989), là nhà phân tâm học và trị liệu người Pháp nổi tiếng với lý thuyết hậu cấu trúc, phủ nhận khả năng bao chứa hiện thực của ngôn ngữ

Trang 22

Cấu trúc văn bản phân mảnh giúp xóa bỏ đi trật tự tuyến tính không – thời giangiống như sự tồn tại của một chấn thương là sự đan xen của mọi chiều kích từ quá khứ,hiện tại và tương lai đi kèm các khoảng không gian khác nhau Đồng thời, trong cácmảnh ghép đứt gãy, chấp nối để tạo nên cấu trúc ấy, chuỗi ngôn từ sẽ được tập hợp lạidưới hình thức kết cấu của ma trận Những hỗn loạn, những chuyển động phá tan vòngkiềm tỏa của hệ thống lớp nghĩa ngôn ngữ, tạo nên cái “tôi” chấn thương đầy tan tác

Có thể nói, chấn thương đã tìm được chính mình trong những hình thức kết cấucủa văn chương hậu hiện đại Sự tương đồng và liên quan giữa chấn thương và ba hìnhthức văn chương hậu hiện đại đã cho thấy vai trò của các hình thức văn chương trong cơchế kiến tạo cái “tôi” chấn thương trong văn học Nó không chỉ đơn thuần nằm trongphạm vi của văn học – nghệ thuật mà còn liên quan mạnh mẽ đến các cơ sở về tâm lý,cảm thức và nền văn hóa của người viết

Tiểu kết chương I:

Như vậy, trong chương I, chúng tôi đã làm sáng tỏ những mối dây liên giữa cái

“tôi” chấn thương với thể loại tự truyện, chỉ ra tính giãn cách lịch sử của chấn thương,khẳng định tự truyện như một thể loại tiềm năng để những chấn thương có cơ hội đượccất tiếng Đồng thời chúng tôi đã xác định sự tồn tại của chấn thương trong dòng vănchương Do Thái – Mỹ, chỉ ra nguồn gốc lịch sử của nó và điểm qua một số những vấn đềchính trong sáng tác của các nhà văn thuộc dòng văn học này Chúng tôi cũng khái quátqua các hình thức điển hình của văn học hậu hiện đại có khả năng bao chứa cái “tôi” chấnthương, chỉ ra sự tương hợp của chấn thương với các dạng thức văn học đó Với kết quảlàm việc của chương này, chúng tôi bước đầu đã tạo được cơ sở lý luận để đi sâu phântích, tìm hiểu cơ chế kiến tạo cũng như những chiều kích của cái “tôi” tự truyện trong tiểu

thuyết “Khởi sinh của cô độc” của Paul Auster

Chương II Những chiều kích của cái “tôi” chấn thương

Trang 23

Trong chương này, trước khi đi sâu vào tìm hiểu cơ chế kiến tạo cái “tôi” chấnthương trong tác phẩm, chúng tôi sẽ điểm qua những nét chung nhất về Paul Auster và tiểu

thuyết tự truyện “Khởi sinh của cô độc” Chủ yếu chúng tôi sẽ tập trung vào những thông

tin chính, có giá trị đặc biệt trong sự nghiệp Paul Auster và những điểm khái quát cơ bản

về bố cục, nội dung của “Khởi sinh của cô độc”.

1 Paul Auster và tiểu thuyết tự truyện “Khởi sinh của cô độc”

1.1 Những nét chính về Paul Auster

Paul Auster sinh năm 1947 tại New Jersy, nước Mỹ trong một gia đình Do Tháitrung lưu gốc Ba Lan Ông bà nội của Paul Auster di dân tới Mỹ trong thời gian diễn rachiến tranh thế giới thứ nhất dẫn đến sự tan rã của đế chế Áo – Hung, buộc những người

Do Thái phải di cư sang những vùng lãnh thổ khác bao gồm Mỹ và các nước ở Châu Âu

Trong thời điểm này, nước Mỹ cũng mở cửa cho các làn sóng di cư thông qua “dự án đảo Ellis”[12] Ông và bà Paul Auster cũng đã nhập cư vào nước Mỹ thông qua dự án này Như

vậy, Paul Auster là thế hệ thứ ba trong gia đình Mỹ gốc Do Thái, được nuôi dưỡng và lớnlên trong môi trường đa văn hóa Mỹ

Chịu ảnh hưởng từ nguồn gốc Do Thái và môi trường văn hóa Mỹ, Paul Austerđược xếp vào vị trí đại diện cho một thế hệ đang tiếp nối những truyền thống của vănchương Do Thái – Mỹ Trong dòng mạch văn chương này, Auster đã thể hiện được nhữngđặc điểm cốt lõi trong truyền thống Do Thái như các cây bút đàn anh đi trước đồng thờicũng tự tìm cho mình những nét riêng khu biệt Sự khu biệt này do tính Mỹ trong môitrường sống của ông cùng những ảnh hưởng của văn hóa Pháp mà ông có thời gian gắn bó

Sau khi tốt nghiệp Đại học Columbia vào năm 1970, Paul Auster tới Pháp sinhsống bằng nghề dịch thuật, phê bình và viết tiểu luận để kiếm sống Sau đó, ông trở về

Mỹ vào năm 1974, tiếp tục công việc gắn bó với dịch thuật, phê bình và viết kịch bản

Trong đời sống tri thức Pháp thời điểm mà Auster sang sinh sống, những chuyển

mình của “hoàn cảnh hậu hiện đại” đã khiến các tư tưởng triết học và văn học có sự thay

đổi lớn Sự giao lưu tiếp xúc với văn chương Pháp đã giúp Paul Auster thấm nhuần các tưtưởng hậu hiện đại Ông tiếp nhận những thành tựu lớn của văn hóa Pháp để hình thànhnên trường kiến thức của mình để rồi vận dụng nó vào trong những sáng tác về sau này

Trang 24

Sự ảnh hưởng của nền văn hóa – văn học Pháp cũng giúp Paul Auster trở thànhmột đại diện lớn của văn chương hậu hiện đại Những dấu vết về mặt tư tưởng và cáchình thức của văn học hậu hiện đại có thể dễ dàng tìm thấy trong các sáng tác của ông

Bên cạnh những nhà văn Mỹ đi trước, trong những tác phẩm hậu hiện đại của PaulAuster, người ta cũng tìm thấy những sự ảnh hưởng từ cây bút viết kịch và tiểu thuyếtChâu Âu, Samuel Beckett, người ông từng gặp ở Paris Paul Auster cũng được biết đếnnhư là người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất bởi phân tâm học Jacques Lacan và thuyếttiên nghiệm của Henry David Thoreau

1.2 Tác phẩm “Khởi sinh của cô độc”

“Khởi sinh của cô độc” được viết vào năm 1982, là tác phẩm khởi đầu sự nghiệp

viết văn của Paul Auster Tác phẩm ra đời được đánh giá cao và bước đầu giúp Paul Auster

đã tạo được dấu ấn trên văn đàn với tư cách nhà văn sau nhiều năm làm công việc dịchthuật và phê bình

Tác phẩm được viết theo hình thức tự truyện hư cấu Trong đó, rất nhiều những chitiết đời thực của Paul Auster được đưa vào làm chất liệu bao gồm các yếu tố trong tiểu sử,nguồn gốc gia đình, các hoạt động, công việc dịch thuật, phê bình của ông cũng như nhữngtrải nghiệm văn chương ông đã có

Tiểu thuyết tự truyện này gồm hai phần:

- Phần I có tên gọi là “Chân dung một người vô hình” [4; tr 7] được Auster kể ở ngôi

thứ nhất Phần này, Paul Auster viết theo dòng hồi ức đan xen những kỉ niệm vềngười cha quá cố

- Phần II – “Sách của ký ức” [4; tr 113]có sự chuyển ngôi thứ ba, “tôi” tự gọi mình là

A và hóa thân vào trong mười ba cuốn sách do A viết Ở phần này, Paul Auster viếttheo cấu trúc phân mảnh, phá vỡ trật tự lý tính Mặc dù ở phần này, Paul Auster viếttheo ngôi thứ ba song những yếu tố tự thuật vẫn in khắc rất đậm nét Những ký ức,chi tiết riêng xoay quanh cuộc đời thực của Auster vẫn có một vai trò quan trọngtrong việc tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm

Tác phẩm này ngoài việc thành công với tư cách một tiểu thuyết tự truyện, nó còn cógiá trị như một tập tiểu luận, hàm chứa những quan niệm về văn chương, thế giới cũng như

Trang 25

thể hiện được phong cách viết văn của Paul Auster Có thể nói, tác phẩm giống như mộtchìa khóa để mở cánh cửa thế giới văn chương Paul Auster

2 Cái “tôi” nảy sinh từ những chấn thương lịch sử

“Freud tranh biện rằng mỗi bước phát triển của chúng ta đồng tồn tại với những bước phát triển khác Thậm chí khi là người trưởng thành, chúng ta vẫn chôn chặt trong mình kí ức về cách chúng ta tiếp nhận thế giới với tư cách một đứa trẻ Freud kết nối những trải nghiệm về sự thần bí với sự hồi sinh của cách nhìn vào thế giới quan đầy vị kỉ, duy linh từ thời thơ ấu.” [4; tr 234]

2.1 Chấn thương từ những ký ức của một gia đình Do Thái

“Khi người ta quan tâm tới lịch sử gia đình, thì mọi chuyện đã đổi khác…” 4

(Nguyễn Trần Kiên)Paul Auster mở đầu tác phẩm bằng sự kiện: cái chết của cha “tôi” Sự ra đi đầy đột

ngột ấy đã tạo nên một động lực ngầm thúc đẩy khiến “tôi biết mình phải viết về cha” [4; tr.9] Auster diễn tả trạng thái bản thân khi nhận được tin ấy như sau: “Sự đột ngột của cái chết chẳng để chỗ trống cho suy nghĩ, chẳng cho tâm trí cơ hội tìm kiếm từ ngữ nào để

an ủi mình Ta chẳng còn gì ngoài cái chết, một thực tế không thể thay đổi được trong sự vĩnh cửu của chính ta.” [4; tr.8] Cảm giác đó về cái chết đã mở ra cho Paul con đường đi

tìm sự vĩnh cửu trong cái chết của cha mình hay cũng là của chính bản thân mình Mốidây liên hệ vô hình giữa cha con đã đưa Paul Auster bước vào căn phòng mà cha mình đãsống đơn độc trong suốt mười lăm năm Trong không gian của sự tĩnh lặng đó, mọi bímật đã được linh cảm, dẫn dắt rồi mở ra đầy đau đớn

Để kết nối với những kỉ vật trong căn phòng trống của người đã khuất, nhân vật

“tôi” đã dẫn ra một sự tình cờ khi anh ta khám phá được vụ án của gia đình mình Thông

qua một cụ già quen biết với gia đình Auster, “tôi” đã biết được sự thật rằng: “Bà nội tôi

đã giết ông nội tôi” [4; tr.60] Vụ án được xem như là sự khởi đầu mọi chấn thương của

gia đình Auster trong cảm nhận của “tôi” Tất cả những đớn đau, những kinh hãi đều

4 Trích lời của dịch giả Nguyễn Trần Kiên trong phần giới thiệu tiểu thuyết “Một tiểu thuyết Pháp” của

nhà văn Frédéric Beigbeder.

Trang 26

bước ra từ đó Cũng từ vụ án mạng của gia đình Auster, ta có thể đọc ra những mã liênkết kí ức của một gia đình qua các thế hệ.

2.1.1 Vụ án giết chồng

Vụ án xảy ra vào năm 1919 Qua hơn hai mươi bài báo được đăng tải trên tờ

Kenosha Evening News, thảm kịch của một gia đình Do Thái lưu vong đã hiện ra Trước

hết, nguyên nhân khiến Anna Auster bắn chết chồng là Harry Auster được xác lập trong

bài báo đầu tiên, vào thời điểm “24 tháng Một” là: “họ có nhiều trục trặc về tiền nong”

và “ông Auster có quan hệ (bất chính) với một phụ nữ mà bà vợ gọi là ‘Fanny” [4; tr 62

– 63] Thoạt nghe qua, tưởng như đó cũng chỉ là những xung đột bình thường có thể xảy

ra trong bất cứ một cuộc hôn nhân nào Nhưng dần dà, qua những thông tin các bài báocung cấp, ta nhìn ra được những ẩn ức của thế hệ đầu tiên di cư nhà Auster Ở đây, chúngtôi đặc biệt phân tích nhân vật Anna Auster – hung thủ của vụ án mạng để làm nổi bật lênnhững mặc cảm, ẩn ức của thế hệ bắt đầu đặt chân lên đất Mỹ, rời xa quê nhà Chúng tôicũng xem xét vụ án mạng như là kết quả của một cuộc tranh cãi dồn nén nhiều vấn đềquen thuộc của một gia đình lưu vong: các vấn đề liên quan đến những ám ảnh về sự dịchchuyển, về tài chính, bi kịch đánh mất ngôn ngữ và sự chịu đựng chủ nghĩa bài Do Thái.Những thông tin do các bài báo hoặc những nhân chứng cung cấp về vợ chồng nhàAuster luôn luôn tạo ra một cảm giác bất ổn định Với Harry Auster đó là xuất thân từ

nước Áo, “đã cư ngụ tại Chicago, Canada, và Kenosha”; với Anna Auster là chào đời tại

Áo, cuộc hành trình với người chị gái đến New York sau tám năm xảy ra cái chết củangười mẹ, rồi lại tới Lawrence, lại trở về New York,… Cảm giác bất ổn định ấy đến từ sựthay đổi liên tiếp nơi chốn Kể từ khi đi khỏi quê hương, họ luôn phải vật lộn để có mộtchỗ ở, một cuộc sống ổn định Hành trình lập nghiệp và xây dựng gia đình của họ gắnkèm với sự dịch chuyển Nó thậm chí trở thành một lý do để họ - những người Do Tháiđến từ Áo tranh thủ sự cảm thương của người bản địa như cái cách mà ElizabethGrossman đã kể ở phiên tòa làm chứng cho em gái mình Và bằng một cách tự nhiênnhất, sự dịch chuyển đã trở thành một ám ảnh, mặc cảm từ sâu thẳm bên trong…

Đi kèm với ám ảnh dịch chuyển đó là nỗi lo sợ về tài chính, kinh tế Trong bài báođầu tiên, Paul Auster đã tìm được những thông tin về ông mình:

Trang 27

“Harry Auster xuất thân từ nước Áo…Gia đình Auster mua một số căn nhà tại phường số hai và một thời gian sau việc làm ăn của ông mở rộng ra thành quy mô lớn…Sáu hoặc tám tháng trước đó ông đã gặp phải trục trặc tài chính…” [4;tr65]

Thông tin này cùng với lời kể của bà Elizabeth Grossman về những ngày dài làmviệc của em gái để kiếm được vài trăm đô-la đã chỉ ra những khó khăn về kinh tế củangười Do Thái từ nước Áo đổ bộ sang Mỹ kể từ khi thế chiến I nổ ra và kết thúc Họ phảixoay xở chật vật trên mảnh đất xa lạ để sống sót và bảo vệ người thân

Chính những ám ảnh về sự dịch chuyển và những khó khăn về tài chính đã trở thànhnguyên nhân của sự rạn nứt trong đời sống tình cảm, một trong những động lực chính

đưa đến hành động giết chồng của Anna Auster Người phụ nữ này đã kết hôn khi “tròn hai mươi ba tuổi và khi công việc làm ăn của họ xuống dốc” [4; tr 75] Hoàn cảnh thiếu

quê hương, cùng với sự mất ổn định trong đời sống đã đưa cô gái trẻ Anna bước vào cuộchôn nhân Trong lời kể của người chị gái không hề có một chi tiết nào cho thấy việc kếthôn của vợ chồng Auster bắt nguồn từ tình cảm hay từ sự rung động khi gặp gỡ,… Vàngay lập tức gắn kèm theo cuộc hôn nhân đó là tình hình xuống dốc về mặt tài chính.Điều này đã đưa ra khả năng về một cuộc hôn nhân được vun đắp từ sự đồng cảm, nươngtựa lẫn nhau giữa những kẻ cùng chung số phận rời bỏ quê hương Để tiếp tục tồn tại trênnơi chốn xa lạ, họ dựa vào nhau để cùng cải thiện kinh tế, ổn định tài chính Và trong kí

ức của họ, tình yêu dẫn tới hôn nhân là một điều gì đó quá mơ hồ Kết quả, những rạn nứttình cảm xuất hiện, người chồng có quan hệ ngoài luồng đưa người vợ vào mặc cảm của

sự phản bội, của sự lạc lõng khi bị ruồng bỏ ở một nơi vốn đã rất khó khăn để tìm đượcmột sự thân quen nào đó

Ngoài việc cùng phải gánh vác những áp lực tài chính cùng chồng, Anna Austercòn phải chịu một áp lực gần như là một nguyên nhân chính vun đắp những ẩn ức ngày

một lớn Áp lực ấy được Paul Auster miêu tả vu vơ qua một chi tiết: “Vì bà tôi chẳng nói được chữ tiếng Anh nào”[4; tr 64] Phải, không nói được tiếng Anh trên đất Mỹ chính là

một áp lực: áp lực của một kẻ mang mặc cảm đánh mất ngôn ngữ của mình, áp lực củamột kẻ không thể cất tiếng nói, của một kẻ luôn phải gồng mình để hiểu kẻ khác mà

không thể bày tỏ bản thân Ngay cả trong thời gian chờ xét xử tội danh, “Anna Auster

Trang 28

từng toan tự tự” [4; tr 71] Có rất nhiều lý do để lý giải cho ý định tự tử nhưng quan trọng nhất có lẽ vẫn chỉ là câu chuyện xoay quanh cảm giác mất mát ngôn ngữ nên “dù

bà có nói gì đi nữa, cảnh sát không hề tin lời bà” [4; tr 64] Bi kịch mất tiếng nói đã được khắc họa rõ nét nhất qua chi tiết: “Nhiều lần bà Auster đã xúc động phát khóc vì lời phát biểu từ luật sư của mình…khi vị luật sư vẽ ra bức tranh đầy khổ ải của một phụ nữ nhập cư tìm cách giữ gìn tổ ấm.” [4; tr 77] Rõ ràng, nhân vật này buộc phải trông cậy

đến lời nói của kẻ khác để giãi bày bản thân Anna Auster tỏ ra bất lực khi phải nói vềmình, nói về căn cớ dẫn đến tội lỗi của mình

Mặc cảm đánh mất tiếng nói càng thêm khắc sâu khi những biểu hiện của chủnghĩa bài Do Thái nơi đất khách được biểu lộ khi vụ án xảy ra Chính Paul Auster cũng

đã bày tỏ cảm nhận sâu sắc về chủ nghĩa bài Do Thái được khắc in đậm nét trong các bài

đưa tin: “Chúng là sự trộn lẫn giữa gièm pha và thương cảm, li kỳ hóa với yếu tố là những người liên đới đều là dân Do Thái…” [4; tr 61] Thậm chí, vào thời điểm đó, “vụ giết người không chỉ là một vụ rùm beng Nó đã trở thành một màn giải trí sôi động.” [4;

tr 66] ; Cả luật sư thông minh Baker cũng dựa vào gốc gác Do Thái của thân chủ “nhằm chiêu dụ chút xíu sự cảm thông nào đó có thể có từ ban hội thẩm” [4; tr.74] Rõ ràng

những ám ảnh dội từ lịch sử về số phận của dân tộc Do Thái luôn bị xua đuổi, luôn trongtình trạng lưu vong đã ăn sâu vào dư luận lúc đó, cho họ một cái quyền phán xét vụ ángia đình Auster với tư cách như là chủ nhà, xem câu chuyện bi thương như một vở kịchthực tế mà họ đã từng được đọc trong bất kì một cuốn sách nào viết về dân tộc Do Thái

2.1.2 Những đứa trẻ liên đới

Vụ án mạng nổ ra đẩy những đứa con nhà Auster đứng trước những thách thứcmới của cuộc sống nơi cư ngụ Lớn lên cùng với cha mẹ, bốn anh em nhà Auster dần trởthành những nhân chứng cho những nỗi đau, những rạn nứt trong gia đình Đặc biệt, phảilàm chứng cho tội lỗi của người mẹ mãi mãi là một vết thương khó quên Paul Auster đã

kể lại chi tiết về người bác khi phải đứng ra làm chứng cho vụ nổ súng: “Một cậu bé có đôi mắt buồn bã, căng thẳng vặn chiếc mũ len,…Nỗ lực của cậu bé để giữ lấy danh dự của gia đình thật đáng tội nghiệp.” [4; tr 65] Thật khó mường tượng ra những đấu tranh

tâm lí của một đứa trẻ khi phải gồng mình lên để bảo vệ danh dự cho cha mẹ trước những

Trang 29

kẻ ngoài cuộc vừa luôn mong chờ sự thật thà của trẻ con vừa sẵn sàng tỏ ra thương cảm,sẵn sàng dị nghị trước bi kịch của một gia đình Do Thái Và cứ thế, những nỗi đau khôngthể ngừng tiếp tục…

Sự dịch chuyển và vấn đề tài chính vẫn là một nỗi ám ảnh với Anna và những đứa

trẻ Khị vụ án kết thúc và người mẹ được xử trắng án, “họ phải di chuyển liên tục…Bởi

họ không có tiền, cuộc sống trở thành một chuỗi những lần chạy trốn khỏi những người cho thuê nhà và chủ nợ.” [4; tr 80]

Và chính bởi những khó khăn này đã đưa họ “sống trong sự cách ly” Những đứa

trẻ giờ đây không trực tiếp cảm nhận được bi kịch đánh mất ngôn ngữ như mẹ chúng đãtừng chịu đựng, song chính sự khép chặt trong thế giới riêng của gia đình Auster mà bikịch ấy tiếp tục được tiếp diễn Bốn anh em nhà Auster lớn lên nhờ sự gắn chặt lấy nhau,bao đùm nhau và luôn duy trì nguyên tắc tình huynh đệ dưới sự nuôi dậy nghiêm khắccủa một bà mẹ phải đứng lên chống chọi sau cơn dư chấn giết chết người chồng Trongsâu thẳm, anh em Auster hiểu rằng, chúng không thể giãi bày với ai, chúng phải tự bảo vệlấy nhau trước thế giới ngoài kia đang nhìn chúng đầy thương cảm như những kẻ mấtnhà, mất quê hương Đó cũng là cách duy nhất duy trì cấu trúc gia đình Do Thái mànhững đứa trẻ có thể làm khi thiếu vắng người cha…

Paul Auster trong “Chân dung của một người vô hình” đã chỉ ra những vấn đề của

thế hệ tiếp theo nhà Auster… Tập trung khai thác những khía cạnh của nhân vật SamAuster sẽ cho thấy sự liên kết những kí ức của hai thế hệ trong một gia đình Do Tháithông qua những khó khăn họ phải chịu đựng từ sau sự kiện làm mất đi người cha – trụcột gia đình

Là em út trong bốn anh em, Sam Auster đã lớn lên và trưởng thành, mang theo tất

cả những kí ức thời thơ ấu về gia đình và dần lựa chọn được cho mình cách ứng xử vớithế giới Đầu tiên, Sam cảm nhận được tiền bạc có sức mạnh quan trọng như thế nào đốivới cuộc sống của một gia đình lưu vong trên miền đất xa lạ Kí ức về một lần số tiềndành dụm được từ việc đi giao báo bị bà mẹ lấy hết để thanh toán các hóa đơn, gieo lại sựbất an trong tâm hồn đứa trẻ có lẽ đã trở thành một trong những nguyên nhân chính hình

thành nên ước mơ “trở thành một triệu phú, trở thành người đàn ông giàu nhất thế giới”

Trang 30

[4; tr 87] Trên mảnh đất nước Mỹ đầy hứa hẹn, Sam đã dần biến thành một con ngườiđầy thực dụng Thân phận Do Thái bị xua đuổi được Sam Auster ghi nhớ sau lần bịThomas Edison đuổi việc khi phát hiện ra nguồn gốc của mình đã khiến khát vọng trở

thành ông chủ, tạo dựng được kinh tế vững vàng càng trở nên mạnh mẽ “Chẳng có gì ngoài công việc” [4; tr 86] là minh chứng cho những ám ảnh về một kí ức đi kèm với sự

khánh kiệt của gia đình đã in đậm thế nào trong tâm trí Sam

Thế nhưng, khát vọng tiền bạc ngoài việc thỏa lấp cho nỗi lo tài chính luôn ăn sâu

trong Sam, nó còn có nghĩa là “cả thế giới sẽ không ảnh hưởng đến bạn” [4; tr 87] Tiền

đã trở thành công cụ để cha của Paul bảo vệ lấy chính mình Đó là thứ mà Sam nghĩ rằng

sẽ giúp ông và gia đình tránh được những hiểm nguy, những bất thường của cuộc sống.Nỗi ám ảnh cũng như khao khát về tiền bạc đã đưa ông yên vị trong thế giới cô độc củamình

Sự nuôi dưỡng nghiêm khắc của người mẹ cùng sự tuân thủ nghiêm ngặt của tìnhhuynh đệ trong gia đình giữ Sam trong một khoảng cách rất xa với những đứa con.Dường như sự thiếu hụt bóng dáng người cha trong suốt những tháng năm thơ ấu đã trởthành một vùng miền kí ức đầy những nỗi đau mà ông không bao giờ dám chạm tới Cáchhành xử đối với thế giới bằng việc giam giữ bản thân trong sự cô độc đã bị chính đứa con

phát giác: “cha không bao giờ nói về bản thân,…Như thể cuộc sống nội tại cũng lẩn tránh chính cha.” [4; tr 32] Trong thế giới cô độc của mình, Sam chọn lối thoái lui,“theo lối không phải nhìn thấy bản thân, hoặc không phải nhìn thấy mình bị bất kỳ kẻ nào trông thấy.” [4; tr 27]

Như vậy, thế hệ thứ hai nhà Auster đã tiếp tục hứng chịu những khó khăn của cuộcsống di dân, đồng thời, những đứa trẻ phải chịu đựng bi kịch thiếu vắng bóng hình ngườicha cũng như nỗi cô độc đóng mình lánh xa thế giới trong suốt cuộc đời

2.1.3 Khát khao của người con trai 2.1.3.1 “Kí ức đầu tiên: Sự vắng mặt của người cha [4; tr.33]

Để tránh sự đối mặt với những niềm đau trong kí ức, Sam Auster đã xây tường đắplũy cho thế giới của mình Điều đó đã tạo nên một hình ảnh người cha “vô hình” tronggia đình Sau cái chết của người cha, người con quay trở lại căn phòng mà cả gia đình

Trang 31

từng sống trước khi vợ chồng Sam Auster ly hôn và phát hiện ra ngôi nhà chưa từng có

sự thay đổi, thậm chí mọi đồ đạc vẫn nguyên vẹn, không hề xáo trộn Những căn phòngđầy bụi và màng nhện, dấu hiệu của sự lãng quên đã cho thấy vai trò của Sam trong ngôinhà Dường như nó là sự tồn tại vô nghĩa đối với sự vật xung quanh, mọi thứ vẫn nguyênvẹn dẫu cho người cha có ở đó hay không Paul Auster có lẽ đã muốn nói đến sự vắngbóng trong vai trò của người cha trong gia đình thông qua hình ảnh ẩn dụ về sự tồn tại bấthợp lí của Sam Auster trong ngôi nhà

Với cậu con trai cả Paul, ý thức về cấu trúc gia đình không có vị trí của cha rất rõ

ràng: “Tôi là con trai của mẹ, và tôi sống trong quỹ đạo của bà” [4; tr.33] Bằng cách

tránh tất cả mọi cái nhìn của kẻ khác vào thế giới của mình, Sam Auster cũng đã đánhmất hình ảnh của mình trong mắt đứa con trai một cách đầy đau đớn Nỗi sợ hãi níu giữngười cha nhìn vào sự ra đời của những đứa con, sợ nhìn vào chúng và để lộ bản thân

Và sự xóa nhòa những hình dung về cha cứ ngày một lớn trong tâm trí đứa con trai

2.1.3.2 “Kí ức về sau: Sự khát khao” [4; tr.34]

Thế hệ tiếp theo nhà Auster vẫn tiếp diễn cấu trúc gia đình mà ở đó người chadường như biến mất Song sự bỏ ngỏ, sự thiếu hụt ấy cũng cất lên những tiếng nói kết nốicủa nó Sợi dây liên hệ giữa cha và con trai mạnh mẽ đến nỗi nó đã trở thành nỗi khát

khao Khát vọng ấy thúc đẩy một mong muốn mãnh liệt: “Và hơn tất cả mọi điều, tôi muốn ông chú ý vào mình.” [4; tr.34] Sam Auster càng xa lánh thì nỗi khao khát trong

cậu con trai càng mãnh liệt Cuối cùng, nỗi khao khát ấy đã mở ra một khả năng, một khảnăng khám phá và thấu hiểu Sự khát khao mạnh mẽ không ngừng lớn lên và hối thúc đứacon dấn thân vào hố sâu của kí ức, dấn thân vào căn phòng đầy tràn kỉ vật của người quá

cố và đi tìm nỗi đau của gia đình trong quá khứ

Hai kí ức về người cha cùng những khám phá về nỗi đau trong quá khứ của gia đình cũng

là động lực để Paul Auster nhận ra chính mình Ông nhận ra dường như bản thân cũngđang biến mất trong vai trò của người cha ngay tại gia đình mình Paul Auster khao khát

đi tìm bóng hình của người cha quá cố cũng chính là để thoát khỏi nỗi day dứt bủa vâyđối với những đứa con của mình

Trang 32

Vụ án nhà Auster chính là một chấn thương lịch sử của một gia đình Do Thái trênđất Mỹ Khám phá ra vụ án, đứa con trai đã có cơ hội khám phá những nỗi đau của thế hệ

đi trước, khám phá nỗi day dứt, nỗi cô độc mãi không nguôi trong suốt cuộc đời củangười cha Cái “tôi” cũng bắt đầu được nảy sinh, được nuôi dưỡng trong chiều sâu xuyênsuốt của câu chuyện gia đình Đó là cái “tôi” chấn thương của Paul Auster hay chính làcái “tôi” của thế hệ sau phải chịu đựng, phải gánh vác những nỗi đau, di chứng chấnthương của thế hệ trước để lại

2.2 Chuyển giao ký ức – cơ chế của những chấn thương

“Phải mất một cuộc chiến tranh để dạy bạn điều này, rằng bạn phải chịu trách nhiệm cho tất cả những gì bạn đã nhìn thấy cũng như tất cả những gì bạn đã làm Vấn đề nằm ở chỗ không phải bao giờ bạn cũng biết mình đang nhìn thấy cái gì cho mãi đến sau này, rất nhiều năm sau, bạn mới nhận ra rất nhiều thứ trong đó chưa bao giờ được đầu óc bạn tiếp nhận và xử lý, nó vẫn còn tích trữ nguyên vẹn ngay trước mắt bạn.” 5[ 10]

(Michael Herr, Dispatches)

2.2.1 Cơ chế chuyển giao ký ức

Phân tâm học của S Freud cũng như phê bình chấn thương của Cathy Crauth đãchỉ ra sự giãn cách, sự kiểm chứng cũng như sự quy chiếu của những chấn thương lịch

sử Chính điều này đã cho thấy quá trình nhận thức những chấn động, tạo ra những ký ứcđeo đẳng con người Đồng thời, nó còn cho thấy khoảng cách thế hệ khi nhận thức vềnhững chấn thương và khả năng tồn tại lâu dài cũng như cơ hội của những hư cấu, của sựtái tạo các dấu vết lịch sử trong tiềm thức con người qua sự giãn cách của thời gian Paul Auster là thế hệ thứ ba của một gia đình Do Thái - Mỹ Thông qua những kí ức vềngười cha và sự khám phá chấn thương của gia đình, ông đã giữ lấy những kí ức chung

và cả những kí ức riêng cho mình Chúng tôi sẽ chỉ ra cơ chế chuyển giao kí ức cũng như

là cơ chế tạo ra cái “tôi” trong tác phẩm của Paul Auster dưới cách tiếp cận phê bình chấnthương theo quan điểm của Marianne Hirsch trên cơ sở những chấn thương sau sự kiệnHolocaust

5 Cathy Caruth dẫn đoạn trích này để mở đầu cho bài viết “Kinh nghiệm không được khẳng định: Chấn

thương và những khả năng của lịch sử”(Unclaimed Experience: Trauma, Narrative, and History)

Trang 33

Trước hết, cơ chế chuyển giao kí ức này có thể thấy rõ thông qua sự chuyển tiếpcủa các thế hệ trong gia đình Auster:

- Thế hệ đầu tiên: là thế hệ chấn thương, gồm Harry Auster, Anna Auster và các anhchị em – những người Đông Âu hoặc di dân sang đất Mỹ, hoặc ở lại “chiến đấucho quân đội Áo” [4; tr 79] Sau thế chiến I bùng nổ, đế chế Áo – Hung, nơi baogồm lãnh địa quê hương họ phải sụp đổ và tan rã cùng với các vấn đề dân tộc giatăng khiến những người Do Thái một lần nữa lại phải sống cuộc đời lưu lạc

- Thế hệ thứ hai, thứ ba: là thế hệ “hậu ký ức” 6 , gồm Sam Auster và ba người anh

em của mình cùng Paul Auster, là hai thế hệ không phải chịu đựng trực tiếp nhữngbiến đổi bất ngờ của lịch sử dân tộc, không có mặt vào thời điểm ông bà, cha mẹ

họ rời bỏ quê hương, di cư đến nước Mỹ Họ tiếp nhận và phản ánh ký ức lịch sửqua những kinh nghiệm chủ quan của bản thân họ

Trong thế hệ “hậu ký ức” này có sự phân biệt giữa thế hệ hai và thế hệ ba.

 Thế hệ hai gồm Sam Auster và các anh em Thế hệ này đã sống và chứngkiến những thảm họa Holocaust và chiến tranh thế giới thứ hai Thế hệ nàyvừa tiếp nhận gián tiếp những chấn thương của thế hệ đầu tiên vừa trực tiếpchứng kiến những chấn thương của thời đại mình sống

 Thế hệ ba là Paul Auster, sinh ra trong thời kỳ mà những sự kiện rúng độngnhân loại đã chấm dứt Ông hoàn toàn nhận lấy những ký ức chấn thươngthông qua sự gián đoạn của thời gian và khoảng cách thế hệ

Và để thấy rõ được cơ chế chuyển tiếp này, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích nhữngnhân tố đảm bảo cho sự chuyển hóa những chấn thương trong gia đình Auster

2.2.2 Những nhân tố trung chuyển ký ức

6 Marianne Hirch dùng thuật ngữ này cho thế hệ thứ hai sau những chấn thương của sự kiện Holocaust Ở đây, chúng tôi mượn thuật ngữ này để chỉ các thế hệ sau sự kiện di dân, vụ án tạo nên chấn thương nhà Auster Việc sử dụng này dựa trên sự tương đồng về điểm mốc của sự kiên chấn thương và sự giãn cách thế hệ trong việc tiếp nhận các chấn thương lịch sử

Trang 34

Trong “Thế hệ ký ức” (The Generation of Memory”), Marianne Hirsch cũng đã

chỉ ra những yếu tố đảm bảo cho sự lưu chuyển những câu chuyện, mảnh ghép của lịchsử: ký ức, gia đình và những bức ảnh Trong câu chuyện của gia đình Auster, các yếu tốnày đã thể hiện được sức mạnh kết nối, chuyển giao kí ức của mình Bản thân mỗi yếu tốvận hành theo những cơ chế, những quy tắc của riêng nó

2.2.2.1 Ký ức:

Trong “Khởi sinh của cô độc”, ký ức rõ ràng đóng vai trò chủ chốt trong cơ chế

chuyển hóa những chấn thương đến Paul Auster, đồng thời bản thân nó cũng chính là cơchế thúc đẩy kiến tạo cái “tôi” chấn thương trong tác phẩm Có hai mảng ký ức lớn gópphần tác động mạnh đến tâm lý của “tôi”, đó là mảng ký ức về người cha và mảng ký ức

về gia đình Hai mảng ký ức này đan xen lấy nhau, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình thu nhậnnhững ký ức chấn thương

Với mảng ký ức về gia đình, vụ án bí mật đã kéo theo hàng loạt những ký ức kháctrong hình dung của người cháu Những kí ức di tản đầy khó khăn trong một thời kì biếnđộng của thế chiến I, kí ức về nước Áo chìm trong chiến tranh, kí ức dồn nén những mặccảm mất tiếng nói, kí ức về nhiều lần chịu đựng những vết rạn trong đời sống vợ chồng

đã làm bùng nổ sự kiện gây chấn động Tất cả trở thành quá khứ kinh hoàng mà Annamang theo trong suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời, đồng thời neo đọng lại trongtrí nhớ những đứa con, tạo thành nguyên cớ dẫn đến những hành động, cách ứng xử khitrưởng thành

Paul Auster trong quá trình đọc các bài báo xoay quanh vụ án gia đình luôn tựmình đưa ra các lời bình luận, giải thích về tình hình, về từng bước diễn biến sự việc.Điều này cho thấy tác động mạnh mẽ của chấn thương gia đình đã đưa Auster dấn thânthực sự vào ký ức và cảm nhận, sống trong nó Một lần nữa, những chấn thương trongquá khứ lại được bắt đầu và lần đầu tiên nó được trải nghiệm bởi đứa cháu Tại đây,mảng ký ức về gia đình đóng vai trò móc nối và dẫn dắt để cơ chế kiến tạo cái “tôi” chấnthương được khởi nguồn

Vụ án gia đình đã đánh mạnh vào tâm lí Paul Auster Việc tìm hiểu vụ án đã thúcđẩy đứa con, đứa cháu liên hệ mạnh mẽ với những kí ức về người cha Dường như vụ án

Trang 35

trở thành một căn cớ cho những hành động, cách ứng xử của người cha đối với đứa contrai mà trong suốt những tháng năm thơ ấu, đứa trẻ không thể hiểu nổi Từng mảng ký ứctrỗi dậy bỗng tập hợp thành một quãng đường dài trong tâm lí người đang sống đi kiểmchứng và tái cảm nhận những vết thương của người quá cố Đi qua quãng đường đó là cái

“tôi” cũng đã trải qua một chặng dài của lịch sử Có thể nói, Paul Auster đã trải nghiệmnhững ký ức chấn thương của gia đình thông qua việc xâu chuỗi những ám ảnh, nhữngchấn thương từ trong ký ức về người cha

Ký ức mà đứa con luôn mang theo về cha mình là sự vắng bóng cùng những khaokhát được cha quan tâm cho dù trong suốt thời thơ ấu, “tôi” đã không thể hiều được cáchứng xử và lựa chọn thế giới cô độc của người cha Nhưng giờ đây, cùng với việc vụ ángia đình được phát hiện, Auster liên hệ mạnh mẽ với những kỷ niệm trong đời sống hàngngày với người cha, tìm ra được nguyên cớ cha trốn tránh trong thế giới cô độc như mộtcách mà cha che giấu về sự thật gia đình, hay chính là che giấu và gậm nhấm những chấnthương của bản thân Và ở đây, ký ức không chỉ đóng vai trò móc nối để tạo lực đẩy cho

cơ chế kiến tạo cái “tôi” mà còn đóng vai trò giải thích, hóa giải những chấn thương lịchsử

Như vậy, Paul Auster đã tự động tiếp nhận những kí ức của tổ tiên mình thông qua

sự xâu chuỗi những ký ức từ thuở ấu thơ cho đến thời điểm người cha mất đi Những sựkiện trong đời sống giao tiếp hàng ngày với cha mình đã mở ra cho Paul khả năng hiểuđược lịch sử Sự lục lọi lại ký ức về người cha cũng giúp Paul tìm ra mối dây liên hệ củabản thân với những người, những việc đã trôi vào dĩ vãng Auster bắt đầu nhận ta bảnthân không thể từ chối gốc rễ Do Thái đầy ẩn ức của mình bởi sự thúc đẩy vô hình trongnhững mối liên hệ quá khứ - hiện tại, cha – con đầy phức tạp

Bằng việc sử dụng những ký ức về cha cũng như những ký ức về gia đình, cái

“tôi” chấn thương trong “Khởi sinh của cô độc” đã thực hiện hành trình dài xuyên suốt

lịch sử, đó cũng chính là cách tạo tác và thực hiện cơ chế kiến tạo chính nó

2.2.2.2 Gia đình

Trang 36

Trong phần lý giải về yếu tố “ký ức”, Marianne Hirsch đã dẫn ra cách phân loạicủa Jan Assmann về hai loại ký ức tập thể: ký ức lan truyền và ký ức văn hóa [24; tr.110]Trong đó, ký ức lan truyền được lí giải là những ký ức mang tính chất tiểu sử và đượcdựa trên sự thật Ký ức đó được thu lượm thông qua những thông tin của đời sống hàngngày Và Aleida Assmann đã mở rộng hai loại này thành bốn dạng thức ký ức, trongđó,dạng thức ký ức nhóm/gia đình chiếm một vị trí tương đối quan trọng [24; tr 110]Hẳn nhiên trong quá trình một người tiếp nhận những tri thức và cả những sự kiện để trởthành ký ức, gia đình là một dạng thức/môi trường quan trọng giúp những ký ức đượcchuyển tiếp qua các thế hệ dưới nhiều hình thức khác nhau.

Gia đình đóng vai trò dẫn dắt Paul Auster đi tìm lại những kí ức chôn vùi của thế

hệ trước Cơ chế chuyển hóa ký ức được thực hiện qua cấu trúc gia đình, và cấu trúc ấyđược đại diện thông qua mối quan hệ cha – con trai Trong câu chuyện liên quan đến vụ

án giết người, ẩn ức về việc thiếu đi bóng hình người cha được hiện lên sau từng chi tiết

Cả Paul Auster và cha của mình, hai thế hệ tiếp nối từ sau chấn thương gia đình đều luônkhắc khoải, khao khát xoay xở đi tìm một hình bóng có thể bấu víu Có thể nhận thấy đâychính là một khát vọng mang tính lịch sử, nhân loại Tính chất của mối quan hệ cha – contrai có liên quan đến khát vọng lịch sử, nhân loại này sẽ được chúng tôi phân tích, làm rõtrong phần sau Trong phần này, chúng tôi chỉ chủ yếu chỉ ra cách duy trì gia đình nhàAuster đã có ảnh hưởng thế nào đến cơ chế chuyển hóa những ký ức

Trước hết, với sự kiện chấn thương của thế hệ thứ nhất, thế hệ thứ hai nhà Austerphải sống trong mô hình gia đình hoàn toàn không có cha Nó không chỉ tạo ra cuộc sốngbấp bênh, thiếu điểm tựa vững chắc mà để lại lỗ hổng của niềm tin cũng như mặc cảmdẫn đến sự đóng khép bản thân của thế hệ thứ hai Bên cạnh đó, nguyên tắc tình huynh đệđược tuân thủ nghiêm ngặt giữa bốn anh em cũng tạo nên xung lực căng thẳng, thiếu hụttình thương và sự mềm dẻo Sự mất đi người cha trong gia đình buộc mỗi đứa con traitrong huyết thống phải đứng lên tự làm trụ cột từ sớm Trong cấu trúc gia đình vắng bóngngười cha, những đứa trẻ suốt thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành đã dần nhận thứcđược chấn thương của cha mẹ và chính mình Đó cũng là con đường chuyển hóa ký ức,khám phá và tri nhận những chấn thương lịch sử

Trang 37

Tiếp tục đến thế hệ thứ ba, cấu trúc gia đình mà thế hệ hai từng bị tổn thương làmchủ đã gây những ra những áp chế, tiếp tục mang theo cả những ẩn ức, chấn thương vàotrong vô thức của những đứa con Vụ án gia đình xảy ra để lại nỗi đau lớn trong SamAuster Và điều này kéo theo cách nhân vật này hành xử, làm chủ gia đình một cách khác

lạ, báo trước những đổ vỡ và rạn nứt Đó là sự giấu diếm bản thân cũng như bí mật gia

đình :“Trong suốt thời thơ ấu của tôi, cha đã kể cho tôi nghe ba câu chuyện khác nhau về cái chết của cha mình.” [4; tr 55], đó là sự thờ ơ đối với sự ra đời của đứa con, là sự vô

tâm trước cuộc sống, sở thích, khát khao của đứa con trai, là cách bao bọc đầy bảo thủvới đứa con gái sớm bị bệnh Cách Sam Auster duy trì cấu trúc gia đình của mình chính

là giấu đi chính mình, nấp mình trong thế giới tự tạo Và hẳn nhiên, khi người đàn ôngvắng bóng trong gia đình, tình trạng hôn nhân đổ vỡ ắt hẳn sẽ xảy đến Paul Auster vàđứa em gái trong cách tổ chức và duy trì gia đình như vậy đã sớm tạo ra cho mình nhữngchấn thương thơ ấu Tại đây, cấu trúc gia đình của thế hệ hai – ba được thừa hưởng từ cấutrúc tổn thương của thế hệ thứ nhất – thứ hai Và sự thừa hưởng đó đã giúp cho những ký

ức vượt qua rào cản thế hệ, đảm bảo vẹn nguyên tới thế hệ con cháu để những chấnthương mãi luôn tiếp diễn và không ngừng để lại những nỗi đau, vết cắt của nó

Qua những kí ức nhỏ thu lượm được từ gia đình, qua vụ án biến động của ông bàđồng thời qua sợi dây kết nối cha – con, Paul Auster đã tìm được cái “tôi” đang bị nhấnchìm trong những mảnh vở của những dữ kiện lịch sử, những chấn thương của thời đại

Ký ức bằng những phân tán đặc biệt của mình cùng với cấu trúc gia đình chặt chẽ đã giúpcho những chấn thương lịch sự tiếp tục được bảo toàn, trở thành nỗi day dứt khôn nguôi

cứ mãi tiếp diễn

2.2.2.3 Những bức ảnh:

Đối với tác phẩm mang tính tự truyện, những bức ảnh không chỉ mang ý nghĩa giatăng thêm sự tin cậy cho những yếu tố liên quan đến đời thường mà nó còn mở ra nhữngkhả năng riêng trong việc dồn nén các ý nghĩa, khơi gợi sự liên tưởng trong một giới hạnkhông gian nhất định Mỗi bức ảnh chính như một lời tự thuật hàm chứa các biểu tượng,hình ảnh kết nối quá khứ và hiện tại

Trang 38

Trong quá trình bước vào căn phòng đầy những kỉ vật của người quá cố, nhữngbức ảnh thể hiện được vai trò đặc biệt của mình trong việc kết nối những cảm nhận về kí

ức giữa các thế hệ Ngay khi tìm được những bức ảnh, “tôi” đã mơ hồ nhận ra sức mạnh

của nó: “Lúc trở về nhà, tôi đắm đuối với những tấm ảnh đó cùng một sự say mê gần như điên dại Tôi thấy chúng bất khả cưỡng lại, quý giá, sánh ngang hàng với những thành tích thiêng liêng.” [4; tr 22]

Sự phát hiện đầu tiên liên quan đến những tấm ảnh đó là hàng trăm tấm ảnh “được giấu kỹ” và “những album đã bong sờn”, “một cuốn album cực lớn, bọc bằng vải da hảo hạng”[4; tr 22] nhưng chẳng được lấp đầy Chi tiết này muốn nói với chúng ta điều gì?

Sự bỏ trống của một cuốn album gia đình cho thấy sự rời rạc trong mối liên kết giữa cácthành viên Có lẽ, giữa họ chẳng có kỉ niệm nào đáng giá cùng nhau Cùng với đó lànhững bức ảnh được tìm thấy trong tình trạng được giấu kỹ, cho thấy đây hẳn là nhữngthứ người quá cố không muốn nhìn lại Bởi, những bức ảnh chính là hiện tại của một quákhứ, gọi về những mảng kí ức chứa đầy những mặc cảm và ẩn ức

Những tấm ảnh luôn có hai chiều kích tồn tại của riêng chúng Một là chiều kích được

giới hạn trong không gian trình chiếu của nó, chiều kích thứ hai chính là khả năng “mở

ra một cánh cửa tới quá khứ và cụ thể hóa mối liên hệ của người xem đối với nó” [24; tr.

117]

Những bức ảnh đánh mạnh vào tâm trí “tôi”, đưa những chấn thương của lịch sửquay trở lại Paul Auster đã nhắc tới hai bức ảnh đặc biệt, cả hai chính là hiện thân cho sựnhập nhằng giữa quá khứ và hiện tại, xóa nhòa đi ranh giới của sự biến mất hay tồn tại

Một là bức ảnh người cha phân thân thành năm, “mỗi phân thân bị cưỡng ép luôn phải nhìn vào khoảng không, cứ như chịu sự kiểm soát của những kẻ khác, nhưng chẳng nhìn gì cả, chẳng bao giờ có thể nhìn thấy gì.” [4; tr 51-53] Bức ảnh đã vẽ nên thế giới

cô độc theo cái cách mà cha Paul Auster chọn lựa để ứng xử với mọi thứ xung quanh vàvới chính mình Đó là luôn tránh nhìn vào kẻ khác và cũng tránh để kẻ khác nhìn vàomình Sự lẩn tránh ấy đẩy Sam vào con đường của sự hủy diệt: không ai có thể biết đếnthế giới của anh và anh cũng không cần biết đến bất kì thế giới nào Điều đó đúng như

Trang 39

cách đứa con trai nhận xét về bức chân dung cha mình: “Đó là một tấm ảnh của cái chết, chân dung của người vô hình.” [4; tr 53]

Thế nhưng, Paul Auster đã phát biểu cảm quan của mình khi nhìn thấy tấm ảnh

như sau: “ Cuộc gọi hồn biến thành một cuộc gọi hồn thực sự, và như thể cha đã đến đó

để triệu hồn chính mình, để đưa bản thân mình về từ cõi chết, như thể, bằng cách phân mình ra, ông đã tình cờ làm chính mình biến mất.” [4; tr 51] Như vậy, đối với Paul

Auster chính tại thời điểm nhìn thấy bức ảnh cũng là thời điểm người con nhìn thấy chamình Và điều đó đưa cha ông quay trở lại, phủ nhận cái chết của người quá cố Bức ảnhđem thế giới cô độc mà người cha chọn lựa ẩn mình trong suốt cuộc đời quay trở lại PaulAuster xem tấm ảnh và bị nhấn chìm trong thế giới ấy Có thể nói, tấm ảnh chính là hiệntại của một quá khứ đã trôi xa Người cha tưởng như không còn tồn tại nữa bất ngờ quaytrở lại như chưa từng biến mất Sức dồn nén của bức ảnh đã đưa Paul cơ hội có được chìakhóa mở cánh cửa thế giới cô độc của cha mình

Tấm ảnh đặc biệt thứ hai là một tấm chân dung gia đình từ những ngày đầu ở

Kenosha Nó đặc biệt bởi vết “rách toạc ra ở đoạn giữa và được dán lại một cách vụng về” [4; tr 56] Dấu vết lạ lùng đó dẫn đến sự phát hiện: “ông nội tôi đã bị xé khỏi đó” [4;

tr 56] Tấm ảnh không toàn vẹn ấy đã cất lên tiếng nói từ quá khứ, tiếng nói của nhữngmất mát và đổ vỡ trong gia đình Auster Tấm ảnh cũng có thể xem là một lí giải cho PaulAuster về tính cách và thế giới cô độc của cha mình

Trước hết, với Paul Auster, bức ảnh đó đánh dấu lần đầu Paul có thể nhìn thấy ôngnội mình Nhưng tiếc thay, đó là một cuộc gặp gỡ với một người đã bị loại bỏ, một người

mà “chỉ có đầu ngón tay ông còn lại: như thể ông đang cố bò trở lại tấm ảnh từ một cái

hố sâu của thời gian, như thể ông đã bị hút vào một chiều không gian khác.” [4, tr 57]

Hành động cắt chân dung Harry Auster ra khỏi tấm ảnh của một ai đó trong gia đình chothấy ý muốn tẩy xóa quá khứ và khôi phục lại gia đình Nhưng chính mong muốn tẩy xóa

ấy đã mang quá khứ trở lại nguyên vẹn với hiện tại qua cảm nhận của Paul Auster Từtrong bức ảnh, người đàn ông đáp trả lại sự loại bỏ trong quá khứ bằng vết thương bỏ ngỏđầy đau đớn Chấn thương của gia đình, của lịch sử dường như chưa bao giờ biến mất

Trang 40

như cái cách người đàn ông kia cố gắng bám víu lấy tấm ảnh bằng đầu ngón tay củamình

Một lần nữa, tấm ảnh lại nói với Paul Auster nhiều điều Sự biến mất của ông nộihay là sự tồn tại của những nỗi đau? Dường như, thế giới trong bức chân dung gia đìnhkia đang hòa lẫn với thế giới hiện thực mà Paul Auster đang sống

Thông qua việc tìm kiếm những tấm ảnh mà người cha cất giữ, Paul Auster đượcđặt giữa ranh giới giữa quá khứ - hiện tại, giữa sự biến mất và tồn tại của con người, sựthật và những nỗi đau oan khuất Nhờ đó, sự khám phá chấn thương lịch sử được tô đậmhơn bao giờ hết Những bức ảnh thể hiện vai trò như những vật chứng không thế chối cãicủa những vết cắt trong một gia đình, cũng như là một sự kiểm chứng cho sự tồn tại vĩnhviễn của những vết thương lịch sử không bao giờ lành Trong quá trình xâm nhập vàotrong thế giới của những tấm ảnh, Paul Auster tìm được cái “tôi” của mình, thấm đượmnhững ẩn ức của gia đình và lịch sử

2.2.2.4 Những bài báo

Paul Auster đã khám phá ra chấn thương của gia đình để rồi nối dài chúng với nỗiđau của lịch sử, của thời đại Bên cạnh ba yếu tố thúc đẩy sự khám phá những vấn đề củadân tộc và nhân loại, những bài báo đã trở thành một yếu tố vô cùng quan trọng trongviệc thức tỉnh, đào sâu kí ức theo cách rất riêng của Paul Auster

Sự xuất hiện của những bài báo cho thấy cái nhìn của Paul Auster về sự tình cờ

Ngay cả việc nhận được những tờ báo đó đối với ông cũng đã được bắt đầu bởi “một sự tình cờ đáng kinh ngạc” [4; tr 57] Bên cạnh những thông tin về vụ án gia đình, Paul

Auster tình cờ đọc được những sự kiện lịch sử đi kèm vào khoảng thời gian ấy: vụ vớtxác của Rosa Luxemburg, hội nghị hòa bình tại Versailles, vụ Eugene Debs, các bản tin

về cuộc nội chiến của Nga, đám tang của Karl Liebnecht và những người khác trongphong trào Spartacus,…Hàng loạt những dữ kiện liên quan đến nhau một cách không thểđoán trước được Trong khuôn khổ của tờ báo, chúng được đặt cạnh nhau, bỗng trở nênliên kết lại với nhau cho thấy sự chuyển động đầy hỗn loạn của thế giới Vết thương lịch

sử bỗng quay trở lại, trong nhận thức của một thế hệ tiếp nối sau những sự kiện đầu biếnđộng ấy

Ngày đăng: 01/07/2023, 23:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2011), “Từ điển thuật ngữ văn học”, tái bản lần thứ năm, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
2. Lê Huy Bắc ( chủ biên) ( 2013), “Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam”, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam”
Nhà XB: NXBTri thức
3. Jean - Franỗois Lyotard (2008), “Hoàn cảnh hậu hiện đại”, tỏi bản lần thứ nhất, Ngân Xuyên dịch, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn cảnh hậu hiện đại”
Tác giả: Jean - Franỗois Lyotard
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2008
4. Paul Auster (2013), “Khởi sinh của cô độc”, Phương Huyên dịch, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khởi sinh của cô độc”
Tác giả: Paul Auster
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2013
5. Võ Thị Mỹ Lam (2011), “Tự sự mê lộ trong tiểu thuyết Paul Auster”, Luận văn Thạc sĩ văn học, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tự sự mê lộ trong tiểu thuyết Paul Auster”
Tác giả: Võ Thị Mỹ Lam
Năm: 2011
6. Đỗ Hải Ninh (2012), “Tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện trong văn học đương đại Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Văn học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện trong văn học đương đại Việt Nam”
Tác giả: Đỗ Hải Ninh
Năm: 2012
7. Lê Huy Bắc, (2009) “Paul Auster và Nhạc đời may rủi”, Tạp chí văn học số 6, tr.74 – 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Paul Auster và Nhạc đời may rủi”
8. Sigmund Freud, “Tương lai của một ảo tưởng”, Lê Dọn Bàn dịch. Nguồn: http://chuyendaudau.blogspot.com/2011/02/sigmund-freud-tuong-lai-cua-mot-ao.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tương lai của một ảo tưởng”
9. Amos Goldberg, “Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết”, Hải Ngọc dịch. Nguồn: http://phebinhvanhoc.com.vn/?p=162#comments (phần 1) và http://phebinhvanhoc.com.vn/?p=164 ( phần cuối) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết”
10. Cathy Caruth, “Kinh nghiệm không được khẳng định: Chấn thương và những khả năng của lịch sử”, Hải Ngọc dịch. Nguồn:http://hieutn1979.wordpress.com/2012/12/08/cathy-caruth-vet-thuong-va-giong-noi/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kinh nghiệm không được khẳng định: Chấn thương và những khả năng của lịch sử”
11. Cathy Caruth, “Vết thương và giọng nói”, Hải Ngọc dịch. Nguồn: http://hieutn1979.wordpress.com/2012/12/08/cathy-caruth-vet-thuong-va-giong-noi/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vết thương và giọng nói”
12. Georges Perec, “Đảo Elllis: Mô tả một dự án”, Hoàng Ngọc Biên dịch. Nguồn: http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=7110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đảo Elllis: Mô tả một dự án”
13. Lê Tú Anh (2010), “Tự truyện như một thể loại văn học”. Nguồn: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3860%3At-truyn-nh-mt-th-loi-vn-hc&catid=94%3Aly-lun-va-phe-binh-vn-hc&Itemid=135&lang=vi Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tự truyện như một thể loại văn học”
Tác giả: Lê Tú Anh
Năm: 2010
14. Hoàng Phong Tuấn (2011), “Những nỗi đau thức tỉnh”. Nguồn: http://nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/nghien-cuu-phe-binh/hoang-phong-tuan-nhung-noi-dau-thuc-tinh.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những nỗi đau thức tỉnh”
Tác giả: Hoàng Phong Tuấn
Năm: 2011
15. Nguyễn Hưng Quốc, “Văn bản và liên văn bản”. Nguồn:http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=4890 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn bản và liên văn bản”
16. Nguyễn Minh Quân, “Về văn học hypertext”. Nguồn: http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về văn học hypertext”
17. Thụy Khuê, “Hậu hiện đại, thực chất và ảo tưởng”. Nguồn: http://thuykhue.free.fr/stt/h/HHD.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hậu hiện đại, thực chất và ảo tưởng”
18. Trần Quốc Tân (2013), “Khi người viết là ngôn sứ” Nguồn: http://tuoitre.vn/Tuoi- tre-cuoi-tuan/Van-hoa-nghe-thuat/566237/khi-nguoi-viet-la-ngon-su.html Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi người viết là ngôn sứ”
Tác giả: Trần Quốc Tân
Năm: 2013
19. Albert Hornby (2006)“Oxford advanced learner’s dictionary” , 7 th edtion, Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oxford advanced learner’s dictionary
20. Chaim Waxman, (1984) “The Jewish Father: Past and Present”,American Jewish Committee,  Institute of Human Relations Sách, tạp chí
Tiêu đề: “The Jewish Father: Past and Present”

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w