Lý do chọn đề tài Indonesia là một nước trong khu vực Đông Nam Á, giành được độc lập từ thực dân Hà Lan tháng 7-1945 đã trải qua nhiều cuộc chính biến chính trị và cũng có tốc độ phát tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6
3 Lịch sử vấn đề 7
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
6 Những đóng góp của luận văn 11
7 Bố cục luận văn 12
CHƯƠNG I: KHỦNG HOẢNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ ĐẠI NGHỊ “VAY MƯỢN” PHƯƠNG TÂY VÀ XÁC LẬP NỀN “TRẬT TỰ MỚI” 13
1 Từ Dân chủ đại nghị “vay mượn” đến “Nền Dân chủ có định hướng” của Sukarno 13
1.1 Chế độ Dân chủ - đại nghị phương Tây - mô hình chính trị - xã hội vay mượn không thích hợp 13
1.1.1 Chế độ Dân chủ “vay mượn” (1954-1957) 15
1.1.2 Nền “Dân chủ có định hướng”- khởi đầu của chế độ độc tài Indonesia (1957-1965) 22
2 Đảo chính quân sự năm 1965-1967 và xác lập chế độ độc tài quân sự 31
2.1 Cuộc đảo chính quân sự năm 1965-1967 31
Trang 32.3 Cơ sở xác lập độc tài quân sự ở Indonesia 34
CHƯƠNG II: CƠ SỞ TƯ TƯỞNG, TÍNH CHẤT QUYỀN LỰC VÀ NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHẾ ĐỘ “TRẬT TỰ MỚI” 38
1 Cơ sở tư tưởng 38
2 Tính chất quyền lực chính trị của “ Trật tự mới” 38
3 Các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của chế độ “Trật tự mới” 38 3.1 Kinh tế 39
3.2 Chính trị - xã hội 51
3.3 Chính sách đối ngoại của “Trật tự mới” 61
CHƯƠNG III: KHỦNG HOẢNG VÀ SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ “TRẬT TỰ MỚI” 66
1 Những dấu hiệu của sự suy sụp kinh tế 66
2 Sự tan rã của chế độ cầm quyền quan liêu quân sự 79
2.1 Về chính trị - xã hội 79
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 103
Trang 4MỞ ĐẦU
Trang 51 Lý do chọn đề tài
Indonesia là một nước trong khu vực Đông Nam Á, giành được độc lập từ thực dân Hà Lan tháng 7-1945 đã trải qua nhiều cuộc chính biến chính trị và cũng có tốc độ phát triển kinh tế vượt bậc so với các quốc gia khác trong khu vực Indonesia cũng như đa phần các quốc gia Đông Nam Á sau khi giành được độc lập đều chọn hướng đi tiếp theo bằng việc áp dụng các mô hình quản lý nhà nước của các quốc gia lớn như Trung Quốc, Nga, Anh, Mỹ, Do ảnh hưởng chủ yếu từ Hà Lan nên thời kỳ đầu sau giải phóng, tổng thống đầu tiên của Indonesia, Sukarno đã xây dựng đất nước theo mô hình Dân chủ Nghị viện vay mượn từ phương Tây Nhưng nền dân chủ chưa có gốc này đã nhanh chóng bị sụp đổ bởi
nó không đủ sức đưa ra và thực hiện đến cùng các chương trình phát triển kinh tế
- xã hội của một quốc gia đa dạng và phức tạp về văn hóa, non trẻ về chính trị và pháp luật Những bất ổn chính trị mà phổ biến là các cuộc đảo chính và sự thay đổi chính phủ thường xuyên xảy ra là nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội đòi hỏi cần phải có một nhà nước mạnh để tiến hành các cải cách kinh tế Suharto lên cầm quyền ở Indonesia sau vụ đảo chính năm 1965 lật đổ Tổng thống Sukarno và chính quyền dân chủ để lãnh đạo quốc gia gồm hàng vạn hòn đảo lớn nhỏ trong suốt 3 thập kỷ sau đó Suharto thiết lập nền chuyên chế độc tài đảng trị lấy quân đội và cảnh sát làm cột sống thống trị, lấy đảng Golkar làm cột trụ chính trị và lấy Quốc hội, do đảng Golkar và quân đội thao túng, làm bình phong pháp chế trị vì Cả ba trụ cột đó nằm trong tay tướng Suharto nhất thống trong 32 năm, qua 6 nhiệm kỳ độc chiếm vị thế Tổng thống Ông đặt tên cho chế độ của mình là “Trật tự mới” so sánh với thời kỳ “Trật tự cũ” của tổng thống Sukarno trước đó Dưới thời Suharto, chính trị bị kiểm soát chặt chẽ nhưng kinh tế phát triển khả quan Những người ủng hộ đánh giá Suharto là
Trang 6người dẫn dắt đất nước từ đói nghèo tới tương đối thịnh vượng, biến Indonesia thành một thế lực được vị nể ở châu Á
Mặt khác, Indonesia là quốc gia lớn nhất về mặt lãnh thổ và dân số ở Đông Nam Á Với dân số hơn 210 triệu người (chiếm tới 40% dân số các nước ASEAN) lại nằm ở vị trí trung tâm Đông Nam Á, nên bất cứ sự biến động nào trong tình hình Indonesia đều có tác động trực tiếp hay gián tiếp tới an ninh của
cả khu vực, sự biến đổi chính trị hiện nay của Indonesia sẽ có tác động và ảnh hưởng sâu rộng đối với sự năng động kinh tế, chính trị của ASEAN cũng như sự phát triển của tổ chức này trong tương lai
Thực tế, vấn đề chính trị và phát triển kinh tế theo mô hình của tổng thống Suharto là một đề tài được rất nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, kinh tế và chính trị của các quốc gia quan tâm Đối với phạm vi nghiên cứu và học tập của người viết đề tài thì việc tìm hiểu và chứng minh cho một phần nhỏ của học thuyết chính trị trên là điều đáng làm, đó là nền chính trị độc đoán chuyên quyền ra đời
có phải là phản ứng và là kết quả tất yếu của sự bất lực của chế độ dân chủ hay dân chủ nửa vời hay không? Chế độ độc tài có phải là một quy luật của quá trình phát triển chính trị và Indonesia cũng không nằm ngoài quy luật này hay không?
Và tại sao chế độ độc tài ở Indonesia lại có thể có được sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và mức giảm nghèo đáng kể và tại sao chế độ “Trật tự mới” lại có thể tồn tại lâu như vậy? “Trật tự mới” có vai trò gì trong công cuộc hiện đại hóa Indonesia?
Tất cả những lý do trên kết hợp lại cho thấy sự cần thiết phải theo dõi và nghiên cứu kỹ lưỡng những gì đã và đang diễn ra ở Indonesia để từ đó có thể rút
ra một số bài học bổ ích, giảm thiểu những tác động tiêu cực của diễn biến tình
Trang 7hình Indonesia, đồng thời đối phó có hiệu quả trước những thay đổi có thể có đối với tình hình an ninh, chính trị khu vực
Chúng tôi chọn đề tài: “TRẬT TỰ MỚI” – MÔ HÌNH ĐỘC TÀI INDONESIA để làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Châu Á học Đề tài được thực hiện mang cả hai ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Khẳng định vai trò của chế độ chính trị trong quản lý nhà nước và phát triển xã hội, phù hợp với quy luật phát triển của các hình thái kinh tế, xã hội cũng như quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lenin Đề tài nghiên cứu xin được góp một phần như một luận chứng cho quan điểm: chính trị quyết định đến kinh tế và kinh tế bổ trợ cho ổn định chính trị Đó được coi như là mối quan
hệ biện chứng giữa Kiến trúc thượng tầng (KTTT) và Cơ sở hạ tầng (CSHT), trong đó, CSHT đóng vai trò quyết định đến KTTT, khi CSHT thay đổi sẽ sinh ra một KTTT phù hợp với nó, KTTT phù hợp với CSHT thì sẽ có tác dụng tích cực, thúc đẩy sự phát triển còn không sẽ gây sự sụp đổ hoặc khủng hoảng, khi đó sẽ xuất hiện một KTTT mới phù hợp với CSHT
Chế độ độc tài ở Indonesia và một số nước khu vực Đông Nam Á hình
thành trong bối cảnh các “cấu trúc chính trị pha tạp của mô hình quản lý xã hội tư sản – đại nghị phương Tây không còn đủ khả năng đảm bảo ổn định chính trị, trở thành vật cản và kìm hãm quá trình hiện đại hóa kinh tế, chỉ phát huy tác dụng nhất thời phù hợp với điều kiện văn hóa địa phương” 1 Trong trường hợp này thì thượng tầng chính trị của Indonesia lại tác động tích
1
Hoàng Văn Việt (2007), Các quan hệ chính trị ở phương Đông-Lịch sử và hiện tại, Nxb Đại học Quốc gia
TPHCM
Trang 8cực đến cơ sở hạ tầng nhưng chỉ được một thời gian khi những biến động về kinh tế và xã hội đã khiến cho chế độ đó không còn phù hợp và phải thay thế bởi một chế độ chính trị khác Đó là xu thế tất yếu của quá trình phát triển
Trong bối cảnh cải cách hiện nay, vấn đề chính trị luôn được đặt lên hàng đầu không chỉ ở riêng Indonesia Những cải cách về kinh tế, chính trị như thế nào là đúng đắn, có thể khẳng định được vai trò thiết yếu của nó đối với phát triển bền vững hay không Vì vậy, việc tìm hiểu về chính trị Indonesia sẽ góp một phần nhỏ cho những ai quan tâm đến chính trị và lịch
sử chính trị có được quan điểm toàn diện hơn
Nếu thành công, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các ngành học Đông phương, quan hệ quốc tế…và những bạn đọc quan tâm
3 Lịch sử vấn đề
Đã từ lâu, các vấn đề về chính trị trong đó chế độ chính trị của một quốc gia luôn là vấn đề then chốt, quan trọng nhất quyết định đến văn hóa, xã hội và đường lối chính sách của mỗi quốc gia và ảnh hưởng của nó đối với khu vực Ở các quốc gia Đông Nam Á, văn hóa chính trị đều có những nét tương đồng nhau
Vì vậy, khi nghiên cứu về một quốc gia cũng có thể đánh giá, nhận xét chung cho các quốc gia cùng khu vực một cách tổng quát và toàn diện nhất Indonesia
là một quốc gia đa văn hóa, đa sắc tộc, đa ngôn ngữ và là nước chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những biến động về chính trị cũng như kinh tế của khu vực và thế giới nhiều nhất Vì vậy, vấn đề mang tính chất lý luận về các chế độ chính trị trên thế giới: dân chủ, độc tài, quá trình chuyển biến từ dân chủ - đại nghị “vay mượn” đến độc tài từ thực tế khu vực đến các quốc gia chịu ảnh hưởng có phải là
Trang 9tất yếu và nó đã được áp dụng như thế nào ở Indonesia Chế độ chính trị ấy có tương thích với điều kiện kinh tế và lịch sử xã hội của Indonesia hay không?
Phần này sẽ tập trung phân tích kỹ lưỡng về vấn đề chính trị của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh và sự lựa chọn chế độ chính trị của các quốc gia đặc biệt là Indonesia đã ảnh hưởng như thế nào đến đời sống kinh tế, hoạt động đảng phái và đường lối ngoại giao của họ
Thực chất, chế độ độc tài đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu trên thế giới bình luận và đưa ra nhiều ví dụ của các quốc gia từ châu Phi, nam Phi, châu
Âu và châu Á Hầu như tất cả đều có điểm chung về nội dung và tính chất về sự khởi nguồn và tiêu vong của một chế độ được hình thành tạm bợ trong một xã hội ròi nhanh chóng bị lỗi thời như một hệ quả tất yếu của sự vận động và chuyển đổi của xã hội
Kể từ sau cái chết của tổng thống Shuharto, những phe cánh chính trị nổi lên đã gây sự chú ý của quốc tế và khu vực Indonesia có quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ rất sớm (1957), các công trình nghiên cứu về Indonesia chủ yếu mang tính tổng quát về xã hội, kinh tế, lịch sử, chính trị, chưa có nhiều tài liệu chuyên ngành về Indonesia Các công trình nghiên cứu chủ yếu là:
“Nền dân chủ Indonesia” của Dautorita nói về vấn đề dân chủ ở Indonesia
từ thời Sukarno (1957 - 1968) đến hiện nay, tác giả giải thích nguyên nhân của
sự sụp đổ chế độ dân chủ đại nghị ở Indonesia là tất yếu, “Trật tự mới thời Suharto” của tạp chí Overthrow, Mỹ nói về nguyên tắc hoạt động của Suharto,
sự độc tài về kinh tế, quân sự, chính trị của ông mang lại lợi ích cho sự phát triển
đất nước, “Cứu Indonesia” của John Perskin nói về Suharto thân Mỹ và vai trò của “tập đoàn trị”, "Indonesian Politics under Suharto" của Michael R.J
Trang 10Vatikiotis (1998) nói về những chính sách đối nội, đối ngoại mà Suharto đề ra từ khi ông bắt đầu lên nắm chính quyền đến những năm bắt đầu xuất hiện cuộc khủng hoảng về tiền tệ, các tạp chí của nước ngoài, nhất là Australia và Mỹ đã
có những bài viết và phân tích sắc bén tình hình chính trị cũng như kinh tế của
Indonesia trong mô hình "Trật tự mới" như "Two former strongmen, Lee Kuan Yew meet again" của Antara, "How Did Suharto Steal $35 Billion? Cronyism 101", "Army in Jakarta Imposes a Ban on Communists" và
Soeharto-"Indonesia: Arrests, torture and intimidation: The Government's response to its critics" của Amnesty International "Suharto: A Political Biography" của
Nordholt nói về một nền chính trị phức tạp nhưng hứa hẹn sự ổn định trong
tương lai, "Inside Indonesia - Air, tanah, dan Suharto" của Ditinjau oleh ron
Witton nói về toàn cảnh Indonesia thời Suharto, v.v
Ở Việt Nam chưa có nhiều tài liệu hay công trình khoa học viết về Indonesia một các đầy đủ về chính trị, kinh tế hay văn hóa mà chủ yếu chỉ là các
cuốn sách, tạp chí với các thông tin cơ bản như “Indonesia, những chặn đường lịch sử” của Ngô Văn Doanh, tổng quan về Indonesia qua các thời kỳ, Huỳnh Văn Tòng (1992), Lịch sử Indonesia (từ thế kỷ XV – XVI đến những năm 1980)
Do đó, việc tham khảo các tài liệu theo mốc thời gian và sự kiện tập hợp từ các cuốn sách viết về khu vực Đông Nam Á để thống kê cũng như diễn dải các vấn
đề về tiến trình lịch sử, chính trị của Indonesi được cụ thể và rõ ràng Theo đó,
các tác phẩm chủ yếu được tham khảo như: "Đông Nam Á, truyền thống và hội nhập" của Vũ Đăng Ninh (2007), "Tri thức Đông Nam Á" của Lương Ninh và
Vũ Dương Ninh (2008), "So sánh hành chính các nước ASEAN" của Đoàn Trọng Truyến (1999), "Thể chế chính trị một số nước ASEAN" của Nguyễn Xuân Tế
Trang 11(1998), "Qúa trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường của các nước đang phát triển (kinh nghiệm của Inđônêsia)" của Hoa Hữu Lân (1996),v.v
Bên cạnh đó, các tác phẩm viết về văn hóa chính trị khu vực một cách
tổng hợp nhưng sắc nét như cuốn“Các quan hệ chính trị ở phương Đông” của
Hoàng Văn Việt đề cập đến khía cạnh văn hóa chính trị và biểu hiện của nó ở
khu vực Đông Nam Á, bài viết “Từ dân chủ đến độc tài” của Nguyễn Cảnh Hợp
nói về sự chuyển biến và không phù hợp để áp dụng nền dân chủ ở các nước
Đông Nam Á và “Thực trạng tham nhũng ở Indonesia” nói về vấn đề tham
nhũng tại Indonesia được nuôi dưỡng từ thời “Trật tự mới”, Huỳnh Văn Tòng
với “Lịch sử Indonesia” dưới góc độ lịch sử
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu dựa trên phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic Thu thập tài liệu, phân tích và rút ra những dữ liệu cần thiết cho đề tài Dựa trên những sự kện cụ thể, phản ánh các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa của Indonesia như một bức tranh toàn cảnh từ năm 1950 – 1998 và thêm vào
đó là ảnh hưởng của nó đến hoạt động chính trị Indonesia ngày nay như thế nào
Ngoài ra, luận văn trình bày dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Max-Lenin
về mối liên hệ biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, một chế
độ thượng tầng chính trị không phù hợp với cơ sở hạ tầng sẽ sớm bị thay thế bằng một thượng tầng chính trị khác
5 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Là một quốc gia có ảnh hưởng lớn trong khu vực, đi tiên phong trong các phong trào liên kết nên Indonesia luôn là mối quan tâm của quốc tế cũng như khu vực Việt Nam và Indonesia về mặt lịch có những nét tương đồng: cùng là
Trang 12quốc gia thuộc địa, cùng đấu tranh giải phóng dân tộc, chịu ảnh hưởng của tư tưởng Cộng sản chủ nghĩa, nên việc tìm hiểu về quốc gia Indonesia cũng là cách tiếp cận được lịch sử chung của khu vực, quá trình phát triển của các chế độ chính trị
Trên hết, mục đích của đề tài luận văn từ phân tích, diễn giải đến so sánh
để đúc kết cho một nhận định chung đó là: độc tài mang lại lợi ích gì cho sự phát triển và những thành quả mà Indonesia đạt được trong thời kỳ lãnh đạo của tổng thống Suharto dưới mô hình “Trật tự mới” có gì đáng để Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á học hỏi
Phạm vi nghiên cứu: Indonesia sau khi giành độc lập và thành lập nhà nước năm 1950 đến thời kỳ của Suharto (1968 – 1998), theo đó giai đoạn chuyển giao quyền lực và chính trị những năm 1965 – 1968 được phân tích cụ thể
Đối tượng nghiên cứu:
Thể chế Dân chủ đại nghị vay mượn từ phương Tây của một số quốc gia Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh và nguyên nhân sụp đổ
Hoàn cảnh hình thành chế độ độc tài ở Indonesia và những hoạt động của chế độ đó Những thành quả đạt được của chế độ “Trật tự mới”
Sự sụp đổ chủ chế độ “Trật tự mới” và những bài học lịch sử
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn tuy chỉ tập trung vào phân tích một thời điểm lịch sử của Indonesia, một mô thức quản lý nhà nước độc đoán trong một thời gian không phải là ngắn nhưng đã đóng góp một phần nhỏ cho những ai quan tâm đến chính trị Đông Nam Á
Trang 13Khẳng định được vai trò của chính trị, quân đội và quần chúng nhân dân trong các phong trào giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước
Góp phần nhỏ cho tư liệu về Indonesia
Chương II – Cơ sở tư tưởng, tính chất quyền lực và hoạt động của chế độ
“Trật tự mới”
Đây là nội dung chính của chương chủ yếu phân tích và đưa ra những dẫn chứng cụ thể của hoạt động trong chính sachs của “Trật tự mới”
Chương III – Khủng hoảng của chế độ "Trật tự mới"
Đây là chương cuối cùng, chủ yếu dử dụng phương pháp dẫn chứng, quy nạp và chứng minh sự sụp đổ của chế độ “Trật tự mới” như là một hệ quả tất yếu của quá trình phát triển xã hội
Trang 14Thông thường hệ thống đại nghị có lưỡng viện Quốc hội, (bicameral) tức
là Quốc hội được chia làm hai tầng Hạ viện (gồm các dân biểu) và Thượng viện (gồm các nghị sĩ) Hạ viện với chức năng quyển hạn là thành lập hành pháp tức chính phủ và soạn thảo biểu quyết luật và phán quyết những vấn đề tối cao của đất nước như tuyên chiến và phê chuẩn hiệp ước v.v Thượng viện với chức
Trang 15năng quyền hạn điều chỉnh những đạo luật hoặc đưa ra những lý do phủ quyết những chính sách của chính phủ
Trong hệ thống đại nghị, thường có là nền Quân chủ lập hiến, nghĩa là có vua, nữ hoàng là nguyên thủ quốc gia và Thủ tướng lãnh đạo hành pháp của chính phủ như ở Anh, Úc, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Và hệ thống đại nghị cũng là Cộng hoà, nơi mà Tổng thống là nguyên thủ quốc gia còn lãnh đạo hành pháp trong chính phủ là Thủ tướng như cộng hoà Liên bang Đức, Do Thái, Cả hai chức vụ Tổng thống và Thủ tướng đều do Quốc hội tiến cử và biểu quyết
Hoạt động của chế độ Dân chủ Đại nghị có những đặc điểm chủ yếu như sau:
- Đặt sự hoạt động của chính quyền hoặc của bộ máy hành pháp vào khuôn khổ của luật pháp được chuẩn y bởi một quốc hội do dân bầu
- Công nhận những quyền cá nhân về tố tụng (quyền được xét xử công bình), về tự do ngôn luận, tự do tụ tập và tự do đi lại;
- Thiết lập một bộ máy tư pháp độc lập với hành pháp và lập pháp để thể hiện đúng vai trò canh giữ luật pháp và quyền cá nhân
Sự khác biệt giữa lịch sử hình thành văn hoá, chính trị, xã hội và tập quán giữa phương Đông và phương Tây khiến cho việc tiếp thu và áp dụng tư tưởng Dân chủ - Đại nghị của các quốc gia phương Đông không phù hợp và đã đem lại những kết quả không như mọng đợi
Sau thế chiến thứ hai, các nước mới giành được độc lập cần thiết phải chọn cho mình một mô hình quản lý xã hội nhằm giải quyết các nhiệm vụ bức 2
Thủ tướng là nhân vật chính trị lãnh đạo cao nhất, đứng đầu ngành hành pháp trong một quốc gia chính thể nghị
Trang 16thiết: khắc phục hậu quả của chiến tranh giải phóng đất nước, tiến hành phát triển kinh tế - chính trị thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu và sự phụ thuộc vào các nước Tư bản chủ nghĩa Một nhóm nước lựa chọn xu hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa; nhóm khác- lại tìm đến con đường phát triển tư bản chủ nghĩa Ở Đông Nam Á cũng diễn ra tình trạng tương tự
Các quốc gia Đông Nam Á đã tiếp thu và vận hành chế độ dân chủ vay mượn phương Tây theo nhiều chiều hướng khác nhau, nhưng chủ yếu là ba mô hình cơ bản nhất:
Thứ nhất: Thiết lập chế độ độc đoán chuyên quyền ngay từ đầu và tồn tại suốt cả chặng đường dài tiếp theo;
Thứ hai: Tiếp thu và hoàn thiện từng bước chế độ dân chủ Nghị viện;
Thứ ba: Pha tạp giữa dân chủ Nghị viện và chuyên quyền độc đoán
Tuy vậy, nền dân chủ chưa có gốc này đã không đủ sức đưa ra và thực hiện đến cùng các chương trình phát triển kinh tế - xã hội Bất ổn chính trị mà phổ biến là các cuộc đảo chính và sự thay đổi chính phủ thường xuyên xảy ra là nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội chứng tỏ cần phải có một nhà nước mạnh để tiến hành các cải cách kinh tế
Indonesia lựa chọn mô hình phát triển thứ ba, tức “mô hình pha tạp giữa dân chủ Nghị viện và chuyên quyền độc đoán”
1.1.1 Chế độ Dân chủ “vay mượn” (1954-1957)
Ngay sau ngày tuyên bố độc lập ngày 17-08-1945, ngày 18-08-1945 Hiến pháp nước Cộng hòa Indonesia được ban hành Bản hiến pháp tuyên bố nền độc viện và đứng đầu về ngành hành chính trong chính phhur của một quốc gia theo chính thể cộng hòa
Trang 17lập hoàn toàn của Indonesia mới, xác lập sự kiểm soát của Nhà nước đối với các lĩnh vực sản xuất then chốt, đối với đất đai, các nguồn tài nguyên,
Indonesia đã trải qua ba Hiến pháp tạm thời trong ba giai đoạn: tháng 8/1945, tháng 12/1950 và tháng 8/1959 Điều 1 của Hiến pháp năm 1945 ghi rõ Indonesia là một nước Cộng hòa mà quyền tối cao thuộc về nhân dân, chế độ tổng thống là một thể chế thiết yếu của chính thể Indonesia Nền quốc phòng và
sự phát triển quốc gia dựa vào các nguyên tắc cơ bản của triết lý quốc gia (Pancasila) Ngoài ra Hiến pháp cũng quy định việc thành lập một số cơ quan trọng yếu của Nhà nước như: Hội đồng Hiệp thương Nhân dân (Quốc hội), Tổng thống, Hạ nghị viện, Hội đồng tư vấn tối cao, Hội đồng kiểm toán Nhà nước, Tòa án tối cao (Pháp viện tối cao) [32], [28]
Theo quy định của Hiến pháp thì Tổng thống không có quyền giải tán Viện đại biểu, trái lại, Viện đại biểu cũng không có quyền truất Tổng thống Nhưng vì tất cả các thành viên của Viện đại biểu là thành viên của Hội đồng Hiệp thương Nhân dân, do đó Viện đại biểu có thể kiểm tra hoạt động của Tổng thống và có thể đề nghị triệu tập Hội đồng Hiệp thương Nhân dân họp phiên đặc biệt để chất vấn Tổng thống, người đứng đầu Nhà nước:
Trong hệ thống Chính phủ Cộng hòa Indonesia, Hội đồng hiệp thương Nhân dân (MPR) là cơ quan quyền lực tối cao của Nhà nước Indonesia MPR có chức năng bầu ra Tổng thống, sửa đổi Hiếp pháp và thông qua các mục tiêu chính sách của Chính phủ Hội đồng Hiệp thương Nhân dân có nhiệm kỳ 5 năm, gồm có 700 thành viên, bao gồm 500 đại biểu thuộc Hội đồng Đại diện Nhân dân (DPR), còn gọi là Quốc hội (trong tổng số 500 đại biểu Quốc hội, có 462 đại biểu được bầu trực tiếp trong cuộc tổng tuyển cử và 38 đại biểu dành riêng cho
Trang 18quân đội không thông qua bầu cử) và 200 đại biểu do Tổng thống chỉ định (gồm
135 đại biểu từ các khu vực và 65 đại biểu từ các lĩnh vực chuyên ngành) [32], [43]
Luật bầu cử Indonesia quy định một ứng cử viên Tổng thống được xác định là trúng cử Tổng thống khi giành được hơn nửa tổng số phiếu của 700 đại biểu Hội đồng Hiệp thương Nhân dân
Tổng thổng vừa là người đứng đầu Nhà nước, vừa là người đứng đầu Chính phủ, là người được ủy nhiệm của Hội đồng Hiệp thương Nhân dân và chịu trách nhiệm trước Hội đồng Hiệp thương Nhân dân về việc điều hành Chính phủ
Phó Tổng thống là người giúp Tổng thống thực thi nhiệm vụ của Tổng thống3
Cơ quan lập pháp:
Quyền Lập pháp là quyền ban hành các đạo luật Đạo luật cao nhất của một quốc gia là Hiến pháp, Hiến pháp của một nước Cộng hòa được xây dựng trên nền tảng của một Quốc hội Lập hiến do dân bầu ra Quốc hội ban hành các đạo luật, tức là xây dựng các quy tắc pháp lý cơ bản để điều chỉnh các mối quan
Trang 19Hiến pháp, Quốc hội bầu ra Tổng thống, phó Tổng thống và ủy ban chỉ đạo chính sách nhà nước trong thời hạn 5 năm
Hạ nghị viện: Trong nhiệm kỳ 5 năm, Hạ nghị viện họp 4 kỳ, mỗi kỳ 2 tháng Theo Hiến pháp quy định, Hạ nghị viện có quyền đệ trình dự thảo luật cho Tổng thống Hạ nghị viện được chia ra 11 Ủy ban thường trực đảm nhiệm công tác lập pháp, giám sát và ngân sách, 2 Ủy ban phụ trách về công tác tổ chức và hợp tác liên nghị viện
Hạ nghị viện bầu Ủy ban thường vụ là ban lãnh đạo chịu trách nhiệm về các hoạt động của viện Ba tháng một lần, các đại biểu báo cáo trước Ủy ban của mình về công việc của Bộ (cơ quan của đại biểu đó) Trên thực tế, Tổng thống có
ưu thế trong Hạ nghị viện vì có sự ủng hộ của quân đội Chức năng chủ yếu của
Hạ nghị viện là hợp pháp các hoạt động hành pháp thông qua các báo cáo và thảo luận tại Hạ nghị viện
Cơ quan hành pháp:
Ở Indonesia, Tổng thống có quyền hành pháp cao nhất của Chính phủ Theo Hiến pháp, Tổng thống có trách nhiệm trước Quốc hội và trên thực tế, Tổng thống đã điều hành cơ quan hành pháp bằng “sắc lệnh mới”, Tổng thống kiểm soát các hoạt động của Chính phủ và kiểm tra lực lượng vũ trang Tổng thống bổ nhiệm các Bộ trưởng, những người trợ lý của ông và chỉ chịu trách nhiệm trước ông Các thống đốc cũng do Tổng thống bổ nhiệm sau khi có hai hoặc ba ứng viên được ra bầu và được cơ quan lập pháp của tỉnh đệ trình Bộ trưởng Nội vụ Tất cả các quan chức Nhà nước cấp cao và các thẩm phán đều phải chịu trách nhiệm trước Tổng thống Các luật đều do Tổng thống công bố Vì Indonesia vừa thoát khỏi sự bóc lột của đế quốc, kinh tế Indonesia lúc này vẫn
Trang 20còn nằm trong hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới, các tổ chức lũng đoạn nước ngoài còn duy trì được vị trí mạnh mẽ trong nền kinh tế trong nước, còn ở nông thôn vẫn chịu ảnh hưởng của những tàn tích phong kiến
Cuộc khủng hoảng của chế độ dân chủ đại nghị của Indonesia ngày càng bộc lộ rõ ràng Thêm vào đó, lực lượng phản động trong nước và âm mưu thâm nhập của Mỹ vào Indonesia là hai vấn đề chính trị nổi cộm nhất cho chính phủ tổng thống Sukarno vì lúc này, đế quốc Mỹ tìm mọi cách để lôi kéo Indonesia vào khối xâm lược Đông Nam Á, đồng thời Mỹ cũng tìm mọi cách để hạ thấp vai trò và uy tín của tổng thống Sukarno nhằm gạt bỏ ông ra khỏi chính quyền
Tờ báo Deli 8 ra ngày 14 tháng 1 năm 1959 đã viết: “Đại sứ Mỹ ở Indonesia và các tuỳ viên quân sự rất chăm chú hoạt động trong các giới quân sự Indonesia chủ yếu là bằng cách tiếp xúc với những nhóm có thể lực Dựa vào sự không thống nhất hoàn toàn giữa các nhà lãnh đạo quân sự,…”
Indonesia có ba lực lượng chính trị lớn là: Giai cấp phong kiến và tư bản nước ngoài, giai cấp tư sản dân tộc và giai cấp công nhân và nông dân do Đảng cộng sản lãnh đạo Mâu thuẫn cơ bản giữa phái quân sự (do giai cấp phong kiến
và tư bản nước ngoài) chủ trương quân sự hoá bộ máy nhà nước với phái dân sự gồm giai cấp tư sản dân tộc, trí thức và Đảng cộng sản Indonesia (thành lập năm 1921)
Ảnh hưởng của Đảng Cộng sản rất mạnh Đảng Cộng sản Indonesia (Partai Komunis Indonesia viết tắt là PKI) được chính thức hoạt động và được tham dự vào sinh hoạt chính trị, đảng PKI là đảng Cộng sản lớn nhất ngoài lãnh thổ Liên bang Nga và Trung Quốc Trong giai đoạn này kinh tế Indonesia xuống dốc, với nạn lạm phát và mức thất nghiệp cao Số người nghèo đói gia tăng và hạ
Trang 21tầng cơ sở xuống cấp Bởi nền kinh tế Indonesia chưa được giải phóng hoàn toàn, khi mà tàn tích phong kiến chưa được thủ tiêu và những tổ chức lũng đoạn nước ngoài còn thống trị trong nhiều ngành kinh tế Những lực lượng phản động trong nước ra sức phá hoại sự thống nhất dân tộc và hạn chế các tự do dân chủ
Trong vòng 6 năm (1950 – 1956) lần lượt 8 chính phủ liên minh sụp đổ
Để thích ứng với hoàn cảnh trong nước giai đoạn này, chính phủ liên minh Indonesia chủ trương hợp tác với tất cả các lực lượng đối lập trong nước theo phương châm “dân chủ hoá chính trị” [39, 201] Đảng cộng sản Indonesia cùng với chính phủ đã đề ra các mục tiêu cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách quốc gia như:
- Trong thời hạn ngắn nhất, thoả mãn những nhu cầu của nhân dân về quần
áo và thực phẩm
- Đảm bảo an ninh nhân dân và của Nhà nước
- Tiếp tục đấu tranh chống sự áp bức kinh tế và chính trị của chủ nghĩa đế quốc
Tuy nhiên, những mục tiêu trên chỉ đem lại kết quả rất nhỏ trong một thời gian rất ngắn còn tình hình chính trị vẫn rất căng thẳng Các giới chức trong chính phủ lại tỏ ra lúng túng trong việc đề ra các chính sách, văn bản hiến pháp, thiết lập các định chế dân chủ, tiến hành tự do hoá các nền kinh tế
Cuối năm 1956, tình hình chính trị ở Indonesia trở nên bất ổn hơn bao giờ hết vì những âm mưu phản động chống lại chính phủ, đòi giải tán Quốc hội và các đảng phái chính trị, bắt những người lãnh đạo quân đội, bộ trưởng, lãnh tụ của các đảng phái tiến bộ Trong khi đó, vấn đề miền Tây Iriang, một lãnh thổ cổ truyền của Indonesia do Hà Lan chiếm đóng, chiếm một vị trí quan trọng trong
Trang 22đời sống chính trị và tinh thần Indonesia không được Hội đồng liên hợp quốc công nhận Chính những điều này đã cản trở sự tiến triển của Indonesia trên con đường tiến bộ về kinh tế và xã hội
Nền dân chủ vay mượn bên ngoài nhường chỗ cho sự tìm kiếm mô hình phát triển xã hội dựa trên nền tảng nền kinh tế chính trị truyền thống địa phương Những cố gắng xây dựng mô hình quản lý xã hội dựa trên các nguyên tắc dân chủ “ngoại lai” của giai cấp tư sản dân tộc ở Indonesia bước đầu đã đem lại những thành công trong việc tổ chức trong đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên,
sự bất tương ứng giữa cơ sở hạ tầng truyền thống của Indonesia và thượng tầng chính trị hiện đại đã gây cản trở cho quá trình phát triển của đất nước Trước nguy cơ sụp đổ chế độ chính trị và mất quyền lãnh đạo đất nước, tổng thống Sukarno đã quyết định đưa ra hệ thống “nền dân chủ có định hướng” nhằm giải quyết tức thời những khó khăn và hệ quả trước mắt [39,205], [55]
Lý giải cho khủng hoảng mô hình dân chủ đại nghị vay mượn trên của Indonesia có thể tập trung vào bốn lý do chính sau đây:
1 Việc thiết lập những thể chế dân chủ ở các nước Đông Nam Á vẫn dựa trên cơ sở và trong điều kiện xã hội rất phức tạp: tôn giáo, sắc tộc, đặc biệt là trào lưu ly khai, những tư tưởng độc đoán, gia trưởng Phương Đông ăn sâu trong
ý thức của nhiều thế hệ, trình độ kinh tế vẫn chưa phải là đồng đều (ngoại trừ Singapore, Malaysia)
2 Chưa hình thành một ý thức chính trị dân chủ thực sự kiểu phương Tây
mà vẫn là sự cạnh tranh chính trị không lành mạnh, nhất là vẫn chưa hình thành được một thể chế chính trị đa đảng được thành lập theo lập trường chính trị- tư tưởng Đối đầu vẫn có thể thay thế cho đối lập còn đang ở giai đoạn hình thành
Trang 233 Mâu thuẫn và xung đột xã hội giữa các tầng lớp và giai cấp vẫn xảy ra Quân đội vẫn đang tiếp tục có vai trò chính trị to lớn Nói cách khác chưa có cơ
sở xã hội bảo đảm cho dân chủ tồn tại ổn định, mặc dù tầng lớp giữa - trung lưu -
đã là lực lượng chủ yếu của hiện đại hóa
4 Những điều kiện về xã hội bảo đảm cho sự nhất trí và hòa hợp (consensus) vẫn chưa đủ chín muồi: còn có khoảng cách quá lớn giữa nông thôn
và thành thị, giữa nông dân và tầng lớp hưởng lộc nhiều của sự tăng trưởng: Giới kinh doanh, quan chức nhà nước, trí thức và giới tội phạm Nói cách khác, xã hội vẫn đang phân hóa gay gắt giữa giàu và nghèo
1.1.2 Nền “Dân chủ có định hướng”- khởi đầu của chế độ độc tài Indonesia 1965)
(1957-Tháng 2 năm 1957, tổng thống Sukarno công bố chương trình thay đổi chính thể ở trong nước và đề nghị đổi chế độ dân chủ đại nghị thành “chế độ dân chủ có định hướng” Công việc đầu tiên của tổng thống Sukarno là đề nghị thành lập một chính phủ “tương trợ” gồm đại biểu tất các các đảng phái chính có đại biểu trong Quốc hội, trong số đó có Đảng cộng sản, ông cũng đề nghị thành lập một hội đồng dân tộc gồm đại biểu tất cả các tầng lớp trong xã hội, Hội đồng là cầu nối giữa dân và chính phủ Quốc hội và các đảng phái vẫn duy trì lực lượng của mình Chế độ dân chủ có lãnh đạo của tổng thống Sukarno đề ra năm chương trình cụ thể [23,418]:
1 Thành lập hội đồng dân tộc
2 Ổn định tình hình trong nước
3 Thực hiện việc thủ tiêu hoàn toàn những hiệp ước của hội nghị bàn tròn
Trang 244 Đấu tranh để thống nhất miền Tây Iriang vào nước cộng hoà Indonesia
hệ chặt chẽ với tư bản nước ngoài) càng trở lên thế lực vì nắm được nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên của Indonesia, gây ảnh hưởng lớn đến chính trị trong nước [42,125] Trong khi đó, giai cấp tư sản dân tộc Indonesia chỉ giữ một địa vị yếu ớt trong nền kinh tế Vì vậy, chủ nghĩa đế quốc dễ dàng bóp nghẹt tư bản dân tộc, điều này lý giải tại sao ở Indonesia lại không phát triển về công nghiệp được trong thời gian này
Việc tiêu những khoản tiền lớn vào nhu cầu quân sự không còn đủ cho khai thác công nghiệp, trong khi đó, ngành khai thác dầu mỏ do tư bản nước ngoài nắm giữ lại phát triển tương đối nhanh Việc chế biến công nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu máy móc cũng như nguyên liệu từ nước ngoài Sự cạnh
Trang 25tranh của hàng hoá nhập khẩu của các nước đế quốc đã làm lung lay nền công nghiệp suy yếu của Indonesia
Trình độ sản xuất nông nghiệp thấp kém và thiếu thốn về lương thực khiến cho Indonesia phải nhập khẩu lương thực như gạo, mì, sữa từ nước ngoài Trong khi đó, mức độ sử dụng ruộng đất vào sản xuất nông nghiệp là rất thấp Các diện tích đất đai phì nhiêu phần lớn rơi vào tay của tư bản Anh và Mỹ [43], [45]
Trong những năm độc lập, những giới tiến bộ ở Indonesia đã cố gắng khôi phục và phát triển nền công – nông nghiệp trong nước Bắt đầu từ năm 1957, chính sách “dân chủ có hướng dẫn” về mặt chính trị và chính sách “kinh tế chỉ huy” (guided Economy) về mặt kinh tế được thực hiện Thực chất là thực hiện kinh tế kế hoạch hoá tập trung dưới sự kiểm soát và điều tiết của nhà nước và khu vực kinh tế nhà nước
Trước đó, năm 1956, chính phủ đã thảo ra kế hoạch năm năm phát triển kinh tế (1956 – 1960) Theo kế hoạch đó, tổng số chi phí dự tính là 30 tỷ rupy5 Trong số đó, chính phủ sẽ bỏ ra 12,5 tỷ, các công xã nông nghiệp 1,5 tỷ, tư nhân
bỏ ra 10 tỷ [39, 307], [44] Nhưng việc tư nhân bỏ vốn ra là không thực tế bởi vì
tư bản tư nhân rất yếu về mặt kinh tế và không có đủ tiền, trong khi đó, việc thu hút tư bản tư nhân nước ngoài dưới hình thức đầu tư trực tiếp là mối nguy hiểm cho Indonesia
Năm 1956, cuộc nổi loạn chia rẽ và giá nguyên liệu của Indonesia bị đánh sụt, đã giáng một đòn nặng vào kinh tế trong nước Trong 20 tháng diễn ra các cuộc nổi loạn, thu nhập quốc dân giảm tới 13%6 Chính phủ phải rút bớt nhiều
Trang 26hàng nhập khẩu Tháng 8 năm 1957, khi đánh giá kết quả của 12 năm phát triển
kinh tế đất nước, tổng thống Sukarno đã nói: “Chúng ta chưa xây dựng được một nền công nghiệp dân tộc, và cũng chưa xây dựng được cơ sở cho một nền công nghiệp có thể đảm bảo nâng cao đời sống vật chất của nhân dân… chúng ta chưa tăng được sản lượng nông nghiệp” [23,442]
Tình trạng bội chi trong ngân sách tăng lên, năm 1958, bội chi ước tới 10
tỷ rupy Lạm phát đã làm tê liệt đời sống trong nước, giá cả bắt đầu tăng lên nhanh chóng
Cuộc thảo luận về kinh tế do Đảng cộng sản Indonesia tổ chức vào tháng 2-1959 đã đi đến một kết luận quan trọng là nền công nghiệp lạc hậu và phụ thuộc làm cho nền kinh tế dân tộc bị giảm sút Do vậy, cộng hoà Indonesia đã tiến hành một cuộc cải tổ lớn lao để thực hiện đạo luật quốc hữu hoá Tháng 6-
1959, nghị quyết quốc hữu hoá 42 công ty buôn bán lớn nhất của Hà Lan đã được thông qua, vai trò của nhà nước trong ngoại thương được tăng cường [23,446]
Vấn đề đặt ra cho hướng phát triển đất nước kiểu “dân chủ có định hướng” lúc này là tìm đâu ra phương tiện để cung cấp tài chính cho việc phát triển kinh
tế Muốn xoá bỏ tình cảnh nghèo đói nặng nề và nạn thất nghiệp, muốn nâng cao phúc lợi kinh tế của nhân dân, cần phải phát triển công nghiệp Muốn giải quyết nhiệm vụ này phải bỏ nhiều vốn đầu tư Nhưng do chủ nghĩa thực dân thống trị lâu dài, kinh tế Indonesia rất lạc hậu, mức thu nhập quốc dân theo đầu người còn rất thấp Vị trí của Indonesia trên thị trường thế giới càng trở nên bấp bênh Trong khi đó, giai cấp tư sản Indonesia rất yếu ớt về mặt kinh tế, trong khi các tổ chức lũng đoạn nước ngoài hoạt động ở Indonesia không muốn đầu tư nhiều
Trang 27trong tình hình đấu tranh cách mạng quần chúng Mặt khác, tình hình chính trị mất ổn định, hoạt động của những nhóm phản động chống lại nhà nước Cộng hoà là những nguyên nhân thu hút những khoản tiền lớn của ngân sách để giữ gìn an ninh
Do đó, Indonesia đã phải viện đến sự trợ giúp của phương Tây mà nước cho Indonesia vay chủ yếu là Mỹ Việc cho vay những khoản tiền ấy thường kèm theo những âm mưu buộc Indonesia phải thuận theo những cam kết có tính chính trị và quân sự Đồng thời, trong những năm khó khăn về kinh tế, việc trao đổi không bình đẳng và do chính sách cấm vận mà Mỹ buộc Indonesia phải theo, khiến Indonesia bị thiệt hại nặng nề Nhưng việc thi theo con đường phát triển
“dân chủ có định hướng” của Indonesia không thể nào phá bỏ tận gốc những vị trí tư bản nước ngoài, không thể làm giảm sự phụ thuộc vào thị trường tư bản thế giới
Trước những khó khăn đó, chính phủ của Sukarno đã đề ra kế hoạch phát triển kinh tế dài hạn 8 năm (1960 – 1968) với mục tiêu tăng trưởng trung bình 5%/năm, nâng mức thu nhập bình quân lên 2,5 lần (khoảng 120USD/người) với những bước đi và nguyên tắc cụ thể [41, 204]:
* Thực hiện chính sách quốc hữu hoá tài sản của tư bản Hà Lan và nước ngoài
Trong lĩnh vực thương mại, chính phủ đã sát nhập 6 công ty thương mại của Hà Lan với 2 công ty thương mại nhà nước được phép độc quyền nhập 13 mặt hàng cơ bản
Bước vào thực hiện chính sách “kinh tế chỉ huy”, chính phủ Sukarno bắt tay vào thực hiện chính sách quốc hữu hoá triệt để, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực bất động sản, công nghiệp chế biến, dịch vụ ngân hàng Toàn bộ tài sản
Trang 28của người Hà Lan và nước ngoài bị tịch thu hoặc trưng thu Kết quả là trong hai năm, chính phủ đã quốc hữu hoá 246 xí nghiệp chế biến, khai khoáng, dịch vụ, ngân hàng, thương mại và xác lập quyền sở hữu nhà nước chiếm 90% số đồn điền, 65% các cơ sở ngoại thương, 85% các cơ sở dịch vụ - ngân hàng (vốn trước đây là của người Hà Lan) [42,112] Đối với một số ngành công nghiệp như khai thác dầu mỏ, khoáng sản,… đòi hỏi phải có kỹ thuật cao, vốn lớn thì chính phủ đòi hỏi các công ty phải liên doanh với nhà nước
Nhà nước điều chỉnh các hoạt động kinh tế của nước ngoài ở Indonesia nhằm phục vụ mục tiêu kinh tế quốc gia Chuyển giao các cơ sở xí nghiệp nước ngoài cho các tổ chức kinh tế nhà nước Thêm vào nữa, các cơ sở kinh tế nhà nước được ưu tiên về vốn
Nhà nước độc quyền ngoại thương, ngân hàng và các ngành nghề chủ chốt nhưng cũng đồng thời kiểm soát các thành phần kinh tế không thuộc phạm vi điều chỉnh của nhà nước
* Nhà nước giữ vị trí quyết định việc củng cố và điều chỉnh toàn bộ nền kinh tế Indonesia
Nhà nước kiểm soát phân phối, tín dụng, sản xuất thông qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nhà nước theo kiểu kế hoạch hoá tập trung Tất các các hoạt động về kinh tế đặt dưới sự kiểm soát và điều hành của ban tư vấn tối cao (Super visory Boards) do tổng thống đứng đầu Mỗi ngành nghề, mỗi lĩnh vực kinh tế chịu sự điều hành của một ban, trong mỗi ban có các tổ chức chuyên trách theo dõi Ví dụ như tổ chức Bappit điều hành và kiểm soát các ngành công nghiệp, tổ chức Bud kiểm soát thương mại, tổ chức PPN – Baru phụ trách nông nghiệp Tổ chức Bud độc quyền thay mặt nhà nước cấp giấy phép xuất nhập khẩu, giám sát
Trang 29các hoạt động kinh doanh thương mại và đương nhiên là các hợp đồng quan trọng về xuất nhập khẩu dầu mỏ, khoáng sản, nông sản đều thuộc về các công ty thương mại nhà nước với ưu đãi là 85% nguồn tín dụng [41,112]
* Đầu tư xây dựng mới các mô hình xí nghiệp nhà nước, hình thành các xí nghiệp độc quyền
Đến năm 1963, chính phủ Sukarno đã đầu tư xây dựng mới 81 xí nghiệp quốc doanh chủ yếu tập trung vào các ngành nghề luyện thép, công nghệ đóng tầu, xi măng, chế biến nông sản, dệt, thuốc lá, lốp ô tô và dệt Bên cạnh đó, chính phủ cũng tìm các biện pháp nhằm chống lại sự độc quyền của các tư bản Indonesia gốc Hoa
Tính chất tập trung, mệnh lệnh của nền “kinh tế chỉ huy” dưới thời chính phủ Sukarno không những không đạt được mục tiêu đặt ra mà còn đẩy nền kinh
tế rơi vào tình trạng hỗn loạn và khủng hoảng nghiêm trọng Thực chất của những chính sách trên là sự tập trung quyền lực của chủ nghĩa tư bản nhà nước quan liêu, quân phiệt
Chính tính chất độc quyền và quan liêu của tổ chức Bud sau này là nguyên nhân dẫn đến nạn tham nhũng nghiêm trọng và góp phần vào giảm sút nền kinh
tế khi đã cấu kết với các thương nhân người Hoa Hầu hết các chính sách ưa đãi
về vốn, nguyên liệu, thủ tục kinh doanh xuất nhập khẩu đều có sự móc ngoặc giữa các quan chức chính trị, tướng lĩnh với giới kinh doanh loại lớn của tư bản nội địa và tư bản gốc Hoa Do vậy, đã gây ra những sự bất bình đẳng cho các công ty nhỏ Hai học giả người Australia là Palmer và Castles đã viết trong tác phẩm “Kinh tế có chỉ đạo và tư bản tư nhân ở Indonesia”:
Trang 30“Hầu hết các nhà sản xuất nhỏ không đủ tiền để mua các quotas của mình Những quotas này là mục tiêu của sự phát triển và họ đã quá khổ sở để vay được các khoản tín dụng của ngân hàng Vì vậy, họ phải trả một phần hoa hồng cho các nhân vật môi giới hoặc họ phải chia sẻ một phần quotas cho người ứng tiền
để trừ vào lãi suất vay nợ Hoặc trong nhiều trường hợp khác các chủ nhân loại nhỏ đã phải nhượng bộ quotas cho người môi giới cũng như vào các nhà máy lớn và sản xuất hiệu quả hơn” [41, 221]
Thông qua hệ thống ngân hàng độc quyền7, phần lớn ngân sách tập trung vào củng cố quyền lực và tham vọng chính trị của bộ máy nhà nước trong khi các khoản chi cho phát triển kinh tế rất hạn chế Nguồn ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung cho các mục tiêu phi kinh tế (bộ máy hành chính, an ninh, quốc phòng,…) dẫn đến ngân sách nhà nước bị thâm hụt nghiêm trọng Chỉ tính đến năm 1965, ngân sách thiếu hụt đến 62,5% Tỷ lệ chi cho bộ máy nhà nước ngày càng tăng từ 44,9% năm 1960, 80% năm 1963 và 66,4% năm 1964, trong khi chi cho phát triển chỉ chiếm 8% ngân sách Tính đến giữa năm 1965, Indonesia nợ nước ngoài trên 4 tỷ USD theo tỷ giá khi đó [55,49]
Như tờ báo Madesca, tờ báo có uy tín lớn nhất Indonesia lúc đó nhận xét:
“ Ngay từ đầu thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Indonesia đã xuất hiện nhiều kẻ cơ hội và tham nhũng làm giàu từ nguồn vốn nhà nước”
7
Ngân hàng trung ương đóng vai trò chủ yếu, chi phối toàn bộ các hoạt động ngân hàng khác Nó không chỉ điều tiết chi thu của nhà nước, phát hành giấy bạc mà còn định ra lãi suất tiền gửi cho vay
Trang 31Sự thao túng của bộ máy quan liêu và giới tư sản lớn ở Indonesia dựa vào
“kinh tế có chỉ huy” với 17 tổ hợp công nghiệp quan trọng8, hầu hết mang tên các vị chức sắc trong bộ máy chính phủ ngày càng lũng đoạn và quân phiệt
Trong suốt 15 năm dưới thời Sukarno, đã phản ánh sự yếu kém về mặt quản lý tài chính cũng như phương hướng chi tiêu sai lầm của chính phủ
Trước hết, nền kinh tế thời kỳ này không phải vì mục tiêu kinh tế mà vì mục đích chính trị Quan điểm của ông Sukarno cho rằng, muốn tạo được quyền lực vững chắc thì phải xác lập vị trí độc quyền về kinh tế Mặt khác, chính phủ liên minh Sukarno là sản phẩm của sự thoả hiệp tạm thời giữa dân sự và quân sự, trong đó chế độ quân sự luôn luôn thâu tóm một loạt rất rộng các chức năng vốn chỉ liên quan đến rất ít các nhiệm vụ quân sự thông thường còn dân sự lại muốn thâu tóm quyền lực chính trị trên cơ sở thâu tóm quyền lực kinh tế Như học giả người Australia, Richard Robinson trong tác phẩm “Quyền lực và nền kinh tế ở Indonesia thời Suharto” (Power and Economy in Suharto’s in Indonesia) đã nhận xét: “khác với chủ nghĩa tư bản nhà hoặc chủ nghĩa tư bản của các doanh nghiệp
tư nhân, nhìn chung đã góp phần vào việc tích luỹ và tạo ra nguồn vốn đầu tư còn chủ nghĩa tư bản quan liêu là nơi sử dụng nguồn vốn để phục vụ trực tiếp cho các mục đích chính trị”
Thứ hai, khi nền kinh tế còn đang suy thoái, cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, trình độ quản lý còn yếu kém, nguồn vốn chủ yếu là nhờ vào bán nguồn tài nguyên cộng với tâm lý chủ quan, nóng vội muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá đã dẫn đến những thất bại liên tiếp
8
Tổ hợp Agoes Dasaad, R.M Noto Hamu Prodjo, H.A Ghany AZIZ, Rah Rahman Tamin, Omar Tusin,
Soedarpo Sastrosatomo, Panggabear, Titiheru, Markan, Ir Aminuddin, Hashim Ning, Moh Tabrani, Wahet Affam, Pardade, Bran Tambuham, Suwarona, Aslam vaf Mardam
Trang 32Thứ ba, bối cảnh quốc tế và khu vực có những thay đổi khi các nước phát triển chuyển hướng đầu tư trực tiếp ra bên ngoài đã tạo nên tốc độ tăng trưởng nhảy vọt Điều này khiến cho nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung kiểu Indonesia không còn phù hợp
Tất cả những khó khăn về kinh tế, bất ổn về một nền chính trị không gốc cộng thêm tệ hối lộ, quan liêu của các viên chức, ách độc đoán của chế độ, xung đột chính trị đã tạo điều kiện cho một cuộc đảo chính của “những sỹ quan tiến bộ” vào tháng 10 năm 1965, được coi là giai đoạn dữ dội nhất trong lịch sử chính trị Indonesia, lật đổ tổng thống đầu tiên của đất nước, Sukarno, sau 22 năm mà ông đã lãnh đạo Indonesia đã thay thế thời kỳ “Dân chủ có định hướng” hay còn gọi là “trật tự cũ” bằng thời kỳ “Trật tự mới”, bắt đầu bằng nhiệm kỳ tổng thống của Suharto kéo dài trong suốt 32 năm
2 Đảo chính quân sự năm 1965-1967 và xác lập chế độ độc tài quân sự 2.1 Cuộc đảo chính quân sự năm 1965-1967
Cuối năm 1957 và sau đó là giai đoạn 1964-1965, tổng thống Sukarno gần như không thể kiểm soát được tình hình phức tạp của đất nước Hàng loạt cuộc biểu tình của công nhân, nông dân diễn ra, chống lại sự thao túng của giới chủ tư bản Hà Lan, Mỹ và Anh Mỹ phản ứng trước tình hình này bằng cách cắt nguồn viện trợ nước ngoài cho tổng thống Sukarno đồng thời xây dựng các mối liên hệ với quân đội Indonesia Từ giữa thập niên 1950, Mỹ bắt đầu huấn luyện cũng như cung cấp trang thiết bị, vũ khí cho quân đội nước này nhằm yên tâm đầu tư kinh tế lẫn ảnh hưởng chính trị Tất cả đều nhằm mục đích làm cuộc đảo chính lật đổ Sukarno
Trang 33Trong năm 1965, Đảng Cộng sản Indonesia (PKI) có số đảng viên đông nhất thế giới, sau Trung Quốc và Liên Xô PKI có 3,5 triệu đảng viên, chưa kể 3 triệu đoàn viên thanh niên Cộng sản Ngoài ra, PKI còn lãnh đạo phong trào liên đoàn lao động gồm 3,5 triệu người và 9 triệu nông dân Tuy nhiên, chỉ sau cuộc đảo chính ngày 1-10-1965 của tướng Suharto, với sự dàn dựng và chỉ đạo trực tiếp từ các cố vấn Mỹ, Anh, Úc, rất nhiều đảng viên Cộng sản đã bị giết hại Hai giờ đêm ngày 1-10-1965 là thời khắc khởi đầu cho một giai đoạn lịch sử đẫm máu của Indonesia kéo dài hai năm và tiếp theo đó là sự thống trị hơn 30 năm của một nhà độc tài, Suharto Một nhóm sĩ quan của "Phong trào 30-9" đã tiến hành một cuộc thanh trừng các tướng lĩnh chóp bu [39], [41, 109]
Vào đêm ngày 30 tháng 09, rạng sáng ngày 1 tháng 10 năm 1965, sáu tướng lĩnh quân đội cấp cao đã bị bắt cóc ở thủ đô Jakarta bởi một tiểu đoàn lính thuộc lực lượng cảnh sát thân tổng thống Khoảng 2000 quân đảo chính chiếm ba mặt của quảng trường Merdeka, dinh tổng thống, đài phát thanh và trung tâm viễn thông, nhóm này tự xưng là “phong trào 30 tháng 9” và tự tuyên bố trên đài phát thanh trung ương rằng họ đang cố gắng để ngăn chặn một cuộc đảo chính quân sự, đồng thời kêu gọi Sukarno từ bỏ quyền lực [39]
Quân đội hoạt động theo chỉ đạo của tướng Suharto, đã bắt đầu một chiến dịch kích động bạo lực đối với người dân Indonesia nhằm vào cộng đồng Cộng sản và Tổng thống Sukarno Ngày 8 tháng 10, văn phòng chính của PKI bị lục soát và bị đốt cháy, nhà của các nhân vật cao cấp trong đảng cũng bị đốt như nhà của chủ tịch Aidit, Lukman và Nyoto, bản thân các tướng lĩnh này người bị bắt giữ, người bị hành quyết Sau đó, dân chúng đã tuần hành yêu cầu giải thể Đảng Cộng sản
Trang 34Vào ngày 18 tháng 10, các đài phát thanh đặt dưới sự kiểm soát của quân đội và ra tuyên bố cấm Đảng cộng sản Indonesia hoạt động, lệnh cấm bao gồm chính đảng, hội thanh niên, hội phụ nữ, hội nông dân, hội trí thức, các nhóm sinh viên và các tổ chức công đoàn hoạt động Lệnh cấm bắt đầu từ Jakarta, sau đó quân đội Indonesia đã đi khắp đất nước để thực hiện lệnh này bằng cách bắt giữ hàng loạt hoặc hành quyết tại chỗ những ai được nghi là cộng sản hoặc trung thành với Sukarno Các vụ giết người bắt đầu tại thủ đô Jakarta, lan rộng đến Trung và Đông Java, và sau là Bali Mặc dù những vụ thanh trừng xảy ra trên khắp Indonesia, nhưng nặng nề nhất là ở Trung Java, Đông Java, Bali, và phía bắc Sumatra Ước tính số người bị chết trong thời gian này là từ 100.000 đến 3 triệu người, nhưng hầu hết các học giả nghiên cứu lịch sử đồng nhất với con số khoảng 500.000 người [58]
Ngày 27 tháng 3 năm 1968, tướng Suharto được chính thức tuyên thệ nhậm chức là tổng thống thứ hai của Indonesia, những thỏa thuận giữa Suharto
và Sukarno cũng được công bố ngay sau đó Theo đó, Suharto nắm quyền về an ninh quốc phòng, có nhiệm vụ ngăn chặn sự trỗi dậy của chủ nghĩa cộng sản, Sultan Yogyakarta là phó thủ tướng phụ trách về kinh tế, tài chính và Adam Malik là phó thủ tướng cho phụ trách về xã hội, chính trị và ngoại giao
Ngày 11 tháng 8, hiệp ước hòa bình đã được ký kết, Indonesia tuyên bố sẽ tái tham gia Ngân hàng Thế giới , Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Liên Hiệp Quốc, tha bổng tù nhân chính trị và trả tiền bồi thường cho chính phủ Anh và Mỹ
vì những thiệt hại gây ra cho các tòa nhà ngoại giao của họ trong các cuộc biểu tình dưới thời Sukarno
Trang 352.3 Cơ sở xác lập độc tài quân sự ở Indonesia
Chế độ độc tài quân sự là chế độ chính trị chỉ do một người (hay một nhóm người) nắm giữ tất cả quyền hành, tự mình quyết định mọi việc, hầu hết đều dựa trên bạo lực Chế độ độc tài tập trung quyền hành vào tay một cá nhân, một nhóm người hay một đảng phái cai trị độc đoán, không bị ràng buộc bởi luật pháp hay một cơ quan quyền lực nào
Trong thời kỳ sau hai cuộc Chiến tranh thế giới, chế độ độc tài trở thành đặc điểm thường thấy của chính quyền quân sự, đặc biệt ở Mỹ Latin, Châu Á và Châu Phi Trong trường hợp các nước châu Phi và châu Á trước đây là thuộc địa, sau khi giành được độc lập từ làn sóng phi thực dân hóa thời hậu Thế chiến, các chế độ có tổng thống, chủ tịch dần dần trở thành các chế độ độc tài mang tính cá nhân Các chế độ này thường không bền vững
Cũng có ý kiến cho rằng những chế độ độc tài này về căn bản thường chịu ảnh hưởng bởi Chiến tranh Lạnh Cả Mỹ lẫn Liên Xô đều cố bành trướng và duy trì vùng ảnh hưởng của mình bằng cách cung cấp tài chính cho các nhóm chính trị và bán quân sự, và khuyến khích đảo chính, đặc biệt là ở Châu Phi Điều này dẫn đến nhiều nước có các cuộc nội chiến đẫm máu và hậu quả dẫn đến sự ra đời của các chế độ độc đoán
Sau khi lên cầm quyền, Suharto thiết lập chế độ “Trật tự mới” và muốn nhấn mạnh đến sự khác biệt của “Trật tự mới” với giai đoạn trước “trật tự cũ” của tổng thống Sukarno Tuy nhiên, chỉ có một điều khác biệt, đó là quyền lực trong “Trật tự mới” nằm trong tay phái quân sự Các nhà lãnh đạo mới của Indonesia một mặt đàn áp dữ dội Đảng Cộng sản Indonesia, cấm các tổ chức dân chủ hoạt động, đồng thời thực hiện các biện pháp nhằm hạn chế vai trò và ảnh
Trang 36hưởng của các đảng chính trị khác Ví dụ: năm 1973, các đảng Hồi giáo được sát nhập thành Đảng thống nhất và phát triển, các đảng còn lại (Đảng Dân tộc, Đảng Thiên chúa giáo ) hợp nhất thành Đảng Dân chủ và các đảng mới này không được phép hoạt động ở các vùng nông thôn Trong lúc đó chính quyền ra sức hậu thuẫn, nâng đỡ tổ chức các nhóm chức năng (Golkar), biến nó thành một tổ chức
xã hội rộng rãi, làm chỗ dựa cho chính quyền Quyền lực của phái quân sự ngày càng được củng cố, tăng cường Mặc dù không tham gia bầu cử nhưng quân đội vẫn được giành riêng 100 ghế trong Quốc hội Ở Hội nghị hiệp thương nhân dân, phái quân sự là phái lớn thứ hai, sau Golkar [41,111]
Suharto chiếm vị thế Tổng thống và thiết lập nền chuyên chế gia đình trị, thâu tóm trong tay mình và phe cánh tất cả trường cột kinh tế Suharto phát động chiến dịch mệnh danh là "liệu pháp sốc" nhằm thanh trừng tất cả mọi cá nhân và cộng đồng bị coi là tác nhân bệnh hoạn cần phải cắt bỏ khỏi "cơ thể xã hội lành mạnh" Liệu pháp Sốc sát hại cả triệu người là những Đảng viên Cộng sản và những người bất đồng chính kiến, những người có xu hướng độc lập dân tộc như
ở các tỉnh Aceh, Đông Timor, v.v Liệu pháp Sốc là kế hoạch thâm độc thanh lọc chủng tộc và ý thức hệ Trong vòng hai năm 1965 – 1966, gần một triệu Đảng viên Đảng cộng sản bị giết, 600 nghìn người bị tù đày, những người còn lại rút vào hoạt động bí mật [41], [59] Ngày 11-3-1966, tổng thống Sukarno đã ký sắc lệnh trao cho tướng Suharto “tiến hành tất cả những biện pháp cần thiết để lập lại trật tự Sukarno bị truất danh hiệu “tổng thống suốt đời” và bị cấm không cho sinh hoạt chính trị
Chính thể chuyên chế độc tài Suharto như mọi chế độ toàn trị khác đều lấy Quân đội và Cảnh sát vũ trang làm cột trụ, những cuộc đàn áp bạo tàn đã dẫn tới
Trang 37các cuộc chống đối quyết liệt của các giới trí thức tiến bộ, các lực lượng sắc tộc đòi ly khai và những đụng độ tôn giáo nghiêm trọng
Có thể nói, tính chất tập trung, mệnh lệnh của nền “dân chủ có định hướng” dưới thời chính phủ Sukarno không những không đạt được mục tiêu đã nêu ra mà còn đẩy nền kinh tế rơi vào cảnh hỗn loạn và khủng hoảng trầm trọng
Trước hết, quá trình kế hoạch hóa tập trung kinh tế ở Indonesia thời kỳ này không phải vì mục tiêu kinh tế mà chủ yếu phục vụ cho mục đích củng cố quyền lực của giới cầm quyền Quan điểm của giới cầm quyền lúc đó cho rằng muốn tạo được quyền lực phải xác lập vị trí độc quyền kinh tế Mặt khác, chính phủ liên minh Sukarno là sản phẩm của sự thỏa hiệp tạm thời giữa phái dân sự và phái quân sự Cả hai phái này mặc dừ có những mâu thuẫn nhưng cùng có chung mục đích thâu tóm quyền lực chính trị dựa trên cơ sở thâu tóm quyền lực kinh tế Như học giả người Australia, Richard Robinson trong tác phẩm “ Power and
Economy in Suharto’s Indonesia” đã nhận xét: “ Khác với chủ nghĩa tư bản nhà nước hoặc chủ nghĩa tư bản của các doanh nghiệp tư nhân, nhìn chung đã góp phần vào việc tích lũy và tạo ra nguồn vốn đầu tư còn chủ nghĩa tư bản quan liêu là nơi sử dụng nguồn vốn để phục vụ trực tiếp cho các mục tiêu chính trị” [
12,48]
Thứ hai, ý thức tự chủ dân tộc bằng con đường tự lực cánh sinh dẫn đến tâm lý chủ quan, nóng vội của giới cầm quyền muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa trong khi nền kinh tế đang ở thời kỳ suy thoái, cơ sở vật chất lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém, nguồn vốn chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên thì hoàn toàn không khả thi Trong khi chính phủ của tổng thống Sukarno đã đưa ra những mục tiêu kinh tế xã hội hết sức rộng lớn , chương trình phúc đạt bằng tiêu
Trang 38chuẩn của các nước tiên tiến, lượng vốn tập trung cao nhưng quay vòng rất chậm khiến Indonesia phải gánh một món nợ lên đến 4 tỷ USD theo tỷ giá khi đó
Trang 39CHƯƠNG II:
CƠ SỞ TƯ TƯỞNG, TÍNH CHẤT QUYỀN LỰC VÀ NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHẾ ĐỘ “TRẬT TỰ MỚI”
1 Cơ sở tư tưởng
2 Tính chất quyền lực chính trị của “ Trật tự mới”
3 Các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của chế độ “Trật tự mới”
Có thể nói, dưới sự cai trị và điều hành đất nước của tổng thống Suharto thì bộ mặt kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của Indonesia đã có những thành quả đáng kinh ngạc Từ năm 1965 đến năm 1997, kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, giảm lớn tỷ lệ đói nghèo, thu nhập bình quân đầu người tăng vọt, khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội được giảm đáng kể nhưng như một mặt trái của sự phát triển nhanh chóng thì vấn đề tham nhũng trong bộ máy quản lý của tổng thống Suharto và phe cánh của ông lại minh chứng cho nền độc tài gia đình trị như một số quốc gia trong khu vực và thế giới
Giống như nền “dân chủ có định hướng” của Sukarno, “Trật tự mới” dưới thời Suharto là một chế độ độc tài Tổng thống Suharto là người có quyền đưa ra và quyết định các chính sách quan trọng của đất nước, dưới ông là một bộ máy nhà nước quan liêu bao gồm những thành viên thân cận với tổng thống Không giống như các chế độ khác trong khu vực Đông Nam Á, như Thái Lan, Myanmar, nơi
mà chế độ quân sự phục vụ chủ yếu trong các thời kỳ cải cải cách và chuyển giao chế độ nhưng ở Indonesia, quân sự cai trị dân sự trong cả chính trị và xã hội Quân nhân đóng một vai trò quan trọng không chỉ ở cấp bậc cao nhất của chính
Trang 40phủ và cá cấp bậc quản lý nhà nước cấp khu vực và địa phương Các lực lượng
vũ trang thuộc quân đội cũng đóng vai trò lớn trong nền kinh tế của Indonesia
Tuy vậy, chế độ độc tài của Suharto lại có khả năng quản lý đất nước hiệu quả mà bền vững, ổn định nhất so với thời tổng thống Sukarno và những người
kế nhiệm sau này
3.1 Kinh tế
Trong chế độ “Trật tự mới”, sự ổn định trong nước là ưu tiên hàng đầu, trong đó phát triển kinh tế được đặt lên là mục tiêu chủ chốt và từng bước nâng cao sự ổn định, phát triển nhưng mục tiêu phát triển đặt ra phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của anh ninh và chính trị
Nguyên tắc của “Trật tự mới” trong kinh tế Indonesia là chuyển sang kinh
tế thị trường, phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trên cơ sở chuyển dần vai trò kiểm soát và can thiệp trực tiếp của nhà nước Nhà nước làm nhiệm vụ điều tiết, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, gắn liền với sự thay đổi cơ chế là quá trình chuyển hóa từ kinh tế thay thế nhập khẩu, kinh tế “đóng cửa” sang kinh tế hướng về xuất khẩu, kinh tế “mở cửa” [43,28], [44]
Để khắc phục hậu quả quả nặng nề từ nền “kinh tế có chỉ huy” thời tổng thống Sukarno, tổng thống Suharto đã đề ra những chính sách cụ thể, rõ ràng và thận trọng qua hai giai đoạn cơ bản:
Giai đoạn “khôi phục và ổn định kinh tế” (1966 – 1968)
Ngay sau khi lên nắm chính quyền, trong vòng 3 năm đầu (1966-1968), tổng thống Suharto đã đề ra biện pháp đầu tiên là phải phát triển kinh tế trước tiên Theo đó, ông khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài vào Indonesia, cho