Trong Tờ trình trước Quốc hội về Dự thảo Luật tổ chức Toà án nhân dân tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá VII tháng 7/1981 do Toà án nhân dân tối cao chuẩn bị trước Quốc hội có viết: “Để b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÙY
ĐỔI MỚI MÔ HÌNH QUẢN LÝ TÒA ÁN
QUYỀN TƯ PHÁP CỦA TÒA ÁN VÀ SỰ ĐỘC LẬP
CỦA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÙY
ĐỔI MỚI MÔ HÌNH QUẢN LÝ TÒA ÁN
QUYỀN TƯ PHÁP CỦA TÒA ÁN VÀ SỰ ĐỘC LẬP
CỦA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN QUÂN
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Cáckết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nàokhác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toántất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỂ CHUNG VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ TÒA ÁN 7 1.1 Sự hình thành Tòa án và mô hình quản lý Toà án 7
1.1.2 Sự hình thành Toà án 7
1.1.2 Vị trí, vai trò của Tòa án ở Việt Nam 7
1.2 Khái quát mô hình quản lý Toà án của Việt Nam giai đoạn 1945 - 2002 8 1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 8
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980 9
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 10
1.2.4 Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2002 12
1.3 Các điểm kế thừa từ mô hình quản lý Toà án trong giai đoạn 1945 - 2002 13 1.4 Mô hình quản lý Tòa án ở một số quốc gia trên thế giới 15
1.4.1 Mô hình do Bộ Tư pháp quản lý tại Cộng hòa liên bang Đức 16
1.4.2 Mô hình tự quản do một đơn vị “trực thuộc Tòa án” độc lập với cơ quan lập pháp, hành pháp quản lý 16
1.4.3 Mô hình kết hợp do đơn vi tự quản độc lập của Tòa án và Bộ Tư pháp cùng thực hiện ở Cộng hòa Pháp 28
1.4.4 Mô hình Tòa án phối hợp cùng cơ quan Đảng, chính quyền địa phương cùng thực hiện ở Trung Quốc 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33
Chương 2: MÔ HÌNH QUẢN LÝ TÒA ÁN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY VỚI YÊU CẦU ĐẢM BẢO THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP CỦA TÒA ÁN VÀ SỰ ĐỘC LẬP CỦA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ 34
2.1 Mô hình quản lý Toà án của Việt Nam hiện nay 34
Trang 52.1.2 Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án ở nước ta hiện nay 38
2.1.3 Sự cần thiết đổi mới mô hình quản lý Toà án ở Việt Nam 40
2.2 Đánh giá mô hình quản lý Toà án hiện nay với yêu cầu đảm bảo thực hiện quyền tư pháp của Toà án và sự độc lập của hoạt động xét xử 44
2.2.1 Bảo đảm thực hiện quyền tư pháp và sự độc lập trong xét xử 46
2.2.2 Các điểm đã đạt được và các điểm bất cập 54
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 66
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ TÒA ÁN NHÂN DÂN NHẰM ĐẢM BẢO THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP CỦA TÒA ÁN VÀ SỰ ĐỘC LẬP CỦA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ 67 3.1 Hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Toà án theo các cấp xét xử 67
3.2 Hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý của các chức danh tư pháp 70 3.3 Đổi mới chế định Hội thẩm 72
3.4 Đổi mới công tác quản lý cán bộ 73
3.4.1 Tiếp tục đổi mới cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán 75
3.4.2 Về chế độ khen thưởng và kỷ luật 78
3.4.3 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức ngành Tòa án 78 3.4.4 Đổi mới chế độ đãi ngộ 79
3.5 Đổi mới hệ thống các cơ quan xét xử gắn liền với việc đổi mới một số cơ quan tiến hành tố tụng khác 81
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Tòa án là một cơ quan thực thi phápluật quan trọng, đồng thời là một phương thức giải quyết tranh chấp Từ saukhi Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 có hiệu lực, cơ cấu tổ chức hệthống Tòa án Việt Nam đã có nhiều thay đổi cũng như về quyền hạn, tráchnhiệm của mỗi cấp Tòa án Hiện nay, hệ thống Toà án nhân dân nước ta gồmToà án nhân dân tối cao, Tóa án nhân dân cấp cao, Toà án nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương (gọi tắt là Toà án nhân dân cấp tỉnh) và Toà án nhândân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là Toà án nhân dân cấphuyện) Bên cạnh những ưu điểm vốn có như gần dân, sát với chính quyền vàcác cấp uỷ Đảng ở cơ sở thì hệ thống Toà án ở nước ta cũng bộc lộ những bấtcập về tổ chức và hoạt động Nhìn chung, tổ chức và hoạt động của các Toà ánchưa theo kịp với sự phát triển và đòi hỏi của đời sống chính trị, kinh tế và xãhội Toà án các cấp nhiều đầu mối; nguồn nhân lực, cơ sở vật chất của các Tòa
án còn thiếu hụt, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, vị trí, vai trò của Tòa
án Bên cạnh đó, trong tình hình hiện nay, hoạt động xét xử của Toà án đangđứng trước nhiều thách thức Đó là, tình hình phạm tội diễn biến phức tạp, vớitính chất và hậu quả ngày càng nghiêm trọng; các khiếu kiện hành chính, cáctranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, các loại khiếu kiện và tranh chấp có yếu
tố nước ngoài có chiều hướng tăng về số lượng và phức tạp, đa dạng hơn vềtính chất và hình thức biểu hiện Với việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hội nhập quốc tế thì đòi hỏi của Nhànước và nhân dân đối với cơ quan Toà án ngày càng cao
Trang 7Mặt khác, Hiến pháp 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xửcủa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa
án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định Tòa
án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền côngdân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợiích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (Điều 102) Để thực hiện tốt nhiệm vụ của
cơ quan thực hiện quyền tư pháp, một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra làcần tạo tạo cơ chế vận hành hệ thống tòa án một cách thông suốt, hợp lý, trướchết là cơ chế quản lý tổ chức, con người với những nguyên tắc chung về quản
lý nhà nước và những nội dung, cách thức đặc thù phù hợp với tính chất của cơquan xét xử
Trong nhà nước pháp quyền, tính độc lập của tư pháp là một trong nhữngđặc trưng cơ bản Xét theo chiều ngang, đó là sự độc lập của quyền tư pháp vớiquyền lập pháp và quyền hành pháp Xét theo chiều dọc, đó là sự độc lập giữacác cấp tòa án khác, độc lập trong nội bộ một cấp tòa án Mối quan hệ giữa cơquan lập pháp với cơ quan tư pháp chủ yếu thông qua việc ban hành các vănbản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức, hoạt động tư pháp và giám sátđối với hoạt động xét xử Mối quan hệ giữa cơ quan hành pháp với cơ quan tưpháp thông qua việc bảo đảm các điều kiện về nguồn lực cho tòa án thực hiệntốt quyền tư pháp Sự độc lập của tòa án theo chiều dọc được thế hiện ở haiyếu tố: độc lập của các cấp tòa án, độc lập trong nội bộ một cấp tòa án và độclập của thẩm phán, hội thẩm trong hội đồng xét xử Để độc lập, tòa án phảiđược tổ chức theo cấp xét xử, quan hệ giữa các cấp tòa án là quan hệ tố tụng,không phải quan hệ mệnh lệnh, hành chính Do đặc thù của đối tượng quản lý(cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp), quản lý tòa án là một lĩnh vực quản
lý đặc thù ở đa số các nước, tòa án không tổ chức và quản lý giống như cơquan quản lý hành chính nhà nước
Trang 8Ở nước ta, vấn đề quản lý các tòa án từ lâu là một nội dung gây tranh luậnkéo dài trong khoa học cũng như trong thực tiễn Nhiều năm qua, Nhà nước ta đã cố gắngtìm tòi và áp dụng nhiều mô hình quản lý tòa án nhưng thực tiễn quản lý cho thấy các môhình này đều chưa thật hoàn thiện.
Vì vậy, nhằm góp phần vào việc đổi mới hệ thống Toà án nhân dân theotheo đúng tinh thần cải cách tư pháp đã được đề ra trong các Nghị quyết của
Đảng, học viên lựa chọn nghiên cứu Đề tài: “Đổi mới mô hình quản lý Tòa
án ở Việt Nam hiện nay nhằm đảm bảo thực hiện quyền tư pháp của Tòa án và sự độc lập của hoạt động xét xử”.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhằm góp phần hoàn thiện các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức vàhoạt động của các cơ quan tư pháp, thời gian qua Tòa án nhân dân tối cao đã
có nhiều chương trình trao đổi và hợp tác với các cơ quan ở các nước Pháp,Đức, Thụy Điển, Nhật Bản, Trung Quốc, Canada và các tổ chức quốc tế nhưSIDA, JICA, UNDP về hoạt động tư pháp Trong đó có nhiều Hội nghị, Hộithảo, Tọa đàm trong và ngoài nước đã cho chúng ta một bức tranh nhiều màusắc về tổ chức và hoạt động hệ thống cơ quan tư pháp của các nước Nhữngđịnh hướng lớn về cải cách tư pháp nói riêng và cải cách bộ máy nhà nước nóichung liên tục được đề cập qua các kỳ Đại hội Đảng VI, VII, VIII và IX là nềntảng tư tưởng vững chắc cho công cuộc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệthống cơ quan tư pháp nước ta Trong những năm gần đây đã có một số côngtrình khoa học cấp nhà nước, cấp bộ, các luận án tiến sĩ, sách chuyên khảonghiên cứu về hệ thống tư pháp Việt Nam có liên quan đến cải cách tư phápnhư: Luận án Tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội: Đổi mới tổ chức và hoạtđộng của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền củatác giả Trần Huy Liệu năm 2003; Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức vàhoạt động của các cơ quan tư pháp (góp phần sửa đổi Hiến
Trang 9pháp năm 1992), Đề tài cấp Bộ, Chủ nhiệm đề tài: Hoàng Thế Liên; Sáchchuyên khảo Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam của GS.TSKH Đào Trí Úc, NXB Tư pháp năm 2006;Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy Nhà nước của GS.TS Nguyễn ĐăngDung, NXB Giao thông vận tải năm 2002; Hệ thống tư pháp và cải cách tưpháp ở Việt Nam hiện nay của tập thể các tác giả do GS.TS Đào Trí Úc chủbiên, NXB Khoa học xã hội năm 2002; Những công trình khoa học nghiên cứu
về Tòa án nhân dân ở những góc độ khác nhau Các công trình khoa học nêutrên đã góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức
và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp nước ta, phúc đáp những yêu cầubức xúc của cuộc sống Tuy nhiên, vì các lý do khác nhau nên những côngtrình nghiên cứu trên chưa giải quyết một cách đầy đủ, Toàn diện các vấn đề lýluận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung
và Tòa án nhân dân nói riêng trong điều kiện cải cách tư pháp
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn mô hình quản lý Tòa án ở Việt Nam, chỉ
ra những kết quả đã đạt được, những bất cập, tồn tại và nguyên nhân của những bất cập
đó trong quản lý Tòa án của Việt Nam hiện nay
- Đánh giá mô hình quản lý Tòa án hiện nay với yêu cầu đảm bảo thực hiệnquyền tư pháp của Tòa án và sự độc lập của hoạt động xét xử, nhằm đưa ra những đổimới phù hợp thực trạng việc quản lý Tòa án ở Việt Nam hiện nay
- Đề ra các giải pháp hoàn thiện quản lý Tòa án nhân dân nhằm đảm bảo thực hiện quyền tư pháp của Tòa án và sự độc lập của hoạt động xét xử
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một đề tài luận văn thạc sỹ, học viên xác định đốitượng và phạm vi của đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề chung về mô hìnhquản lý Tòa án, đưa ra thực trạng mô hình quản lý Tòa án của Việt Nam
Trang 10hiện nay với yêu cầu bảo đảm tính độc lập và thực hiện quyền tư pháp (nhữngkết quả đã đạt được, những bất cập, tồn tại và nguyên nhân của những bất cậpđó), trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần đổi mới, hoàn thiện quản
lý Tòa án nhân dân nhằm đảm bảo thực hiện quyền tư pháp của Tòa án và sựđộc lập của hoạt động xét xử
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh về nhà nước và pháp luật; Các quan điểm của Đảng về từng bướchoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân theo yêu cầu cải cách
tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và
vì dân Luận văn cũng được trình bày trên cơ sở nghiên cứu Hiến pháp, Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân, và các văn bản pháp luật khác quy định về tổ chức
và hoạt động của Tòa án
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể của luật học như phương phápphân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê xã hội học, phương pháp luậthọc so sánh và khảo sát thực tế để làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứucủa luận văn
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và luận cứ khoahọc về mô hình quản lý Tòa án của Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, luậnvăn đó đưa ra một số phương hướng và giải pháp khoa học, phù hợp với điềukiện thực tiễn, góp phần đổi mới, hoàn thiện quản lý Tòa án nhân dân nhằmđảm bảo thực hiện quyền tư pháp của Tòa án và sự độc lập của hoạt động xét
xử, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước
Trang 11pháp quyền ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, hi vọng rằng luận văn có thểđược sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, những người làmthực tiễn và công tác nghiên cứu, giảng dạy.
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được
chia làm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về mô hình quản lý Tòa án
Chương 2: Mô hình quản lý Tòa án của Việt Nam với yêu cầu đảm bảo
thực hiện quyền tư pháp của Tòa án và sự độc lập của hoạtđộng xét xử
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý Tòa án nhân
dân nhằm đảm bảo thực hiện quyền tư pháp của Tòa án và sựđộc lập của hoạt động xét xử
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỂ CHUNG VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ TÒA ÁN
1.1 Sự hình thành Tòa án và mô hình quản lý Toà án
1.1.2 Sự hình thành Toà án
Nhà nước đã ban hành ra pháp luật thì phải có cơ chế để đảm bảo chopháp luật được thực thi, bởi lẽ pháp luật sẽ trở nên vô nghĩa, nếu nó khôngđược các giai cấp và tầng lớp khác tuân theo, pháp luật không đi vào đời sốnghàng ngày của dân cư Mặt khác trong bất cứ xã hội nào, luôn luôn có các cánhân, tổ chức hoặc giai cấp đối lập tìm mọi cách để làm trái các điều luật củanhà nước, đi ngược lại với lợi ích của giai cấp thống trị Do vậy giai cấp thốngtrị đã tổ chức ra một hệ thống các cơ quan chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ vàbảo đảm cho pháp luật được thực thi như quân đội, cảnh sát
Nhưng không thể sử dụng đội quân này có thể bắt bớ, giam cầm một cách tùytiện, bởi như thế sẽ tạo nên sự hỗn loạn trong xã hội Bởi lẽ đó cần có một cơquan được lập ra để đảm nhiệm chức năng xét xử, xem xét hành vi nào làđúng, là sai Cơ quan đó chính là tòa án, luôn tồn tại trong bất kỳ chế độ nhànước nào
Theo V.I Lênin "… Tòa án là cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động của tòa án là hình thức hoạt động của nhà nước " [13, tr.197].
1.1.2 Vị trí, vai trò của Tòa án ở Việt Nam
Tòa án là biểu hiện tập trung của quyền tư pháp, là cơ quan thực hiện chứcnăng xét xử Ngay từ buổi đầu của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tòa án
đã chiếm một vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong việc xét xử những hành vi
vi phạm pháp luật, chống phá nhà nước ta Cùng với quá trình phát triển của cáchmạng, ở mỗi một giai đoạn khác nhau, do những yêu cầu đặt ra khác nhau, tổchức, hoạt động của tòa án nhân dân cũng có những nhiệm vụ và mục
Trang 13tiêu khác nhau Tuy nhiên nó cũng chiếm một vị trí và vai trò hết sức quan
trọng, " là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong phạm vi chức năng của mình có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân ; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân…” [1,tr.71].
1.2 Khái quát mô hình quản lý Toà án của Việt Nam giai đoạn
1945 - 2002
Trong giai đoạn 1945 - 2002, mô hình quản lý Toà án nhân dân địaphương được chia thành 4 giai đoạn tương ứng với các mô hình khác nhau, cụthể là:
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
Ngay sau khi cách mạng tháng tám thành công, Nhà nước Việt nam dânchủ cộng hoà đã quan tâm đến công tác xét xử và xây dựng hệ thống Toà án.Ngày 13/9/1945, Chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh số 33/SL về việc thiết lậpcác Tòa án quân sự ở các địa phương khác nhau trong cả nước Theo Sắc lệnhnày, ở nước ta sẽ thiết lập các Tòa án quân sự ở Hà Nội, Hải Phòng, TháiNguyên, Ninh Bình, Vinh, Huế, Quảng Ngãi, Sài Gòn, Mỹ Tho Các Tòa ánquân sự đã được thành lập với thẩm quyền xét xử sơ thẩm, đồng thời chungthẩm tất cả những người phạm vào một việc gì có phương hại cho nền độc lậpcủa nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Để giữ vững kỷ luật trong quân đội,ngày 23/8/1945 Chính phủ đã ra sắc lệnh số 163/SL về việc thành lập tòa ánxét xử các quân nhân, sĩ quan phạm tội Đây là những văn bản pháp lý đầutiên, là cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của tòa án sau này
Tuy nhiên, vì yêu cầu của cách mạng lúc bấy giờ, Nhà nước Việt nam dânchủ cộng hoà mới chỉ thiết lập các Tòa án quân sự mà chưa tổ chức hệ thốngTòa án các cấp và các Tòa án quân sự cũng chỉ xét xử các vụ án hình sự
Trang 14mà không xét xử các vụ án dân sự.
Ngày 24/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 13 về tổ chứcTòa án và ngạch Thẩm phán Đây là Sắc lệnh đầu tiên quy định một cách đầy
đủ, cụ thể tiêu chuẩn nhiệm vụ và quyền hạn của các ngạch thẩm phán Theo
đó, các Toà án sơ cấp, đệ nhị cấp, Toà thượng thẩm đã được thành lập, Thẩmphán ở Toà án thượng thẩm và Toà án đệ nhị cấp do Chủ tịch nước bổ nhiệm,còn thẩm phán ở Toà án sơ cấp do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm
Ngày 29/4/1958, Quốc hội quyết định thành lập Tòa án nhân dân tối cao
và Viện công tố nhân dân trung ương, trực thuộc Hội đồng Chính phủ Có thểnói đây là một bước quá độ rất cần thiết làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thốngTòa án nhân dân trong Bộ máy nhà nước một năm sau đó Năm 1959, Hiếnpháp mới ban hành, Toà án tối cao, Viện công tố được thành lập lại thành Toà
án nhân dân tối cao và tách ra khỏi Chính phủ Từ năm 1946 đến năm 1960 tất
cả các cơ quan Toà án đều đặt dưới sự quản lý của Bộ Tư pháp về mặt tàichính, kinh phí, tổ chức chế độ làm việc và các công việc về nhân sự
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980
Hiến pháp năm 1959 đã thể chế hoá các quan điểm của Nghị quyết Đạihội lần thứ III của Đảng đã đề ra Căn cứ vào các quy định của Hiến pháp
1959 về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, ngày 14/7/1960, Quốc hộinước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá II, kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân Tiếp đó, để kiện Toàn Tòa án nhân dân các cấp,tăng cường tính nhân dân của Tòa án nhân dân và bảo đảm cho việc xét xửđược chính xác và đúng pháp luật Ngày 23/3/1961 Uỷ ban thường vụ Quốchội đã thông qua Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức Tòa án nhân dân tối cao
và tổ chức của Tòa án nhân dân địa phương Ngoài các quy định trên, theoLuật tổ chức Hội đồng Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hoà năm 1960,
Bộ Tư pháp giải thể
Về quản lý các Toà án nhân dân địa phương, Điều 23 Luật Tổ chức Toà
Trang 15án nhân dân quy định: “ Bộ máy làm việc và biên chế của các Toà án nhân
dân địa phương các cấp do Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện theo quy định chung về bộ máy làm việc và biên chế của Cơ quan Nhà nước”
và Điều 14 Pháp lệnh ngày 23/3/1961 quy định: “Tổ chức cụ thể của bộ máy làm
việc và biên chế cụ thể của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện theo những quy định chung về bộ máy làm việc và biên chế của các cơ quan nhà nước Tổng biên chế của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối cao định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn”.
Tuy nhiên, trên thực tế, các Toà án nhân dân địa phương được xem là đơn
vị xét xử của đơn vị hành chính của từng cấp địa phương việc quản lý Toà ánnhân dân địa phương chủ yếu do chính quyền địa phương đảm nhiệm (hộiđồng nhân dân cùng cấp bầu, bãi miễn Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán;kinh phí và cơ sở vật chất cho hoạt động do Uỷ ban nhân dân địa phương đảmnhiệm, chế độ tiền lương của cán bộ Toà án nhân dân các cấp do Chính phủđảm nhiệm
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992
Ngày 13/12/1980, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namkhoá VI, kỳ họp thứ 7, đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam thống nhất
- Hiến pháp 1980 Nhìn chung, các quy định về Tòa án nhân dân trong Hiếnpháp 1980 kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp 1959
Trong Tờ trình trước Quốc hội về Dự thảo Luật tổ chức Toà án nhân dân tại
Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá VII (tháng 7/1981) do Toà án nhân dân tối cao
chuẩn bị trước Quốc hội có viết: “Để bảo đảm cho các Tòa án nhân dân thực
hiện được tốt công tác xét xử, việc quản lý về biên chế, tổ chức và cán bộ của Tòa án nhân dân các cấp là rất quan trọng Trước đây, khi giải thể Bộ
Tư pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 đã giao nhiệm vụ này cho
Trang 16Tòa án nhân dân tối cao Nay, nếu Bộ Tư pháp được thành lập, chúng tôi đề nghị Tòa án nhân dân tối cao quản lý tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và
Bộ Tư pháp quản lý về tổ chức của Tòa án nhân dân địa phương”.
Đồng thời trong Tờ trình thành lập lại Bộ Tư pháp, Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng đã báo cáo trường kỳ họp thứ 1 Quốc hội khoá VII đã khẳng định:
“Thực tiễn 20 năm qua (1960 - 1980) chứng minh rõ việc Hội đồng Chính phủ,
cơ quan chấp hành nhà nước cao nhất, cơ quan quản lý Toàn diện công việc của Nhà nước không có Bộ Tư pháp là điều rất không hợp lý, Tòa án nhân dân tối cao với tư cách là Toà án, một cơ quan xét xử của Hiến pháp lại được giao chức năng, nhiệm vụ của Bộ, của Chính phủ mà theo pháp luật lại không chịu trách nhiệm trước Chính phủ (chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội), trong khi
đó thì Hội đồng Chính phủ không nắm được tình hình thi hành pháp luật, không gắn được việc chấp hành pháp luật trong việc xét xử với việc điều hành công việc chung của chính phủ, từ đó không chỉ đạo được hoạt động đấu tranh chống tội phạm loại trừ các nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm và các hành vi phạm pháp khác Tình hình này kéo dài sẽ có hậu quả không tốt Hội đồng Chính phủ phải là người quản lý Toàn diện mọi hoạt động của đời sống
xã hội kể cả quản lý tư pháp Hội đồng Chính phủ phải có Bộ Tư pháp để giúp cho Hội đồng Chính phủ thống nhất quản lý công tác tư pháp”.
Chính vì vậy, theo Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 1980 (Điều 16) và Nghịđịnh số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 về chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp thì
“việc quản lý các Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức do Bộ trưởng Bộ
Tư pháp đảm nhiệm Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong việc thực hiện nhiệm vụ đó” (Điều
16) [3] Về quản lý các Tòa án quân sự, thì Pháp lệnh năm 1985 đã giao “Bộ trưởng
Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong việc quản lý về mặt tổ chức các Tòa
Trang 17án quân sự quân khu và cấp tương đương và các Tòa án quân sự khu vực”.
Về biên chế của các Tòa án nhân dân theo Luật tổ chức Tòa án nhân dânnăm 1981 và Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 1985, thì biên chế của Tòa ánnhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định và trình Hội đồngNhà nước phê chuẩn Tổng số biên chế của các Tòa án nhân dân địa phương do
Bộ trưởng Bộ Tư pháp trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định Sau khi đã được Hộiđồng Bộ trưởng quyết định tổng số biên chế, việc quy định biên chế cho từng Tòa
án nhân dân địa phương đó Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định Đối với các Tòa ánquân sự, thì bộ máy làm việc, biên chế của Tòa án quân sự cấp cao do Chánh ánTòa án nhân dân tối cao quyết định, sau khi đã thống nhất ý kiến với Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn bộ máy làm việc, biên chếcủa các Tòa án quân sự quân khu và cấp tương đương, của các Tòa án quân sựkhu vực do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định, sau khi đã thống nhất ý kiến vớiChánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Về kinh phí,phương tiện hoạt động và trụ sở của các Tòa án quân sự do Bộ Quốc phòng và cácđơn vị quân đội bảo đảm
Tóm lại, việc quản lý các Tòa án nhân dân địa phương trong giai đoạnnày do Bộ Tư pháp đảm nhiệm, nhưng chủ yếu là việc trình tổng số biên chế
và quy định biên chế cụ thể cho từng Tòa án nhân dân địa phương, còn về kinhphí hoạt động vẫn do ngân sách địa phương cấp, về nhân sự như Chánh án,Phó Chánh án, Thẩm phán do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu
1.2.4 Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2002
Đường lối đổi mới được khởi xướng từ Đại hội lần thứ VI của Đảng năm
1986 và tiếp tục được khẳng định và phát triển trong Nghị quyết Đại hội lầnthứ VII của Đảng năm 1991 là cơ sở cho việc ban hành Hiến pháp năm 1992 -Hiến pháp của thời kỳ đổi mới
Trong quá trình xây dựng Hiến pháp 1992, Luật tổ chức Toà án nhân dân
Trang 18năm 1992, Toà án nhân dân tối cao đã có văn bản đề nghị giao quản lý các Toà
án nhân địa phương về mặt tổ chức Tuy nhiên, Hiến pháp 1992 cũng như Luật
tổ chức Tòa án nhân dân được ban hành tiếp tục kế thừa và phát triển các quyđịnh của Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 theo
đó, “Việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương về mặt tổ chức do Bộtrưởng Bộ Tư pháp đảm nhiệm có sự phối hợp chặt chẽ với Chánh án Toà ánnhân dân tối cao Quy chế phối hợp giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Chánh ánToà án nhân dân tối cao trong việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương vềmặt tổ chức do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định”
Xuất phát từ yêu cầu cải cách tư pháp, ngày 02/1/2002, Bộ Chính trị đãban hành Nghị quyết số 08 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháptrong thời gian tới đã xác định Toà án nhân dân tối cao quản lý các Toà án địaphương về mặt tổ chức Thi hành Luật tổ chức Toà án nhân dân 2002, ngày25/9/2002, tại Bộ Tư pháp, lễ bàn giao công tác quản lý Toà án nhân dân địaphương, Toà án quân sự quân khu và tương đương, Toà án quân sự khu vực vềmặt tổ chức từ Bộ Tư pháp sang Toà án nhân dân tối cao đã được tiến hành
1.3 Các điểm kế thừa từ mô hình quản lý Toà án trong giai đoạn
và bảo đảm cho thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
2) Cần phải khẳng định Toà án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, không phải là cơ quan quản lý hành chính
Trang 19Bởi lẽ, thứ nhất, xét về vi trí, vai trò của Toà án trong hệ thống tổ chức,
bộ máy Nhà nước thì Toà án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền xét xử, màkhông phải là cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, cho nên trong cách thức
tổ chức các cơ quan xét xử có đặc thù riêng Đó là, theo quy định của các Luật
tổ chức Toà án, thì các Toà án của nước ta được tổ chức theo địa giới hànhchính từ cấp huyện trở lên, hoạt động xét xử độc lập với nhau theo thẩm quyền
mà không thành một hệ thống như các cơ quan khác
Hơn nữa, một trong những nguyên tắc quan trong trong hoạt động của
Toà án được ghi nhận trong tất cả các bản hiến pháp của nước ta đó là “khi xét
xử, thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Pháp luật
là mệnh lệnh tối cao đối với những người làm công tác xét xử Muốn vậy, đốivới người Thẩm phán, đòi hỏi phải có điều kiện chủ quan và khách quan vềthực hiện quyền năng và nghĩa vụ của mình Về chủ quan, muốn “độc lập” thìngười Thẩm phán phải nắm vững pháp luật, có bản lĩnh, đạo đức và như vậy
họ phải được đào tạo một cách chính quy, được bổ nhiệm theo các tiêu chuẩnchặt chẽ và phải được hưởng chế độ lương bổng thoả đáng Về khách quan, đểcác Thẩm phán được “độc lập” trong hoạt động xét xử, cần thiết phải ngănchặn mọi sự can thiệp của cơ quan hoặc cá nhân vào việc xét xử các vụ án cụthể, ít nhiều ảnh hưởng đến sự nghiêm minh của pháp luật mà Thẩm phán làngười có sứ mệnh duy trì sự nghiêm minh đó Do đó, trong cách thức tổ chức,các Toà án cấp trên không có quan hệ hành chính, chỉ đạo điều hành Toà áncấp dưới Mối quan hệ giữa các Toà án này với nhau là quan hệ tố tụng theo
quy định của pháp luật Việc quản lý hành chính có liên quan đến tổ chức, bộ
máy, đào tạo, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, bảo đảm trụ sở,kinh phí phương tiện hoạt động của Toà án được giao cho cơ quan có chứcnăng quản lý hành chính nằm ngoài tổ chức cơ quan xét xử nhằm tránh sự điềuhành, mệnh lệnh trong công tác xét xử
Trang 203) Việc quản lý Toà án nhân dân địa phương về mặt tổ chức nên do một Hội đồng thuộc Chính phủ thực hiện.
Theo nguyên tắc tổ chức bộ máy của Nhà nước ta hiện nay thì quyền lựcNhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan lập pháp,hành pháp, tư pháp, trong đó cơ quan hành pháp là cơ quan chấp hành, chịutrách nhiệm thực hiện các vấn đề về quản lý hành chính Nhà nước và điều hànhđối với Toàn bộ hoạt động trong các lĩnh vực đời sống xã hội Do vậy, việcquản lý hành chính có liên quan đến tổ chức, bộ máy, đào tạo, bổ nhiệm, khenthưởng, kỷ luật đối với cán bộ, bảo đảm trụ sở, kinh phí phương tiện hoạt độngcủa Toà án là thuộc hoạt động quản lý của cơ quan hành pháp Tuy nhiên, việcquản lý này không nên giao cho một Bộ phối hợp với Toà án nhân dân tối caothực hiện mà nên do một Hội đồng thực hiện để có thế có đủ tầm giải quyếtnhanh việc cải tiến công tác này phải bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ,thống nhất quyền lực, có sự phân công, phân cấp, đồng thời đảm bảo sự chỉđạo thống nhất của rung ương trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản
lý Toà án; hạn chế sự tối đa sự tác động của chính quyền địa phương đối vớihoạt động của Toà án
1.4 Mô hình quản lý Tòa án ở một số quốc gia trên thế giới
Qua việc nghiên cứu mô hình quản lý Toà án ở một số quốc gia trên thếgiới, có thể thấy có 4 mô hình quản lý Tòa án, cụ thể như sau:
- Mô hình do Bộ Tư pháp quản lý: Mô hình này được áp dụng ở Cộng
hòa liên bang Đức
- Mô hình tự quản do một đơn vi “trực thuộc Tòa án” độc lập với cơ quan lập pháp, hành pháp quản lý: Mô hình này được áp dụng ở Hoa Kỳ, Úc, Canada, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia, Liên bang Nga, Bungary,
Hungary…
- Mô hình kết hợp do đơn vị t
cùng thực hiện: Mô hình này được
ự quản độc lập của Tòa án và Bộ Tư pháp
áp dụng ở Cộng hòa Pháp
Trang 21- Mô hình Tòa án phối hợp cùng cơ quan Đảng, chính quyền địa phương cùng thực hiện: Mô hình này được áp dụng ở Trung Quốc.
1.4.1 Mô hình do Bộ Tư pháp quản lý tại Cộng hòa liên bang Đức
1.4.1.1 Quản lý Tòa án Hiến pháp liên bang
Độc lập trong vấn đề quản lý nhân sự và ngân sách Hội đồng Thẩm phánTòa án Hiến pháp liên bang chuẩn bị dự thảo ngân sách hàng năm và chuyểncho Hạ nghị viện liên bang xem xét phê chuẩn
1.4.1.2 Quản lý các Tòa án không phải là Toà án Hiến pháp
Nhìn chung, việc quản lý các Tòa án (trừ Tòa án Hiến pháp) ở Cộng hoàliên bang Đức do Bộ Tư pháp liên bang và các Bộ Tư pháp bang thực hiện.Toàn bộ các Thư ký Tòa án cũng như nhân viên hành chính của các Tòa án đều
do Bộ Tư pháp đào tạo, bổ nhiệm và thuyên chuyển Biên chế các Thẩm pháncũng được quyết định bởi sự chấp thuận của Bộ Tư pháp Việc lập ngân sách
và phân bồ ngân sách cho các Tòa án cũng do Bộ Tư pháp liên bang và các Bộ
Tư pháp bang đảm nhiệm
Tuy nhiên, các Tòa án thượng thẩm, cấp cao của các bang được phân cấpquản lý các Tòa án thuộc hệ thống trong phạm vi lãnh thổ bang Do đó, cácTòa án cấp cao nhất của bang đóng vai trò là cơ quan hành chính trung giangiữa các bộ và các Tòa án cấp dưới cùng hệ thống trong phạm vi lãnh thổ bang
1.4.2 Mô hình tự quản do một đơn vị “trực thuộc Tòa án” độc lập với
cơ quan lập pháp, hành pháp quản lý
Mô hình này được áp dụng ở Hoa Kỳ, Úc, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc,Thái Lan, Indonesia, Liên bang Nga, Bungary, Hungary
1.4.2.1 Ở Nhật Bản
Việc quản lý Tòa án được quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chức Tòa
án Theo những quy định này thì Tòa án tối cao có thẩm quyền cao nhất trongquản lý Tòa án
Trang 22Tòa án tối cao giám sát nhân viên Tòa án tối cao và nhân viên Tòa án cấpdưới; Tòa án cấp cao giám sát nhân viên Tòa án cấp cao đó và Tòa án cấp dướitrong khu vực chủ quản và nhân viên của Tòa án đó; Toà án địa phương cấptỉnh giám sát nhân viên Tòa án địa phương cấp tỉnh đó và Tòa án đơn giảntrong khu vực chủ quản và nhân viên của Tòa án đó; các Tòa án gia đình giámsát nhân viên của Tòa án gia đình đó; Thẩm phán Tòa án đơn giản giám sátnhân viên không phải Thẩm phán của Tòa án gia đình đó.
Đối với ngân sách của ngành Tòa án, sau khi có Nghị quyết của Đại hộiđồng Thẩm phán (15 Thẩm phán Tòa án tối cao), Tòa án tối cao sẽ trình dựtoán ngân sách trực tiếp cho Nội các Nếu Nội các cắt giảm dự toán của Tòa ánthì Tòa án tối cao có thể yêu cầu Nội các giữ nguyên Nội các sẽ trình chi tiếtcác khoản dự toán để Quốc hội xem xét quyết định
Để thực hiện công việc quản lý hành chính, Tòa án tối cao có Tổng BanThư ký là bộ phận nội bộ chịu trách nhiệm quản lý hành chính Tòa án Các cán
bộ quan trọng của Tổng Ban Thư ký được chọn lựa từ các Thẩm phán Tòa áncấp dưới, nếu họ đồng ý
Như vậy, Tòa án tối cao quản lý Toàn bộ hệ thống Tòa án một cách độclập không có sự can thiệp của nhánh lập pháp hoặc hành pháp
1.4.2.2 Ở Hàn Quốc
Bộ Quản lý hành chính Tòa án thuộc Tòa án tối cao Hàn Quốc chịu tráchnhiệm giúp Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao quản lý hệ thống Tòa án về tổchức, nhân sự, ngân sách, cơ sở vật chất v.v…
Bộ trưởng Bộ Quản lý hành chính Tòa án do Chánh án Tòa án tối cao bổnhiệm trong sổ các Thẩm phán của Tòa án tối cao
Bộ quản lý hành chính Tòa án bao gồm 05 Vụ, 04 Văn phòng và TổngThanh tra: Vụ Kế hoạch và Điều phối có trách nhiệm lập kế hoạch và phối hợphoạt động với các Tòa án, xây dựng ngân sách tư pháp và quản lý ngân sách,tiến hành các nghiên cứu về các văn bàn pháp luật và quy định pháp
Trang 23luật, quản lý việc xử lý dữ liệu điện tử và mạng thông tin điện tử, và thống kê;
Vụ Nghiên cứu Chính sách Tư pháp tiến hành các nghiên cứu và tìm hiểu về hệthống và chính sách tư pháp, các vấn đề quốc tế; và Vụ Quản lý nhân sự quản
lý và đào tạo cán bộ, nhân viên tư pháp Văn phòng Dịch vụ Tổng hợp chịutrách nhiệm về các công việc lễ tân, quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật, và kinh phíhoạt động; Văn phòng quản lý các vụ kiện có trách nhiệm tiếp nhận các vụ án,quản lý hồ sơ Tòa án, tham gia vào các vụ kiện pháp lý, tiến hành nghiên cứu
và tìm hiểu các hệ thống/phương thức kiện tụng, và đưa ra các câu trả lời chocác câu hỏi pháp lý của Tòa án các cấp; Văn phòng Đăng ký chịu trách nhiệmghi sổ đăng ký, đăng ký gia đình, và tiền gửi; Văn phòng Xây dựng Tòa ánchịu trách nhiệm xây dựng cơ sở vật chất Tòa án, quản lý việc sử dụng và bảodưỡng Vụ Thông tin Công chúng có trách nhiệm quảng bá cho hệ thống Tòaán; Tổng Thanh tra tiến hành kiểm tra và giám sát các công việc của cán bộ tưpháp, cảnh sát trưởng và công chứng viên tư pháp; Vụ Kế hoạch khẩn cấp tiếnhành xây dựng các biện pháp ứng phó trong các trường hợp khẩn cấp của quốcgia
Về xây dựng ngân sách: Theo nguyên tắc, Tòa án tối cao xây dựng ngânsách của hệ thống Tòa án sau khi tham khảo ý kiến của Chính phủ (Bộ Tàichính và kinh tế), trình Quốc hội thông qua Tuy nhiên, trên thực tế, việc xâydựng ngân sách của hệ thống Tòa án do Bộ Tài chính và kinh tế thực hiện trên
cơ sở số liệu thu chi ngân sách do Tòa án tối cao nộp Nếu Chính phủ đề nghịgiảm mức ngân sách mà Tòa án tối cao đề xuất, Chính phủ phải trao đổi vớiTòa án tối cao
1.4.2.3 Ở Thái Lan
Việc quản lý hệ thống Tòa án Công lý được thực hiện thông qua 3 Hộiđồng: Hội đồng Tư pháp, Hội đồng hành chính tư pháp và Hội đồng các vấn đềcông vụ tư pháp
Trang 24Hội đồng Tư pháp gồm 13 thành viên, Chánh án Tòa án tối cao là Chủtịch, các ủy viên Hội đồng được bầu trong số các Thẩm phán ở tất cả các cấpcủa Tòa án Công lý, trong đó 4 thành viên được bầu trong số các Thẩm phánTòa án tối cao, 4 thành viên được bầu từ các Thẩm phán các Tòa phúc thẩm, 4thành viên còn lại được bầu trong số 100 Thẩm phán bậc cao của các Tòa sơthẩm Hội đồng thực hiện việc tuyền chọn Thẩm phán để Nhà Vua bổ nhiệm,luân chuyển, đề bạt và kỷ luật các Thẩm phán.
Hội đồng các vấn đề công vụ tư pháp bao gồm Phó Chánh án lâu nămnhất của Tòa án tối cao là Chủ tịch Hội đồng, các ủy viên Hội đồng do Hộiđồng Thẩm phán bầu trong số các Thẩm phán ở tất cả các cấp Tòa án và cả các
ủy viên Hội đồng được bầu trong số các cán bộ tư pháp cấp cao của Tòa án.Hội đồng thực hiện việc bổ nhiệm, luân chuyển, đề bạt và kỷ luật các cán bộTòa án
Hội đồng hành chính tư pháp do Chánh án Tòa án tối cao làm Chủ tịch vàbao gồm các ủy viên Hội đồng được bầu trong số các Thẳm phán ở tất cả cáccấp của Tòa án Công lý Hội đồng có trách nhiệm thông qua dự toán ngânsách, quản lý tài chính, ban hành các quy định và thông báo liên quan đến côngviệc hành chính và công việc Thư ký của Văn phòng Tòa án Công lý
Luật pháp quy định mỗi Hội đồng phải có số lượng nhất định ủy viên Hộiđồng là những người có trình độ chuyên môn giỏi và không phải là Thẩm phánnhằm đảm bảo tính giải trinh và minh bạch
Văn phòng Toà án Công lý
Theo Hiến pháp năm 1997 và Hiến pháp hiện hành năm 2007, các Tòa ánCông lý có Văn phòng Tòa án Công lý do Chánh Văn phòng đứng đầu, người
sẽ báo cáo trực tiếp lên Chánh án Tòa án tối cao Chánh Văn phòng Tòa ánCông lý được bổ nhiệm từ một Thẩm phán Tòa án tối cao Việc bổ nhiệmChánh Văn phòng của Văn phòng Tòa án Công lý phải được sự chấp thuận củaHội đồng Tư pháp Chánh án Tòa án tối cao đệ trình lên Nhà Vua
Trang 25bổ nhiệm Văn phòng Tòa án Công lý có quyền tự chủ trong công tác nhân sự,ngân sách và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật Văn phòng Tòa
án Công lý có đội ngũ nhân viên riêng và được chia thành nhiều Vụ Vụ Côngnghệ thông tin Vụ giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp thay thế, Vụ phápluật và tư pháp và Học viện đào tạo tư pháp Vụ các vấn đề quốc tế thực hiệncác công việc liên quan đến hợp tác tư pháp quốc tế
Theo Luật về Hành chính tư pháp của các Tòa án Công lý thì Văn phòngTòa án Công lý là một tổ chức hành chính độc lập có tư cách pháp nhân, có cácquyền và nghĩa vụ liên quan đến các công việc hành chính của các Tòa ánCông lý, các công việc tự pháp và các công việc kỹ thuật tư pháp để hỗ trợ vàtạo điều kiện để các Tòa án Công lý hoạt động thuận lợi, hiệu quả, nhanhchóng Văn phòng Tòa án công lý gồm:
Ở Trung ương: có 22 đơn vị Những đơn vị này có nhiệm vụ phối hợp, theo dõi, tham mưu, quyết định quy chế và các hướng dẫn thực tiễn
Ở khu vực: có 9 đơn vị là các phòng là Văn phòng của Tòa án Công lý củacác Khu vực I - IX Họ có nhiệm vụ hỗ trợ và thúc đẩy các công việc hành chính và kỹthuật tư pháp
Có 265 Văn phòng hành chính của các Tòa án tỉnh và Văn phòng hànhchính khu vực của Tòa án Công lý Các Văn phòng này có nhiệm vụ hỗ trợ quátrình xét xử liên quan đến công việc hành chính, kỹ thuật tư pháp, trong đóphối hợp với các cơ quan khác của Chính phủ
1.4.2.4 Ở Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, tồn tại hai hệ thống Tòa án là Tòa án liên bang và Tòa ánbang Mặc dù thẩm quyền của hai hệ thống Tòa án này là hoàn Toàn khácnhau, nhưng mô hình tổ chức quản lý hành chính tư pháp lại có nhiều điểmtương đồng Thực chất, mô hình cơ quan quản lý hành chính Tòa án hiện tạixuất phát từ những sáng kiến cài cách hành chính Tòa án trong hệ thống Tòa
Trang 26án liên bang Các hệ thống Tòa án bang học tập mô hình này và triển khai tạibang mình.
Cơ quan quản lý hành chính Tòa án Hoạ Kỳ được thành lập năm 1939theo quy định của Điều 601 Thiên 28 Bộ luật Mỹ, là cơ quan quản lý hànhchính hệ thống Tòa án liên bang, có vị trí độc lập, trực tiếp triển khai thực hiệncác chính sách mà Hội nghị tư pháp Hoa Kỳ đặt ra và chịu sự giám sát trựctiếp của Hội nghị tư pháp
Cơ quan quản lý hành chính Tòa án là cơ quan hỗ trợ chính trong nhánh
tư pháp liên bang Cơ quan quản lý hành chính cung cấp các dịch vụ quản lýhành chính, pháp lý, tài chính, quản trị, công nghệ thông tin… cho hệ thốngTòa án liên bang Cơ quan quản lý hành chính cũng hỗ trợ trao đổi thông tingiữa hệ thống Tòa án và Quốc hội, nhánh hành pháp và công chúng nhân danhTòa án
Nhiệm vụ của Cơ quan quản lý hành chính Tòa án Hoa Kỳ là thực hiệncác chức năng hỗ trợ cho hệ thống Tòa án liên bang như chuẩn bị và trình ngânsách của hệ thống Tòa án lên Hội nghị tư pháp phê chuẩn để Quốc hội thôngqua, phân tích luật của Quốc hội ảnh hưởng đến hoạt động và nhân sự của Tòa
án, giải thích và áp dụng luật mới, cung cấp hỗ trợ quản lý hành chính cho cácTòa án dưới hình thức cung cấp Thư ký, nhân viên thử thách và nhân viên thựchiện dịch vụ trước phiên tòa, báo cáo viên, Luật sư công…
Chánh án Hoa Kỳ bổ nhiệm Giám đốc và Phó Giám đốc sau khi tham vấnvới Hội nghị tư pháp Hoa Kỳ Cơ quan quản lý hành chính Tòa án có các đơn
vị trực thuộc như Văn phòng công việc chung, ngoại giao và Quốc hội; Vănphòng Thư ký điều hành Hội nghị tư Pháp, Văn phòng các chương trình Tòa
án, Vụ dịch vụ quản lý hành chính, an ninh và trang thiết bị, Vụ ngân sách vàtài chính, Văn phòng nhân lực và thống kê, Văn phòng Công nghệ thông tin,Văn phòng các chương trình dành cho Thẩm phán Mỗi đơn vị này
Trang 27tự chịu trách nhiệm về những lĩnh vực riêng của mình như về nhân sự, về hoạtđộng của các Tòa án chuyên biệt, về phân tích ngân sách, về đào tạo nhân lực,
về đào tạo và hỗ trợ công nghệ thông tin
1.4.2.5 Ở Canada
- Quản lý hành chính tư pháp tại Tòa án tối cao Canada
Văn phòng Tòa án tối cao thực hiện việc quản lý hành chính tư pháp tạiTòa án tối cao Chánh Văn phòng báo cáo trực tiếp lên Chánh án, chịu tráchnhiệm quản lý hành chính Tòa án và thực hiện các quyền bán tư pháp theo quyđịnh của Nguyên tắc hoạt động của Tòa án Thẩm quyền quản lý của ChánhVăn phòng bao gồm quyền bổ nhiệm và giám sát hoạt động của cán bộ Tòa án,quản lý thư viện, quản lý bộ phận đăng ký và tiếp nhận hồ sơ, xuất bản Báocáo án lệ Tòa án tối cao Canada Chánh Văn phòng và Phó Chánh Văn phòngđều do Toàn quyền Canada bổ nhiệm Văn phòng Tòa án tối cao có khoảng
200 cán bộ, tất cả đều thuộc biên chế cán bộ công chức liên bang
Mỗi Thẩm phán Tòa án tối cao đều có 3 Thư ký chuyên môn, thường làcác sinh viên luật mới tốt nghiệp có nhiệm vụ giúp Thẩm phán nghiên cứu, tìmhiểu thông tin Phần lớn các liên đoàn Luật sư tiều bang đều quy định các Luật
sư phải có ít nhất một năm kinh nghiệm làm Thư ký cho Thẩm phán mới đượcchấp nhận tư cách thành viên và có thể hành nghề Ngoài ra, mỗi Thẩm phán
có một chuyên viên và một cán bộ hành chính thực hiện các công việc khác tạiVăn phòng Thẩm phán Riêng Văn phòng Chánh án có thêm một cố vấn phápluật cao cấp và một cố vấn pháp luật chịu trách nhiệm quản lý quan hệ truyềnthông đối với các vấn đề liên quan đến các Thẩm phán và cán bộ Tòa án cũngnhư những vụ việc do Tòa án tối cao xét xử
Ban quản lý hoạt động Tòa án gồm có Phòng Pháp luật, Phòng Xuất bảntuyển tập án lệ, Phòng Thụ lý hồ sơ, Trung tâm thư viện và quản lý thông tinchịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch, định hướng, tư vấn pháp lý và hỗ trợ
Trang 28hoạt động cho các Thẩm phán trong tất cả các quy trình quản lý án từ thụ lýcho đến khi phán quyết cuối cùng được đưa ra Chức năng này bao gồm việc
xử lý và ghi thông tin, lên lịch xét xử, hỗ trợ chuyên môn, dịch vụ thông tinthư viện, biên tập và xuất bản Tuyển tập án lệ Tòa án tối cao Ban quản lý hoạtđộng Tòa án cũng thực hiện chức năng quản lý thông tin trong đó có thông tinliên quan đến các vụ việc do Tòa án tối cao xét xử và thông tin về hoạt độngcủa Tòa án tối cao
Ban thông tin truyền thông xây dựng và thực hiện các chiến lược, kếhoạch và chương trình truyền thông nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết củangười dân về hoạt động của Tòa án tối cao cũng như nâng cao truyền thông nội
bộ trong Tòa án tối cao
Ban dịch vụ hoạt động Tòa án có chức năng hỗ trợ hành chính và chuyênmôn cho tất cả các Thẩm phán và cán bộ Tòa án gồm có: xây dựng kế hoạchhoạt động, kế hoạch chiến lược và nguồn lực, báo cáo hoạt động, quản lý tráchnhiệm giải trình, các phương pháp và công cụ quản lý hiện đại, quản lý rủi ro,các vấn đề liên quan đến tài chính, mua sắm, điều kiện làm việc, hành chính(truyền thông thông tin, thư từ, dịch vụ in ấn), nhân sự, an ninh, y tế và anToàn lao động, quản lý tình huống khẩn cấp, chiến lược phát triển, thực hiện
và quản lý các chính sách, kế hoạch và chiến lược công nghệ thông tin cũngnhư kế hoạch phát triển hoạt động của Tòa án
Ban lễ tân và hỗ trợ tư pháp chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động hỗtrợ cho Chánh án và 8 Thẩm phán Tòa án tối cao, trong đó có các hoạt động lễtân và dịch vụ tại phòng ăn của các Thẩm phán, phát triển và thực hiện cácchương trình và hoạt động hỗ trợ tư pháp, quản lý hành chính tư pháp và thựchiện Chương trình Thư ký Tòa án của các Thẩm phán
Thụ lý hồ sơ
Hoạt động thụ lý hồ sơ đóng một vai trò nòng cốt trong hoạt động củaTòa án, giữ vai trò trung tâm của tất cả các thủ tục tố tụng và hồ sơ của Tòa án.Phòng thụ lý chịu trách nhiệm xử lý, ghi thông tin và chuyển hồ sơ của
Trang 29đương sự cũng như ghi và lưu hồ sơ tất cả các quy trình, hoạt động trong quátrình xét xử một vụ án Những thông tin này sẽ được cung cấp cho người dântại Tòa án cũng như trên website Phòng thụ lý còn có chức năng hỗ trợ hoạtđộng lên lịch xét xử, các hoạt động hỗ trợ khác trong phiên tòa và hoàn thiện
hồ sơ án sau khi bản án được đưa ra
Tuyển tập án lệ Tòa án tối cao Canada
Các quyết định của Tòa án tối cao được công bố bằng cả tiếng Anh vàtiếng Pháp trong Tuyển tập án lệ Tòa án tối cao Canada Toàn văn bản án vàcác quyết định bằng lời nói được in cùng với một phần tóm tắt lý do đưa raphán quyết Vụ án đầu tiên được công bố và xuất bàn năm 1877 là một vụ xửphúc thẩm quyết định của Tòa án tối cao Đảo Hoàng tử Edward vào năm 1876.Các tuyển tập ban đầu được đánh sổ thứ tự từ 1 đến 64, sau đó vào năm 1923bắt đầu được đánh số theo năm xuất bản Vào năm 1975, Tuyển tập án lệ đượcxuất bàn hai số một năm và bắt đầu từ năm 1990, tăng lên 3 đến 4 số một năm,mỗi số gồm có khoảng 4 đền 6 phần được xuất bản định kỳ, trong mỗi tuyểntập đều có phụ lục các vụ án được công bố Bản mềm phán quyết của Tòa ánđược công bố vào cùng ngày phán quyết được đưa ra
Thư viện
Với khoảng 300.000 đầu tài liệu, thư viện Tòa án tối cao Canada là cơ sở
dữ liệu quan trọng cho Tòa án tham khảo trong việc thực hiện chức năng xét
xử các vấn đề có tầm quan trọng đối với cộng đồng Tài liệu tại thư viện gồm
có các đạo luật, tuyển tập án lệ, tạp chí và tài liệu chuyên ngành từ các quốcgia thông luật và dân luật như Canada, Anh, Australia, New Zealand, Pháp và
Bỉ Những tài liệu của thư viện đều có bản mềm được cập nhật trên những hệthống và cơ sở dữ liệu điện tử Thư viện hiện lưu trữ rất nhiều sách quý được
in ấn từ thế kỷ 16, 17 và 18 của Anh và Pháp Ngoài việc phục vụ cho hoạtđộng của Tòa án tối cao, thư viện còn có các dịch vụ cho Luật sư tranh tiếng tạiTòa án và các Luật sư thuộc các Liên đoàn, giảng viên và sinh viên luật, vàtrong một số trường hợp cho phép, cho các nhà nghiên cứu và người dân có
Trang 30quan tâm.
- Văn phòng ủy viên các vấn đề tư pháp liên bang Văn phòng ủy viên các vấn đề tư pháp liên bang Canada (FJA) được thành lập vào năm 1978 theo Luật Nghị Viện Canada nhằm bảo vệ tính
độc lập của hệ thống Tòa án và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ hành chính cho cácThẩm phán cấp liên bang, hoàn Toàn độc lập với Bộ Tư pháp Văn phòng FJA
có chức năng nâng cao chất lượng quản lý tư pháp và hỗ trợ cho hệ thống Tòa
án liên bang
Chức năng và nhiệm vụ của Văn phòng gồm có:
• Giám sát việc thực thi Phần I Đạo luật Thẩm phán liên quan đến điều kiện bổ nhiệm, tuổi nghỉ hưu và lương của các Thẩm phán cấp liên bang;
• Xây dựng kế hoạch ngân sách, cung cấp cán bộ và hoạt động hỗ trợ cho Hội đồng Tư pháp Canada;
• Quản lý hoạt động của Ban Thư ký bổ nhiệm tư pháp với 17 ủy ban tưvấn có chức năng đánh giá năng lực ứng viên cho các chức danh tư pháp liên bang Gầnđây, Bộ trưởng Tư pháp giao cho Văn phòng thẩm quyền giám sát quá trình bổ nhiệmThẩm phán Tòa án tối cao Canada;
• Quản lý hoạt động của Bộ phận xuất bản và công bố án lệ, là đơn vi chịutrách nhiệm chọn lựa và công bố các phán quyết của Tòa án liên bang và Tòa phúc thẩmliên bang bằng cả hai ngôn ngữ, tiếng Anh và tiếng Pháp;
• Quản lý mạng nội bộ JUDICOM, cung cấp cho các Thẩm phán các tiện ích như thư điện tử, hệ thống trao đổi thông tin nội bộ an Toàn và thư viện điện tử;
• Đào tạo ngoại ngữ cho Thẩm phán bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp;
• Điều phối các hoạt động hợp tác quốc tế của hệ thống Tòa án Canada.Văn phòng có Chủ nhiệm Văn phòng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng, 06 Vụ
trưởng và 70 cán bộ
1.4.2.6 Ở Liên bang Nga
- Quản lý Tòa án ở Tòa án Hiến pháp liên bang
Trang 31Công tác quản lý hành chính của Tòa án Hiến pháp Liên bang thuộc tráchnhiệm của Cơ quan Tòa án Hiến pháp Cơ quan này bao gồm Ban Thư ký vàcác bộ phận khác.
Ban Thư ký chịu trách nhiệm về tổ chức, phân tích khoa học, giúp cácThẩm phán chuẩn bị hồ sơ xét xử và các vấn đề khác đề xem xét tại các phiênhọp và hội nghị, nghiên cứu và tổng hợp hoạt động của Tòa án Hiến pháp vớimục đích đảm bảo cho các quyết định của Tòa án được thi hành
Các bộ phận khác của Cơ quan Tòa án Hiến pháp chịu trách nhiệm bảođảm về các mặt vật chất - kỹ thuật và các hoạt động nội bộ khác của Tòa án.Tòa án Hiến pháp có Hội đồng cố vấn khoa học và Phòng báo chí
- Quản lý Tòa án thẩm quyền chung ở Liên bang Nga Quản lý Toà án tối cao
Ở Tòa án tối cao, Cơ quan Tòa án tối cao có chức năng bảo đảm cho hoạtđộng của Tòa án tối cao Cơ cấu và thành phần của Cơ quan Tòa án tối cao được phêchuẩn theo quyết định của Chánh án Tòa án tối cao Các Vụ, Cục và các bộ phận khácthuộc cơ cấu Cơ quan Tòa án tối cao được thành lập phù hợp với danh mục Quy định vềdanh mục chức vụ dân sự của nhà nước liên bang Cơ quan Tòa án tối cao gồm các đơn
vị sau: Ban Thư ký của Chánh án Tòa án tối cao; Ban Thư ký của Phó Chánh án thứ nhất;
Vụ phân tích và tổng kết thực tiễn xét xử; Vụ pháp luật; Văn phòng quản lý; Vụ Tổ chứccán bộ và công vụ; Vụ kế hoạch tài chính; Vụ kinh tế; Phòng 1; Phòng thông tin đạichúng; Phòng kiểm soát đặc biệt; Phòng xác thực bàn án xét xử theo thủ tục giám đốcthẩm; Phòng thông tin pháp lý; Phòng pháp luật quốc tế và các ban thư ký của Hội đồngThẩm phán, của Đoàn Chủ tịch, của các Tòa chuyên trách và Tòa phúc thẩm Tòa án tốicao
Quản lý các Tòa án cấp dưới Tòa án tố cao
Trước 31/12/1996, việc quản lý về tổ chức các Tòa án cấp dưới Tòa án
26
Trang 32tối cao được giao cho Bộ Tư pháp Liên bang Nga Luật Hiến pháp Liên bangNga về hệ thống Tòa án Liên bang Nga ngày 31/12/1996 đã quy định việcthành lập Tổng Cục tư pháp bên cạnh Tòa án tối cao Liên bang Nga (Điều 30
và Điều 31) Theo đó, Tổng Cục tư pháp đã được thành lập theo Luật liên bang
về Tổng Cục tư pháp bên cạnh Tòa án tối cao Liên bang Nga ngày 08/01/1998
Tổng Cục tư pháp có chức năng bảo đảm về mặt tổ chức (cán bộ, tảichính, cơ sở vật chất…) cho hoạt động của các Tòa án Tổng Cục tư pháp vàcác đơn vị của Tổng Cục tại các chủ thể của Liên bang Nga (gồm 83 đơn vịhành chính) có tư cách pháp nhân
Tổng Cục trưởng Tổng Cục tư pháp do Chánh án Toà án tối cao Liênbang Nga bổ nhiệm và miễn nhiệm với sự đồng ý của Hội đồng Thẩm phánLiên bang Nga
Tổng Cục trưởng Tổng Cục tư pháp tương đương Bộ trưởng liên bang(khoản 2 Điều 8 Luật về Tổng Cục tư pháp)
Cơ cấu của Tổng Cục tư pháp gồm các đơn vị sau (khoản 1 Điều 7):
- Cục bảo đảm tổ chức - pháp lý cho hoạt động của Tòa án;
- Cục bảo đảm hoạt động của Tòa án quân sự;
- Cục tài chính - kinh tế;
- Phòng đảm bảo công vụ và cán bộ;
- Phòng giám sát - thanh tra;
- Phòng theo dõi án;
- Phòng xây dựng cơ bản và sử dụng trụ sở, nhà cửa;
- Ban về đào tạo và các cơ sở giáo dục;
- Ban hợp tác pháp luật quốc tế
- Phụ trách việc lo kinh phí cho ngành Tòa án: sau khi thống nhất ý kiến 27
Trang 33với Chánh án Tòa án tối cao Liên bang Nga và Hội đồng Thẩm phán Liên bangNga, Tổng Cục tư pháp đệ trình Chính phủ kiến nghị cấp kinh phí hàng nămcho Tòa án trong thời hạn Chính phủ ấn định Sau khi được phê duyệt, TổngCục thực hiện cấp ngân sách cho ngành Tòa án từ kinh phí liên bang Ngânsách của Tổng Cục tư pháp là ngân sách riêng;
- Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Tòa án và đưa ra giải pháp hoànthiện các hoạt động đó; đề nghị Tòa án tối cao Liên bang Nga thành lập hoặc giải thể Tòa
án theo thủ tục luật định;
- Xác định nhu cầu nhân sự cho các Tòa án; bảo đảm việc lựa chọn và đàotạo các ứng viên chức vụ Thẩm phán; phối hợp với các cơ sở đào tạo trong việc đào tạo
và nâng cao năng lực của Thẳm phán và nhân viên làm việc trong bộ máy Tòa án;
- Thực hiện các công việc cụ thềể về quản lý hành chính ngành Tòa án nhưđiều động Thẩm phán, thống kê - tổng hợp, xây dựng trụ sở, cung cấp trang thiết bị…
1.4.3 Mô hình kết hợp do đơn vi tự quản độc lập của Tòa án và Bộ Tư
pháp cùng thực hiện ở Cộng hòa Pháp
1.4.3.1 Quản lý hệ thống Tòa án tư pháp
a) Bộ Tư pháp có chức năng quản lý thống nhất hệ thống Tòa án: đề ranhững định hướng lớn, xây dựng những khuôn khổ chung cho hoạt động quản lý Tòa áncác cấp, quản lý nhân sự, xây dựng và cấp ngân sách cho Tòa án các cấp
Bộ Tư pháp có 5 vụ chức năng trực tiếp liên quan đến vấn đề quản lý Tòa
án, gồm: Vụ quản lý Tòa án, có nhiệm vụ quản lý đội ngũ Thẩm phán, cán bộTòa án, xác định số lượng biên chế Thẩm phán cho Tòa án các cấp, xây dựngcác nguyên tắc chung trong việc quản lý Tòa án các cấp; Vụ dân sự và ấn tín,
có trách nhiệm xây dựng các dự thảo văn bản pháp luật và pháp quy
28
Trang 34trong lĩnh vực luật tư pháp, thực hiện quản lý đối với các nghề luật và nghề bổtrợ tư pháp, giải quyết các vấn đề về quốc tịch, thực hiện vai trò tư vấn đối vớicác cơ quan chức năng khác, phối hợp với Vụ Hợp tác quốc tế giải quyết cácvấn đề đặt ra trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, xây dựng các văn bản áp dụng cácđiều ước quốc tế trong lĩnh vực dân sự và thương mại vào nội địa; Vụ hình sự
và ân xá, có trách nhiệm theo dõi các hoạt động xét xử hình sự của Tòa án cáccấp hoạt động điều tra của cành sát tư pháp, đề xuất các dự án sửa đổi, bổ sungcác quy định pháp luật trong lĩnh vực hình sự, cảnh sát tư pháp, xây dựng cácthông tư hướng dẫn áp dụng các văn bản pháp luật trong lĩnh vực này, quản lý
hồ sơ, lý lịch tư pháp trên Toàn quốc; Vụ quản lý trại giam, có trách nhiệmquản lý hệ thống các cơ sở giam giữ trên Toàn quốc, tham gia xây dựng cácvăn bàn pháp luật trong lĩnh vực có liên quan, Vụ hành chính tổng hợp vàtrang thiết bị là Vụ cuối cùng tham gia quản lý Tòa án Vụ hành chính tổnghợp có đặc thù là thành phần chỉ bao gồm các công chức Nhà nước, chứ không
có các Thẩm phán như các Vụ khác Vụ hành chính tổng hợp và trang thiết bị
có trách nhiệm phối hợp với Vụ quản lý Tòa án chuẩn bị dự án ngân sách cho
hệ thống Tòa án, quản lý cơ sở vật chất của Tòa án các cấp, điều phối thựchiện chính sách trang bị cơ sở vật chất, tin học hoá cho Tòa án các cấp
Bên cạnh 05 Vụ chức năng trên, còn có hai bộ phận độc lập khác: Vụquan hệ quốc tế, có chức năng phối hợp với Vụ dân sự và ấn tin giải quyếtnhững vấn đề trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, xây dựng các dự thảo văn bảntrong lĩnh vực có liên quan, thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế Bộ phậnthứ hai là Vụ thanh tra Tòa án trực thuộc Bộ Tư pháp, có nhiệm vụ kiểm tra,giám sát hoạt động của Toàn bộ hệ thống Tòa án, trừ Tòa phá án Ngoài ra, Vụthanh tra Tòa án thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao, như cung cấpthông tin, nghiên cứu các dự án cải cách đang tiến hành, tham gia
Trang 35thủ tục xử lý kỷ luật đối với Thẩm phán.
Trong số các cơ quan chức năng trên, có hai cơ quan chính có liên quantrực tiếp đến việc quản lý Tòa án đó là Vụ quản lý Toà án và Vụ hành chínhtổng hợp và trang thiết bị
• Về quản lý nhân sự: Bộ Tư pháp quyết định số lượng Thẩm phán, số
lượng công chức làm việc trong các Tòa án và phân bổ công chức giữa các Tòa án, trừTòa phá án Toàn bộ công chức làm việc trong các Tòa án (như lục sự) được đào tạo ởTrường lục sự quốc gia do Bộ Tư pháp quản lý
• Về cấp ngân sách cho các Tòa án các cấp: Trước hết các Tòa án địa
phương (Tòa án sơ thẩm thẩm quyền rộng, Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp, Tòa lao động
sơ thẩm, Tòa thương mại sơ thẩm…) chuẩn bị các đề nghị cấp ngân sách của mình Sau
đó, các Tòa án thuộc địa hạt tư pháp sẽ họp để cân đối, hài hòa đề nghị cấp ngân sáchgiữa các Tòa Tiếp theo, lãnh đạo Tòa án sơ thẩm thẩm quyền rộng gửi đề nghị cấp ngânsách đó lên Tòa phúc thẩm Sau khi kiểm tra các yêu cầu cấp ngân sách, lãnh đạo Tòaphúc thẩm gửi đề nghị cấp ngân sách lên Bộ Tư pháp Trên cơ sở tập hợp đề nghị của cácTòa án, Bộ Tư pháp đề nghị Chính phủ, cụ thể là Bộ Tài chính cấp ngân sách Sau khiđược cấp ngân sách, Bộ Tư pháp cấp cho các Tòa phúc thẩm một khoản ngân sách tổngthể, Tòa án phúc thẩm phân bổ cho Tòa án sơ thẩm thẩm quyền rộng, cuối cùng Tòa án
sơ thẩm thẩm quyền rộng phân bồ ngân sách cho các Tòa án trong địa hạt tư pháp
• Tòa phá án có ngân sách riêng Tuy nhiên, việc cân đối, cấp ngân sách
cho Tòa phá án cũng thuộc thẳm quyền của Bộ Tư pháp, theo một chu trình giống nhưđối với các Tòa án khác
b) Các Tòa án phúc thẩm được Bộ Tư pháp phân cấp quản lý các Tòa ánđịa phương Để thực hiện chức năng này, lãnh đạo Tòa án phúc thẩm (Chánh
án và Viện trưởng Viện Công tố) có sự hỗ trợ của bộ máy hành chính giúp
30
Trang 36việc và của các Thẩm phán được ủy quyền phụ trách một số lĩnh vực cụ thể:Ban quản lý hành chính vùng gồm Lục sự trưởng, các công chức làm việctrong bộ phận lục sự, có trách nhiệm thực hiện một số nhiệm vụ quản lý dưới
sự chỉ đạo và giám sát của lãnh đạo Tòa án phúc thẩm; các Thẩm phán được
ủy quyền bao gồm: Thẩm phán được ủy quyền phụ trách trang thiết bị, Thẩmphán được ủy quyền phụ trách đào tạo
Lãnh đạo Tòa án phúc thẩm có trách nhiệm xây dựng và thực hiện ngânsách thuộc phạm vi quản hạt, quản lý nguồn nhân lực, tham gia xây dựngchương trình trang bị cơ sở vật chất cho các Tòa án; quản lý hoạt động xét xửcủa các Tòa án địa phương
Ở cấp thấp hơn, theo sự ủy quyền của lãnh đạo Tòa án phúc thẩm, lãnh đạoTòa án sơ thẩm thẩm quyền rộng có trách nhiệm quản lý hoạt động của các Tòa án nằmtrong địa hạt tư pháp
Trang 37chính pháp Đảng Cộng sản Trung Quốc do Ủy viên Bộ Chính trị đứng đầu Ởcấp tỉnh, cấp huyện đều có các Ủy ban chính pháp Các ủy ban chính pháp lãnhđạo giám sát, quản lý, chỉ đạo các Tòa án nhân dân thông qua hệ thống Đảng,
và qua các Hội đồng nhân dân
Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc phối hợp với cơ quan Đảng và chínhquyền địa phương quản lý Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức
Hội đồng nhân dân địa phương chịu trách nhiệm cấp kinh phí cho các Tòa
án địa phương tại Trung Quốc Từng Tòa án địa phương chịu trách nhiệm vềngân sách của mình, nhưng kinh phí của Tòa án lại phụ thuộc rất lớn vào ngânsách do các cơ quan chính quyền địa phương phân bổ
Như vậy, phần lớn các quốc gia áp dụng mô hình tự quản do một đơn vị
“trực thuộc Tòa án” độc lập với cơ quan lập pháp, hành pháp quản lý trongviệc quản lý hành chính Tòa án Tuy nhiên, trong mô hình này cũng có sự khácbiệt giữa các quốc gia:
• Ở Hoa Kỳ, Canada, Liên bang Nga, cơ quan quản lý Tòa án là đơn vịđộc lập không nằm trong cơ cấu bộ máy của Tòa án tối cao nhưng có thể gọi là “trựcthuộc” Tòa án tối cao vì lãnh đạo cơ quan này do Chánh án Tòa án tối cao bổ nhiệm theo
sự tham vấn của Hội nghị tư Pháp hoặc Hội đồng Thẩm phán Cơ quan này hoạt độngtheo kế hoạch đã được Hội nghị tư pháp hoặc Hội đồng Thẩm phán thông qua và chịu sựgiám sát trực tiếp của Hội nghị hoặc Hội đồng này
• Ở Nhật Bản, Hàn Quốc, cơ quan quản lý Tòa án nằm trong cơ cấu bộ máy của Tòa án tối cao
Theo tác giả, Việt Nam nên nghiên cứu kinh nghiệm của một trong nhữngquốc gia thực hiện việc quản lý Tòa án theo mô hình này, đặc biệt là kinhnghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc để đổi mới công tác quản lý Tòa án trongtình hình mới
32
Trang 38TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Như vậy, việc quản lý Toà án nhân dân về mặt tổ chức trong các giaiđoạn từ 1945 - 2002 chủ yếu do Bộ Tư pháp hoặc Toà án nhân dân tối cao thựchiện Tuy nhiên, theo quy định của các bản Hiến pháp và các Luật tổ chức Toà
án nhân dân thì Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, cácToà án quân sự và các Toà án khác là những cơ quan xét xử của nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong phạm vi chức năng của mình, các Toà
án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủnghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tậpthể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; Khithực hiện chức năng xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theopháp luật
Đây chính là các vấn đề chủ yếu quyết định tính chất, tổ chức, hoạt động
và phương thức quản lý Nhà nước đối với các Toà án
Trang 39Chương 2
MÔ HÌNH QUẢN LÝ TÒA ÁN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY VỚI YÊU
CẦU ĐẢM BẢO THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP
CỦA TÒA ÁN VÀ SỰ ĐỘC LẬP CỦA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ 2.1 Mô hình quản lý Toà án của Việt Nam hiện nay
2.1.1 Hệ thống tòa án nhân dân theo pháp luật hiện hành
2.1.1.1 Về tổ chức tòa án nhân dân
Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 ởnước ta có các tòa án sau: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao;Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dânhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự[1,3] Tổ chức bộ máy của các Toà án được quy định theo hướng chuyên mônhoá nhưng linh hoạt, tránh cồng kềnh, gây tốn kém, lãng phí
Thứ nhất, Tòa án nhân dân tối cao
Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, việc đổi mới tổ chức vàhoạt động của Tòa án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn với Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có từ 13 đến 17 Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao; Tòa án nhân dân tối cao không thực hiện nhiệm vụ xét xử phúcthẩm mà chỉ thực hiện nhiệm vụ giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác; xét
xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán hoặcHội đồng Toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; tổng kết thực tiễn xétxử; bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; quản lý các Toà án về
tổ chức; xây dựng pháp luật theo sự phân công của Quốc hội, Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội; bổ sung nhiệm vụ đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao nănglực, trình độ của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác của Tòaán; đồng thời, để cụ thể hóa quy định tại khoản 1
Trang 40Điều 104 của Hiến pháp về việc “Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xửcao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, tại khoản 4 Điều 22của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định: “Quyết định giám đốcthẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao là quyết định cao nhất,không bị kháng nghị”.
Bên cạnh đó, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ
“lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhândân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực củacác Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa ánnghiên cứu, áp dụng trong xét xử” Việc bổ sung nhiệm vụ lựa chọn, phát triển
và ban hành án lệ của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sẽ đápứng yêu cầu phải kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong côngtác xét xử, khắc phục tình trạng quá tải và chậm ban hành văn bản hướng dẫn
áp dụng pháp luật Hơn nữa, việc công bố án lệ sẽ giúp người dân nắm rõđường lối xét xử, dự báo được kết quả những vụ việc có liên quan đến quyền
và lợi ích của họ Về phía Tòa án, tham khảo án lệ, phân tích thiếu sót trongnhững vụ án xét xử trước đó cũng sẽ giúp Thẩm phán rút kinh nghiệm, hạn chếviệc kết án oan, sai Với việc lựa chọn, ban hành án lệ, xác định trách nhiệmcủa Thẩm phán và Hội đồng xét xử phải nghiên cứu, làm theo, chắc chắn sẽ cóhiệu quả rất lớn trong việc hạn chế đến mức thấp nhất các vụ việc xét xử oan,sai, hạn chế việc “lách luật” do tiêu cực của những người tiến hành tố tụng,luật sư và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và do
đó về mặt xã hội, việc xây dựng và phát triển án lệ là một trong những phươngthức hữu hiệu để bảo đảm công lý, góp phần duy trì, ổn định trật tự pháp luậttrong đời sống xã hội
Thứ hai, Tòa án nhân dân cấp cao