Kết quả nghiên cứu đã đạt được và các nhận định chính: Nghiên cứu đã khám phá và kiểm định 08 nội dung hỗ trợ thiết thực theo nhu cầu doanh nghiệp khởi nghiệp và bổ sung vào mô hình
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Mã số : 8340101
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HUỲNH THANH ĐIỀN
Trang 3XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin cảm ơn người hướng dẫn khoa học của tôi – TS Huỳnh Thanh Điền - Giảng viên hướng dẫn trực tiếp của tôi Cảm ơn vì Thầy đã luôn dành thời gian quý báu mỗi khi tôi gặp phải rắc rối hoặc có câu hỏi về vấn đề nghiên cứu của mình Thầy vẫn luôn cho phép tôi tự do bày tỏ quan điểm dồng thời đưa ra những nhận xét, góp ý, dẫn dắt tôi đi đúng hướng trong suốt thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ
Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô trong khoa Quản trị kinh doanh – Trường Đại học Nguyễn Tất Thành đã truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên sâu
về chuyên ngành trong suốt thời gian học tập để tôi có được nền tảng kiến thức
hỗ trợ rất lớn cho tôi trong quá trình làm luận văn thạc sĩ
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè vì đã luôn hỗ trợ tôi và khuyến khích liên tục trong suốt những năm học tập và qua quá trình nghiên cứu và viết luận văn này Thành tựu này sẽ không thể có được nếu không
có họ
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5TÓM TẮT
Chủ đề và mục tiêu của nghiên cứu: Luận văn lựa chọn chủ đề nghiên
cứu: “Đổi mới mô hình ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực
nông nghiệp công nghệ cao tại Thành phố Hồ Chí minh” nhằm mục tiêu
nghiên cứu cải tiến mô hình ươm tạo doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với nhu cầu của thị trường, qua đó góp phần hỗ trợ hình thành và phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và chế biến sau thu hoạch có ứng dụng công nghệ cao
Phương pháp chính của nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện chủ
yếu thông qua phương pháp thí nghiệm tình huống Tình huống được lựa chọn thí nghiệm là quyết định tham gia chương trình ươm tạo trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thí nghiệm được thực hiện trên các lãnh đạo doanh nghiệp khởi nghiệp
Kết quả nghiên cứu đã đạt được và các nhận định chính: Nghiên cứu
đã khám phá và kiểm định 08 nội dung hỗ trợ thiết thực theo nhu cầu doanh nghiệp khởi nghiệp và bổ sung vào mô hình ươm tạo doanh nghiệp tại Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao nhằm nâng cao số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp tham gia ươm tạo, giúp các doanh nghiệp có thể vượt qua những khó khăn ban đầu trong quá trình hình thành và phát triển gồm: Cập nhật các quy định, chính sách của Chính phủ về hỗ trợ khởi nghiệp Đồng thời, đề xuất các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp thiết thực; Tăng cường thuê dịch vụ tư vấn, chuyên gia tư vấn cũng như tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ nhân sự cho các doanh nghiệp ươm tạo; Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, máy móc thiết bị hỗ trợ khởi nghiệp đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp ươm tạo với đa dạng lĩnh vực; Tăng cường kết nối nguồn lực cho doanh nghiệp ươm tạo: Sở - Ban – Ngành; Tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp; Quỹ đầu tư; Đối tác - khách hàng…; Đẩy mạnh các hoạt động triển lãm sản phẩm, nâng cao thương hiệu, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường cho doanh nghiệp ươm tạo; Tăng cường hoạt động tư vấn, hỗ trợ đăng ký các chứng nhận, kiểm định cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ươm tạo; Đẩy mạnh kết nối doanh nghiệp ươm tạo với mạng lưới khởi nghiệp trong khu vực và thị trường quốc tế; Nâng cao tiêu chí xét duyệt (đầu vào, đầu ra) cho chương trình ươm tạo nhằm đảm bảo chất lượng các doanh nghiệp khởi nghiệp tham gia ươm tạo
Các kết luận và đề xuất chính: Để thực hiện thành công mô hình ươm
tạo doanh nghiệp cải tiến đã được nghiên cứu và hiệu chỉnh, nếu những hành động thiết thực mà Trung tâm Ươm tạo thực hiện nhằm thúc đẩy tinh thần khởi
Trang 6nghiệp trong cộng đồng là điều kiện “đủ” thì chính các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp của Thành phố là những điều kiện “cần” để góp phần nâng cao và đẩy mạnh hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Thành phố và đất nước
Từ khóa: Ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp
Trang 7ABSTRACT
Research topics and objectives: Dissertation choose a research topic:
“The solution to complete the startup business incubation model in the field
of high-tech agriculture in Ho Chi Minh City” to the purpose of researching
and improving the business incubation model in the field of high-tech agriculture to match the needs of the market, then contributing to the formation and development of start-up businesses in the field of agricultural production and post-harvest processing with high-tech applications
Main method of research: The research was carried out mainly through
the case experiment method Situation is selected for the experiment is decided
to join the incubation program in the field of high-tech application of agriculture, experiments conducted on startup business leaders
Research results and main conclusions: Research has discovered and
tested 08 practical support contents according to the needs of start-ups and added to the business incubation model in Center for Business Incubation of Agricultural High Technology to increase the number of startups participating
in incubation, help businesses overcome initial difficulties in the process of formation and development, such as: Updating the Government's regulations and policies on startup support Simultaneously, proposing practical start-up support policies; Increase hiring of consulting services and consultants as well
as training to improve the capacity of human resources for incubators; Continue
to invest in facilities, machinery and equipment to support start-ups to response the actual needs of incubators in a variety of fields; Strengthening resource connection for incubators: Department of the Socialist Republic of Viet Nam; Start-up support organization; Investment funds; Partners – customers…; Promote product exhibition activities, brand enhancement, trade promotion, market expansion for incubators; Strengthen consulting activities, support registration of certifications and verify necessary for the production and business activities of the incubator; Promote connection of incubators with start-
up networks in the region and international markets; Improve the review criteria (input, output) for the incubation program to ensuring the quality of startups participating in incubation
Main conclusions and propose: To successfully implement an improved
business incubation model that has been researched and calibrated if practical actions taken by the Center for Business Incubation of Agricultural High Technology to romote entrepreneurship spirit in the community is "enough"
Trang 8condition then it is the City's start-up support policies that are the "necessary" conditions to contribute to enhancing and promoting the innovation and start-
up activities of the City and the country
Keywords: Start-up business incubatio
Trang 9LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Lê Thị Bé Ba, học viên cao học ngành Quản Trị Kinh Doanh - Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
Tôi xin cam đoan luận văn “Đổi mới mô hình ươm tạo doanh nghiệp
khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao tại Thành phố Hồ Chí Minh” được bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS
Huỳnh Thanh Điền, các số liệu thu thập được là hoàn toàn trung thực và kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tp.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận văn
Lê Thị Bé Ba
Trang 10MỤC LỤC
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG… i
LỜI CÁM ƠN… ii
TÓM TẮT… iii
ABSTRACT… iv
LỜI CAM ĐOAN v
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU ix
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 1
1.1 Các khái niệm 1
1.1.1 Khác biệt giữa khởi nghiệp và lập nghiệp 1
1.1.2 Nhà khởi nghiệp 1
1.1.3 Năng lực nhà khởi nghiệp (Entrepreneurial competencies - EC) 4
1.2 Lý thuyết về môi trường kinh doanh và môi trường khởi nghiệp 9
1.2.1 Môi trường kinh doanh (Business environment – BE) 9
1.2.2 Lý thuyết các yếu tố quyết định đầu tư ở khu vực tư nhân 11
1.2.3 Môi trường khởi nghiệp (Startup environment – SE) 12
1.2.4 Kết quả hoạt động của doanh nghiệp 14
1.2.5 Đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp 16
1.3 Mối quan hệ giữa năng lực nhà khởi nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp 19
1.4 Hệ sinh thái khởi nghiệp 22
1.4.1 Cơ chế chính sách hỗ trợ cho khởi nghiệp sáng tạo (gồm cơ chế chính sách thu hút nguồn lực cho khởi nghiệp sáng tạo và tạo môi trường thuận lợi cho khởi nghiệp sáng tạo) 22
1.4.2 Các hoạt động nhằm nâng cao năng lực cho các chủ thể hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo 24
1.4.3 Các hoạt động tạo môi trường cho khởi nghiệp sáng tạo 25
1.5 Khung phân tích của nghiên cứu 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ƯƠM TẠO 32
KHỞI NGHIỆP TẠI TP.HCM 32
Trang 11vi
2.1 Thách thức của các doanh nghiệp khởi nghiệp hiện nay 32
2.1.1 Thách thức của SME nói chung 32
2.1.2 Hiện trạng của các doanh nghiệp khởi nghiệp nông nghiệp công nghệ cao 33 2.1.3 Thực trạng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 34
2.2 Thực trạng HST KN trong lĩnh vực NNCNC ở TPHCM 35
2.2.1 Khoa học và công nghệ 35
2.2.2 Nguồn vốn & đầu tư 40
2.2.3 Tư vấn/tập huấn nâng cao năng lực 41
2.3 Thực trạng ươm tạo doanh nghiệp 43
2.3.1 Sự phát triển và vai trò của vườm ươm doanh nghiệp 43
2.3.2 Hoạt động của một số Trung tâm ươm tạo tại Việt Nam 43
2.4 Mô hình ươm tạo doanh nghiệp tại Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao 45
2.4.1 Các giai đoạn hỗ trợ ươm tạo 45
2.4.2 Mô hình ươm tạo doanh nghiệp 46
2.4.3 Đối tượng hoạt động tại Trung tâm ươm tạo 46
2.4.4 Các lĩnh vực ươm tạo 46
2.4.5 Các hoạt động ươm tạo chính 47
2.4.6 Qui trình ươm tạo doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao tại Trung tâm ươm tạo 48
CHƯƠNG 3 LỰA CHỌN MÔ HÌNH VÀ GIẢI PHÁP ƯƠM TẠO 49
DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO 49
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 49
3.1 Lựa chọn mô hình 49
3.1.1 Các mô hình đề xuất 49
3.1.2 Lựa chọn mô hình 50
3.2 Hiệu chỉnh mô hình ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao cải tiến 58
3.2.1 Khảo sát và lấy ý kiến 58
3.2.2 Mô hình ươm tạo doanh nghiệp sau khi hiệu chỉnh 60
Trang 12vi
3.3 Giải pháp ươm tạo doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao 63
3.3.1 Xây dựng các tiêu chuẩn cụ thể cho doanh nghiệp khi tham gia chương trình ươm tạo (đầu vào) và tốt nghiệp chương trình ươm tạo (đầu ra): 63 3.3.2 Hoạt động hỗ trợ trong quá trình ươm tạo 65
3.3.3 Kết nối chuyển giao ứng dụng KHCN 65
3.3.4 Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ tài chính 66
3.3.5 Tăng cường trợ giúp thực hiện các hoạt động tiếp thị 66
3.3.6 Tiếp tục phát triển, mở rộng liên kết mạng lưới: 66
3.3.7 Chăm sóc sau tốt nghiệp/Hoạt động hậu ươm tạo 67
3.3.8 Xây dựng các chương trình đặc thù được thiết kế theo yêu cầu riêng của doanh nghiệp 67
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 01: ĐỀ CƯƠNG MÔ HÌNH THÍ NGHIỆM KHÁM PHÁ NHỮNG HẠN CHẾ TRONG MÔ HÌNH ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP TẠI TRUNG TÂM ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO 79 PHỤ LỤC 02: ĐỀ CƯƠNG MÔ HÌNH THÍ NGHIỆM KHÁM PHÁ CÁC GIẢI PHÁP THIẾT THỰC GIÚP CẢI TIẾN MÔ HÌNH ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP TẠI TRUNG TÂM ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO 80
PHỤ LỤC 03: ĐỀ CƯƠNG MÔ HÌNH THÍ NGHIỆM KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP CẢI TIẾN TẠI TRUNG TÂM ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO 81
PHỤ LỤC 04: ĐỀ XUẤT MẪU BẢNG ĐÁNH GIÁ KẾ HOẠCH KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH ƯƠM TẠO 82
PHỤ LỤC 05: ĐỀ XUẤT MẪU BẢNG ĐÁNH GIÁ XÉT DUYỆT TỐT NGHIỆP CỦA DOANH NGHIỆP THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH ƯƠM TẠO……… 86
Trang 13DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 - Danh sách các doanh nghiệp tham gia hoạt động khảo sát cho nghiên
cứu nhằm khám phá những hạn chế trong mô hình ươm tạo doanh nghiệp 52
Bảng 3.2 - Danh sách các doanh nghiệp tham gia hoạt động khảo sát cho nghiên
cứu nhằm tìm ra các giải pháp thiết thực giúp cải tiến mô hình ươm tạo doanh
nghiệp 54
Bảng 3.3 - Danh sách các doanh nghiệp tham gia hoạt động khảo sát cho nghiên
cứu nhằm kiểm định mô hình ươm tạo doanh nghiệp 59
Bảng 3.4 - Kết quả thống kê thu được sau hoạt động khảo sát cho nghiên cứu
nhằm kiểm định mô hình ươm tạo doanh nghiệp 60
Trang 14DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 - Khung phân tích của luận văn 29 Hình 2.1 - Mô hình ươm tạo doanh nghiệp tại Trung tâm Ươm tạo Doanh
nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao 46
Hình 3.1 - Mô hình ươm tạo doanh nghiệp NNCNC hiện tại 49 Hình 3.2 - Mô hình ươm tạo doanh nghiệp NNCNC cải tiến 49 Hình 3.3 - Mô hình ươm tạo doanh nghiệp NNCNC cải tiến đã được kiểm
định 50
Hình 3.4 - Đề xuất mô hình ươm tạo doanh nghiệp cải tiến tại Trung tâm
Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao 58
Hình 3.5 - Đề xuất mô hình ươm tạo doanh nghiệp cải tiến đã hiệu chỉnh tại
Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao 62
Trang 151 Vấn đề nghiên cứu
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, có một tín hiệu đáng mừng là ngày càng nhiều bạn trẻ có trình độ cao, thậm chí đi du học ở nước ngoài quyết định về quê khởi nghiệp nông nghiệp và chế biến sau thu hoạch Việc làm này đã thổi một luồng gió mới vào nền nông nghiệp nước nhà, tạo ra những mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả
Bản thân startup đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp hiện cũng khá thuận lợi bởi đây là ngành nghề truyền thống, có nhiều chính sách ưu tiên phát triển Ngoài ra, kể từ khi Hiệp định EVFTA được ký kết và có hiệu lực, nông sản Việt Nam đã tạm thời không còn lo việc “được mùa mất giá” như trước Nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam hiện đã và đang nằm trong top đầu về xuất khẩu Bên cạnh những thuận lợi, vẫn tồn tại nhiều khó khăn mà các chủ startup cần đối mặt trên con đường khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao Khi lựa chọn gắn bó với nông nghiệp, đồng nghĩa các startup đã chọn một con đường gian khó Do đó, các doanh nghiệp cần tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, tìm hiểu kỹ về mô hình khởi nghiệp, chọn lựa rồi thử nghiệm chắc chắn Đặc biệt, cần tránh khởi nghiệp mang tính trào lưu, thiếu thực tế Các doanh nghiệp khởi nghiệp cần xác định đây là con đường dài, cần sự kiên trì và sức bền Một vấn đề nữa cần nói tới, đó là startup phải có sự liên kết, tạo thành một
hệ sinh thái hay một chuỗi giá trị hàng hóa chặt chẽ Đây là điểm khác biệt so với các lĩnh vực startup khác và cũng là điểm yếu mà các startup nông nghiệp Việt Nam cần cải thiện
Nhìn một cách tổng quát hơn, trong nhiều năm qua, lĩnh vực khởi nghiệp đang rất được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, đặc biệt là nghiên cứu
về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của một cá nhân Tinh thần khởi nghiệp được chú trọng ở nhiều quốc gia và được xem là cách thức để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm Khởi sự doanh nghiệp (KSDN) luôn có mối quan hệ rất chặt chẽ với phát triển kinh tế của một quốc gia Bởi vì doanh nghiệp là một trong những thành phần kinh tế chủ lực đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và tạo ra công ăn việc làm Khởi nghiệp là chìa khóa quan trọng để tăng trưởng kinh tế, chính vì vậy việc thúc đẩy giới trẻ khởi nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu của các nhà chính sách
Việt Nam sau khi chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang cơ chế thị trường đạt được nhiều thành tựu to lớn Đóng góp vào thành công đó là các doanh nghiệp tư nhân Vì thế để tạo sự phát triển không ngừng cho đất nước cần nhiều doanh nghiệp tư nhân vững mạnh Do vậy vấn đề khởi nghiệp đang được cả xã
Trang 16hội quan tâm Nhiều tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam đang phối hợp với nhà trường cố gắng tạo mọi điều kiện để hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp trong giới sinh viên thông qua tài trợ nhiều cuộc thi khuyến khích ý tưởng sáng tạo trong kinh doanh (SIFE, Dynamic, CFA IRC,…) Mặc dù, KSDN và vai trò doanh nhân luôn được đề cao, song Việt Nam hiện đang là nước có tỷ lệ KSDN rất thấp so với các nước trong khu vực Tỉ lệ người trưởng thành ở Việt Nam có ý định KSDN trong vòng 3 năm tới cũng ở mức rất thấp (24,1%), thấp hơn mức trung bình là 44,7% so với các nước phát triển Ở Việt Nam, tỷ lệ khởi nghiệp trong
DN năm 2015 đạt 0,6%, xếp thứ 51/60 nền kinh tế, thấp hơn mức trung bình 1,1% của các nước cùng trình độ phát triển với Việt Nam, các nước phát triển dựa trên nguồn lực đầu vào Để tạo điều kiện gia tăng thu hút khởi nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định triển khai Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025
Cụ thể, đến năm 2020 hoàn thiện hệ thống pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; thiết lập được cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; hỗ trợ được 800 dự án, 200 doanh nghiệp khởi nghiệp, trong đó 50 doanh nghiệp gọi được vốn thành công từ các nhà đầu tư mạo hiểm, thực hiện mua bán và sáp nhập, với tổng giá trị ước tính 1.000 tỉ đồng Đến năm 2025,
hỗ trợ phát triển 2.000 dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hỗ trợ phát triển
600 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; 100 doanh nghiệp tham gia
đề án gọi được vốn đầu tư từ các nhà đầu tư mạo hiểm, thực hiện mua bán và sáp nhập, với tổng giá trị ước tính khoảng 2.000 tỷ đồng
Đại dịch Covid có thể vừa là thách thức, vừa là cơ hội đối với các Startup Điều này tùy thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, giá trị cốt lõi,
mô hình kinh doanh và khả năng ứng phó rủi ro của từng Startup Chúng ta có thể ví đại dịch như một phép thử khả năng “sinh tồn” của hầu hết các ngành, doanh nghiệp Bởi lẽ:
Nói là thách thức vì trong đại dịch covid vừa qua, có tới 3/4 Startup tại khắp các quốc gia trong đó có Việt Nam phải tạm dừng, và không có hi vọng huy động được thêm vốn đầu tư trong ngắn hạn (Theo Tổng cục Thống kê, 5 tháng đầu năm nay, có gần 60 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2020)
Tuy nhiên, cũng chính trong bối cảnh khó khăn này, nhiều startup Việt lại có hoạt động hiệu quả và tăng trưởng mạnh mẽ Đồng thời, hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam vẫn phát triển và trở nên sôi động hơn bao giờ hết Cụ thể:
Theo báo cáo quý 1 do Quỹ đầu tư Nextrans công bố, trong 3 tháng đầu năm 2021 ghi nhận 16 thương vụ đầu tư vào các startup Việt Nam với tổng giá trị các khoản đầu tư đạt khoảng 150 triệu USD, tăng 50% so với mức 100 triệu
Trang 17USD trong quý 1/2020
Theo Tổng cụ Thống kê, những tháng đầu năm 22021, số lượng doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký lớn tăng mạnh (Số doanh nghiệp có vốn đăng ký từ 10 - 20 tỷ đồng tăng gần 25%; doanh nghiệp có vốn đăng ký
20 - 50 tỷ đồng tăng gần 17%; doanh nghiệp có vốn đăng ký 50 - 100 tỷ đồng hơn 36%; và doanh nghiệp có vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng tăng gần 53%)
Sự gia tăng về số lượng các doanh nghiệp có số vốn đăng ký lớn cho thấy niềm tin của cộng đồng khởi nghiệp đang dần được cải thiện, điều này có
ý nghĩa quan trọng thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay trong bối cảnh dịch bệnh vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp Tuy vậy cũng phải thừa nhận rằng, COVID-19 đang ảnh hưởng lớn đến đa phần các doanh nghiệp, trong đó có Startup
Sau đợt “càng quét” của đại dịch Covid thì vai trò của các vườn ươm càng trở nên quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các Startup Bởi lẽ, hầu hết các vườn ươm khởi nghiệp đều phải có những dịch vụ chung cơ bản cần đảm bảo như không gian làm việc, dịch vụ đào tạo, đội ngũ cố vấn dẫn dắt, xây dựng mạng lưới đằng sau để kết nối với các khách hàng tiềm năng của các start-up như các tập đoàn, công ty, nhà đầu tư… Điều này giúp cho các Startup có thể cắt giảm chi phí đầu tư ban đầu và hạn chế rủi ro khi mà nguồn lực của các doanh nghiệp gặp nhiều hạn chế, đặc biệt là trong giai đoạn sau dịch Covid
Nhận thấy được tầm quan trọng trong việc thúc đẩy tinh thần khởi sự doanh nghiệp của giới trẻ nói chung và đặc biệt là thúc đẩy ý định khởi sự doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hơn nữa, với nền kinh tế chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, quy mô và nội lực còn yếu như
ở Việt Nam thì việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thông qua các đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp, đặc biệt là các trung tâm ươm tạo doanh nghiệp là hướng đi không thể thiếu trong giai đoạn hiện nay
Trong thời gian vừa qua, hoạt động của các trung tâm ươm tạo doanh nghiệp đã tạo ra những chuyển biến mới về cách thức cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, tăng cường mạng lưới liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhau và với các đối tác trong và ngoài nước Mô hình ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp đã tạo nên một hệ thống dịch vụ kinh doanh đồng bộ, gắn kết thay vì các mô hình hỗ trợ dịch vụ đơn lẻ Thông qua các trung tâm ươm tạo doanh nghiệp, cùng với việc hình thành hệ thống chia sẻ thông tin,các mối liên kết giữa các doanh nghiệp khởi nghiệp và các chủ thể khác đã được tăng cường, góp phần nâng cao năng lực hoạt động, cạnh tranh cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong bối cảnh hội nhập Có thể nói, trung tâm ươm
Trang 18tạo doanh nghiệp là một trong những thành phần quan trọng trong hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, với nhu cầu phát triển mạnh mẽ hiện nay, đặc biệt là phong trào khởi nghiệp, các trung tâm ươm tạo doanh nghiệp, nhất là các cơ sở công lập, đã bắt đầu bộc lộ những hạn chế về điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp nói chung cũng như các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao nói riêng như: Hạ tầng
kỹ thuật, máy móc thiết bị không phù hợp và không đáp ứng được nhu cầu cần được hỗ trợ; Không kết nối được các nguồn lực cần thiết trong quá trình ươm tạo (Nhân lực, tài chính, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp của chính phủ…) Điều này khiến các doanh nghiệp khởi nghiệp không còn quan tâm và tham gia vào chương trình ươm tạo doanh nghiệp Đó cũng là lý do tác giả lựa chọn đề tài:
“Đổi mới mô hình ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao tại Tp Hồ Chí minh” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu cải tiến mô hình ươm tạo doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với nhu cầu của thị trường, qua đó góp phần hỗ trợ hình thành và phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và chế biến sau thu hoạch có ứng dụng công nghệ cao
Mục tiêu cụ thể: Để giải quyết mục tiêu tổng quát trên, các thực hiện các
- Đề xuất và thí nghiệm mô hình ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp
- Đề xuất giải pháp triển khai mô hình ươm tạo doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao tại Tp Hồ Chí Minh
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Các điều kiện nào cần thiết để hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp nói chung và doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao nói riêng?
- Thực trạng khởi nghiệp và hoạt động ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp tại Tp Hồ Chí Minh như thế nào?
- Mô hình ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp cho kết quả thí nghiệm như thế nào?
Trang 19- Các giải pháp nào giúp hoàn thiện mô hình ươm tạo doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao tại Tp Hồ Chí Minh?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mô hình ươm tạo doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các điều kiện cần thiết trong mô hình ươm tạo doanh nghiệp để hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao
5 Phương pháp nghiên cứu
Để khám phá các điều kiện để hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp nói chung
và doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao nói riêng, nghiên cứu được theo phương pháp nghiên cứu định tính thông qua việc thực hiện thí nghiệm tình huống quyết định tham gia chương trình ươm tạo trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao Đối tượng tham gia thí nghiệm là lãnh đạo các doanh nghiệp khởi nghiệp, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
Tình huống được lựa chọn thí nghiệm là quyết định tham gia chương trình ươm tạo trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thí nghiệm được thực hiện trên các lãnh đạo doanh nghiệp khởi nghiệp Quyết định tham gia chương trình ươm tạo doanh nghiệp bị chi phối bởi các điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp trong mô hình ươm tạo doanh nghiệp được ghi nhận vào kết quả nghiên cứu
* Nguồn dữ liệu
Luận văn sử dụng các dữ liệu thứ cấp thu thập được từ các báo cáo kết quả hoạt động khởi nghiệp của Thành phố nói chung cũng như các báo cáo kết quả đạt được tại Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao thời gian vừa qua Bên cạnh đó, cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu trước đây về hoạt động khởi nghiệp được sử dụng nhằm đặt nền tảng cho cho việc đề xuất giải pháp xây dựng mô hình ươm tạo doanh nghiệp
Ngoài dữ liệu thứ cấp, luận văn còn sử dụng dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp thí nghiệm tình huống nhằm đánh giá thực trạng mô hình ươm tạo doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao tại Trung tâm Đồng thời, tìm
ra giải pháp đổi mới mô hình ươm tạo cho phù hợp với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao
* Đối tượng khảo sát
Các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao
Trang 20* Thời gian khảo sát
Từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 06 năm 2021
6 Ý nghĩa nghiên cứu
Nghiên cứu giúp tìm ra các điều kiện cần thiết để hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp nói chung và doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao nói riêng mà mô hình ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp hiện tại chưa đáp ứng được Từ đó, giúp đề xuất các chính sách, biện pháp điều chỉnh lại mô hình ươm tạo doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao tại Tp.HCM phù hợp hơn với nhu cầu hỗ trợ thực tế của doanh nghiệp khởi nghiệp nhằm thu hút và thúc đẩy các doanh nghiệp khởi nghiệp trong nông nghiệp công nghệ cao tham gia chương trình ươm tạo doanh nghiệp
7 Kết cấu báo cáo nghiên cứu
Cấu trúc của luận văn gồm các phần sau đây:
Mở đầu: vấn đề nghiên cứu đang gặp phải; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng nghiên cứu; Phạm vi nghiên cứu; Giới thiệu tổng quát
về phương pháp nghiên cứu)
Chương 1 - Cơ sở lý thuyết về khung phân tích: Tổng quan về cơ sở lý thuyết các nội dung nghiên cứu có liên quan, từ đó khát quát khung phân tích cho nghiên cứu
Chương 2 – Thực trạng hoạt động ươm tạo khởi nghiệp tại Tp Hò Chí Minh: Phân tích thực trạng hoạt động ươm tạo doanh nghiệp nông nghiêp công nghệ cao tại Tp Hồ Chí Minh để rút ra những giải pháp thiết thực phù hợp với nhu cầu hỗ trợ của doanh nghiệp khởi nghiệp Qua đó, đề xuất và thí nghiệm các mô hình ươm tạo để lựa chọn mô hình tối ưu
Chương 3 – Lựa chọn mô hình và giải pháp ươm tạo doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao tại Tp Hồ Chí Minh: Đề xuất giải pháp ươm tạo doanh nghiệp phù hợp và thực hiện mô hình ươm tạo cải tiến
Cuối cùng là kết luận và kiến nghị
Trang 21CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khác biệt giữa khởi nghiệp và lập nghiệp
Theo PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình (Trường Đại học Kinh tế – Luật – Đại học Quốc gia TP.HCM)1: “Khởi nghiệp, tiếng Anh gọi là startup, đây là thuật ngữ nói về những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung,
nó thường được dùng với nghĩa hẹp chỉ các công ty công nghệ trong giai đoạn lập nghiệp Khởi nghiệp đòi hỏi phải đổi mới, sáng tạo Đặc tính cơ bản của khởi nghiệp là tính đột phá nhằm tạo ra một điều gì đấy chưa hề có trên thị trường hoặc tạo ra một giá trị tốt hơn so với những thứ đang có sẵn, chẳng hạn như có thể tạo ra một phân khúc mới trong sản xuất, một mô hình kinh doanh mới, hoặc một loại công nghệ độc đáo mới…
Còn lập nghiệp là gây dựng cơ nghiệp bằng cách lập một doanh nghiệp tư nhân hoặc hộ kinh doanh cá thể mà vô số những doanh nghiệp, hộ gia đình khác
đã và đang làm cùng mô hình kinh doanh giống nhau, chẳng hạn như mở nhà hàng, quán ăn, tiệm hớt tóc, quán cà phê…”
1.1.2 Nhà khởi nghiệp
Khái niệm khởi nghiệp có thể được hiểu như là một quá trình sáng tạo kinh doanh (Kuratko, 2005)2, hay việc mở một doanh nghiệp mới (start a new business, new venture creation) (Krueger và Brazeal, 1994)3 hoặc tinh thần doanh nhân (entrepreuership) và tự làm chủ, tự kinh doanh (sefl employment) (Laviolette và Lefbrve, 2012)4
Khởi nghiệp là sự lựa chọn nghề nghiệp khi cá nhân quyết định đánh đổi điều kiện làm việc của mình cho những khả năng khác để đảm bảo việc tồn tại và phát triển, hay tạo ra cơ hội kinh doanh Theo định nghĩa này thì nhà khởi nghiệp tự tạo công việc làm theo nghĩa trái với đi làm thuê, tự làm chủ và thuê người khác làm việc cho mình
Tinh thần doanh nhân có nhiều cách định nghĩa khác nhau Hiểu theo nghĩa hẹp, tinh thần doanh nhân là cá nhân bắt đầu khởi sự kinh doanh của riêng
1 Đỗ Phú Trần Đình, Cần phân biệt giữa khởi nghiệp và lập nghiệp, https://techfest.vn/tin-tuc/can-phan- biet-giua-khoi-nghiep-va-lap-nghiep , 26/10/2021
2 Kuratko, D.F., The emergence of entrepreneurship education: development, trends, and Challenges,
Entrepreneurship Theory & Practice, 205, 577-598
3 Krueger, N.F, Brazeal, D., Entrepreneurial Potential and Potential Entrepreurs, Entrepreurship
Theory and Practice, 1994, 91-104
4 Laviolette, E.M., Lefbrve, M.R., The impact of story bound entrepreneurial role models on sefl –
efficacy and entrepreneurial intention, International Journal of Entrepreneurial Behavior and Research,
2012, 720-742
Trang 22mình (Begley, 2001)5 Hay là việc cá nhân chấp nhận rủi ro để tạo một doanh nghiệp mới và tự chủ nhằm mục đích làm giàu, bắt đầu tạo một doanh nghiệp mới bằng đầu tư vốn kinh doanh, hay mở cửa hàng kinh doanh (MacMilan, 1993)6 Hiểu theo nghĩa rộng thì tinh thần doanh nhân là thái độ làm việc đề cao tính tự chủ, sáng tạo, đổi mới và chấp nhận rủi ro, tạo ra các giá trị mới trong doanh nghiệp hiện đại (Bird, 1988)7, sự đổi mới, phong cách nhận thức và suy nghĩ, dự định phát triển nhanh Tự tạo việc làm nhấn mạnh đến khía cạnh
tự làm chủ chính mình, không đi làm thuê, trong khi hiểu theo nghĩa tinh thần doanh nhân, nhà khởi nghiệp còn có thể bao gồm cả những người thành lập doanh nghiệp mới để tận dụng cơ hội thị trường nhưng lại không trực tiếp quản trị doanh nghiệp mà thuê người khác nên vẫn có thể đi làm tại các doanh nghiệp khác (Smallbone và Welter, 2006)8
Tinh thần khởi nghiệp là một hiện tượng được quan tâm trong những năm gần đây và đang có xu hướng phát triển mạnh trong những năm tới Các nhà khởi nghiệp đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong xã hội, các doanh nghiệp đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm, tạo ra sản phẩm, dịch vụ, cải thiện đời sống Tại Việt Nam, nhà khởi nghiệp đã và đang phát triển, tiếp theo đó là sự sáng tạo và phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Small and Medium Enterprise – SME) đã giúp cải thiện tình hình kinh tế khó khăn và giảm thiểu tình trạng thất nghiệp
Gartner (1988)9 cho rằng khởi nghiệp kinh doanh là quá trình tạo ra doanh nghiệp mới và khởi nghiệp kinh doanh là quá trình nhận dạng, đánh giá và khai thác cơ hội kinh doanh Hai cách tiếp cận này xem xét đến những bước ban đầu của quy trình khởi nghiệp chứ chưa nhìn toàn diện đời sống của doanh nghiệp sau khi khởi sự Khi bắt đầu khởi nghiệp, các cá nhân dành nhiều thời gian và
nỗ lực để lập kế hoạch, đo lường và giả định các rủi ro tài chính, tâm lý và xã hội Điều gì thúc đẩy các doanh nhân đầu tư nhiều công sức cho một hành trình dài tìm đến thành công? Mặc dù, nhiều người thích kinh doanh, hay có sự hỗ trợ, tài trợ, nhưng chỉ có một số người bắt tay vào khởi nghiệp thực sự Các đặc tính cá nhân, hành vi của cá nhân, bản chất, loại hình kinh doanh mới thành lập
và đặc điểm của môi trường kinh doanh là những yếu tố quyết định đối với hoạt
5 Begley, T.M, Tan, W.L., The socio cultural environment for entrepreneurship: a comparition betwent
East asian and Anglosaxon countries, Journal of international business studies, 2001, 537-547
6 MacMilan, I.C, The emerging forum of entrepreneurship scholar, Journal of Business Venturing,
1993, 377-381
7 Bird, B., Implementing entrepreneurial ideas: the case for intention, Academy of Management
Review, 1988, 442-53
8 Smallbone , D., F Welter, Conceptulizing entrepreneurship in a transition context, International
Journal of Entrepreurship and small Business, 2006, 190- 206
9 Gartner, W.B., A famework for describing the phenoment of new venture creation, Academy of
Management Review, 1988, 696-706
Trang 23động của doanh nghiệp
Khái niệm nhà khởi nghiệp, doanh nhân và chủ doanh nghiệp tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng các khái niệm này có nhiều điểm tương đồng Doanh nhân là người thực hiện quá trình tạo nên những nhóm doanh nghiệp mới và thực hiện những nhiệm vụ này Doanh nhân là người tham gia vào các quá trình kinh doanh với mục đích tạo ra nhiều giá trị càng tốt, họ xác định và khai thác cơ hội để tạo ra sản phẩm, dịch vụ, quy trình và tổ chức mới với khát vọng cao để đạt được thành công, đó là tối đa sáng tạo ra giá trị Với tư cách là một doanh nhân, họ tự làm chủ, tạo dựng, tổ chức, quản lý và tự chịu trách nhiệm một doanh nghiệp; họ muốn đối đầu với những thử thách hơn là một nhân viên làm việc cho người khác Quyết định khởi nghiệp với tư cách một doanh nhân được xem như là một lựa chọn nghề nghiệp cho chính họ Quy trình khởi nghiệp (start-up) một đơn vị kinh doanh thường bao gồm bốn bước: hình thành ý định khởi nghiệp, nhận dạng cơ hội kinh doanh, quyết định khai thác
cơ hội và hình thành dự án kinh doanh Doanh nhân, nhà khởi nghiệp hay chủ doanh nghiệp chấp nhận những rủi ro tài chính của cá nhân với việc sở hữu doanh nghiệp, nhưng cũng được hưởng lợi từ những thành công của doanh nghiệp, như là những tưởng thưởng cho việc mạo hiểm của họ
Nhà khởi nghiệp có quyền lực và ảnh hưởng nhiều nhất trong các công ty của họ, họ đóng vai trò chủ đạo và quan trọng trong quá trình phát triển của nó Các yếu tố như thay đổi trong lối sống, các quyết định cho việc bắt đầu một doanh nghiệp, mong muốn thành công, thay đổi để cải thiện điều kiện làm việc hiện tại, hay mong muốn đi theo mô hình kinh doanh truyền thống Bird (1988)10 cho rằng cả hai đặc điểm: cá nhân và yếu tố môi trường ảnh hưởng đến việc khởi nghiệp Aldrich và Zimmer (1986)11 tin rằng các đặc điểm nhân cách kinh doanh có tầm quan trọng thứ hai và chỉ đóng góp một phần vào sự hiểu biết và quá trình thành lập của công ty và môi trường có tác động mạnh đến quá trình hình thành và phát triển của công ty Có nhiều mô hình đã được phát triển theo hai hướng chính:
- Các yếu tố cá nhân (đặc điểm và phẩm chất của nhà khởi nghiệp);
- Ảnh hưởng của môi trường (xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế và hoàn cảnh)
Năng lực là một khái niệm được xem xét với nhiều góc độ và có nhiều ứng dụng trong thực tiễn và có liên quan mật thiết với sự thành công của doanh
10 Bird, B., Implementing entrepreneurial ideas: the case for intention, Academy of Management
Review, 1988, 442-53
11 Aldrich, H., & Zimmer, C., The art and science of entrepreneurship, Cambridge, MA, Ballinger,
1986, 3-23
Trang 24nghiệp (Spencer, 1993)12 Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực về phương diện lý thuyết Theo trường phái nghiên cứu của Hoa Kỳ, năng lực được định nghĩa như là một tập hợp những đặc trưng cơ bản, kỹ năng, kiến thức và động lực của một con người và những điều này giúp cho họ có những hành động có hiệu quả hay có kết quả thực thiện vượt trội trong công việc (Boyatzis, 1982)13 Trong khi đó, trường phái nghiên cứu của người Anh lại nhấn mạnh đến tất cả khả năng (competence) Khả năng được xem là một bản mô tả tất cả những điều trong lĩnh vực nghề nghiệp mà một con người cần phải thực hiện Theo hai cách tiếp cận này thì năng lực chính là sự đánh giá việc thực hiện trong một chuỗi các hoạt động cụ thể trong khi năng lực là tập hợp những gì được sử dụng để mô tả các đặc trưng và hành vi cá nhân
Nhiều nhà nghiên cứu dùng các thuật ngữ thay thế lẫn nhau như kỹ năng (skill), kiến thức (knowledge) và khả năng (ability) bên cạnh khái niệm năng lực (compentecies) Điều tạo nên sự khác biệt của khái niệm về năng lực (competencies) đó là khái niệm này là cấu trúc có tính tương tác và nó được cấu thành bởi ba bộ phận: sự khác biệt giữa các cá nhân, hành vi được định nghĩa theo tình huống và các tiêu chuẩn cho việc thực hiện Trong khi đó khái niệm
và năng lực không chỉ gắn liền với từng cá nhân mà còn lệ thuộc vào bối cảnh tình huống xã hội
1.1.3 Năng lực nhà khởi nghiệp (Entrepreneurial competencies - EC)
Năng lực khởi nghiệp được xem là một nhóm các năng lực cụ thể liên quan đến việc triển khai hoạt động khởi nghiệp thành công, những hoạt động khởi nghiệp này thường song hành với sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Colombo và Grilli, 2005)14 Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khởi nghiệp (Lerner và Almor, 2002)15 thường phân biệt hai khái niệm “năng lực quản trị” và “năng lực khởi nghiệp” Một số nhà nghiên cứu cho rằng năng lực khởi nghiệp thì cần thiết cho việc hình thành một doanh nghiệp trong khi đó năng lực quản trị thì quan trọng để tạo sự tăng trưởng của doanh nghiệp Tuy nhiên, có nhà nghiên cứu lại cho rằng năng lực trong quá trình khởi nghiệp kinh doanh bao gồm cả hai khái niệm nêu trên (Man và cộng sự 2002)16 Mối quan
12 Spencer,L.and Spencer,S.,Competence at work: Model for superior performance, Wiley, New York,
NY, 1993
13 Boyatzis, R.E., The compence Manager: A Model for effectiveness Perfomance, Weiley, New York,
NY, 1982
14 Colombo, M.G and Grilli, L., Founders’ human capital and the growth of new technology-based
firms: a competence-based view, Research policy, 2005, 795-816
15 Lerner, M and Almor, T., Relationship among strategic capabilities and the performance of women-
owned small venture, Journal of Small Business Management, 2002, 109-25
16 Man, T., Lau, T and Chan, K.F., The competitiveness of small and medium enterprises: A
conceptuallisation with focus in entrepreneurial competencies, Journal of Bussiness Venturing, 2002,
23-24
Trang 25tâm về năng lực khởi nghiệp bắt nguồn từ mối quan hệ giữa năng lực và sự hình thành, tồn tại và tăng trưởng của một doanh nghiệp (Baun, 1994)17 Nhiều nghiên cứu trong thực tiễn đã phát hiện ra rằng việc thông hiểu các năng lực cần thiết và sự thay đổi vai trò của nhà khởi nghiệp trong các giai đoạn trong đời sống của một doanh nghiệp sẽ hỗ trợ và phát triển năng lực của nhà khởi nghiệp và việc đó, đến lượt nó, sẽ tạo nên một sự tăng trưởng thành công cho doanh nghiệp (Churchill và Lewis, 1983)18
Các năng lực khởi nghiệp đóng vai trò rất quan trọng cho sự tăng trưởng và thành công của doanh nghiệp, tuy nhiên việc nghiên cứu về năng lực khởi nghiệp chỉ đang trong giai đoạn sơ khai (Brinckman, 2008)19 Năng lực khởi nghiệp được thực hiện bởi các cá nhân (nhà khởi nghiệp) là người bắt đầu hay thực hiện sự chuyển hóa tổ chức, là người tạo nên giá trị gia tăng cho tổ chức Bird (1995)20 cho rằng năng lực khởi nghiệp được định nghĩa như là những đặc trưng cơ bản như các kiến thức cụ thể, các đặc điểm, khả năng nhận thức về bản thân, vai trò xã hội và những kỹ năng giúp cho một người hình thành, duy trì sự tồn tại và tạo sự tăng trưởng cho một doanh nghiệp
Mặt khác, lý thuyết về năng lực, dựa trên việc nghiên cứu các nhà lãnh đạo thành công, đã phân nhỏ các hành vi thái độ và kỹ năng của nhà quản trị thành những yếu tố có thể đo lường được và tìm kiếm cách thức tập hợp các yếu tố này lại để tạo ra những cá nhân có năng lực thực hiện công việc vượt trội Những kỹ năng cần thiết cho hoạt động khởi nghiệp thành công thường bao gồm kỹ năng thuyết trình, tương tác cá nhân, trình bày được kế hoạch kinh doanh (Ronstadt, 1988)21 Một khía cạnh then chốt của các nghiên cứu về năng lực chính là việc tìm kiếm những đặc trưng cá nhân mang tính chất lâu dài dẫn đến sự thành công hay thực hiện một cách vượt trội cho một công việc hoặc toàn bộ tổ chức Các đặc trưng cá nhân này được Barlett và Ghoshal (1997)22phân thành ba nhóm năng lực: Thái độ/các đặc điểm cá nhân, kiến thức/ kinh nghiệm và kỹ năng/ khả năng Nghiên cứu Stuart và Lindsay (1997)23 cũng tìm
17 Baun, J.R., The relationship of traits, competencies, motivation, strategy and structure to venture
growth, Academic of Management Journal, 1994, 292 -303
18 Churchill, N.C and Lewis, V.L., The five stages of small business growth, Harvard Business Review,
1983, 1-12
19 Brinckman, J., Competence of Top Management Team and the Success of New Technology Based
Firms: A Theoritical and Empirical Analysis Concerning Competencies of Etrepreneurial Teams and the Development of their Ventures, Gabler Publishing, Wiesbaden, 2008
20 Bird, B., Towards a theory of entreprenuerial competency, Advances in Entreprenuership, Firm
Emergence anfd Growth, 1995, 51 -72
21 Ronstadt, R., The corridor principle, Journal of Business venturing, 1988, 151 -56
22 Barlett, C.A and Ghoshal, S., The myth of the generic manager, new personal competencies for new
management roles, California Management Review, 1997, 92-116
23 Stuart, R and Lindsay, P., Beyond the frame of management competencies: towards a contextually
embedded framework of managerial competence in organizations, Journal of European Industrial
Training, 1997, 26- 34
Trang 26ra ba nhóm năng lực như nghiên cứu của hai tác giả nêu trên và chúng bao gồm: các kỹ năng cá nhân, kiến thức và các đặc trưng cá nhân
Lerner và Almor (2002)24 khảo sát 220 kỹ năng nữ doanh nhân của Israel trên năm điểm thang đo Likert 5 điểm Thông qua phân tích nhân tố, họ thấy rằng kỹ năng quản lý (tài chính, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động và quản lý chiến lược và kỹ năng kinh doanh (đổi mới và tiếp thị) là những yếu tố riêng biệt
Chandler và Hanks (1994)25 trong nghiên cứu của họ về các doanh nghiệp sản xuất ở Tây Bắc Pennsylvania đã nêu rõ ràng hơn về sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng; họ đã thiết kế một bảng câu hỏi để đo lường một cách riêng biệt của hai biến: các nhà khởi nghiệp cần phải giỏi về nhận định, nắm bắt cơ hội kinh doanh và năng lực quản lý (mua và sử dụng các nguồn lực để phối hợp giữa lợi ích và hoạt động kinh doanh)
Shane và Venkataraman (2000)26 cho rằng khả năng nhìn thấy cơ hội và khai thác nó là những khái niệm trọng tâm trong kinh doanh mà phân biệt tinh thần kinh doanh với việc quản lý Bird (1988) ghi nhận các năng lực khởi nghiệp quan trọng là kiên trì, kiên trì như là một đặc điểm quan trọng cho việc phát triển một doanh nghiệp mới
Nghiên cứu năng lực khởi nghiệp (Chandler và Jansen, 1992)27 đã phát triển các nhóm kỹ năng/ năng lực mà là tương tự như trong quản lý lý thuyết/lãnh đạo là nhìn thấy cơ hội và tự quản lý Chandler và Jansen đã nghiên cứu một mẫu của công ty ở bang Utah cho rằng hoạt động hiệu quả trong vai trò kinh doanh đòi hỏi người sáng lập phải có khả năng nhận ra các cơ hội kinh doanh và thiết lập được các quy trình kinh doanh hiệu quả Để có thẩm quyền trong vai trò kỹ thuật họ nói rằng người sáng lập phải có khả năng sử dụng các công cụ hoặc các thủ tục cần thiết trong lĩnh vực chuyên môn của họ
Năng lực chính khác nhau có liên quan đến vai trò kinh doanh, bao gồm nhận biết và tận dụng cơ hội và sau đó chọn cơ hội có chất lượng cao để theo đuổi Năng lực chủ chốt khác được đề cập bao gồm sở hữu quy trình, sẵn sàng làm việc, làm việc chăm chỉ và nỗ lực cường độ Mitton (1989)28 cho rằng các vấn đề kinh doanh được đánh dấu bằng việc khái niệm cụ thể của một cái nhìn sâu sắc kinh doanh hoặc cơ hội, sự chấp nhận về tính khả thi của việc theo đuổi
24 Lerner, M and Almor, T., Relationship among strategic capabilities and the performance of women-
owned small venture, Journal of Small Business Management, 2002, 109-25
25 Chandler, G.N and Hanks, S.H, Market attractiveness, resource-base capabilities, venture strategies
and venture performance, Journal of small Business Management, 1994, 27-35
26 Shane, S and Venkataraman, S., The promise of entrepreneurship as a filed of research, Academy of
Management Review, 2002, 257-279
27 Chandler, G.N and Hanks, S.H, Market attractiveness, resource-base capabilities, venture strategies
and venture performance, Journal of small Business Management, 1994, 27-35
28 Milton, D.G., The complete entrepreneur, Entrepreneurship Theory and Practice, 1989, 9-19
Trang 27kinh doanh như một cơ hội và phối hợp các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu đó Nhà khởi nghiệp thể khái quát hóa một cách chính xác là một cơ hội và sau đó cam kết các nguồn lực cần thiết để giải quyết một vấn đề như vậy là ở một vị trí để có hiệu quả điền vào vai trò kinh doanh
Trong cái nhìn tổng quan về năng lực của nhà khởi nghiệp, Mitton (1989) cho rằng có hai chủ đề lớn trong năng lực quản lý, năng lực chức năng như: marketing, tài chính và năng lực tổ chức như các kỹ năng liên quan đến tổ chức và động cơ thúc đẩy, kỹ năng cá nhân và lãnh đạo Shane và Venkataraman (2000)29 đề nghị 16 lĩnh vực chuyên môn bao gồm cả quản lý tổng hợp, lập kế hoạch chiến lược và tiếp thị Trong một tiếp cận chức năng tương tự, Man và cộng sự (2002)30 trong quá trình tiếp cận hành vi của họ dựa trên việc xem xét các nghiên cứu thực nghiệm trước đó xác định sáu năng lực khu vực thuộc năng lực kinh doanh; đây là những cơ hội, các mối quan hệ, khái niệm, tổ chức, năng lực chiến lược và cam kết
Baun (1994)31 đã lập một danh sách 9 năng lực nhà khởi nghiệp; đó là: kiến thức, khả năng nhận thức, tự quản lý, hành chính, nguồn nhân lực, kỹ năng
ra quyết định, lãnh đạo, công nhận cơ hội và phát triển cơ hội Họ cũng đóng góp một thể loại khác, trong đó bao gồm kỹ năng tổ chức các mối quan hệ con người và thực hành quản lý Những người được phỏng vấn đã thảo luận khả năng kiến thức, khả năng cụ thể hoặc kỹ năng, về mặt kỹ thuật và kinh nghiệm trong ngành Các kết quả của nghiên cứu của mình rằng tự hiệu quả, kỹ năng
kỹ thuật, tiếp thị cá nhân, tập trung đổi mới/ sản xuất và niềm đam mê đối với công việc có mối quan hệ tích cực trực tiếp mạnh nhất với mức tăng trưởng doanh Tầm nhìn, kỹ năng tổ chức, mục tiêu tăng trưởng, kỹ năng cơ hội, kinh nghiệm và kích thước người tham gia có mối quan hệ quan trọng, nhưng chưa tích cực
Một nghiên cứu của Hood và Young (1993)32 để phát triển một khung lý thuyết về năng lực của doanh nhân thành công đã phỏng vấn 100 doanh nhân hàng đầu và các nhà khởi nghiệp của các công ty kinh doanh phát triển nhanh nhất của Mỹ Một danh sách các kiến thức về kỹ năng nội dung và tinh thần đã được phát triển Đối với các loại kỹ năng từ 92 câu trả lời đã được phân thành
29 Shane, S and Venkataraman, S., The promise of entrepreneurship as a filed of research, Academy of
Management Review, 2000, 257-279
30 Man, T., Lau, T and Chan, K.F., The competitiveness of small and medium enterprises: A
conceptuallisation with focus in entrepreneurial competencies, Journal of Bussiness Venturing, 2002,
23-24
31 Baun, J.R., The relationship of traits, competencies, motivation, strategy and structure to venture
growth, Academic of Management Journal, 1994, 292 -303
31 Churchill, N.C and Lewis, V.L., The five stages of small business growth, Harvard Business Review,
1983, 1-12
32 Hood, J.N và Young, J.E., Entrepreneurship’s Requisite Areas of Development: a survey of Top
Excutives in Successful Entrepreneurial Film, Journal of Venturing, 1993, 115-135
Trang 2812 loại khác nhau Các kỹ năng thường xuyên nhắc đến nhiều nhất và được cho
là quan trọng nhất là kỹ năng lãnh đạo, theo dõi chặt chẽ bởi các kỹ năng quan
hệ con người, kỹ năng giao tiếp nói và viết kỹ năng giao tiếp Tám kỹ năng được xếp hạng tầm quan trọng tiếp theo là: kỹ năng quản lý, kỹ năng đối phó - định hướng, tư duy logic, kỹ năng phân tích, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng thiết lập mục tiêu, kỹ năng tuyển dụng và chuẩn bị kế hoạch kinh doanh
Các lý thuyết này cho rằng các đặc trưng về nhân khẩu học, tâm lý và hành vi của nhà khởi nghiệp cũng như các kỹ năng và kiến thức chuyên môn của họ là những yếu tố quan trọng nhất tác động đến kết quả hoạt động của tổ chức thông qua ba cơ chế tác động: (i) các nhà khởi nghiệp có năng lực càng cao thì càng có khả năng khai thác các cơ hội kinh doanh tốt hơn và có chất lượng hơn; (ii) các nhà khởi nghiệp có năng lực càng cao có khả năng thiết lập các chiến lược thích ứng hơn cho hoạt động kinh doanh của họ; (iii) Theo lý thuyết định hướng vào nền tảng nguồn lực, các nhà khởi nghiệp và năng lực của họ là những nguồn lực thiết yếu và có giá trị của một doanh nghiệp
Tóm lại, trong hai thập niên gần đây nhiều kết quả nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa các kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm với sự thành công của hoạt động khởi nghiệp, cụ thể như sau:
+ Murray (1996)33 cho rằng các kiến thức nền tảng và kinh nghiệm cá nhân có tác động đến sự thành công của hoạt động khởi nghiệp: kinh nghiệm kinh doanh, lịch sử đổi mới, kinh nghiệm về sản xuất và marketing, địa vị, kinh nghiệm khởi nghiệp và mối quan hệ trong quá khứ với các nhà cung cấp tín dụng cho dự án kinh doanh
+ Basu và Goswami (1999)34 xem xét sự tác động của các yếu tố kinh tế
xã hội đến kết quả khởi nghiệp: trình độ giáo dục, kinh nghiệm kinh doanh của bản thân hay gia đình, sự tín nhiệm về tín dụng với ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng phi chính thức khi khởi nghiệp kinh doanh
+ Martin và Staines (1994)35 đề xuất các yếu tố: các phẩm chất cá nhân vượt trội, năng lực lãnh đạo, sự tự tin, sự đổi mới và khả năng chấp nhận rủi ro + Mitton (1989)36 đề xuất các đặc trưng về hành vi như: tầm nhìn tổng thể, phát hiện các cơ hội đặc thù, thực hiện sự cam kết, tìm kiếm nhu cầu kiểm soát, có quan điểm vị lợi, chấp nhận sự bất ổn, sử dụng các liên kết cá nhân, duy trì năng lực
33 Murray, G., A synthesis of six enploratory European case studies of successfully excited, venture
capital-finaced, new technology-based firms, Entrepreneurship Theory and practice, 1996, 41-60
34 Basu, A and Gosawami, A., South Asian enterprenuership in Great Britain factors influencing
grownth, International Journal of Enterpreneurial Behavior & Reseach, 1999, 251-275
35 Martin, G and Staines, H., Management competencies in small firms, International Journal of
Management Development, 1994, 9-32
36 Milton, D.G., The complete entrepreneur, Entrepreneurship Theory and Practice, 1989, 9-19
Trang 29+ Man và các cộng sự (2002)37 chỉ ra 10 năng lực khởi nghiệp: cơ hội, mối quan hệ, năng lực phân tích, khả năng đổi mới, năng lực điều hành, năng lực thiết lập mối quan hệ con người, tầm nhìn chiến lược, thực hiện sự cam kết, học tập không ngừng và các thế mạnh về năng lực cá nhân tạo nên kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn
Từ đó, có thể nhận thấy rằng những năng lực quan trọng đối với một nhà khởi nghiệp cần có: kỹ năng quản lý, bao gồm cả khả năng để phát triển hệ thống quản lý và kỹ năng tổ chức và điều phối; hệ tư tưởng; năng lực khái quát và phân tích, bao gồm khả năng phối hợp hoạt động; kỹ năng quản lý khách hàng; tạo động lực, phát triển kỹ năng nhân viên; khả năng nhận ra và tận dụng các cơ hội, khả năng xây dựng chiến lược cho việc tận dụng các cơ hội; kỹ năng tuyển dụng;
ra quyết định kỹ năng; kỹ năng lãnh đạo; và cam kết
1.2 Lý thuyết về môi trường kinh doanh và môi trường khởi nghiệp
Việc thiết lập một doanh nghiệp mới đòi hỏi phải có những nguồn lực bên ngoài hỗ trợ Các yếu tố thuộc về môi trường bao gồm một tập hợp các nguồn lực và sự dồi dào của chúng và các yếu tố này có sự tác động quan trọng trong quy trình khởi nghiệp kinh doanh
1.2.1 Môi trường kinh doanh (Business environment – BE)
Việc xây dựng môi trường kinh doanh chủ yếu được thực hiện ở một quốc gia, tuy nhiên trách nhiệm thực hiện lại thuộc về các địa phương Các địa phương đặc biệt tập trung vào các vấn đề cần phải đối mặt với các công ty đang hoạt động tại địa phương, trong chính sách điều hành kinh tế của mình Môi trường kinh doanh yếu kém (trong đó bao gồm: quy định đầu tư không hiệu quả, tham nhũng, những yếu kém về cơ sở hạ tầng và các dịch vụ tài chính) sẽ tạo lực cản đối với các công ty muốn gia nhập vào thị trường (Collier và Dollar, 2002)38 Môi trường kinh doanh bao gồm cả đầu tư trực tiếp nước ngoài cụ thể là: những quy định quản lý đầu tư và ưu đãi cụ thể cho các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài Môi trường kinh doanh nói chung trong đó bao gồm những cân nhắc khác nhau tác động đến quyết định tâm lý của nhà đầu tư như: ổn định chính trị, môi trường kinh tế vĩ mô và thái độ của Chính phủ đối với doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia đầu tư
Theo Dollar và cộng sự (2005)39 cho rằng, môi trường kinh doanh là: thể
37 Man, T., Lau, T and Chan, K.F., The competitiveness of small and medium enterprises: A
conceptuallisation with focus in entrepreneurial competencies, Journal of Bussiness Venturing, 2002,
23-24
38 Collier, Paul và Dollar, David R., Globalization, growth and poverty: Building an inclusive World
economy, Oxford University Press, 2002
39 Dollar et al., Investment climate and firm performance in developing economies, Economic
Development and Cultural Change, 2005, 1-31
Trang 30chế, chính sách và các quy định liên quan đến hoạt động của công ty từ khi công
ty mới bắt đầu thành lập cho đến khi kết thúc quá trình kinh doanh Dollar và cộng sự (2005) nhấn mạnh nếu chính quyền địa phương quan liêu, tham nhũng, hoặc địa phương cung cấp cơ sở hạ tầng và các dịch vụ tài chính không hiệu quả thì các doanh nghiệp thì khó có được sự tin cậy vào những quy định và dịch
vụ mà địa phương cung cấp Từ đó, các khoản đầu tư tiềm năng kỳ vọng sẽ thấp và không ổn định, làm cho việc tích lũy vốn đầu tư mong muốn thấp tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế Các địa phương cần nâng cao năng lực quản lý để
có thể hưởng lợi từ việc tích lũy vốn đầu tư
Để đánh giá môi trường kinh doanh ở một quốc gia World Bank (2012)40, phân tích các quy định áp dụng cho các doanh nghiệp trong một nền kinh tế thông qua vòng đời hoạt động của doanh nghiệp Các quy định này bao gồm: thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, thương mại quốc tế, nộp thuế, bảo vệ nhà đầu tư, Thứ hạng chung về mức độ thuận lợi kinh doanh được đánh giá dựa trên 10 chỉ số của 185 nền kinh tế Báo cáo môi trường kinh doanh không đánh giá toàn bộ các lĩnh vực của môi trường đầu tư có ảnh hưởng đến doanh nghiệp và nhà đầu tư Tuy vậy, các kết quả trong báo cáo đã thúc đẩy quá trình thảo luận về chính sách trên toàn thế giới và tạo điều kiện tăng cường nghiên cứu về ảnh hưởng của các quy định ở cấp doanh nghiệp tới kết quả hoạt động chung của các nền kinh tế
Dẫn theo một nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2006)41cho rằng: “môi trường kinh doanh thường được sử dụng để mô tả những khía cạnh thể chế có thể ảnh hưởng tới việc ra quyết định đầu tư và quá trình thực hiện đầu tư của doanh nghiệp Để đánh giá môi trường kinh doanh, thường các chỉ số sau đây hay được lựa chọn: qui định luật pháp, mức độ tham nhũng, quyền sở hữu, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ tài chính Ngoài ra, các yếu tố khác như quan liêu, bất ổn định về xã hội và chính trị, xử lý vi phạm hợp đồng, cũng được sử dụng như là các chỉ số để đánh giá” Môi trường kinh doanh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm: nghèo đói, tội phạm, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, an ninh quốc gia, ổn định chính trị, chế độ không chắc chắn, thuế, quy định của pháp luật, quyền sở hữu, quy định của Chính phủ, Chính phủ minh bạch và trách nhiệm giải trình của Chính phủ
Triết lý đầu tư giải thích môi trường kinh doanh: Một môi trường kinh doanh không thuận lợi là một trong những trở ngại phải đối mặt ở các quốc gia kém phát triển Cải cách pháp lý thường là một thành phần quan trọng của việc
40 World Bank, Sustaining robust growth - mitigating risks and deepening reforms, Lao PDR Economic
Monitor, May 2012
41 Nguyễn Thị Tuệ Anh và ctv, Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam, Dự án SIDA: Nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách để thực hiện chiến lược phát triển kinh
tế-xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001 -2010, 2006
Trang 31loại bỏ các rào cản đối với đầu tư Một số tổ chức phi lợi nhuận được thành lập với mục đích cải thiện môi trường kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế ở các quốc gia này Ngoài ra, một số nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận mức rủi ro cao và biến động liên quan đến đầu tư trong một môi trường không thuận lợi vì những tiềm năng mà có nguy cơ cao sẽ được khen thưởng với lợi nhuận cao
1.2.2 Lý thuyết các yếu tố quyết định đầu tư ở khu vực tư nhân
Các lý thuyết đầu tư tư nhân là khá phong phú và đa dạng Không có lý thuyết rõ ràng về các yếu tố quyết định đầu tư cho từng nghiên cứu Thông thường có 05 nhóm lý thuyết được đề cập đến là: lý thuyết gia tốc giản đơn, lý thuyết tính thanh khoản, lý thuyết lợi nhuận dự kiến, lý thuyết Q của Tobin và
lý thuyết gia tốc linh hoạt của trường phái tân cổ điển Lý thuyết gia tốc linh hoạt dường như là phổ biến nhất của những lý thuyết được sử dụng trong các nghiên cứu ứng dụng Tuy nhiên, trong bối cảnh các nước đang phát triển, do
dữ liệu hạn chế và những hạn chế về cơ cấu, một biến thể của mô hình gia tốc linh hoạt thường được sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm, đó là lý thuyết
về các yếu tố quyết định của tư nhân đầu tư vào các quốc gia này (Ouattara, 2004)42
Hành vi đầu tư tư nhân chủ yếu bị ảnh hưởng bởi động cơ lợi nhuận Có một vài yếu tố khác cũng tác động đến hành vi đầu tư tư nhân như tiền lương và chi phí nguyên liệu, tuy nhiên các yếu tố này có thể được dự báo và nằm trong sự kiểm soát của các nhà đầu tư (Duncan và các cộng sự, 1999)43 Ở các nước đang phát triển, đầu tư tư nhân được xác định chủ yếu bởi mức sản lượng trong nước, lãi suất thực, công khai trong các dự án đầu tư, nguồn vốn tín dụng cho đầu tư, nợ nước ngoài, tốc độ trao đổi và sự ổn định nền kinh tế vĩ mô Ngoài ra, nguồn nhân lực, tính sẵn có và chất lượng cơ sở hạ tầng là những ảnh hưởng quan trọng đến đầu tư tư nhân trong khi đó sự không chắc chắn trong môi trường đầu tư tác động tiêu cực đến đầu tư tư nhân (Thomas, 1997)44 Everhart và Sumlinski (2001)45 cung cấp bằng chứng cho thấy rằng, tham nhũng sẽ làm giảm chất lượng của đầu tư công; giảm chất lượng đầu tư công làm cho đầu tư tư nhân giảm Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạch định chính sách và các nhà đầu tư tư nhân Hoạch định chính sách có thêm bằng chứng để biện minh cho chiến dịch chống tham nhũng tại các quốc gia Còn đối với các nhà đầu tư tư nhân có thể sử dụng những phát hiện này để
42 Ouattara, Bazoumana, Modelling the long run determinants of private investment in Senegal: Centre
for Research in Economic Development and Internat, Trade, University of Nottingham, 2004
43 Duncan et al, Pursuing economic reform in the Pacific, Asian Development Bank, 1999
44 Thomas, R.L., Modern Econometrics: An Introduction: AddisonWesley Harlow: Prentice Hall, 1997
45 Everhart et al, Trends in private investment in developing countries: statistics for 1970-2000 and the
impact on private investment of corruption and the quality of public investment, World Bank
Publications, 2001
Trang 32xác định vị trí, các cơ hội kinh doanh tốt nhất hiện nay khi môi trường kinh doanh trong thị trường mới nổi đang thay đổi
Agénor và các cộng sự (2005)46, khảo sát tác động của cơ sở hạ tầng hình thành vốn đầu tư tư nhân ở Trung Đông và Bắc Phi gồm 03 quốc gia là: Ai Cập, Jordan và Tunisia Nghiên cứu cho thấy rằng cơ sở hạ tầng có thể ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân qua các kênh khác nhau Tạo môi trường thuận lợi cho đầu
tư tư nhân hoạt động rất quan trọng để kích thích tăng trưởng và tạo việc làm trong khu vực
Le (2004)47 cho rằng, khi tìm hiểu về xu hướng đầu tư tư nhân trong các nước đang phát triển không chỉ đòi hỏi xem xét các mối quan hệ giữa rủi ro chính trị và đầu tư tư nhân, mà còn là một sự hiểu biết về các loại rủi ro chính trị và phải được phân tích bởi những đặc trưng riêng tại các nước đang phát triển Từ đó, cung cấp một môi trường đầu tư vững mạnh để thu hút các nhà đầu tư trong nước và duy trì một dòng chảy ổn định của đầu tư tư nhân trong nền kinh tế Chính phủ ở các nước đang phát triển nên phân biệt các loại rủi ro chính trị để thiết kế và thực hiện các chính sách phù hợp để ứng phó với vấn đề hiện tại
1.2.3 Môi trường khởi nghiệp (Startup environment – SE)
Môi trường là nơi tập hợp các nguồn lực và mức độ dồi dào của chúng sẽ tác động đến quy trình khởi nghiệp Có nhiều cách tiếp cận về môi trường như xem xét tác động của môi trường kinh doanh đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Covin & Slevin, 1997)48 Kết quả nghiên cứu từ các tác giả này đã chỉ
ra sự tác động của năng lực của nhà khởi nghiệp vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp không bao giờ tách rời với yếu tố môi trường kinh doanh Thật vậy, các quyết định và hành động của người chủ doanh nghiệp sẽ được đưa ra dựa trên sự cảm nhận của họ về môi trường kinh doanh (Begley, 2001)49 Cách tiếp cận về sự tác động của yếu tố môi trường dựa trên quan điểm về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Porter, 1985)50 đề cập đến môi trường kinh doanh Môi trường này được chia ra thành hai nhóm đối kháng nhau: thuận lợi - bất lợi hay ổn định - bất ổn Môi trường thuận lợi được đặc trưng bởi tỷ suất lợi nhuận trong ngành cao, mức độ cạnh tranh thấp và khách hàng rất trung thành; trong khi đó môi trường bất lợi có các đặc trưng ngược lại Các nghiên theo hướng
46 Agénor et al, Public Infrastructure and Private Investment in the Middle East and North Africa, 2005
47 Le, Quan V., Political and economic determinants of private investment, Journal of International
Development, 2004, 589-604
48 Covin, J.G and Slevin, D.P., High growth transitions: theorectical perspectives and suggested
directions, Entrepreneurship, Upstart Publishing, Chicago II, 1997, 99-126
49 Begley et al, The socio cultural environment for entrepreneurship: a comparition betwent East asian
and Anglosaxon countries, Journal of international business studies, 2001, 537-547
50 Porter and M.E., The Competitive Advantage: Craeting and Sustaining Superior Perfomance, Free
press, New York, 1985
Trang 33tiếp cận này đã phát hiện môi trường đặc trưng cho các doanh nghiệp nhỏ thường mang tính bất ổn cao và sự thuận lợi hay bất lợi cũng đều song hành với nhau trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ Trong nghiên cứu của mình, Lagace và Bourgal (2003)51 cũng chỉ ra mức độ tự do cạnh tranh trong ngành kinh doanh sẽ tác động đến sự cạnh tranh của doanh nghiệp qua đó
sẽ ảnh hưởng đến kết quả
Bên cạnh khái niệm về môi trường kinh doanh và sự tương tác của chúng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ, khái niệm về môi trường khởi nghiệp cũng được một số nhà nghiên cứu quan tâm Theo lý thuyết, các yếu tố thuộc về môi trường có rất nhiều, chúng thuộc về môi trường tổng quát, môi trường công việc, hay môi trường nội bộ Tuy nhiên căn cứ vào những nghiên cứu trước đây, các yếu tố thuộc về môi trường khởi nghiệp có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp vừa khởi sự kinh doanh bao gồm: Việc tiếp cận các nguồn lực tài chính; các chính sách hỗ trợ của chính phủ; việc tiếp cận các tổ chức hỗ trợ và đào tạo về khởi nghiệp, việc tiếp cận thị trường và các chuẩn mực về văn hóa thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp Các yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong giai đoạn đầu của hoạt động khởi nghiệp
Sự hỗ trợ về tài chính (Financial support) bao gồm sự sẵn có của nguồn lực tài chính chính thức cũng nhưng phi chính thức cho các doanh nghiệp mới
ra đời và sự tăng trưởng của doanh nghiệp này (Gartner, 1985)52 Các doanh nghiệp khởi nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc hỗ trợ tài chính, vì vậy việc chọn cách tiếp tục sử dụng vốn từ các ngân hàng hay công ty đầu tư mạo hiểm cần chọn lọc kỹ lưỡng
Bên cạnh sự hỗ trợ về tài chính, các chính sách của Chính phủ cũng rất cần thiết cho sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp vừa khởi nghiệp kinh doanh Các chính sách của Chính phủ cung cấp những sự hỗ trợ cho việc hình thành môi trường kinh doanh năng động cũng như có những chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong giai đoạn ban đầu của quá trình tăng trưởng (Radas và Bozic, 2009)53
Chất lượng của hoạt động giáo dục và đào tạo cho hoạt động khởi nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng (Bull và Winter, 1991)54 Nó liên quan đến việc cung cấp các chương trình đào tạo chính thức và các chương trình huấn luyện
51 Lagace, D and Bourgault, M., Linking manufacturing improvement programs to the competitive
priorities of Canadian SMEs, Technovation, 2003, 705- 715
52 Gartner, W.B., A conceptual framework for describing the phenomenon of new venture Creation,
Academy of Management Review, 1985, 696-706
53 Radas, S and Bozic, L., The antecedents of SME innovativeness in an emerging transition Economy,
Technovation, 2009, 438-450
54 Bull, I and Winter, F., Community differences in business births and business growths, Journal of
Business Venturing, 1991, 29-43
Trang 34ngắn hạn cho chủ doanh nghiệp cũng như nhân viên của các đơn vị này Sự liên kết bên ngoài giữa chủ doanh nghiệp và các đơn vị tư vấn và đào tạo sẽ tạo nên những lợi ích cho việc tiếp thu những kiến thức cần thiết cho sự thành công của doanh nghiệp (Radas và Bozic, 2009)55 Việc tiếp cận các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp cũng như có được những vườn ươm doanh nghiệp thì rất cần thiết trong giai đoạn hình thành và phát triển các doanh nghiệp mới (Grimaldi và Grandi, 2005)56
Việc tiếp cận các dịch vụ hạ tầng như truyền thông, năng lượng và các hoạt động thiết yếu khác cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng có tác động mạnh đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp Trong nghiên cứu của mình, Zain và Kassim (2012)57 cũng chỉ ra mức độ cạnh tranh trong ngành kinh doanh
sẽ tác động đến sự cạnh tranh của doanh nghiệp qua đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện của doanh nghiệp
Chuẩn mực văn hóa và xã hội, sự ủng hộ hoặc chống đối hoạt động kinh doanh cũng có tác động lớn đến hoạt động của doanh nghiệp và nhà khởi nghiệp Nền văn hóa tôn trọng những người khởi nghiệp thành công thì nhiều doanh nghiệp sẽ hình thành Hay những vùng có tổ chức các cuộc gặp gỡ cho các doanh nhân và các doanh nhân tiềm năng, nơi họ có thể thảo luận ý tưởng, vấn đề và các giải pháp thường có nhiều doanh nghiệp hơn các vùng khác (Antoncic và cộng sự, 2002)
1.2.4 Kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Hiện có rất nhiều định nghĩa về kết quả hoạt động của doanh nghiệp và
hệ thống đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Business performance
(có từ năm 1990 đến năm 2003) bao gồm các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học, sách, báo cáo khoa học,… Tùy theo mục tiêu nghiên cứu hay đo lường mà có những khái niệm khác nhau, dưới đây là một số định nghĩa tiêu biểu:
Theo Kaplan và Norton (1993)59: “Kết quả của doanh nghiệp được xác định từ 04 nhóm thành phần cơ bản, bao gồm: Tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và học tập phát triển Nó xây dựng cơ sở để chuyển nội dung chiến lược
55 Radas, S and Bozic, L., The antecedents of SME innovativeness in an emerging transition Economy,
Technovation, 2009, 438-450
56 Grimaldi, R and Grandi, A., Business incubators and new ventures creation: an assessment of
incubating models, Technovation, 2005, 111-121
57 Zain, M and Kassim, The influence of internal environment and continuous improvements on firms
competitiveness and performance, Procedia - Social and Behavioral Sciences, 2012, 26-32
58 Monica et al Towards a definition of a business performance measurement system International
Journal of Operations Production Management, 2007, 784-801
59 Kaplan, R S., and D P Norton., Putting the balanced scorecard to work, Harvard Business Review
(September/October), 1993, 134-147
Trang 35kinh doanh thành các điều kiện thực hiện” Năm 2007, Kaplan và Norton đã
đề cập đến yếu tố về tài chính, quá trình đáp ứng nhu cầu khách hàng, phát triển sản phẩm và tạo ra năng lực của doanh nghiệp Nó phản ánh tính hệ thống trong các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh và thích ứng với môi trường năng động của doanh nghiệp
Từ sau những năm 1980, các tác giả không còn đo lường kết quả chỉ bằng những tiêu chí tài chính đơn thuần nữa như: tỷ lệ sinh lời trên vốn đầu tư (ROI),
tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận thuần, mà còn chú trọng đến các tiêu chí phi tài chính khác như: thị phần, sự thỏa mãn của khách hàng, chất lượng sản phẩm, thỏa mãn của người lao động, ngoài ra, chính những tiêu chí phi tài chính này khi xét về lâu dài mới là yếu tố cốt lõi để giúp cho các nhà quản trị có thể điều chỉnh và đánh giá sự tăng trưởng của doanh nghiệp
Carlos và cộng sự (2011)60 đánh giá ở phạm vi phân tích kỹ thuật về lý thuyết kết quả hoạt động của doanh nghiệp và đo lường kết quả hoạt động lại nêu lên được 05 đặc trưng chung nổi bật của các định nghĩa, bao gồm:
- Tính linh hoạt của các chỉ tiêu đo lường;
- Tính quan trọng của thông tin trong suốt quá trình đo lường;
- Cách tiếp cận mang tính chiến lược trong mỗi nỗ lực đo lường;
- Tầm quan trọng của yếu tố con người quyết định sự thành công trong quá trình đo lường;
- Khái niệm kết quả hoạt động và đo lường kết quả hoạt động ngày càng được cải tiến và quan trọng hơn nữa đối với doanh nghiệp
Tóm lại: Trên cơ sở khi xem xét kết luận của Marr & Schiuma (2003)61
“Hệ thống đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp chưa nhất quán, không giống nhau, nên việc sử dụng công cụ đo lường nào hoàn toàn là do mục tiêu quản trị Càng có nhiều nghiên cứu về đo lường kết quả của các lãnh vực: quản trị chiến lược, quản trị vận hành, quản trị nhân sự, kế toán, kiểm toán, càng
có đóng góp làm phong phú thêm kiến thức, tính tiếp cận đa dạng và hoàn thiện”
Do các nhà khởi nghiệp có sự khác nhau về các đặc trưng cá nhân và họ cũng cảm nhận khác nhau về môi trường kinh doanh, hoạt động khởi nghiệp kinh doanh của họ cũng khác nhau Các nhà nghiên cứu cho rằng các đặc điểm
cá nhân có liên quan đến năng lực khởi nghiệp và môi trường kinh doanh có mối liên hệ mật thiết với kết quả thực hiện của doanh nghiệp
60 Carlos et al, Performance measurement practices in manufacturing firms revisited, International
Journal of Operations & Production Management, 2011, 520-530
61 Marr, B and Schiuma, G., Business performance measurement – past, present, and future,
Management Decision 2003; 680-700
Trang 36Khoảng thời gian một vài năm đầu tiên là thời điểm khó khăn nhất của doanh nghiệp: phải đối mặt với khoản lãi vay lớn khi vay vốn đầu tư, chi phí
cố định còn cao, thị phần còn nhiều hạn chế do đó các chỉ tiêu đo lường hiệu quả về mặt tài chính còn thấp và rất khó để kết luận rằng doanh nghiệp mới hình thành này đã thất bại, do đó cần đo lường kết quả hoạt động của doanh
nghiệp bằng những chỉ tiêu phi tài chính (non-financial criterial) Việc đo
lường nên nhấn mạnh đến các chỉ tiêu như sự thoả mãn của người lao động và khách hàng Các nhà nghiên cứu khác đã bổ sung các yếu tố phi tài chính đo lường kết quả như cảm nhận về sự thành công và tăng trưởng của doanh nghiệp, triển vọng phát triển trong tương lai và sự thỏa mãn các mục tiêu ban đầu của nhà khởi nghiệp (Shane và Venkataraman, 2000)62 Các chỉ tiêu thể hiện kết quả phi tài chính thể hiện kết quả hoạt động thường bao gồm: sự hài lòng của người chủ doanh nghiệp và sự phát triển của đơn vị, cảm nhận về sự hài lòng của khách hàng, cảm nhận sự hài lòng của người lao động, mối quan hệ tốt đẹp với nhà cung ứng, xây dựng môi trường làm việc gắn bó, sản phẩm/ dịch vụ được chấp nhận trên thị trường và tạo dựng được hình ảnh của doanh nghiệp (Chandler và Hanks, 1994)63 Các chỉ tiêu tài chính đo lường kết quả kinh doanh trong nghiên cứu này sẽ bao gồm: sự gia tăng doanh số, sự tăng trưởng của lợi nhuận, sự gia tăng đáng kể về thị phần và hiệu quả
1.2.5 Đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Đối với khái niệm kết quả hoạt động kinh doanh (Business Performance),
nhiều nghiên cứu cho thấy rằng có thể đánh giá dưới góc độ chủ quan và khách quan Đánh giá chủ quan bao gồm việc tự đánh giá của lãnh đạo doanh nghiệp
về kết quả hoạt động của doanh nghiệp theo thang đo Likert, còn đánh giá khách quan dựa vào các chỉ số tài chính, thị phần, doanh thu, Một số nhà nghiên cứu dùng cả hai (Robinson và Pearce, 1988)64 và nhận thấy hai cách đánh giá này có mối tương quan chặt chẽ với nhau Uncles (2000)65 đã tổng kết và cho thấy nhiều nhà nghiên cứu sử dụng cách đánh giá chủ quan Có lẽ, dựa vào các chỉ số tài chính và thị trường đo lường kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn vì nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đặc biệt là tại các nước đang phát triển, doanh nghiệp thường e ngại việc công
bố rộng rãi các chỉ số tài chính của họ (Ngai và Ellis, 1998)66
62 Shane, S and Venkataraman, S., The promise of entrepreneurship as a filed of research, Academy of
Management Review, 2000, 257-279
63 Chandler, G.N and Hanks, Market attractiveness, resource-base capabilities, venture strategies and
venture performance, Journal of small Business Management, 1994, 27-35
64 Robinson, R and Pearce, J., Planned patterns of behaviour and their relationship to business unit
performace, Strategic Management Journal, 1988, 43-60
65 Uncles, M., Market orientation, Australian Journal of Management, 2000, i-ix
66 Ngai, C.H and Ellis, P., Market orientation and business performance: some evidence from Hong
Kong, International Journal of Bank Marketing, 1998, 126-139
Trang 37Theo Mitchell (2002)67 kết quả hoạt động của doanh nghiệp được đo bằng
4 nhóm yếu tố:
- Phù hợp (relevance): là mức độ mà các đối tượng có liên quan
(stakeholders) cho rằng doanh nghiệp đã đáp ứng được nhu cầu của họ Khách
hàng đánh giá mức độ phù hợp bằng việc mua hàng hoá hay dịch vụ của doanh nghiệp Người lao động làm việc chăm chỉ và cổ đông thì tiếp tục mua và nắm giữ cổ phiếu Sự phù hợp được cụ thể bởi: (i) sự hài lòng của ban quan trị, (ii)
sự gắn kết của người lao động, (iii) ảnh hưởng của quản trị nhân sự đến ban quản trị, (iv) sự tham gia của quản trị nguồn nhân lực trong quy trình thực hiện
kế hoạch chiến lược, (v) các bộ phận khác tham gia vào quản trị nhân sự
- Hiệu lực (effectiveness): là mức độ mà doanh nghiệp áp dụng thành
công các công cụ quản trị trong việc tổ chức thực hiện chiến lược, sứ mạng và tầm nhìn của mình Hiệu lực được cụ thể bởi: (i) kiến thức hiểu biết của người lao động về sứ mạng, giá trị và chiến lược của tổ chức, (ii) việc đầu tư vào phong cách lãnh đạo, (iii) sự gắn kết của quản trị kết quả công việc với chiến lược, (iv) quan hệ giữa thành tích hoạt động của người lao động và cơ hội phát triển nghề nghiệp
- Hiệu suất (efficiency): Cách thức sử dụng các nguồn lực của doanh
nghiệp đem lại kết quả cao nhất (tài chính, nhân lực, vật lực, thông tin,…) Cụ thể được đo bằng: (i) tăng trưởng lợi nhuận/người lao động, (ii) tăng trưởng doanh thu/người lao động, (iii) chi phí tiền lương/tổng chi phí, (iv) tỷ lệ người lao động/người quản lý, (v) chi phí cho quản trị nhân sự/ tổng chi phí
- Khả năng tài chính (financial viability): Là khả năng đáp ứng và duy trì
nguồn lực tài chính cho hoạt động không chỉ trong ngắn hạn mà còn trong dài hạn Cụ thể được đo bằng: (i) đầu tư cho những vấn đề về cơ sở hạ tầng và công nghệ, (ii) đầu tư cho nguồn nhân lực (iii) đầu tư cho những yêu cầu xây dựng văn hóa tổ chức, (iv) quy mô lao động , (v) đào tạo, tái đào tạo và R&D Bốn nhóm yếu tố này chịu ảnh hưởng của động cơ, năng lực và sự tương tác với môi trường bên ngoài của tổ chức
Robert (2004)68 tổng kết có 9 nhóm chỉ tiêu dùng đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm:
- Lợi nhuận (profitability) các chỉ tiêu đo lường về thu nhập từ lãnh vực
kinh doanh chính, mà chủ yếu là thu nhập trước thuế Cụ thể gồm: lợi nhuận
trên tổng tài sản (ROA- Return on Asset), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE-
Return
67 Mitchell, J.G., The Never-ending Quest: Effective Strategy-making and Change Management for High-performing VET Organisations Canberra: DEST, 2002
68 Robert, B.C., Measuring Organizational Performance: An Exploratory Study PhD Thesis The
University of Georgia USA, 2004
Trang 38on Equity), hệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu (P/E- Price to Earning Ratio),
lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI- Return On Investment), lợi nhuận trên doanh
số bán (ROS- Return On Sales),
- Vận hành (operation) là những chỉ tiêu phi tài chính (non-finance) trong
quá trình hoạt động doanh nghiệp đạt được nhằm hỗ trợ cho các chỉ tiêu lợi nhuận, gồm có: thị phần, bản quyền, quan hệ, đóng góp của cổ đông, Cụ thể gồm: chỉ số hài lòng của khách hàng, hoạt động của R&D, đánh giá của cổ đông về ban điều hành, đánh giá của ban lãnh đạo về thị phần và thị trường,
- Tăng trưởng (growth) là những chỉ tiêu phát triển về mở rộng thị trường,
tăng quy mô sản xuất và nguồn lực vật chất, tăng chất lượng nguồn nhân lực,
- Hiệu suất (efficiency) nhằm đo lường tính hiệu quả của việc sử dụng
nguồn lực, ví dụ: doanh số trên đơn vị diện tích nhà xưởng, doanh số trên người lao động, lợi nhuận/doanh thu, lợi nhuận/tài sản, lợi nhuận/người lao động,
- Thanh khoản (liquidity) nhằm đo lường khả năng đáp ứng của doanh
nghiệp đối với các nghĩa vụ tài chính, ví dụ: tỉ trọng vốn bằng tiền mặt, dòng tiền, tỉ trọng tài sản có tính thanh khoản cao/nợ phải trả,
- Thị trường (market) nhằm đo lường giá trị thị trường của doanh nghiệp,
ví như lợi tức tăng thêm từ giá cổ phiếu cho cổ đông, giá trị sổ sách của cổ phiếu,
- Quy mô (size) bao gồm tổng tài sản, giá trị các nguồn lực, số lượng
người lao động, hệ thống chi nhánh, hệ thống phân phối, lượng khách hàng,
- Khả năng tồn tại (survival) nhằm đo lường khả năng cạnh tranh khi so
sánh với các chỉ tiêu kinh doanh trung bình của ngành
- Nhóm đo lường khác (other) là những nhận xét đánh giá của ban lãnh
đạo cấp cao nhất của doanh nghiệp về kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch Theo Kollberg và Elg (2004)69, trong kỷ nguyên của nền kinh tế hiện đại kinh tế tri thức, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được, thì phải có tốc độ tăng trưởng và tính thích ứng cao, hoạt động phải có hiệu quả, năng suất và có sự hợp tác, hội nhập Quản lý kết quả hoạt động là một vấn đề cốt lõi đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả và hiệu suất cao Trong đó, hệ thống đo lường kết quả đóng vai trò quan trọng, làm cơ sở đánh giá mức độ đạt được mục tiêu của doanh nghiệp trong chiến lược cạnh tranh của mình, cụ thể như sau:
- Đánh giá về các yếu tố tài chính
- Đánh giá các yếu tố có liên quan đến khách hàng
- Đánh giá về các quy trình nội bộ
- Đánh giá về sự đổi mới và học hỏi tiếp thu
69 Kollberg, B., and Elg, M., Exploring the use of balanced scorecards in Swedish health care
organization 7th ed International QMOD Conferrence Monterrey Mexico, 2004, 4-6
Trang 39Speckbacher, Bischof và Pfeiffer (2003)70 kết luận rằng, hầu hết các công
ty tại Đức hiện nay đều sử dụng phương pháp của Kaplan và Norton (1993)71
để đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm 4 nhóm đo lường:
- Nhóm tài chính: nhằm đo lường khả năng cạnh tranh và dự báo mức độ thành công của các chỉ tiêu chiến lược, cũng như đảm bảo lợi ích cho cổ đông Các dữ liệu này giúp đánh giá các yếu tố rủi ro, kiểm soát chi phí, đánh giá hiệu quả đầu tư và giá trị gia tăng của tổ chức
- Nhóm khách hàng: nhằm đánh giá sự hài lòng của khách hàng và được xem là tiêu chí đánh giá quan trọng mức độ thành công của hầu hết các chiến lược của tổ chức Các chiến lược về nâng cao chất lượng phục vụ, quảng bá thương hiệu, mở rộng kênh phân phối, đầu tư sản phẩm mới, đều hướng đến
sự hài lòng khách hàng Các dữ liệu về số lượng khách hàng trung thành, thị phần của từng loại sản phẩm, số lượng khách hàng mới, được thu thập để đánh giá lại thường xuyên
- Nhóm quy trình: bao gồm các chỉ tiêu đánh giá các quy trình nội bộ trong sản xuất và dịch vụ, nhằm đảm bảo chất lượng và năng suất luôn đáp ứng
ở yêu cầu cao nhất Các chỉ tiêu chi phí cho nghiên cứu, thời gian giải quyết đơn hàng, công suất máy móc thiết bị, thời gian bảo trì, phục vụ hay khắc phục sản phẩm lỗi, được xem như tiêu chí đo lường chất lượng hệ thống quản trị
và khả năng điều phối của tổ chức
- Nhóm đào tạo và phát triển: trong nhóm tiêu chí này kiến thức, kỹ năng
và thái độ đối với công việc của người lao động chính là trọng tâm ưu tiên đầu
tư vì nó quyết định cho sự tồn tại và phát triển của tổ chức Khả năng làm chủ công nghệ, nghiên cứu và tiếp thu kiến thức mới, được đo bằng: năng suất lao động, số lượng người lao động qua đào tạo, đầu tư cho các chương trình huấn luyện, sáng kiến của người lao động
1.3 Mối quan hệ giữa năng lực nhà khởi nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Việc xác định và hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là rất quan trọng và cần thiết cho việc thiết lập các chính sách kinh tế phù hợp Khởi nghiệp không có nghĩa là chắc chắn sẽ thành công và thịnh vượng Nghiên cứu của Stephan và cộng sự (2015)72 đã chỉ ra rằng, hơn 50% doanh nghiệp phải đóng cửa trong thời gian từ 0-3 năm sau khi khởi nghiệp và 33% đóng cửa trong thời gian 3 năm tiếp theo
70 Speckbacher.G et al, A descriptive analysis on the implementation of Balanced Scorecards in
German-speaking countries, Management Accounting Research, 2003, 361 -387
71 Kaplan, R S., and D P Norton, Putting the balanced scorecard to work, Harvard Business Review,
1993, 134-147
72 Stephan Ute et al, Understanding Motivations for Entrepreneurship, Bis Research Paper, 2015, 212
Trang 40Một trong những động lực chính cho nghiên cứu liên quan đến năng lực nhà khởi nghiệp vì nó gắn liền với kết quả hoạt động và sự tăng trưởng của doanh nghiệp (Lerner và Almor, 2002)73 Bên cạnh đó, Chandler và Jansen (1992)74 cũng đã chứng minh rằng việc phát triển năng lực nhà khởi nghiệp sẽ làm tăng kết quả hoạt động và sự tăng trưởng của doanh nghiệp Các tài liệu trên nêu bật ba xu hướng ảnh hưởng đến kết quả làm việc của doanh nghiệp Thứ nhất, các nhà khởi nghiệp có quyền chọn lựa và khai thác các cơ hội tốt hơn, chất lượng của cơ hội và tình hình kinh doanh phù hợp với tình hình kinh doanh Thứ hai, năng lực quản lý có liên quan đến năng lực kinh doanh, các nhà khởi nghiệp có năng lực hơn sẽ xây dựng kế hoạch kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế Thứ ba, năng lực của nhà khởi nghiệp cũng là nguồn lực và tài sản quan trọng của doanh nghiệp Bird (1995)75 đã cho thấy năng lực
và hành động của nhà khởi nghiệp có liên quan trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh Chandler và Jansen (1992)76 đã nghiên cứu 3 vai trò cơ bản: kỹ năng kinh doanh truyền thống; vai trò quản lý và vai trò kỹ thuật chức năng Kết quả của họ tiết lộ rằng tự báo cáo năng lực của các thành viên sáng lập có tương quan với hiệu suất kinh doanh
Năng lực kinh doanh của nhà khởi nghiệp được đánh giá cao có liên quan đến giai đoạn kinh doanh và vòng đời của doanh nghiệp Một số nghiên cứu
đã xác định các kỹ năng khác nhau, kiến thức và kinh nghiệm làm việc của các doanh nghiệp thành công Ví dụ như: nền tảng cá nhân, kinh nghiệm trong kinh doanh, quá trình sáng tạo, kinh nghiệm sản xuất và tiếp thị, quan hệ với các nhà đầu tư mạo hiểm,… (Murray, 1996)77 Các yếu tố kinh tế xã hội như trình
độ học vấn, kinh nghiệm kinh doanh trước đây, truyền thống kinh doanh của gia đình, kinh nghiệm kinh doanh, sự phụ thuộc về tài chính với ngân hàng và các nguồn tài chính không chính thức khi mới bắt đầu kinh doanh Sự yếu kém của các doanh nghiệp nhỏ như: quy hoạch kém, đánh giá tài chính, ủy quyền không hiệu quả, thiếu chuyên môn hoặc thiếu sự hỗ trợ, thiếu liên kết giữa nhân viên quản lý và tiếp thị
Khả năng nhận thức, khả năng xã hội, kỹ năng quản lý và năng lực cá nhân Phẩm chất cá nhân như: tính cách cởi mở, khả năng giải quyết vấn đề,
73 Lerner, M and Almor, T., Relationship among strategic capabilities and the performance of women-
owned small venture, Journal of Small Business Management, 2002, 109-25
74 Chandler, G.N and Jansen, E., The founder’s self-assessed competence and venture performance
Journal of Business Venturing 1992, 223-236
75 Bird, B., Towards a theory of entreprenuerial competency, Advances in Entreprenuership, Firm
Emergence anfd Growth, 1995, 51 -72
76 Chandler, G.N and Jansen, E., The founder’s self-assessed competence and venture performance,
Journal of Business Venturing, 1992, 223-236
77 Murray, G., A synthesis of six enploratory European case studies of successfully excited, venture
capital-finaced, new technology-based firms, Entrepreneurship Theory and practice, 1996, 41-60