Nói rõ hơn, người học chỉ được cung cấp các cấu trúc nhưng có khi không biết hình thức ngôn ngữ của một hành vi lời nói riêng biệt phải biến đổi ra sao tùy theo ngữ cảnh, và cũng như chư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
ƠƠƠ
NGUYỄN THÚY OANH
SO SÁNH DẠNG THỨC CÂU HỎI
TRONG TIẾNG ANH VÀ TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành : NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH
Mã số : 5.04.27
Khóa học : 1999 - 2002
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2002
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
ƠƠƠ
SO SÁNH DẠNG THỨC CÂU HỎI
TRONG TIẾNG ANH VÀ TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành : NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH
Mã số : 5.04.27 Khóa học : 1999 - 2002
HỌC VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THÚY OANH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2002
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phó giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Sâm, người đã nhiệt tình hướng dẫn giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô phản biện, bạn bè đã động viên, đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt thời gian qua
Xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
TP HCM, trường Đại học Sư phạm TP HCM, tổ Ngoại ngữ chuyên ngành đã giúp đỡ tôi thực hiên luận văn này
Xin gửi tấm lòng biết ơn tới Bố, Mẹ và những người thân đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi học tập và nghiên cứu
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 1
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU 3
6 BỐ CỤC LUẬN VĂN 13
CHƯƠNG MỘT
CÂU HỎI TRONG TIẾNG ANH 14
2 PHÂN LOẠI CÂU HỎI DỰA VÀO MỤC ĐÍCH PHÁT NGÔN 15
3 ĐÔI NÉT VỀ NGHĨA NGỮ DỤNG CỦA CÂU HỎI 33
CHƯƠNG HAI
CÂU HỎI TRONG TIẾNG VIỆT 48
2 PHÂN LOẠI CÂU HỎI DỰA VÀO MỤC ĐÍCH PHÁT NGÔN 50
3 ĐÔI NÉT VỀ NGHĨA NGỮ DỤNG CỦA CÂU HỎI 57
CHƯƠNG 3
SO SÁNH DẠNG THỨC CÂU HỎI TRONG TIẾNG ANH
VÀ TRONG TIẾNG VIỆT 68
2 SO SÁNH CÂU HỎI DỰA VÀO MỤC ĐÍCH PHÁT NGÔN 69
3 SO SÁNH CÂU HỎI DỰA VÀO MẶT NGỮ DỤNG 78
PHẦN KẾT LUẬN 104
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Cùng với một số ngôn ngữ khác, tiếng Anh hiện đang được học và giảng dạy rộng rãi tại Việt Nam Khuynh hướng dạy và học ngoại ngữ tập trung nhiều đến “ năng lực giao tiếp” ( communicative competence ) đang được chú ý Điều đó có nghĩa là nó đòi hỏi người học có khả năng sử dụïng ngôn ngữ một cách lưu loát, đúng ngữ pháp, hợp lý và hiệu quả Mặït khác, dưới cái nhìn của lý thuyết giao tiếp, người học phải biết cách diễn đạt đúng điều mình muốn trong từng tình huống khác nhau
Từ quan điểm này, các sách giáo khoa đã tập trung vào chức năng giao tiếp ngôn ngữ Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng mối liên hệ giữa hình thức ngữ pháp và mục đích chức năng chưa được quan tâm đầy đủ Nói rõ hơn, người học chỉ được cung cấp các cấu trúc nhưng có khi không biết hình thức ngôn ngữ của một hành vi lời nói riêng biệt phải biến đổi ra sao tùy theo ngữ cảnh, và cũng như chưa biết sự khác biệt về văn hóa của ngôn ngữ mà chúng ta đang nghiên cứu so với tiếng mẹ đẻ Điều này rất phổ biến khi người học không có môi trường bản ngữ để thực hành giao tiếp
Để tìm hiểu các dạng thức câu hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt, chúng ta cũng phải biết sự khác biệt về văn hóa – xã hội mà chính sự khác biệt này đã gây ra sự khác nhau trong khi đưa ra câu hỏi Việc nghiên cứu được thực hiện với hy vọng sẽ giúp ích một phần nào cho người Việt Nam học tiếng Anh có thể đặt câu hỏi đúng và đạt hiệu quả giao tiếp, nhất là phân biệt được đâu là câu hỏi chính danh, đâu là câu hỏi ngữ dụng
Việc nghiên cứu tập trung trả lời những câu hỏi sau:
1.1 Đâu là sự giống và khác nhau giữa tiếng Anh và tiếng Việt trong việc
phân loại câu hỏi ?
Trang 61.2 Aûnh hưởng của văn hóa có tác động đến việc phân loại câu hỏi không? 1.3 Có khó khăn ( chuyển đổi ) gì trong việc phân loại và sử dụng các
dạng thức câu hỏi của người Việt học tiếng Anh ?
Câu hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt, theo bước đầu khảo sát của chúng tôi, có nhiều điểm tương đồng mặc dù tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập và tiếng Anh thuộc loại hình ngôn ngữ biến hình Thông qua việc tìm hiểu các dạng thức câu hỏi, chúng ta có thể hiểu thêm được nhiều vấn đề về ngôn ngữ giao tiếp và về đặc điểm văn hóa của một cộng đồng người nhất định
2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Dựa vào những thành tựu nghiên cứu ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Việt, luận văn tiến hành so sánh các dạng thức câu hỏi trong tiếng Anh và trong tiếng Việt, căn cứ vào cách phân loại câu dựa vào mục đích phát ngôn và dựa vào mặt ngữ dụng
Trong giao tiếp nói cũng như trong giao tiếp bằng văn bản, không phải lúc nào câu hỏi cũng có nghĩa là biểu thị sự hỏi, là nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi cần được trả lời, mà còn nhằm một dụng ý khác, nhiều khi rất phức tạp
Ví dụ:
Why don’t you take a tour yourself?
Sao bạn không đi du lịch một chuyến nhỉ?
Đây chính là một lời khuyên mặc dù hình thức là câu hỏi
Tuy chưa rõ ràng lắm, ngữ pháp truyền thống khi nghiên cứu và phân loại câu theo mục đích phát ngôn đã có chú ý chúng cả về mặt ngữ dụng Do đó, để có cái nhìn toàn diện hơn, chúng ta phải so sánh dạng thức câu hỏi dựa theo mục đích phát ngôn và cả mặt ngữ dụng
Trang 73 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU
3.1 Cơ sở của phương pháp
Cơ sở của phương pháp khảo sát đối tượng là quan điểm xem ngôn ngữ là một sản phẩm có tính cấu trúc – hệ thống và là phương tiện giao tiếp Do vậy, các dạng thức câu hỏi được xem xét như là một chỉnh thể có quan hệ qui định lẫn nhau cả về cấu trúc - hình thái, cả về chức năng ngữ nghĩa Tiếp theo, nó còn được xem xét từ phía sử dụng, nghĩa là như một đơn vị giao tiếp gắn liền với người sử dụng trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể
3.2 Phương pháp nghiên cứu
So sánh, phân loại các dạng thức câu hỏi để phát hiện những điểm giống và khác nhau giữa chúng trong tiếng Anh và tiếng Việt Việc so sánh này lấy trọng tâm là tiếng Anh, trên cơ sở đó đối chiếu với tiếng Việt
Trong giao tiếp, câu hỏi phụ thuộc vào nhiều yếu tố: ngữ cảnh, tiền giả định, hàm ngôn Vì những lí do nêu trên, căn cứ vào lý thuyết liên quan đến câu hỏi, phân tích diễn ngôn trong tiếng Việt và tiếng Anh, thông qua các ngữ liệu trong đối thoại hàng ngày, luận văn có tham vọng đưa ra những miêu tả chính xác về mặt cấu tạo ngữ pháp của câu hỏi Tiếp theo đó, chúng tôi so sánh về mặt giao tiếp sự giống nhau và khác nhau của câu hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt về mặt ngữ nghĩa và đặc biệt là mặt ngữ dụng
Trang 84 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, là phương tiện giúp cho mọi người hiểu biết lẫn nhau Trong quá trình giao tiếp con người luôn sử dụng câu để thể hiện những điều muốn nói Câu là trọng tâm nghiên cứu của ngôn ngữ học Đến nay số lượng định nghĩa về câu rất nhiều, không dễ đếm được
Theo Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn Như Ý, 1999, Hà Nội
thì câu được định nghĩa như sau:
“ Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về ngữ pháp và ngữ điệu
theo các qui luật của một ngôn ngữ nào đó, là phương tiện để diễn đạt, biểu hiện và giao tế tư tưởng về thực tế và thái độ của người nói đối với thực tại”
Về việc phân loại câu, có những quan niệm khác nhau Cách phân loại câu tùy thuộc các khuynh hướng trường phái khác nhau Trong việc miêu tả câu theo mục đích phát ngôn, câu hỏi thường chiếm một vai trò quan trọng Để tìm hiểu dạng thức câu và câu hỏi chúng ta thử điểm qua việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Anh và ngữ pháp tiếng Việt trong một số tư liệu có thể quan sát được
4.1 Việc nghiên cứu ngữ pháp và câu hỏi tiếng Việt
Trước năm 1945, ở Việt Nam mặc dù đã có những cố gắng đáng được ghi nhận, nhưng các nhà nghiên cứu ngữ pháp như: Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm
Duy Khiêm đã đưa ra các qui tắc ngữ pháp (trong cuốn Việt Nam văn phạm )
theo lối mô phỏng ngữ pháp châu Âu, chủ yếu là ngữ pháp tiếng Pháp Nền ngữ pháp Việt Nam thực sự phát triển sau Cách mạng tháng Tám thành công (1945) Theo Diệp Quang Ban, từ năm 1945 trở lại đây, việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung có thể tạm chia thành ba hướng đi lớn:
- Hướng đi thiên về ngữ pháp truyền thống
- Hướng đi chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận
- Hướng đi chịu ảnh hưởng của ngữ pháp chức năng
4.1.1 Hướng nghiên cứu thiên về ngữ pháp truyền thống
Các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt không chú trọng về hình thức một cách tuyệt đối như trường phái miêu tả dựa vào sự phân bố, trái lại rất
Trang 9chú trọng đến nội dung, thậm chí còn coi trọng mặt nội dung hơn hình thức Việc nghiên cứu tiếng Việt thời kỳ đầu cơ bản là hướng thiên về ngữ pháp truyền thống Trong thời kỳ này, câu vẫn được coi là trọng tâm của việc nghiên
cứu Có thể kể ra rất nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp như Phan Khôi với cuốn
Việt ngữ nghiên cứu, tiếp theo là Nguyễn Lân với Ngữ pháp Việt Nam (1956)
Bùi Đức Tịnh trong Văn phạm Việt Nam ( 1954 ) đã phân loại câu theo
hướng thiên về mô phỏng ngữ pháp tiếng Pháp Theo ông, một câu nói có thể được dùng để xác nhận, phủ nhận, hay nêu lên một câu hỏi Do đó, câu nói có những thể thức cấu tạo khác nhau Ông chia câu thành: câu xác định, câu phủ định, câu nghi vấn, câu khuyến lệnh, câu tỏ sự mong ước hay hối tiếc
Ngoài ra, chúng ta phải kể đến cách phân loại câu của Nguyễn Kim
Thản Ông cho rằng ngữ pháp học truyền thống không những có căn nguyên ý nghĩa mà có cả căn nguyên ngữ pháp Tuy nhiên, áp dụng cách phân loại ấy vào
tiếng Việt kết quả đạt được không phải là tốt lắm Ví dụ: Câu cảm thán, tường
thuật hay câu nghi vấn lại có mục đích cảm thán hay cầu khiến ( Sao mà dơ thế!
Mày có im đi không? )
Ông cho rằng đây chính là thiếu sót của cách phân loại này Song tác giả cho rằng bên cạnh mục đích miêu tả cấu tạo ngữ pháp của câu trên căn cứ khoa học, cú pháp học còn có mục đích thực tiễn là dạy cho người ta cách đặt câu để biểu thị thái độ tình cảm của mình Vì vậy, việc phân loại câu theo mục đích nói cũng không có gì là sai lầm Các loại câu chia theo mục đích gồm có câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán Câu nghi vấn có thể khác nhau về tính chất và phương thức biểu thị Xét theo tính chất, ông chia các loại câu nghi vấn như sau:
- Câu nghi vấn chân chính
- Câu nghi vấn tu từ học
- Câu nghi vấn – phủ định
- Câu nghi vấn - khẳng định
- Câu nghi vấn cầu khiến
Trong Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt ( 1981 ), Nguyễn Kim Thản đã đưa ra cách
phân loại câu như sau:
- Phân loại câu theo cấu trúc ngữ pháp: câu đơn, câu ghép
- Phân loại câu theo mục đích nói: câu kể, câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm xúc
Trang 10Tổ chức ngữ pháp của các loại câu này về cơ bản giống nhau, nhưng mục đích chung thì câu nào cũng nhằm thông báo một ý nào đó
Như vậy, theo quan điểm này việc phân loại câu dựa vào mặt hình thức lẫn nội dung là cách phân loại hợp lý hơn cả
Một quan điểm phân loại câu nữa cũng dựa vào mặt hình thức và nội
dung, đó là quan điểm của Diệp Quang Ban ( trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt,
tập 2, 2000 ) Theo ông, nói đến sự phân loại câu là nói đến sự phân loại câu về mặt ngữ pháp, chủ yếu dựa đồng thời vào hình thức biểu hiện vànội dung khái quát được biểu hiện Sự phân loại này coi câu ở vị trí cô lập, không tính đến các đơn vị cao hơn nó Quan niệm này không xuất phát từ tư tưởng cho rằng câu là đơn vị lớn nhất mà chỉ cốt hạn chế đối tượng miêu tả càng gần với dạng ngôn ngữ càng tốt càng xa với dạng lời nói càng đỡ phức tạp trong miêu tả
Cách phân loại căn cứ vào:
- Mặt cấu tạo ngữ pháp cơ bản của câu
- Mặt tác dụng giao tiếp cơ bản hay mục đích nói của câu
- Mặt cấu tạo dạng phủ định của câu
Về mặt cấu trúc ngữ pháp, ông cũng chia câu thành: câu đơn, câu ghép
Ngoài ra, ông còn phân loại câu theo mục đích phát ngôn Cách phân loại dựa vào tiêu chí này có tính chất truyền thống, tồn tại khá lâu Phân loại câu theo mục đích phát ngôn không chỉ là cách phân loại dựa vào mặt hình thức mà còn căn cứ vào công cụ và ngữ pháp Căn cứ vào mục đích này, người ta thường nêu bốn kiểu câu: câu tường thuật, câu nghi vấn, câu mệnh lệnh, câu cảm thán
Hồ Lê trong Cú pháp tiếng Việt ( 1992 ) cũng phân loại câu theo định
hướng phát ngôn Theo ông, định hướng phát ngôn là một biểu hiện tình thái bắt buộc phải hiện diện trong mỗi câu Mỗi câu phát ra theo bốn định hướng: trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán Cũng theo ông, mục đích nói năng là ý định sâu kín của người phát ngôn, là phạm trù thuần túy chủ quan Nó không thể
đo lường bằng những phương tiện ngữ nghĩa cú pháp được Theo ông có bốn loại câu là: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán
Cần lưu ý, việc xếp Hồ Lê (1992) vào hướng nghiên cứu thuộc ngữ pháp truyền thống chỉ có ý nghĩa tương đối Bởi vì, trong chuỗi công trình gồm nhiều
Trang 11cuốn sách của ông, cú pháp ở đây là thuộc cú pháp cơ sơ,û được tác giả miêu tả theo phương pháp ngữ nghĩa – cú pháp và như vậy so với các tác giả khác đã có một bước tiến dài
Qua cách phân loại trên, chúng ta thấy các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt ngày càng chú ý hơn đến mặt cấu trúc của ngôn ngữ nhưng mặt khác cũng rất quan tâm đến nội dung ngữ nghĩa của nó
4.1.2 Hướng nghiên cứu chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận
Người đi đầu của khuynh hướng này đem áp dụng vào nghiên cứu tiếng
Việt là Lê Văn Lý ( 1948 ) với cuốn Le parler Vietnamien Ở Việt Nam vào đầu
những năm 60, việc nghiên cứu ngữ pháp theo hướng này phát triển mạnh Nó
đi sâu vào nghiên cứu cấu trúc tiếng Việt, chú ý đến mặt hình thức của các yếu
tố ngôn ngữ Khuynh hướng này thiên về ngữ pháp hình thức
Trong Sơ thảo ngữ pháp Việt nam ( 1972 ), Lê Văn Lý phân loại câu thành
8 loại như : câu tự loại, câu đơn giản, câu phức tạp, câu khẳng định, câu phủ định, câu nghi vấn, câu khuyến lệnh, câu cảm thán
Riêng kết cấu của “câu nghi vấn” được chia như sau: Câu nghi vấn có ngữ vị phủ định, câu nghi vấn có ngữ vị nghi vấn, câu nghi vấn có ngữ tự nghi vấn Như vậy, cách phân loại của ông vừa căn cứ vào cấu trúc vừa dựa vào mục đích phát ngôn
Hai nhà ngữ pháp Việt Nam Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) đã phân loại câu trên hai phương diện: cách cấu tạo và ngữ điệu Việc phân loại câu về mặt ngữ điệu cho ta thấy: cùng một câu có thể nói theo giọng khác nhau tùy theo sắc thái biểu cảm khác nhau
Ví dụ:
- Anh có đi chơi không?
- Anh tỉnh hay anh say?
- Sao anh lại thế?
Với ba câu trên, ta có thể nói bằng giọng thường hoặc nói theo giọng hỏi Câu thứ ba nói theo giọng trách móc
Ngữ pháp hình thức không quan tâm ( hoặc không quan tâm đúng mức ) đến nghĩa và công cụ giao tiếp Đối với ngữ pháp hình thức, nghĩa là một chỗ
Trang 12dựa để miêu tả hình thức, để phân đoạn ngữ lưu ra thành những chiết đoạn được coi như là những thực thể tự tại có thể được lắp ghép lại thành những chiết đoạn lớn hơn theo những qui tắc phân bố, không liên quan đến nghĩa và chức năng cú pháp Câu được coi là đơn vị ngôn ngữ lớn nhất của những mối quan hệ ngữ pháp không lệ thuộc vào ngữ cảnh
Ở Việt Nam, đi theo hướng này có những công trình nghiên cứu của
Hoàng Tuệ ( 1962 ) Giáo trình về Việt ngữ Nguyễn Tài Cẩn có Ngữ pháp tiếng
Việt - Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ ( 1975 )
Tất nhiên đi sâu vào phân tích có nhiều điểm khác biệt giữa các công trình nghiên cứu vừa đề cập, nhưng có thể nói là các quan điểm khoa học vừa điểm qua ở trên, đã dành cho việc miêu tả dạng thức câu hỏi, một vị trí xứng đáng
4.1.3 Hướng nghiên cứu ngữ pháp chức năng
Trào lưu ngữ pháp chức năng ra đời và phát triển mạnh trong mười mấy năm gần đây Đây là hướng nghiên cứu ngôn ngữ mới, được nhiều nhà nghiên cứu lớn trên thế giới quan tâm bởi tính toàn diện của nó Nó quan tâm đến cả ba mặt của ngôn ngữ: cấu trúc, chức năng, ngữ dụng
Ba bình diện cú pháp, nghĩa học và dụng pháp làm thành một hệ thống
hữu cơ, trong đó bình diện dụng pháp, mà thực chất là những mục tiêu giao tiếp của con người, chi phối tất cả các bình diện còn lại
Tuy vậy, giữa ba bình diện không có một sự tương ứng một đối một, nghĩa là một hình thức diễn đạt có thể tương ứng với những nội dung biểu hiện, lô gích và những công cụ giao tiếp khác nhau, và mỗi tác dụng giao tiếp có thể đạt tới bằng cách truyền đạt những nội dung biểu hiện và lô gích khác nhau, rồi đến lượt nó, những nội dung này lại có thể diễn đạt bằng những phương tiện hình thức khác nhau nữa
Người có công đầu trong việc đưa ngữ pháp chức năng vào tiếng Việt là
Cao Xuân Hạo với cuốn “Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1,
1991” Quan điểm này chỉ chấp nhận trong tiếng Việt có cấu trúc Đề – Thuyết, không có cấu trúc chu û- vị, và cấu trúc Đề - Thuyết là cấu trúc cơ bản của câu Ông phân loại câu theo lực ngôn trung và nghĩa biểu hiện Ông cho rằng, căn cứ
Trang 13vào sự phân biệt hình thức để phân loại là một việc làm chính đáng, vì trong nhiều ngôn ngữ có sự phân biệt rõ về hình thức ngữ pháp của các loại câu Tuy nhiên, ông không đồng ý coi đây là sự phân loại câu theo mục đích phát ngôn Đối với tiếng Việt, cách chia theo mục đích phát ngôn là không thỏa đáng Có những câu có hình thức là câu hỏi nhưng lại được xếp vào câu cầu khiến…Do vậy, ông vẫn phân loại câu theo hình thức ngữ pháp và có cái mới so với truyền thống là coi giá trị ngôn trung như một tình thái lồng vào câu hỏi vốn cũng chứa đựng một mệnh đề, ông lưu ý, miễn là đừng lẫn lộn các bình diện Ông đã phân loại câu hỏi theo lực ngôn trung: câu hỏi chính danh, câu hỏi có giá trị cầu khiến, câu hỏi có giá trị khẳng định, câu hỏi có giá trị phủ định, câu nghi vấn phỏng đoán hay ngờ vực ngần ngại, câu nghi vấn có giá trị cảm thán…
Thực ra, sự không ăn khớp giữa hình thức câu và mục đích phát ngôn, trước đó rải rác đã có người để ý đến, tuy nhiên, Cao Xuân Hạo đã có công trong việc hệ thống hóa các quan điểm và cách phân loại của ông cũng đã bao quát được ngữ liệu
Gần đây, trên một số tạp chí chuyên nghành cũng có một số bài viết về câu hỏi như của Lê Đông (1992), Nguyễn Chí Hòa (1993), Võ Đại Quang (2000), Nguyễn Đăng Sửu (2001), Nguyễn Hòa và Đỗ Thanh Hà (2001)…
Nhìn chung, trên cơ sở kế thừa thành tựu của những người đi trước, luận văn này muốn đối sánh dạng thức câu hỏi trong tiếng Anh với tiếng Việt một cách hoàn thiện và có hệ thống
4.2 Việc nghiên cứu ngữ pháp và câu hỏi tiếng Anh
Việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Anh cũng đi theo ba khuynh hướng trên Các nhà ngôn ngữ học truyền thống cũng phân loại câu theo cấu trúc ngữ pháp và theo chức năng diễn ngôn Cách phân loại câu theo cấu trúc thường được chia thành ba loại:
- Câu đơn ( simple sentences )
- Câu ghép ( compound sentences )
- Câu phức ( complex sentences )
Dựa vào mục đích, câu cũng được chia ra làm bốn loại :
- Câu tường thuật ( declaratives )
Trang 14- Câu nghi vấn ( interrogatives )
- Câu mệnh lệnh ( imperatives )
- Câu cảm thán ( exclamatives )
(Comprehensive grammar of the English language, p.803, Longman., 1985 )
Đã có nhiều quan điểm khác nhau về câu hỏi trong tiếng Anh được nêu
ra
Theo đặc điểm về cấu trúc cú pháp, câu hỏi có thể coi là những câu được đánh dấu bằng một hoặc hơn một trong số ba tiêu chí sau:
- Có trợ động từ đứng trước chủ ngữ
Can you speak English?
- Có từ nghi vấn đứng ở đầu câu
Who can speak English?
- Có ngữ điệu lên giọng
You can speak ENGLISH?
Một số nhà ngôn ngữ phân chia câu thành 3 loại: tường thuật, nghi vấn và
mệnh lệnh Ba loại câu này có liên quan mật thiết với các loại hành động lời nói
thông báo, yêu cầu tìm kiếm thông tin và chỉ dẫn ( yêu cầu, mệnh lệnh, lời chỉ dẫn ) Tuy nhiên, mối tương quan giữa các loại câu và các loại hành động lời nói không phải là mối tương quan theo kiểu một – một Đôi khi câu tường thuật được sử dụng như lời yêu cầu Do đó, còn có cách phân loại câu như là sự ngữ pháp hóa lực ngôn trung ( lực tại lời ) Mối liên quan giữa loại câu và hành động ngôn ngữ rất phức tạp Ngữ pháp truyền thống thường bỏ qua điều đó, cho nên các thuật ngữ “ tường thuật”, “nghi vấn”, và “ mệnh lệnh” thường được sử dụng như những cái tên của các loại câu chính Câu cảm thán có nghĩa cảm thán, nhưng “hành động cảm thán” không phải là một phạm trù ngôn trung nên không xếp vào các loại câu chính
Còn theo R.E Asher trong The Encyclopedia of language and linguistics,
cuốn 7, tr 3849 và các trang tiếp theo, thì câu hỏi tiếng Anh có thể chia ra làm
hai loại: đóng và mở
Ví dụ:
(a) Are they dead?
Trang 15(b) Are they alive? ( Câu hỏi đóng )
Theo tác giả, gọi là đóng bởi chúng được đánh dấu bởi trật tự verb – subject và tương ứng với nó là các câu trả lời đóng
Còn ví dụ dưới đây là loại câu hỏi mở:
(c ) Who are they? ( Câu hỏi mở )
Cũng theo tác giả thuộc loại câu hỏi mở gồm: Câu hỏi thông tin ( information
question), câu hỏi đặc biệt ( special question), câu hỏi bộ phận (particial
question), câu hỏi với từ để hỏi ( question – word – question ), câu nghi vấn Wh-
( Wh- interrogative / question )…
Đây là cách phân loại có liên quan đến hội thoại, rất lý thú
Những năm 60 là thời kỳ phát triển của ngữ pháp tạo sinh ( chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận và chức năng luận ) với những tên tuổi như Bloomfield,
N Chomsky…Các nhà ngôn ngữ đi sâu nghiên cứu cấu trúc cú pháp, chú ý đến mối quan hệ giữa cấu trúc sâu và cấu trúc mặt
Trên cứ liệu tiếng Anh, W L Chafe trong tác phẩm “ Ý nghĩa và cấu trúc
của ngôn ngữ”, đã dành một chương viết về bản chất của câu hỏi Tác giả chia
câu hỏi ra làm các loại sau: câu hỏi lựa chọn, câu hỏi có những khuyết thiếu từ vựng, câu hỏi lặp lại v.v với những tiểu loại khác nhau Đặc biệt tác giả có một
nhận định đáng chú ý “ Câu hỏi , đó là một loại yêu cầu đặc biệt” (sđd, tr 402)
C.C Fries (1952), trong “ The structure of English” tuy bị chi phối bởi lý
thuyết hành vi luận, nhưng khi mô tả câu tiếng Anh, bên cạnh việc phân loại
câu dựa vào cấu trúc như simple sentences, compound sentences và complex
sentences tác giả cũng dựa vào nội dung để chia ra: declaratives, interrogativse, imperatives và exclamatives và đặc biệt có đề cập đến chức năng của từng loại
Trang 16Ngoài ra, cũng có khuynh hướng phân loại câu hỏi dựa vào mục đích tìm tin Theo hướng này, câu hỏi là câu trong đó người nói và viết muốn tìm thông tin Tuy nhiên,“ Mục đích phát ngôn” là một khái niệm có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau Đối với câu hỏi, có thể coi mục đích của người nói và viết là đòi hỏi điều gì đó ở người khác, ví dụ một “ phản ứng ngôn ngữ”
Nhìn chung, trên ngữ liệu tiếng Anh, người ta có phát hiện ra rằng, cái gọi là phân loại câu theo mục đích phát ngôn, trong đó có một tiểu loại là câu hỏi, -chỉ có ý nghĩa tương đối
Để tránh tính bất định của khái niệm “ mục đích phát ngôn”, cùng với sự phát triển của dụng học, người ta phân loại câu hỏi dựa vào hành vi ngôn ngữ (speech acts ) Phần lớn, các nhà nghiên cứu về câu nói chung và câu hỏi nói riêng trong tiếng Anh hiện nay đều phân loại chúng theo chức năng giao tiếp, tức là mặt ngữ dụng
Ví dụ:
Câu hỏi có giá trị như lời mời
- Would you like to come to dinner tomorrow? Ngày mai em đến ăn tối nhé?
Câu hỏi để yêu cầu
- Would you like to clear the table? Anh lau giúp cái bàn được không?
- Okay Được thôi
Câu hỏi để phàn nàn, kêu ca
- Would you like to turn that music down? Phiền anh vặn nhỏ nhạc xuống ?
- Yes, sorry Dạ, xin lỗi
( A.S Hornby, An Oxford handbook of English – Grammar and usage, OUP,
1978 )
Tuy chưa bao quát được hết tư liệu, những nhà nghiên cứu câu hỏi trong tiếng Anh cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, trên ngữ liệu tiếng Anh các nhà nghiên cứu phân tích để nhắm đến một mục đích khác chứ không phải để đối sánh như luận văn này
Trang 175 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi không có tham vọng giải quyết những vấn đề lý thuyết Trọng tâm mà luận văn cố gắng vươn tới là đi tìm những sự tương đồng và khác biệt của dạng thức câu hỏi, để giúp người Việt khi học tiếng Anh, cũng như người bản ngữ Anh học tiếng Việt có sự so sánh đối chiếu tìm ra những đặc điểm khác biệt và giống nhau trong quá trình học tập
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu có thể hữu ích với thầy cô giáo dạy tiếng Việt cho người bản ngữ Anh, cũng như thầy cô giáo dạy tiếng Anh cho người Việt Bởi vì, bên cạnh các nét chung, dạng thức câu hỏi, xét về mặt ngữ dụng, có nhiều điểm khác biệt, mà nếu không chú ý rất dễ lầm lẫn
6 BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn tập chung ở
Trang 18CHƯƠNG MỘT CÂU HỎI TRONG TIẾNG ANH
1 NHẬN XÉT CHUNG
Cũng giống như một số ngôn ngữ khác, có thể dựa vào mục đích phát ngôn mà chia câu trong tiếng Anh ra làm các loại:
1.1 Câu tường thuật ( declaratives ), là các câu trong đó chủ thể đứng trước và
theo sau là động từ:
Pauline gave Tom a digital watch for his birthday
Nhân ngày sinh nhật Pauline đã tặng Tom chiếc đồng hồ kỹ thuật số
Một số câu tường thuật ngoại lệ không chứa chủ ngữ ( subject )
Told you so phải được mở rộng trong ngữ cảnh thành I told you so ( Tôi đã kể với anh
như vậy )
1.2 Câu nghi vấn ( interrogatives ), là những câu được đánh dấu bởi một trong
hai cách sau:
1.2.1 Với câu hỏi nghi vấn Yes – No , ta thấy rằng tác tử đứng trước chủ thể:
Did Pauline give Tom a digital watch for his bithday?
Có phải Pauline đã tặng Tom chiếc đồng hồ kỹ thuật số nhân ngày sinh nhật?
1.2.2 Câu hỏi nghi vấn wh- trong trường hợp này yếu tố nghi vấn wh- đứng đầu:
What did Pauline give Tom for his birthday?
Pauline đã tặng Tom vật gì nhân ngày sinh nhật của anh ấy?
1.3 Câu mệnh lệnh ( imperatives), là các câu không có chủ thể ngữ pháp và
động từ của nó có hình thức nguyên mẫu
Give me a digital watch for my birthday
Nhân ngày sinh nhật, nhớ tặng mình chiếc đồng hồ kỹ thuật số nhé
Trang 191.4 Câu cảm thán ( exclaimatives), là câu có cụm từ khởi đầu bằng what hoặc
how, thường với trật tự chủ ngữ- vị ngữ
What a fine watch he received for his birthday!
Chiếc đồng hồ anh ấy nhận nhân ngày sinh nhật mới đẹp làm sao!
Cách phân loại sơ lược vừa nêu trên tồn tại rất lâu trong các sách về ngôn ngữ học lấy cứ liệu tiếng Anh làm gốc, cũng như các sách ngữ pháp giảng dạy tiếng Anh
Cũng cần thấy, bên cạnh việc phân loại dựa vào mục đích phát ngôn, các tài liệu giảng dạy tiếng Anh còn dựa vào cấu trúc chủ – vị ( subject – predicate) để phân chia thành các loại câu, thường được gọi là phân loại dựa vào cấu trúc hoặc cấu tạo Tuy nhiên, đây không phải là trọng tâm của đề tài, vì vậy chúng tôi tạm thời không đề cập ở đây
2 PHÂN LOẠI CÂU HỎI DỰA VÀO MỤC ĐÍCH PHÁT NGÔN 2.1 Nhận xét chung
Giống như một số ngôn ngữ biến hình, câu hỏi trong tiếng Anh rất phức
tạp, có thể chia chúng ra nhiều loại khác nhau Trước hết, dựa vào câu trả lời,
có thể phân loại:
- Loại câu hỏi mong đợi một sự khẳng định hoặc phủ định, như trong Have you
finished the book?
- Loại câu hỏi mà thường được mong đợi một câu trả lời từ hàng loạt các câu trả
lời công khai như trong What’s your name? How old are you?
- Loại câu hỏi mong đợi sự trả lời là một trong hai hoặc nhiều sự lựa chọn đã
được trình bày ở câu hỏi, như trong Would you like to go for a walk or stay at
home?
2.2 Cách phân loại câu hỏi trong tiếng Anh
Các nhà ngôn ngữ nghiên cứu về tiếng Anh thường chia câu hỏi ra thành bốn loại chính:
Trang 20Loại câu hỏi Ví dụ
1 Câu hỏi toàn bộ ( Yes-No questions)
2 Câu hỏi bộ phận (Wh- questions)
3 Câu hỏi lựa chọn (Alternative questions)
4 Câu hỏi đuôi (Tag questions)
1 Do you like football?
Anh có thích bóng đá không?
2 Where are you from?
Quê anh ở đâu?
3 Would you like tea or coffee?
Anh thích trà hay cà phê?
4 You are a teacher, aren’t you?
Anh là giáo viên phải không?
2.3 Câu hỏi toàn bộ ( Yes – No questions )
Câu hỏi toàn bộ là loại câu hỏi yêu cầu xác định tính đúng –sai của mệnh đề đã được giả định là hợp lô gích
Ví dụ:
Do you wash your clothes by hand?
Chị giặt quần áo bằng tay phải không?
2.3.1 Hình thức câu hỏi toàn bộ
a) Câu hỏi toàn bộ thường được cấu tạo bằng cách đặt tác tử ( oprator ) trước chủ ngữ (subject) và lên giọng ở cuối câu:
He’ll be at the station Will he be at the station?
Hắn sẽ có mặt ở nhà ga Hắn sẽ có mặt ở nhà ga chứ ?
She’ll be waiting outside Will she be waiting outSIDE ? Cô ấy sẽ đợi ở phía ngoài Cô ấy sẽ đợi ở phía ngoài chứ?
Cần lưu ý, nếu không có một đơn vị nào trong cụm động từ mang chức năng như
tác tử ( operator) như ở trên , do được đưa vào cũng như trong trường hợp câu
phủû định
So sánh:
They like classical music Họ thích nhạc cổ điển
They do not like classical music Họ không thích nhạc cổ điển
Hãy quan sát:
Trang 21They like classical music Do they like classicalmusic?
Họ thích nhạc cổ điển Họ có thích nhạc cổ điển không?
Một lần nữa cũng giống như câu phủ định, động từ chính BE mang chức năng
như tác tử Have cũng hành động như một tác tử ( operator ).
He was at home last night Was he at home last night?
Tối qua anh ấy ở nhà Tối qua anh ấy ở nhà à?
b) Như đã nói, hình thức của câu hỏi được đánh dấu bằng các tác tử trước chủ ngữ và lên giọng ở cuối câu, tuy nhiên, việc lên ngữ điệu là một tiêu chuẩn của câu hỏi toàn bộ, nhưng việc hạ ngữ điệu thỉnh thoảng cũng xảy ra Có một cuộc thu thập câu hỏi toàn bộ từ các hồ sơ cuộc khảo sát tiếng Anh được thu một cách bí mật từ các cuộc đối thoại tự nhiên cho thấy: Có 430 câu hỏi kết thúc bằng việc lên ngữ điệu và 290 câu hỏi có ngữ điệu hạ xuống( R Quirk, sđd, tr 807.) Điều này cho thấy sự phân biệt chỉ có ý nghĩa tương đối Hơn nữa, việc
phân tích chỉ ra rằng số lượng câu hỏi toàn bộ có các tác tử tình thái can, could,
may, might và would có khuynh hướng ngữ điệu lên nhiều bằng ngữ điệu xuống
Bằng việc thay thế trọng âm hạt nhân ở từng phần riêng biệt của câu hỏi toàn bộ, chúng ta có thể tập trung sự nghi vấn vào một phần riêng biệt của thông tin làm tiêu điểm trong câu hỏi, nó không giống như phần ngừng của câu được giả sử là chưa biết Do đó, tiêu điểm rơi vào từng vị trí khác nhau trong các câu hỏi
Ví dụ:
Was he a famous actor in THOSE days?
Hồi đó anh ấy có phải là một diễn viên nổi tiếng không?
Như vậy câu hỏi này dựa trên cơ sở: Tôi biết anh ấy đã có lần là một diễn viên
nổi tiếng, nhưng đó là hồi ấy hay sau này?
Was he a FAMOUS actor in those days?
Tôi biết hồi đó anh ấy là một diễn viên - nhưng anh ấy đã là một diễn viên nổi
tiếng phải không?
Rõ ràng, tiêu điểm hỏi khác nhau thì nội dung hỏi cũng rất khác nhau
2.3.2 Câu hỏi toàn bộ xác định ( positive yes – no questions )
Trang 22Giống như câu phủ định, câu hỏi toàn bộ bao gồm cả các hình thức không
xác định (nonassertive) như any và ever Câu hỏi chứa những hình thức này nhìn
chung là trung hòa, không thiên về việc mong đợi lời đáp phủ định hoặc xác định Hãy so sánh:
CÂU TRẦN THUẬT CÂU HỎI
Someone called last night Did anyone call last night?
Có ai đó đã gọi điện đêm qua Có ai đó gọi điện đêm qua phải không?
I live somewhere near Dover Do you live anywhere near Dover?
Tôi sống ở một nơi gần Dover Anh sống ở đâu đó gần Dover phải không?
Nhưng các câu trả lời thì tình hình sẽ khác, nó có thể chỉ ra rằng người nói được dẫn dắt tới dạng trả lời, như anh ta muốn hoặc mong đợi Vì thế, nhìn từ một góc độ khác, câu hỏi xác định có thể được trình bày dưới dạng thiên về hướng trả lời như thế Nó có sự định hướng xác định, sử dụng những hình thức này hơn là những hình thức không xác định thông thường…
Ví dụ:
Did someone call last night?
Có ai gọi điện tối qua phải không?
Câu trên hàm ý: có đúng là có ai gọi điện tối qua không? và người hỏi chờ đợi một sự trả lời tương tự như thế
Do you live somewhere near Dover?
Bạn sống ( ở nơi nào đó ) gần Dover phải không?
Cũng cần nói ngay rằng một câu hỏi xác định cũng có thể có sự định hướng phủ
định Chú ý sự ảnh hưởng của từ really trong ví dụ sau:
Do you really want to leave now?
Bạn có chắc muốn đi bây giờ không?
Chúng ta ngầm hiểu: chắc chắn là bạn không muốn hay ít ra cũng có một sự lưỡng lự nào đó
Tuy nhiên, để tránh những lầm lẫn trong khi sử dụng cần lưu ýù, hình thức xác định được dùng, khi ta muốn có một lời đề nghị lịch sự hơn bởi vì chúng ta giả định là nhận được một sự trả lời tích cực Ví dụ sau là một minh họa:
Trang 23Would you like some cake?
Em có muốn dùng một chút bánh ngọt không?
2.3.3 Câu hỏi toàn bộ phủ định (Negative yes – no questions)
Trong tiếng Anh câu hỏi phủ định thường xuyên xảy ra Sự định hướng phủ định được tìm thấy trong các câu hỏi có chứa dạng thức phủ định của một loại hoặc nhiều loại:
- Don’t you believe me? Anh không tin tôi phải sao?
- Aren’t you joining us this evening? BạÏn không tham dự với chúng
tôi tối nay phải không?
- Has nobody called? Không có ai gọi tới phải không?
Trong các câu vừa xét đều có dạng thức phủ định không có yếu tố nghi vấn Còn nếu câu hỏi phủ định có các yếu tố nghi vấn xác định, thì lại thiên về sự định hướng xác định:
- Didn’t someone call you last night?
Không có ai gọi điện cho anh đêm qua à?
Tiền giả định là: Có một người nào đó đã gọi điện cho bạn đêm qua
- Didn’t he recognize you too?
Anh ấy cũng không nhận ra anh à?
Tiền giả định là: Trước đây anh ấy có quen biết anh
Những ảnh hưởng câu hỏi này cũng tương tự như của câu hỏi đuôi hoặc các loại câu hỏi chỉ sự không tin tưởng, ví dụ như đối với câu trên kia là: Chắc chắn đã có một người gọi điện đêm qua
Vị trí tiểu từ phủ định khác nhau tùy theo dạng thức của chúng đầy đủ
hoặc rút gọn được sử dụng hay không; n’t đi trước chủ thể, nhưng ngược lại not
hầu như đi sau chủ thểù Chúng ta hãy xem ví dụ sau:
Didn’t they warn you? Haven’t they left?
Did they not warn you? Have they not left?
Trang 24Cấu trúc not sau chủ thể hầu như được coi là trang trọng, thường xuất hiện trong
văn phong gọt dũa và vì thế dạng rút gọn thường hay được dùng trong tiếng Anh khẩu ngữ Việc lựa chọn trang trọng đặc biệt không xảy ra nếu cấu tạo của chủ ngữ quá dài Cả hai trật tự đều tuân theo qui luật chung của việc đảo ngữ chủ thể – tác tử ( subject- operator )
Ngoài các dạng câu hỏi phủ định trong tiếng Anh thường gặp trên đây, người ta còn đề cập đến cấu trúc thứ ba Cấu trúc này cũng mang tính trang trọng, trong đó tiểu từ đầy đủ ở vị trí giống như tiểu từ rút gọn, kiểu như:
Is not history a social science? Lịch sử không phải là khoa học xã hội sao?
Dạng thức câu hỏi này ngay trong nội dung nó đã hàm chứa một sự khẳng định
2.3.4 Câu hỏi tường thuật ( Declarative questions )
Không phải tất cả các loại câu hỏi yes - no đều có đảo ngữ chủ thể – tác
tử Câu hỏi tường thuật là loại câu hỏi giống như hình thức thông báo, ngoại trừ lên ngữ điệu ở cuối câu:
Boris will be THERE, I suppose? Tôi nghĩ Boris sẽ có mặt ở đây ?
He didn’t finish the RACE? Anh ta chưa kết thúc cuộc đua?
Câu hỏi tường thuật giống câu hỏi đuôi ở chỗ ngữ điệu đi lên và người hỏi mong đợi ở người nghe sự thẩm tra, xác minh Nhu vậy, câu hỏi có sự định hướng xác định, và có thể vì thế chỉ chấp thuận những hình thức xác định mà thôi
- He wants something to eat? Anh ta muốn ăn một thứ gì đó phải không ?
- Somebody is with you? Có người ở với bạn chứ?
Câu hỏi phủ định có sự định hướng phủ định và những hình thức không xác định trong câu cũng thể hiện điều đó Ta xét các ví dụ sau:
- You didn’t get anything to eat? Anh không muốn kiếm cái gì ăn à?
- Nobody ever stays at your place? Chưa ai từng ở chỗ anh hả?
Như vậy, câu hỏi tường thuật là một tiểu loại không thuần nhất, dựa vào các tiêu chí khác nhau, nhất là tiêu chí ngữ nghĩa và tiêu chí dựa vào câu trả lời,
Trang 25còn có thể phân xuất ra thành những tiểu loại nhỏ hơn Tiếc rằng do phạm vi luận văn, không cho phép chúng tôi thực hiện điều này
2.3.5 Câu hỏi toàn bộ với trợ động từ tình thái ( Yes-no questions with modal auxiliaries)
Thông tin về câu hỏi toàn bộ có trợ động từ tình thái đi kèm có liên quan đến sự giới hạn của chủ thể nói năng Trong đó vai trò của các động từ tình thái
có một ý nghĩa quan trọng Những trợ động từ tình thái chỉ sự cho phép ( may,
can ) và bổn phận, trách nhiệm ( must, have to ) nhìn chung bao gồm quyền lực
của người nói trong phần thông báo và vị thế người nghe trong câu hỏi Hãy quan sát các ví dụ sau:
Sp 1: May ( Can) I leave now? Hàm ý: Bạn sẽ cho phép tôi…
Cho phép tôi tôi đi bây giờ nhé?
Sp 2: Yes, you may (can) Hàm ý: Tôi sẽ cho phép bạn… Được bạn có thể đi
Sp 1: Must I leave now? Hàm ý:Bạn đang bảo tôi…
Tôi phải rời khỏi đây phải không?
Sp 2: Yes, you must Hàm ý: Tôi đang bảo bạn…
Đúng, anh phải rời khỏi đây
Một vài sự trao đáp bên trên cho thấy có sự phù hợp giữa loại câu hỏi với kết cấu động từ tình thái đi kèm và câu trả lời
Liên quan đến vấn đề đang bàn, chúng ta còn có shall, could, might…, chẳng
hạn:
Shall we eat now? Chúng ta ăn bây giờ chứ?
Cần thấy, việc sử dụng có tính giả thuyết các trợ động từ tình thái như
might [ sự cho phép], would [ ý muốn ], và could [ ý muốn ] đòi hỏi một sự đối
xử đặc biệt, vì thế trong câu hỏi toàn bộ, hình thức quá khứ thường được sử dụng để thể hiện phép lịch sự
Tuy nhiên, trong câu trả lời các động từ tình thái kiểu này lại được dùng dưới hình thức hiện tại Chúng ta hãy quan sát những ví dụ sau:
Trang 26Sp 1: Might I call you by your first name? Cho phép tôi gọi chị bằng tên? [1]
Sp 2: Yes, you may Dạ, anh cứ việc
Sp 1: Would you pay for me? Anh sẽ trả cho tôi chứ? [2]
Sp 2: Yes, I will Được, tôi sẽ trả
Sp 1: Could I see you for a moment? Tôi gặp anh một chút được không? [3]
Sp 2: Yes, you can Được, anh có thể
Đối với trường hợp need, tình hình phức tạp hơn Need ( trong tiếng Anh ít
dùng hơn tiếng Mỹ) được sử dụng như trợ động từ hình thái không xác định, mặc
dù là động từ chính (trong tiếng Mỹ) thường gặp là do have to
Ví dụ:
- Need they leave now? (trong tiếng Anh )
Họ cần đi ngay à?
- Do they need to leave now? ( trong tiếng Mỹ )
- Do they have to leave now?
Họ cần phải đi ngay à?
Những hình thức xác định tương ứng là must, have to hoặc động từ chính need:
Yes, they must
have to
need to
Mặt khác, must với ý nghĩa cần thiết có sự định hướng xác định trong
những trường hợp sau:
Why must it always rain when we want to have a picnic?
Tại sao trời lại cứ luôn mưa khi chúng ta muốn đi picnic nhỉ?
Cũng cần lưu ý always xác định sau must và tương phản với chúng là các từ ever sau need
So sánh các ví dụ sau:
Must it always happen this way?
Có phải điều đó thường xuyên xảy ra theo cách này không?
Trang 27
Need it ever happen this way?
Điều đó có cần phải xảy ra theo cách này không?
Như vậy, so với câu hỏi tường thuật (3.4), câu hỏi toàn bộ với động từ tình thái đi kèm phức tạp hơn Sự phức tạp không chỉ bởi số lượng động từ tình thái nhiều mà do chúng thường tạo ra hàm ý ngữ dụng( convensational implicature)
2.4 Câu hỏi bộ phận hoặc câu hỏi Wh ( wh- questions)
Câu hỏi này yêu cầu xác định điều muốn hỏi và thường do một từ hoặc ngữ đoạn không xác định thay thế hoặc hạn định
Ví dụ:
- Where do you go to shool? Cháu học ở đâu?
- What nationality is she? Cô ấy quốc tịch gì?
2.4.1 Hình thức câu hỏi bộ phận
Loại câu hỏi wh- được cấu tạo với sự hỗ trợ của một trong những từ nghi vấn thông thường sau: who/ whom/ whose, what, which, when, where, how, why
Tiêu điểm nghi vấn có thể là chủ ngữ, bổ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn, cách thức…Chúng có thể rơi vào bất cứ ngữ đoạn nào trong câu
Sự phân loại sau đây chủ yếu kèm ngữ nghĩa
Thời gian when, at what time, on which day…
Nơi chốn where, at what place, in which town,to which country
who, by whom,with which friends, whose house Đối Người
tượng Vật what, which
Cách thức how, in what way, in which way, by what means
Số lượng how much, how many, how long…
Sau đây chúng ta thử khảo sát các chức năng mà các từ nghi vấn có thể đảm nhiệm khi thực hiện mục đích hỏi
Chủ ngữ:
Trang 28Who gave Fiona a book?
Ai đã tặng Fiona cuốn sách?
Vị ngữ:
What did Charles do to Fiona?
Charles đã làm gì Fiona?
Bổ ngữ trực tiếp:
What did Charles give Fiona?
Charles đã tặng Fiona cái gì?
Bổ ngữ gián tiếp:
To whom did Charles give a book?
Charles đã tặng ai cuốn sách?
Trạng ngữ chỉ thời gian:
When did Charles give Fiona a book?
Charles đã tặng Fiona cuốn sách khi nào?
Trạng ngữ chỉ địa điểm:
Where did Charles give Fiona a book?
Charles tặng Fiona cuốn sách ở đâu?
Trạng ngữ chỉ lý do, nguyên nhân:
Why did Charles give Fiona a book?
Tại sao Charles tặng Fiona cuốn sách?
Trạng ngữ chỉ cách thức:
How do you come to school?
Bạn đi đến trường bằng gì?
Ngoài các chức năng vừa miêu tả ở trên, các từ nghi vấn có thể dùng để:
chỉ sở hữu:
Whose book was it?
Đó là sách của ai vậy?
chỉ số lượng:
- How many books have you got?
Anh có bao nhiêu cuốn sách?
Trang 29- How much money have you got?
Anh có bao nhiêu tiền?
Quả nhiên chúng ta thấy, phạm vi mà các từ nghi vấn trong tiếng Anh đảm nhiệm là tương đối rộng, xét về chức năng cú pháp Nếu chúng ta hình dung như Katz và Postal ( dẫn theo L W., Chafe, 1998.) câu hỏi gắn liền với
phân bố ngữ nghĩa thì loại Wh- questions chủ yếu là loại câu hỏi tìm kiếm thông
tin Loại câu hỏi đang xét ở đây, theo sự đánh giá của L.W Chafe, là loại câu
hỏi khuyết thiếu từ vựng Ví dụ như trong câu: Who broke the clock? Theo tác
giả, trong câu trên “ danh từ – tác nhân khuyết thiếu về mặt từ vựng” Người ta
mong đợi người nghe sẽ trả lời bằng câu: Michael broke the clock hoặc đưa ra
một đơn vị từ vựng khác nào đó theo ý muốn của anh ta (W.L Chafe., sđd, tr 426.)
Đây là một phương pháp tiếp cận mới và lý thú
Không giống như câu hỏi toàn bộ, câu hỏi wh- nhìn chung có ngữ điệu hạ
xuống Sau đây là một vài kiểu câu thường gặp có liên quan đến mô hình ngữ điệu
(i) yếu tố wh- ( yếu tố mệnh đề chứa từ wh- ) đứng đầu câu;
(ii) từ để hỏi wh- tự nó chiếm vị trí đầu tiên trong yếu tố wh-.
Chỉ có sự ngoại lệ trong nguyên tắc thứ hai, xảy ra khi từ để hỏi wh- có bổ sung
giới từ Ở đây tiếng Anh cung cấp sự lựa chọn giữa hai cấu trúc: lựa chọn mang tính trang trọng và lựa chọn mang tính bình dân, thân mật
So sánh:
On what did you base your prediction? ( trang trọng )
Sự tiên đoán của bạn dựa vào cơ sở nào?
What did you base your prediction on? ( bình dân, thân mật)
Nhìn chung, tuy cùng là dạng câu hỏi bộ phận nhưng lựa chọn kiểu nào là tùy thuộc vào mục đích giao tiếp
2.4.2 Câu hỏi bộ phận xác định ( Positive wh- questions)
Một câu hỏi nhìn chung có mối liên hệ với một câu trần thuật được gọi là
tiền giả định Đây là loại câu trần thuật mà vị trí yếu tố wh- chứa sự diễn tả bất định như somebody
Trang 30Câu trần thuật tiền giả định được giả sử là đúng bởi người sử dụng câu hỏi tồn
tại một trật tự câu thông thường Vì thế, nếu chúng ta liệt kê tiền giả định tương
đương với một trong số các câu hỏi, chúng ta có thể phân loại trật tự cú pháp
câu hỏi wh- trong mối quan hệ với các câu trần thuật
Chúng ta hãy quan sát các câu sau:
- Someone opened my letter Có ai đó đã đọc thư của tôi
- You have lent him some of the books Anh đã mượn anh ấy một vài cuốn sách
- You will be promoted sometime Đến lúc nào đó anh sẽ được thăng chức
Đây là những câu tường thuật có chứa những tiền giả định Tính chất phiếm
định như someone, some of the books, sometime… đều bao gồm một sự tiền giả
định
Lại xem xét các ví dụ khác:
-How does he feel? He feels somehow or other
Anh ta cảm thấy thế nào? Anh ta cảm thấy bằng cách này hay cách khác
- Where was she born? She was born somewhere
Chị ấy sinh ở đâu? Chị ấy sinh ở một nơi nào đó
Những ví dụ trên chứng tỏ câu hỏi wh- nhìn chung có thể được nối với tiền giả
định xác định Tuy nhiên nó có thể không có tiền giả định nếu có các từ có
phạm vi ngữ nghĩa không rõ ràng
Ví dụ:
- What help have they ever give us?
Họ đã từng giúp đỡ gì chúng ta?
-Who has any money?
Ai còn tiền?
2.4.3 Câu hỏi bộ phận phủ định ( Negative wh- questions )
Câu hỏi bộ phận cũng có dạng phủ định, khảo sát những trường hợp sau:
Who hasn’t had any coffee? Ai chưa có cà phê nào? (i)
Why didn’t you tell me? Tại sao anh không kể cho tôi ? (ii) When shouldn’t I call? Khi nào thì tôi không nên gọi điện ? (iii)
Trang 31Tất cả các câu hỏi trên đều là câu hỏi mang tính phủ định Chúng đều được xây dựng trên một tiền ước Chẳng hạn với câu (i) được xây dựng trên một
tiền giả định: Somebody hasn’t had any coffee ( Ai đó chưa có cà phê ) Tương tự, đối với câu (ii) Câu này được xây dựng trên cơ sở câu: You didn’t tell me for
some reason (Anh không kể cho tôi vì một lý do nào đó) Câu (iii) cũng được xây
dựng trên một cơ sở xác định như sau: I shouldn’t call at some time ( Tôi không
nên gọi điện vào một thời điểm nào đó)
Như vậy, trên cơ sở ngữ nghĩa của câu hỏi trong tiếng Anh, có thể thấy những điểm riêng biệt được tiền giả định có liên quan đến các câu tường thuật phiếm định
2.4.4 Câu hỏi bộ phận rút gọn
Trong tiếng Anh có một số câu hỏi được rút gọn để dùng trong văn phong nói
Ví dụ:
- Where to? ( thay vì: Where are you going to? )
Đi đâu vậy? ( thay vì: Anh dự tính đi đâu? )
- What for? ( thay vì: What are you learning Eng lish for? )
Để làm gì? ( thay vì : Chị học tiếng Anh để làm gì? )
- Why not? ( thay vì: Why don’t you go to the party?)
Tại sao lại không? Why not go to the party?
Sao lại không? ( thay vì: Tại sao anh chị lại không đi dự tiệc nhỉ? )
Nhìn chung, câu hỏi rút gọn chủ yếu dựa vào ngữ cảnh Chúng có đặc điểm là mang tính kế thừa thông báo và bị chi phối bởi các phương châm hội thoại
2.5 Câu hỏi lựa chọn ( Alternative questions )
Câu hỏi lựa chọn là loại câu hỏi mà trả lời đã được định sẵn trong một phạm vi nhất định Người nghe sẽ lựa chọn một trong những đáp số người hỏi đưa ra để trả lời, trong đó phải có ít nhất một đáp số chính xác
Ví dụ:
Do you like living in the city or in the country?
Anh thích sống ở thành thị hay ở thôn quê?
Trang 32Ở đây có một sự lựa chọn nhất định: hoặc ở thành thị hoặc ở thôn quê
2.5.1 Hình thức câu hỏi lựa chọn
Có hai loại câu hỏi lựa chọn Loại một giống như câu hỏi toàn bộ, loại hai như câu hỏi bộ phận Xét các ví dụ sau:
- Would you like CHO colate, vaNI lla, or STRAW berry( icecream )? (i)
Anh thích kem sôcôla, vani, hay dâu?
- Which cream would you LIKE ? CHO colate, va NI lla, or STRAW berry? (ii)
Anh thích loại kem nào? Sôcôla, vani, hay dâu?
Loại (i) khác câu hỏi toàn bộ chỉ ở ngữ điệu; thay vì lên giọng ở cuối câu,
ở đây lại nhấn mạnh những yếu tố tách biệt mang tính liệt kê: việc lên giọng gắn liền mỗi yếu tố trong phần liệt kê, trừ phần cuối để chứng tỏ việc liệt kê đã xong Sự khác nhau về ngữ điệu giữa câu hỏi lựa chọn và câu hỏi toàn bộ cũng rất quan yếu Việc không để ý đến nó có thể dẫn đến sự hiểu lầm - như sự tương phản giữa những lời đáp sau:
Lựa chọn: Sp 1: Shall we go by BUS or TRAIN ? Sp 2: By BUS
Chúng ta sẽ đi xe buýt hay xe lửa? Xe lửa
Toàn bộ: Sp 1: Shall we go by bus or TRAIN ? Sp 2: No, let’s take the CAR
Chúng ta sẽ đi bằng xe buýt hay xe lửa? Không, mình (sẽ) đi xe hơi
Loại (ii)ï là sự ghép của hai phần câu hỏi tách biệt: câu hỏi wh- theo sau bởi câu
hỏi lựa chọn tỉnh lược Vì thế (ii) có thể được coi là phiên bản rút gọn của:
Which icecream would you LIKE ? Would you like CHO colate, va NI lla, or STRAW berry? Chúng ta xét ví dụ khác:
Are you READ y? ( Bạn đã sẵn sàng chưa? )
Việc chuyển đổi câu hỏi toàn bộ sang câu hỏi lựa chọn thường chứa những yết tố dư, nói rõ hơn ở đây có sự trùng lặp
ARE you ready or AREN’T you ready?
Trang 33Bạn đã sẵn sàng hay chưa sẵn sàng?
Có nghĩa: Hoặc bạn đã sẵn sàng hoặc chưa sẵn sàng
Sự hợp nhất thứ hai có thể được rút gọn thành : or not:
ARE you ready or NOT ?
2.5.2 Câu hỏi lựa chọn tỉnh lược
Đối với cấu trúc của câu hỏi lựa chọn toàn bộ, hình thức tỉnh lược thường được ưa chuộng:
Ví dụ:
Did Italy win the World Cup or did Brazil win the world cup?
Italy đoạt cúp thế giới hay Brazil đoạt cúp?
Did Italy win the World Cup or did Brazil?
Italy đoạt World Cup hay Brazil đoạt?
Did Italy win the World Cup or Brazil?
Italy đoạt World Cup hay Brazil?
Thường phần chính của phần câu hỏi lựa chọn ở vế thứ hai, xét về mặt chức năng, vị trí phải phù hợp với phần câu hỏi ở vế thứ nhất
Did Italy or Brazil win the World Cup?
Italy hay Brazil đoạt World Cup?
Đối với câu hỏi lựa chọn phủ định có nội dung ngữ nghĩa rộng, dạng thức hỏi ở vế thứ nhất thường xuất hiện đầy đủ, trong khi ở vế thứ hai thường được rút gọn
Ví dụ:
Are you COM ing or AREN’T you ( coming) ? Anh đến hay anh không đến?
ARE you or AREN’T you coming?
Anh đến hay không?
Không có mô thức vế đầy đủ đứng trước kiểu: Are you coming or not? Bởi
vì nó sẽ vi phạm đòi hỏi tính tương đồng về cấu trúc của sự hợp nhất
Trang 342.6 Câu hỏi đuôi (Tag questions )
Câu hỏi đuôi là loại câu hỏi yêu cầu trả lời có- không, bao gồm hai phần: phần đầu là phần thông báo ở dạng khẳng định còn phần sau là dạng câu hỏi đuôi phủ định hoặc phần đầu là phần thông báo ở dạng phủ định còn phần sau là câu hỏi đuôi dạng khẳng định
Ví dụ:
- You have seen Ann yesterday, haven’t you?
Hôm qua anh đã gặp Ann rồi phải không?
- You don’t like coffee, do you?
Bạn không thích cà phê phải không?
2.6.1 Hình thức câu hỏi đuôi
Việc tạo ra câu hỏi này ở mức độ cao nhất được thể hiện bằng loại câu hỏi toàn bộ để tìm ra sự định hướng xác định hoặc phủ định – đó là câu hỏi đuôi gắn liền với phần thông báo chính
- The boat hasn’t left, has it ?
Thuyền chưa rời bến phải không?
- Joan recognized you, didn’t she?
Joan đã nhận ra anh phải không?
Qui luật chung để hình thành hầu hết loại câu hỏi đuôi thông thường là:
a Động từ to be và các động từ tình thái ( modal verbs) trong phần thông
You are a driver, aren’t you? Anh là lái xe phải không?
Tom can swim, can’t he? Anh biết bơi, phải không?
The students won’t have a test, will they?
Trang 35Sinh viên sẽ không phải làm bài kiểm tra chứ?
b Động từ thường (ordinary verbs) trong phần thông báo
Phần thông báo Phần câu hỏi đuôi
- You speak Vietnamese, don’t you? Anh nói tiếng Việt, được chứ?
- Mary doesn’t seem happy, does she? Mary dường như không vui, phải không?
- The students finished the test, didn’t they?
Sinh viên đã làm xong bài kiểm tra rồi chứ?
Ở đây chúng tôi muốn lưu ý mấy điểm:
- Vì để kiểm tra thông tin nên cả hai phần thông báo và phần câu hỏi đuôi có ngữ điệu đi xuống
- Động từ phủ định ở phần câu hỏi đuôi phải là dạng rút gọn
- Chủ ngữ ở phần câu hỏi đuôi phải là một đại từ
- Dạng rút gọn của AM NOT là aren’t
Ví dụ:
I am right, aren’t I? Tôi đúng, phải không?
- Khi sự tập trung của câu xác định nhằm vào một người hoặc một vật, phần hỏi đuôi phủ định với sự hạ giọng có thể được sử dụng như phát ngôn đáp để diễn tả sự đồng ý:
Sp 1: He is a good student Anh ta là một sinh viên giỏi
Sp 2: ( Yes ) isn’t he? Đúng vậy, phải không? [ Tôi đồng y.ù ]
2.6.2 Câu hỏi đuôi có cả hai phần thông báo và phần hỏi đều là xác định
thường hay ít gặp Tuy nhiên, về mặt lý thuyết chúng ta cũng phải tìm hiểu
Trang 36Hãy khảo sát các ví dụ sau:
- Your car is outSIDE, IS it?
Xe của anh ở phía ngoài phải không?
- You’ve had an AC cident, HAVE you?
Bạn đã bị tai nạn phải không?
Phần đuôi thường lên giọng và phần thông báo luôn có oh hoặc so đứng
đầu chỉ ra rằng người nói đi đến phần kết luận từ những gì đã được đề cập đến Ngữ điệu thỉnh thoảng có vẻ như một sự nghi ngờ châm chọc
So THAT ’s your little game, IS it?
Đó là một trò chơi nhỏ phải không?
Hai loại mô hình đuôi dưới đây thường được dùng sau phần cảm thán Câu hỏi đuôi mong đợi sự đồng ý của người nghe:
How THIN she is, IS n’t she!
Cô ấy mới gầy làm sao!
What a beautiful PAINTing it is, Isn’t it!
Bức họa đẹp quá phải không nào?
Câu hỏi đuôi có thể được viết tắt trong phần cảm thán:
- What a beautiful painting, isn’t it!
2.6.3 Câu hỏi đuôi hằng thể (Invariant tag questions)
Một vài loại câu hỏi đuôi mong đợi lời đáp từ người nghe có thể đặt sau phần thông báo hoặc phần cảm thán Chúng có cùng một hình thức nếu phần thông báo là xác định hoặc phủ định và thường được thể hiện bằng ngữ điệu đi lên
Ví dụ:
- They forgot to attend the lecture, am I right?
Họ quên tham dự giờ giảng, tôi nói đúng không?
- She passed the exam, right? ( không trang trọng , bình dân )
Cô ấy đã thi đậu đúng chứ?
Trang 372.6.4 Có quan điểm cho rằng, về mặt ngữ nghĩa, loại câu hỏi đuôi cũng là loại
câu hỏi lựa chọn, trong đó người nói nhằm đưa ra hai khả năng lựa chọn (hoặc thế này hoặc thế kia ), và chính phần đuôi tạo nên khả năng thứ hai để chọn lựa đó
Ví dụ :
I’m late, aren’t I? Tôi trễ, phải không?
Khả năngthứ nhất là: I’m late.( Tôi trễ ), còn khả năng thứ hai là I’m not late (
Tôi không trễ ), trong đó khả năng thứ nhất được coi là gần với hiện thực hơn,
là tâm điểm chú ý của người nói, cái mà anh ta muốn người đối thoại hướng tới và bày tỏ thái độ rõ ràng của mình Đây là một kiến giải mang tính lý thuyết có vẻ phù hợp với tiếng Anh, nhưng lại rất xa lạ với tiếng Việt
2.7. Tiểu kết
Như vậy, sau khi sơ lược điểm qua một số cách phân loại câu dựa vào mục đích phát ngôn, chúng tôi đã đi vào miêu tả và phân loại các dạng thức câu hỏi Tiêu chí chúng tôi dựa vào là cấu tạo các dạng thức câu hỏi là chính Tuy nhiên, trong một số trường hợp chúng tôi có liên hệ với câu trả lời tương ứng để tìm hiểu, đôi khi chúng tôi cũng quan sát theo ngữ nghĩa học Cách miêu tả này, chủ yếu là dựa vào các cách miêu tả trong các sách ngữ pháp tiếng Anh Chúng tôi hy vọng rằng dựa vào các cách phân loại này, trong đối chiếu với tiếng Việt, bản chất của câu hỏi ít nhiều mang tính chất tĩnh tại sẽ dễ được nhận diện hơn
3 ĐÔI NÉT VỀ NGHĨA NGỮ DỤNG CỦA CÂU HỎI
3.1 Nhận xét chung
Trở lên, chúng ta đã khảo sát các dạng thức câu hỏi dựa vào mục đích phát ngôn theo cách làm của ngôn ngữ học tiền dụng học Thực ra, như đã nói, nếu chỉ dựa thuần túy vào mục đích phát ngôn thì rõ ràng bức tranh phân loại không rõ ràng như vậy Nói cách khác, cách phân loại này, còn dựa vào hình thức, nếu không muốn nói đó là tiêu chí có ý nghĩa chi phối
Phần này, luận văn sẽ khảo sát mặt ngữ dụng của câu hỏi trong tiếng Anh Đây là một vấn đề rất khó, ngay đối với người bản ngữ vì nó còn phụ thuộc vào đặc thù văn hóa của từng quốc gia
Trang 38Trên cơ sở khảo sát các ngữ cảnh và một số dạng thức ngữ dụng, chúng tôi khái quát một số cách dùng thường gặp
Thử khảo sát hai câu hỏi sau:
- Is that your book?
Đó có phải là cuốn sách của chị không?
- Where can I get a good vegetarian meal?
Nơi nào thì cơm chay ngon?
Quả nhiên, dù bất cứ tình huống nào thì đây cũng là câu hỏi chính danh Trong hoạt động giao tiếp loại phát ngôn như vậy không nhiều Nói cụ thể, tuy hình thức là câu hỏi nhưng về chức năng là khác nhau, nghĩa là cùng một hình thức phát ngôn nhưng trong tương tác với ngữ cảnh, chúng sẽ đảm nhận những chức năng khác nhau
3.2 Các dạng câu hỏi biểu thị hiệu lực tại lời gián tiếp
Cấu trúc câu hỏi thể hiện sự đa dạng chức năng hành vi ngôn ngữ: chức năng tìm kiếm thông tin, cảm thán, chỉ dẫn
Ý định của người nói khi đặt một câu hỏi là thường để thu nhận thông tin mà anh ta hoặc chị ta tin tưởng người nghe biết Đa số các câu hỏi trong sử dụng hàng ngày thực hiện chức năng này, tuy nhiên, nó không chỉ có một chức năng Có rất nhiều câu hỏi biểu thị lực ngôn trung ( lực tại lời ) Nói rõ hơn, tuy có hình thức là câu hỏi, nhưng xét về mặt định hướng giao tiếp lại rất khác nhau
3.2.1 Câu hỏi có hiệu lực gián tiếp khẳng định
Theo để ý sơ bộ của chúng tôi, số loại câu hỏi có giá trị như một lời khẳng định ( lẫn phủ định ) có phần hạn chế trong tiếng Anh
Câu hỏi toàn bộ hoặc câu hỏi bộ phận với các thành tố phủ định đều có thể được dùng với ý khẳng định Trong câu hỏi, sự định hướng phủ định rất phức tạp bởi các yếu tố của sự ngạc nhiên hoặc sự không tin tưởng thường đan cài vào nhau
Ví dụ:
Trang 39Hasn’t she got home?
Con bé chưa về nhà à?
Câu này có nghĩa: Tôi nghĩ là lẽ ra nó phải về rồi mà sao lại chưa về
Khi mong ước hoặc một sự yêu cầu của người nói không được đáp ứng, các câu hỏi phủ định thường diễn tả một sự thất vọng
Can’t you drive straight?
Anh không thể lái xe thẳng được à?
Điều này có nghĩa là, tôi nghĩ rằng anh có thể, nhưng có vẻ như trái ngược với suy nghĩ của tôi
Aren’t you ashame of yourself?
Bạn không thấy xấu hổ vì bản thân mình sao?
Nghĩa là, lẽ ra bạn phải xấu hổ, nhưng trông bạn không như vậy
Đôi khi một câu hỏi tu từ phủ định lại có giá trị như một lời khẳng định mạnh mẽ:
Ví dụ:
Isn’t the answer obvious?
Câu trả lời này rõ ràng chứ?
( Chắc chắn là câu trả lời rõ ràng )
Haven’t you got anything better to do?
Anh không có việc gì hay hơn để làm à?
( Chắc chắn anh có cái gì hay hơn để làm )
How couldn’t you remember?
Anh không thể nhớ ra sao?
( Chắc chắn anh phải nhớ ra )
Trang 403.2.2 Câu hỏi có hiệu lực gián tiếp phủ định
Những câu hỏi với các đại từ nghi vấn how, why và các trợ từ tình thái
would, could, can, should thường được dùng cho mục đích phủ định
Ví dụ:
How can I tell her?
Tôi phải nói sao cho cô ấy hiểu đây?
có nghĩa: Tôi không thể nói cho cô ấy hiểu được
Sau đây, chúng ta tìm hiểu khả năng câu hỏi có thể xảy ra có định hướng
phủ định Các câu hỏi thể hiện bằng Why do you…? có tiền giả định xác định,
nhưng có sự định hướng phủ định khi chúng có lực tại lời chỉ dẫn ( force of directives ) Vì là một lời chỉ dẫn nên không bao giờ chúng ta dùng nó ở thì quá khứ
Ví dụ:
Why do you bother to reply?
Tại sao bạn lại nhọc lòng đáp lại?
có nghĩa: Bạn đáp lại nhưng không nên nhọc lòng làm gì
Why do you make so much fuss?
Tại sao anh làm ầm ĩ quá vậy?
có nghĩa: Anh đang làm ầm ĩ, nhưng không nên quá ầm ĩ như vậy
Do you expect me to wait here all day?
Bạn mong muốn tôi đợi ở đây cả ngày chắc?
Câu này được giải thích với nghĩa: Bạn không thể trông mong tôi đợi ở đây cả ngày, không có gì khiến cho tôi phải làm một chuyện như vậy và tôi đợi như vậy là quá lắm v.v
Chúng ta nên lưu ý Why did you…? là một lời yêu cầu chứ không phải là
lời chỉ dẫn, mặc dù ngụ ý là phủ định
Why did you bother to reply?
Tại sao lại phải nhọc lòng đáp lại?