1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt tiếng việt: Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.

27 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt
Tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Anh Thi
Trường học Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 718,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HẰNG NGA

KÍNH NGỮ TRONG TIẾNG NHẬT VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Mã số: 9.22.20.24

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI – 2023

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Khoa Văn hóa-Ngôn ngữ học,

Học viện Khoa học xã hội Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Anh Thi

Vào hồi giờ ngày tháng năm 2023

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Kính ngữ tiếng Nhật là một phạm trù rất quan trọng đối với người học và

sử dụng tiếng Nhật Sử dụng tốt kính ngữ sẽ góp phần quan trọng cho sự thành công trong giao tiếp bằng tiếng Nhật Sử dụng tốt kính ngữ, đặc biệt là với người nước ngoài không phải là vấn đề đơn giản Kính ngữ không chỉ là vấn đề ngôn ngữ, mà nó còn liên quan tới văn hóa xã hội: vị thế, khoảng cách

xa gần, quan hệ thân sơ, quan hệ trong ngoài giữa những đối tượng tham gia giao tiếp Sự phức tạp của kính ngữ tiếng Nhật cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, cũng như tại Nhật Bản và Việt Nam Các nhà ngôn ngữ học và các nhà giáo học pháp tiếng Nhật đã cho ra đời rất nhiều công trình nghiên cứu và tài liệu về kính ngữ tiếng Nhật Tuy nhiên, nghiên cứu kính ngữ tiếng Nhật dưới góc nhìn đối chiếu với tiếng Việt vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ Trong thực tế, cũng như ở nhiều nước, người học

và sử dụng tiếng Nhật ở Việt Nam, kể cả người đã đạt trình độ tiếng Nhật trung – cao cấp, vẫn cảm thấy rất lúng túng và mắc nhiều lỗi khi sử dụng kính ngữ tiếng Nhật Vì vậy, việc nghiên cứu kính ngữ trong tiếng Nhật và đối chiếu với những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt là hết sức cần thiết Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp người dạy, người học và người sử dụng tiếng Nhật tìm được phương pháp tiếp cận kính ngữ tiếng Nhật có hiệu quả Đó

là lí do chúng tôi thực hiện đề tài: “Kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu

hiện tương đương trong tiếng Việt”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu, phân tích để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa kính ngữ trong tiếng Nhật và những biểu hiện tương đương trong tiếng Việt

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ cụ thể sau: (1) Tổng quan các nghiên cứu quan trọng, tập hợp và khảo cứu các quan điểm lý thuyết về kính ngữ trong tiếng Nhật

(2) Miêu tả các phương thức thể hiện kính ngữ tiếng Nhật và các phương thức thể hiện tương đương trong tiếng Việt; Phân tích những điểm tương đồng và

Trang 4

khác biệt của kính ngữ trong tiếng Nhật với các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt

(3) Khảo sát, phân tích ngữ liệu có sử dụng kính ngữ tiếng Nhật và và các cách thức thể hiện tương đương trong tiếng Việt Phân tích một số quy tắc xã hội, cũng là đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua kính ngữ tiếng Nhật Đối chiếu những đặc điểm kính ngữ tiếng Nhật ở bình diện ngữ pháp và từ vựng

và các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt

(4) Nghiên cứu trường hợp bằng khảo sát, phân tích ngữ liệu thực tế về cách chuyển dịch phát ngôn có kính ngữ trong tiếng Nhật sang tiếng Việt, qua đó làm rõ biểu hiện kính ngữ tiếng Nhật và tương đương tiếng Việt trong

sử dụng

3 Đối tượng, phạm vi, nguồn ngữ liệu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các biểu hiện kính ngữ trong tiếng Nhật và tương đương trong tiếng Việt ở bình diện ngữ pháp và từ vựng

3.2.Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu cách thức thể hiện kính ngữ trong tiếng Nhật qua các phương thức ngữ pháp và phương thức từ vựng, đồng thời đối chiếu các phương thức này với các phương thức thể hiện tương đương trong tiếng Việt

3.3 Ngữ liệu nghiên cứu

*Ngữ liệu tiếng Nhật: Ngữ liệu chúng tôi sử dụng trong luận án được trích

rút từ 3 tác phẩm văn học Ba tác phẩm là: 心 (Nỗi lòng) của 夏目漱石

(Natsume Souseki),吾輩は猫である(Tôi là mèo) của 夏目漱石 (Natsume

Souseki),坊っちゃん(Cậu ấm ngây thơ) của 夏目漱石(Natsume Souseki)

Ngữ liệu thu thập từ các tác phẩm bao gồm các biểu hiện kính ngữ phong phú Đây là các tác phẩm của nhà văn nổi tiếng, viết vào đầu thế kỷ XX Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng ngữ liệu lấy từ các sách báo, từ điển tiếng Nhật có uy tín

*Ngữ liệu tiếng Việt: Chúng tôi thu thập biểu hiện tương đương kính ngữ

tiếng Nhật trong tiếng Việt từ các các đoạn hội thoại trích trong 6 tác phẩm văn học Việt Nam Sáu tác phẩm văn học tiêu biểu của Việt Nam trong thời kỳ tương

đương với các tiểu thuyết của Nhật được sử dụng, gồm có : Tắt đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố, Vỡ đê và Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Chùa đàn của Nguyễn Tuân, Tiểu thuyết Ngày mới của Thạch Lam Hơn nữa, chúng tôi cũng sử dụng

ngữ liệu lấy từ các sách báo, từ điển tiếng Việt có uy tín

Trang 5

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết được những nhiệm vụ đã đề ra của đề tài, luận án sử dụng một số phương pháp và thủ pháp cơ bản sau:

- Phương pháp đối chiếu được sử dụng để phân tích, đối chiếu ngôn ngữ, văn hóa nhằm tìm những điểm tương đồng và khác biệt trong các phương thức thể hiện kính ngữ tiếng Nhật và các cách diễn đạt tương đương trong tiếng Việt

- Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích ngữ cảnh và phân tích diễn ngôn, thủ pháp thống kê, phân loại, phân tích định lượng, phân tích định tính

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án cung cấp nguồn cứ liệu về các đặc điểm và nguyên nhân về mặt ngôn ngữ và văn hóa, các điểm giống và khác nhau trong cách biểu hiện kính ngữ tiếng Nhật so với các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt Luận án còn chỉ ra và phân tích một số đặc điểm khi chuyển dịch kính ngữ tiếng Nhật

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp cho công việc học tập, giảng dạy, sử dụng và nghiên cứu tiếng Nhật một cách có tính tổng thể và hệ thống về quan niệm, biểu hiện cụ thể, đặc điểm của kính ngữ tiếng Nhật, tương đồng và khác biệt với các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt và một

số đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của người Nhật thể hiện qua kính ngữ

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án dự kiến có kết cấu gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương 2: Các phương thức ngữ pháp biểu thị kính ngữ tiếng Nhật và

Trang 6

tương đương trong tiếng Việt

Chương 3: Các phương thức từ vựng biểu thị kính ngữ tiếng Nhật và tương

đương trong tiếng Việt

Chương 4: Khảo sát trường hợp chuyển dịch kính ngữ tiếng Nhật sang

tiếng Việt qua một số tác phẩm văn học và bản dịch tiếng Việt

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu kính ngữ trong tiếng Nhật

1.1.1 Tổng quan nghiên cứu kính ngữ

1.1.1.1.Tổng quan nghiên cứu kính ngữ trên thể giới

Các nhà ngôn ngữ học Nhật Bản nổi tiếng về nghiên cứu kính ngữ tiếng Nhật như:石坂正蔵 (Ishizaka Shouzou), 江湖山恒明(Eguchi Tsuneaki), 辻村敏樹(Tsujimura Toshiki), 宮地裕(Miyaji Yutaka), 大石初太郎(Oishi

Hatsutarou) với các công trình nghiên cứu có giá trị như: 敬語史論考」

(“Kính ngữ sử luận khảo”(1944),「現代の敬語」,(“Kính ngữ hiện đại”) (1967)「敬語の用法」, (“ Sử dụng kính ngữ”), (1991) 「敬語論語」, ( “Lý thuyết kính ngữ”) (1992)…

Một số học giả phương Tây cũng rất quan tâm tới kính ngữ tiếng Nhật, chẳng hạn như Cook, H M., Maynard, S , Chen, W với một số công trình nổi tiếng như [67],[68],[69],[70], ghi nhận rằng hệ thống kính ngữ tiếng Nhật có hai loại là kính ngữ dành cho chủ thể tiếp ngôn và kính ngữ dành cho thoại đề

1.1.1.2.Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, một số nhà ngôn ngữ học như: Trần Sơn [33], Nguyễn Thị Việt Thanh [39], Nguyễn Tô Chung [10], cũng đã có một số bài báo nghiên cứu về kính ngữ trong tiếng Nhật Những công trình này cho thấy một số đặc điểm của

kính ngữ trong tiếng Nhật Một trong những bài báo gần đây nhất “Những biểu thị kính ngữ trong tiếng Nhật” đăng trong tạp chí “Khoa học Ngôn ngữ” số 46,

ĐHHN

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu kính ngữ tiếng Nhật trong mối quan hệ với lịch sự

1.1.2.1.Tổng quan nghiên cứu trên thế giới

Kính ngữ và lịch sự có mối quan hệ khó phủ nhận, thu hút sự quan tâm của nhiều học giả thế giới Nghiên cứu kính ngữ trong mối quan hệ với lịch

Trang 7

sự sẽ cho thấy rõ hơn đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa được sử dụng trong kính ngữ Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã quan tâm đến vấn đề này như: Michel Haugh, Xiang Dong Liu, Todd James Allen, Yasuko Obana, Ide Sachiko, Matsumoto Yoshiko cho rằng kính ngữ là một công cụ ngôn ngữ quan trọng thể hiện lịch sự trong tiếng Nhật Kính ngữ tiếng Nhật tuân thủ theo

số quy chuẩn nhất định phụ thuộc vào đặc điểm ngôn ngữ của tiếng Nhật và đặc trưng văn hóa Nhật Bản

1.1.2.2 Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam

Kính ngữ và lịch sự trong tiếng Nhật cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam như: Nguyễn Thị Việt Thanh, Hoàng Anh Thi, Lê Thị Thu Hồng, Ngô Hương Lan… nhiều nghiên cứu riêng về lịch sự trong tiếng Việt Điển hình là nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Hương, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Thị Lương, Tạ Thị Thanh Tâm, Các nghiên cứu của của

Vũ Thị Thanh Hương như “Giới tính và lịch sự” (1999), “Lịch sự và phương thức biểu hiện tính lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt, trong ngôn từ, giới tính và nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt” và nhiều nghiên cứu khác

Nguyễn Văn Khang cũng là người có những nghiên cứu đáng chú ý về lịch

sự trong tiếng Việt, chẳng hạn “Nghi thức lời nói trong giao tiếp gia đình của người Việt”; “Ngôn ngữ học xã hội”

1.2.Cơ sở lý thuyết

1.2.1 Khái niệm kính ngữ tiếng Nhật

1.2.1.1 Khái niệm kính ngữ tiếng Nhật trong các từ điển

Một số từ điển tiếng Nhật lớn có uy tín đề cập đến khái niệm kính ngữ

như sau: Từ điển Kojien định nghĩa “Kính ngữ là biểu hiện ngôn ngữ thể hiện mối quan hệ liên quan đến vị thế, tính tôn ti, tính thân sơ của CTPN (người nói, hoặc người viết) với CTTN và thoại đề.” [169, tr814] Bên cạnh đó, từ điển Shinmeikai Kokugo Jiten đưa ra khái niệm ““Kính ngữ là ngôn từ

mà CTPN dùng để biểu thị sự lễ độ, tôn kính với CTTN, hoặc thoại đề”

[168,tr.409]

1.2.1.2 Khái niệm kính ngữ tiếng Nhật của các nhà nghiên cứu

Nhiều học giả nổi tiếng trong giới nghiên cứu kính ngữ tiếng Nhật đã bày

tỏ các quan điểm về kính ngữ tiếng Nhật được nhiều người biết đến như: Mitsuhashi Masahiro, Mitsuya Shigematsu, Tsujimura Yasuto, Kukichi Yasuhito, Obana Yasuko Trong luận án này, chúng tôi cho rằng cần thiết

Trang 8

sử dụng thuật ngữ “kính ngữ” phía tiếng Nhật song song với thuật ngữ “ngôn

ngữ lịch sự” phía tiếng Việt Kính ngữ là một kiểu lịch sự, có hệ thống chặt

chẽ, rõ ràng (mà Brown & Levinson gọi là lịch sự được mã hóa như đã trình bày trong tổng quan) có mặt ở một số ngôn ngữ như tiếng Nhật, Hàn, trong khi ở ngôn ngữ khác như tiếng Việt thì không có hệ thống mã hóa này

1.2.2.Phân loại kính ngữ tiếng Nhật

1.2.2.1.Hướng phân loại thứ nhất

Là phân loại của một số học giả căn cứ vào đối tượng thụ hưởng kính ngữ

và phân ra thành kính ngữ CTTN và kính ngữ thoại đề (theo chúng tôi, cũng

có thể gọi là đây kính ngữ trực tiếp và kính ngữ gián tiếp)Hướng phân loại nhìn nhận kính ngữ từ đối tượng hướng tới, được khởi xướng từ các học giả Brown & Levinson, Tsujimura Yasuto, Mori Yuta… Các học giả này cho rằng kính ngữ tiếng Nhật có hai loại chính là理解主体敬語 (kính ngữ

CTTN) và 話題敬語 (kính ngữ thoại đề)

1.2.2.2 Hướng phân loại thứ hai

Một số nghiên cứu quan trọng theo khuynh hướng này như: Báo cáo

về kính ngữ tiếng Nhật của hội đồng văn hóa Nhật Bản năm 2007 chia

kính ngữ thành 5 loại nhỏ hơn và nghiên cứu của 蒲谷博 (Kabaya

Hiroshi),(2017) chia kính ngữ thành 11 loại nhỏ hơn

Như vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân loại kính ngữ trong tiếng Nhật Tuy nhiên, các quan điểm phần lớn đều thống nhất dựa trên việc phân loại kính ngữ tiếng Nhật thành ba loại Chúng tôi thống nhất phân chia kính ngữ tiếng Nhật theo cách phân loại của thành ba loại chính: tôn kính ngữ, khiêm nhường ngữ và lịch sự ngữ

1.2.3 Một số đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp liên quan kính ngữ tiếng Nhật

1.2.3.1 Đặc điểm ngôn ngữ của tiếng Nhật

* Loại hình ngôn ngữ: Tiếng Nhật là ngôn ngữ chắp dính Phụ tố trong

tiếng Nhật bao gồm tiền tố và hậu tố

*Cấu trúc câu: Theo 仁田義雄(2009), cấu trúc câu của tiếng Nhật là

S-O-V (S là chủ ngữ, O là tân ngữ, V là động từ) Động từ đứng ở cuối câu, sau tân ngữ Động từ gánh vai trò thực hiện chức năng kính ngữ hết sức quan trọng, trong nhiều trường hợp có thể “đại diện” cho chủ ngữ

Trang 9

*Từ đồng nghĩa: Trong tiếng Nhật, từ điển Kojiten cũng định nghĩa 「同

義語」 (từ đồng nghĩa), là những từ tương đồng với nhau về nghĩa hiểu ngôn nhưng khác nhau về âm thanh và sắc thái ngữ nghĩa ví dụ như 「する」(làm)

và 「なさる」(làm).[169]

* Từ gốc Hán: Từ Hán Nhật và từ Hán Việt thường có sắc thái trang trọng

hơn từ thuần Nhật và từ thuần Việt Tuy nhiên, từ Hán Nhật và Hán Việt cũng

có một số đặc điểm riêng do quá trình tiếp xúc cũng như đặc điểm khác nhau vốn có của hai ngôn ngữ Những đặc điểm này cũng có ảnh hưởng tới các phương

thức thể hiện kính ngữ trong tiếng Nhật và tương đương trong tiếng Việt

1.2.3.2 Đặc điểm văn hóa giao tiếp trong tiếng Nhật

Chủ thể phát ngôn, chủ thể tiếp ngôn và thoại đề là những thành phần quan

trọng tham gia giao tiếp, không thể thiếu trong quá trình giao tiếp Giữa các thành phần trong một cuộc giao tiếp có những quan hệ và tương tác lẫn nhau, chi phối giao tiếp cả nội dung và hình thức Theo các nghiên cứu của Ide, kính ngữ sinh ra chính là để thể hiện mối quan hệ giữa các đối tượng tham gia giao tiếp Đó là các mối quan hệ liên nhân bao gồm quan hệ vị thế trên-

dưới, quan hệ thân-sơ và quan hệ trong-ngoài.[97]

1.2.4 Cơ sở lý thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu

Ngôn ngữ học đối chiếu có thể được thực hiện bằng một trong hai hướng đối chiếu sau Một là đối chiếu song song, có nghĩa là các ngôn ngữ được đối chiếu sẽ được miêu tả, phân tích và so sánh trên tất cả các bình diện như nhau Hai là, lấy một ngôn ngữ làm cơ sở chỉ đạo, ngôn ngữ này là ngôn ngữ đối tượng cần phân tích, làm sáng tỏ, ngôn ngữ còn lại sẽ là phương tiện, là điều kiện cho phép làm sáng tỏ đặc điểm của ngôn ngữ đối tượng Trong luận án này, chúng tôi thực hiện đối chiếu theo hướng thứ hai Tiếng Nhật là ngôn ngữ làm cơ sở chỉ đạo, tiếng Việt là được sử dụng như phương tiện để thực hiện đối chiếu

1.3.Tiểu kết chương 1

1) Chúng tôi thống nhất với quan điểm, kính ngữ và lịch sự cùng tồn tại trong ngôn ngữ Nhật Bản Kính ngữ là một trong những hình thức ngôn ngữ thể hiện lịch sự trong tiếng Nhật Một trong những biểu hiện lịch sự trong tiếng Nhật là

hệ thống các khuôn mẫu, các hình thái có sẵn mà tiếng Nhật gọi là Keigo - Kính

ngữ

Trang 10

2) Kính ngữ tiếng Nhật là cách thức sử dụng ngôn ngữ mà CTPN dùng để biểu thị lịch sự, lễ độ, tôn kính đối với các thành phần tham gia giao tiếp còn lại: CTTN hay thoại đề hoặc cả CTTN và thoại đề Ngôn ngữ được sử dụng

để thể hiện kính ngữ trên cả bình diện ngữ pháp và từ vựng

3) Kính ngữ tiếng Nhật là một phạm trù chỉ xuất xã hội, nó thể hiện các mối quan hệ liên nhân trong xã hội như: quan hệ trên-dưới, quan hệ thân - sơ, quan hệ trong-ngoài Người ở bề dưới thể hiện sự tôn kính đối với người ở

bề trên, sự tôn kính còn được thể hiện đối với những người lần đầu gặp hay người được coi là đối tác Việc thể hiện sự tôn kính có thể bằng ngôn ngữ tôn kính đối với những gì thuộc về đối tác hoặc ngôn ngữ khiêm nhường đối với những gì thuộc về mình

4) Kính ngữ tiếng Nhật hiện đại được phân chia thành ba loại cơ bản là tôn kính ngữ, khiêm nhường ngữ và lịch sự ngữ TKN được sử dụng trong

trường hợp để tỏ sự kính trọng, đề cao CTTN hoặc thoại đề TKN được thể

hiện bằng những hình thái nhất định của động từ, danh từ, tính từ…hay những

từ ngữ nhất định khi nói về hoạt động, trạng thái, tính chất…của CTTN hay thoại đề KNN được sử dụng để tỏ sự tôn kính đối với CTTN hoặc thoại đề

bằng cách hạ thấp vị thế của chủ thể phát ngôn khi nói về hoạt động, trạng

thái của CTPN KNN được thể hiện bằng những hình thái nhất định của động

từ, danh từ… hay những từ ngữ nhất định khi nói về hoạt động, trạng thái, tính chất…của CTPN LSN hay còn gọi là kính ngữ trung hòa được sử dụng

để thể hiện phép lịch sự xã giao Ngôn ngữ lịch sự được thể hiện bằng những hình thái nhất định của động từ, danh từ, tính từ…hay những từ ngữ nhất định khi nói về hoạt động, trạng thái, tính chất…của cả CTPN, CTTN và thoại đề 5) Tiếng Nhật thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính với đặc điểm nổi bật là phụ tố đóng vai trò rất quan trọng trong các hoạt động ngữ pháp của ngôn ngữ Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, các quan hệ ngữ pháp và

ý nghĩa ngữ pháp được biểu thị chủ yếu bằng hư từ và trật tự từ

6) Cấu trúc câu của tiếng Nhật là O-V, cấu trúc câu của tiếng Việt là V-O ( S là chủ ngữ, O là tân ngữ, V là động từ) Trong giao tiếp bằng tiếng Nhật, vai trò của động từ trong câu tiếng Nhật rất quan trọng Động từ trong các phát ngôn tiếng Nhật còn hàm chứa ý nghĩa về thái độ, mức độ lịch sự

S-mà CTPN muốn thể hiện

Trang 11

7) Cả tiếng Nhật và tiếng Việt đều từ đông nghĩa và từ gốc Hán Từ gốc Hán trong tiếng Nhật được gọi là từ Hán-Nhật, từ gốc Hán trong tiếng Việt được gọi là từ Hán –Việt Tuy nhiên, từ Hán - Nhật và từ Hán –Việt cũng có một số điểm khác nhau do quá trình tiếp xúc cũng như đặc điểm khác nhau vốn có của hai ngôn ngữ

8) Kính ngữ tiếng Nhật hoạt động trong giao tiếp cũng bị chi phối bởi rất nhiều nhân tố tham gia giao tiếp như: chủ thể phát ngôn, chủ thể tiếp ngôn, các mối quan hệ liên cá nhân

9) Để thực hiện được các nhiệm vụ của luận án, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học, phương pháp chủ đạo là ngôn ngữ học đối chiếu

Cơ sở đối chiếu là những tương đồng và khác biệt giữa kính ngữ trong tiếng Nhật và các cách diễn đạt tương đương trong tiếng Việt” Tiếng Nhật là ngôn ngữ làm cơ sở chỉ đạo, tiếng Việt là được sử dụng như phương tiện để thực hiện đối chiếu

CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG THỨC NGỮ PHÁP BIỂU THỊ KÍNH NGỮTIẾNG

NHẬT VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT

2.1 Các phương thức ngữ pháp biểu thị kính ngữ tiếng Nhật

2.1.1 Phương thức sử dụng tiền tố biểu thị kính ngữ tiếng Nhật 2.1.1.1.Tiền tố biểu thị tôn kính ngữ

2.1.1.2 Tiền tố biểu thị khiêm nhường ngữ

2.1.1.3 Tiền tố biểu thị lịch sự ngữ

2.1.2.Phương thức sử dụng hậu tố biểu thị kính ngữ trong tiếng Nhật

2.1.2.1.Hậu tố biểu thị tôn kính ngữ

Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ các phương thức ngữ pháp biểu thị kính ngữ tiếng

Nhật

Trang 12

2.1.2.2 Hậu tố biểu thị khiêm nhường ngữ

2.1.2.3 Hậu tố biểu thị lịch sự ngữ

2.1.3 Phương thức sử dụng tiền tố kết hợp hậu tố biểu thị kính ngữ tiếng Nhật

2.1.3.1.Tiền tố kết hợp hậu tố biểu thị tôn kính ngữ

2.1.3.2.Tiền tố kết hợp với hậu tố biểu thị khiêm nhường ngữ

* Kết quả khảo sát các phương thức ngữ pháp biểu thị kính ngữ tiếng Nhật

Trong các phương thức ngữ pháp thể hiện kính ngữ tiếng Nhật thì phương thức sử dụng tiền tố chiếm 44,5% (257 lần biểu hiện) Phương thức này chiếm

tỷ lệ cao nhất trong các phương thức ngữ pháp Nếu tính tỷ lệ trong các phương thức chung (tính cả trong số các biểu hiện theo các phương thức ngữ pháp và các phương thức từ vựng), thì phương thức sử dụng tiền tố biểu thị kính ngữ tiếng Nhật cũng chiếm tỷ lệ cao nhất so với các phương thức khác (27,3%) Như vậy, có thể khẳng định rằng, tiền tố đóng vai trò rất lớn trong việc hình thành các biểu hiện kính ngữ trong tiếng Nhật

2.2 Các biểu hiện ngữ pháp tương đương trong tiếng Việt

2.2.1 Phương thức sử dụng cấu trúc chủ-vị thể hiện lịch sự trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, nếu thiếu một trong hai thành tố chủ ngữ hoặc vị ngữ, câu trở thành câu giản lược Hai thành tố cơ sở trên ngoài nhiệm vụ đóng vai trò để đảm bảo tính trọn vẹn để diễn tả nội dung của một câu, còn có chức năng liên nhân Trong thực tế giao tiếp, câu được thể hiện ra thành các phát ngôn, có thể đủ thành phần nòng cốt như nói trên, hoặc cũng có thể là câu giản lược Trong đó, phát ngôn đủ thành phần được coi là có vai trò thể hiện tính lịch sự, sự tôn trọng của CTPN đối với CTTN Sở dĩ có thể nói như vậy

là vì, trong quá trình giao tiếp, ngữ cảnh cho phép giản lược mà không tổn thất, không sai lệch thông tin, nhưng để đảm bảo tính lịch sự, phát ngôn vẫn cần giữ đầy đủ thành phần Nói cách khác, CTPN không giản lược chủ ngữ hay vị ngữ mà bảo tồn cấu trúc chủ-vị cho phát ngôn đó với mục đích để thề hiện lịch sự trong giao tiếp, thể hiện sự tôn trọng hoặc tôn kính CTTN Đây

có thể coi là điều kiện cần, cùng với các yếu tố lịch sự khác là điều kiện đủ,

sẽ tạo nên tính lịch sự trọn vẹn cho phát ngôn

Trang 13

2.2.2 Phương thức sử dụng tình thái từ thể hiện lịch sự trong tiếng Việt

Tiểu từ tình thái (luận án gọi là “tình thái từ”) được dùng để phân biệt

trong mối quan hệ giữa người nói và người nghe Cụ thể tiếng “ạ” chủ yếu

dùng trong quan hệ của người hàng dưới đối với người hàng trên để bày tỏ

sự kính trọng Điểm riêng của tiếng “ạ” là nó có thể xuất hiện sau tất cả các

tiếng khác để điều chỉnh thái độ của người nói đối với người nghe bằng cách đưa thêm vào sắc thái kính trọng bên cạnh sắc thái thân hữu

2.2.3 Tổ hợp lịch sự trong tiếng Việt

2.2.3.1 Từ tố “Quý” trong tổ hợp lịch sự tiếng Việt

2.3.3.2.Từ tố “kính" trong tổ hợp lịch sự tiếng Việt

2.3.3.3 Một số từ tố khác trong tổ hợp lịch sự tiếng Việt

2.3.3.4 Tổ hợp lịch sự “dạ”, “vâng” trong tiếng Việt

* Kết quả khảo sát các phương thức ngữ pháp thể hiện tương đương trong tiếng Việt

Theo kết quả khảo sát nguồn ngữ liệu trên, trong các phương thức ngữ pháp thể hiện lịch sự tiếng Việt được thể hiện như biểu đồ dưới 2.5 dưới đây

Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ biểu thị lịch sự tiếng Việt của các phương thức ngữ

Ngày đăng: 16/06/2023, 09:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w