1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Câu bị động trong tiếng việt và tiếng anh qua thực tiễn dịch thuật anh việt

134 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Anh qua thực tiễn dịch thuật anh việt
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Yến
Người hướng dẫn PGS. TS. Đinh Lê Thư
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu (3)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (4)
    • 2.1. Quan điểm tiếng Việt không có dạng bị động hay câu bị động (4)
    • 2.2. Quan điểm tiếng Việt có dạng bị động hay câu bị động (7)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (9)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu (9)
    • 4.1. Phương pháp nghiên cứu (9)
    • 4.2. Nguồn ngữ liệu (10)
  • 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn (10)
    • 5.1. Ý nghĩa khoa học của luận văn (10)
    • 5.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn (10)
  • 6. Bố cục của luận văn (11)
  • CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ CÂU VÀ CÂU BỊ ĐỘNG (12)
    • 1.1 Một số vấn đề lí thuyết về câu (12)
      • 1.1.1. Định nghĩa về câu (12)
      • 1.1.2. Việc phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp (16)
        • 1.1.2.1. Tiêu chí hình thức (16)
        • 1.1.2.2. Tiêu chí ý nghĩa (20)
        • 1.1.2.3. Tiêu chí thông tin (20)
    • 1.2. Câu bị động trong tiếng Việt (22)
      • 1.2.1. Tiền đề lí thuyết của câu bị động trong tiếng Việt (22)
        • 1.2.1.1. Chủ đề và chủ ngữ (22)
        • 1.2.2.2. Phạm vi xuất hiện các chỉ tố “bị, được” trong câu tiếng Việt mang ý nghĩa bị động (34)
      • 1.2.3. Ý nghĩa thời gian trong câu bị động tiếng Việt (38)
        • 1.2.3.1. Ý nghĩa thời gian trong hiện tại (40)
        • 1.2.3.2. Ý nghĩa thời gian trong quá khứ (42)
  • CHƯƠNG 2: CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG ANH 2.1. NHẬN DIỆN CÂU BỊ ĐỘNG TIẾNG ANH 44 2.1.1. Xét về mặt dụng học (46)
    • 2.1.2. Xét về mặt cấu trúc (48)
    • 2.1.3. Xét về mặt ngữ nghĩa (53)
    • 2.2. Phân loại câu bị động trong tiếng Anh (54)
      • 2.2.1. Loại câu bị động có bổ ngữ tác thể (54)
      • 2.2.2. Câu bị động không có bổ ngữ tác thể (55)
    • 2.3. Các dạng câu bị động trong tiếng Anh (56)
      • 2.3.1. Câu bị động ở các thì, thể được hình thành từ câu chủ động tương ứng (56)
        • 2.3.1.1. Thể đơn (56)
      • 2.3.2. Câu bị động với các động từ tường thuật (73)
        • 2.3.2.1. Mẫu 1 (Pattern 1) (74)
        • 2.3.2.2. Mẫu 2 (Pattern 2) (74)
        • 2.3.2.3. Mẫu 3 (Pattern 3) (75)
      • 2.3.3. Câu bị động với các động từ tình thái (modal verbs) (76)
        • 2.3.3.1. Câu bị động với các động từ tình thái diễn đạt một sự tình trong hiện tại (0)
        • 2.3.3.2. Câu bị động với các động từ tình thái diễn đạt sự tình trong quá khứ (78)
    • 2.4. Một số lưu ý đặc biệt về câu bị động (80)
      • 2.4.1. Câu bị động với hình thức “S + have/ get + O + PP + by - agent” (80)
      • 2.4.2. Các hình thức chủ động của động từ có thể diễn đạt nghĩa bị động (81)
        • 2.4.2.1. Hình thức “V_ing” sau hai động từ “need”, “want” (81)
        • 2.4.2.2. Hình thức “to infinitive” (động từ nguyên mẫu có “to”) sau “there” (81)
    • 2.5. Câu bị động với hình thức “S + be + PP + to infinitive/ bare infinitive” hoặc “S + be + PP + V_ing” (82)
      • 2.5.1. Câu bị động với hình thức “S + be + PP + to infinitive/ bare infinitive + …” (82)
      • 2.5.2. Câu bị động với hình thức “S + be – PP + V_ing + …” (82)
    • 2.6. Câu bị động với giới từ “by” và “with” (83)
  • CHƯƠNG 3: VỀ VIỆC DỊCH THUẬT CÂU BỊ ĐỘNGTIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT 3.1. Một số vấn đề lý thuyết dịch (85)
    • 3.1.1. Khái niệm và nguyên tắc của việc dịch thuật (86)
      • 3.1.1.1. Khái niệm dịch thuật (0)
      • 3.1.1.2. Quá trình dịch thuật (87)
      • 3.1.1.3. Các nguyên tắc cơ bản của việc dịch thuật (87)
    • 3.1.2. Vấn đề dịch thuật và tiếp xúc ngôn ngữ (89)
      • 3.1.2.1. Quan hệ giữa dịch thuật và tiếp xúc ngôn ngữ (89)
      • 3.1.2.2. Phân biệt giữa tiếp xúc ngôn ngữ với dịch thuật (90)
      • 3.1.2.3. Tác dụng của việc dịch thuật đối với những biến thể của ngôn ngữ và những khác biệt về văn hóa của các dân tộc (90)
    • 3.2. Những cấp độ tương đương trong dịch thuật Anh – Việt (92)
      • 3.2.1. Sự tương đương về hình thức (Form equivalence) (92)
      • 3.2.2. Sự tương đương về nghĩa (Semantic equivalence) (92)
      • 3.2.3. Sự tương đương về tình huống (situation equivalence) ....... 913.3. Khái niệm về thì, thể trong tiếng (93)
    • 3.4. Một số lỗi thường gặp khi chuyển dịch câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt qua khảo sát thực tế (98)
      • 3.4.1. Các lỗi thường gặp với chương trình dịch tự động Google translate (98)
        • 3.4.1.1. Điểm qua lịch sử công trình nghiên cứu chương trình dịch tự động Google translate (98)
        • 3.4.1.2. Một số lỗi thường gặp qua kết quả khảo sát thực tiễn (99)
      • 3.5.2. Phân tích một số lỗi sai thường gặp trong cách chuyển dịch câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt của sinh viên (104)
      • 3.5.3. Phân tích một số lỗi sai thường gặp về cách diễn đạt nghĩa bị động trong tiếng Việt được chuyển dịch từ câu bị động tiếng Anh (107)

Nội dung

Khi bàn về vị từ, tác giả Cao Xuân Hạo 2001b [25] đã nhận định “bị, được” thường được xem là chỉ tố của dạng bị động nhưng tiếng Việt không có dạng bị động vì vai nghĩa của Đề không bị g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

oOo

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC

Mã số: 602201 Học viên thực hiện: NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN Cán bộ hướng dẫn: PGS TS ĐINH LÊ THƯ

Tp HỒ CHÍ MINH – Năm 2010

Trang 3

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Một trong những con đường thuận lợi nhất để tiếp thu trí tuệ và thành tựu của nhân loại là thông qua việc đọc tài liệu cũng như dịch thuật Tuy nhiên, dịch thuật lại là một công tác đòi hỏi rất nhiều kiến thức về ngôn ngữ, cũng như nền tảng về vốn sống, khả năng tiếp nhận thông tin, khả năng diễn đạt bằng cấu trúc sâu, cấu trúc bề mặt trong cả ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích, tức kiến thức về văn hoá Việc dạy và học ngoại ngữ đang phát triển rất nhanh ở hầu hết các nước trên thế giới và một nhu cầu thiết yếu cần phải làm hiện nay trong lĩnh vực ngôn ngữ là tìm ra điểm chung giữa hai ngôn ngữ để tạo điều kiện thuận lợi trong việc dạy và học ngoại ngữ Từ nhiều năm nay, tiếng Anh vẫn là ngoại ngữ được dạy và học rất phổ biến ở Việt Nam, đồng thời việc so sánh giữa tiếng Anh và tiếng Việt vẫn là vấn đề cấp thiết trong hoàn cảnh thông tin khoa học kỹ thuật, văn hoá ngày càng phát triển Xu hướng dạy tiếng Anh trong những năm gần đây đang được áp dụng

theo phương pháp phổ biến là Phương pháp giao tiếp (Communicative approach),

song không ít người lại không rõ thế nào là khái niệm giao tiếp Con người giao tiếp qua nhiều hình thức như qua nghe, nói, đọc, viết, ngôn ngữ cơ thể, thái độ, … Chính

vì hiểu chưa rõ khái niệm này nên một số chương trình dạy tiếng Anh hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng ít chú trọng nhiều đến môn dịch thuật Do vậy, khi bước vào làm việc hay khi đọc hiểu một bài đọc tiếng Anh, phần lớn người học tiếng Anh rất lúng túng khi chuyển dịch những nội dung tưởng chừng đơn giản

Là giáo viên dạy tiếng, qua thực tiễn giảng dạy, chúng tôi nhận thấy rằng phần lớn những người học, sử dụng tiếng Anh khi dịch bài đọc, tài liệu gặp không ít khó khăn trong việc chuyển ngữ chúng từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại Một phần là do người học ngoại ngữ chưa được đào tạo một cách cơ bản về ngôn ngữ, đặc biệt về lĩnh vực ngôn ngữ học so sánh, nhằm hiểu rõ và có thể chuyển dịch văn bản chính xác hơn về cấu trúc và ngữ nghĩa

Trang 4

Hơn thế nữa, việc đối dịch Anh – Việt và Việt – Anh đối với ý nghĩa bị động hiện nay vẫn là một vấn đề mang tính thời sự nhằm giải quyết một số vấn đề về thực tiễn, về câu bị động nói chung và ý nghĩa bị động nói riêng, cũng như góp phần vào việc soi sáng một số đặc điểm loại hình ngôn ngữ Trên cơ sở đó luận văn này chọn

đề tài nghiên cứu là “Câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Anh qua thực tiễn dịch

Anh - Việt”

Một trong những vấn đề về cấu trúc ngôn ngữ ảnh hưởng đến việc dịch thuật là việc chuyển dịch nghĩa giữa hai ngôn ngữ nói chung và việc chuyển dịch nghĩa của câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt nói riêng vốn rất khác biệt nhau về văn hoá,

về cấu trúc ngôn ngữ và về cách diễn đạt theo thói quen của người bản ngữ do ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ Cũng qua thực tiễn giảng dạy, chúng tôi thấy rằng phần lớn người Việt khi tiếp xúc với phạm trù ý nghĩa ngữ pháp này vẫn còn không ít lúng túng nên việc diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt khi chuyển dịch từ câu bị

động tiếng Anh sang đôi khi rất ngây ngô, tối nghĩa

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Dựa trên những thành quả nghiên cứu về ngôn ngữ học, có thể thấy có hai khuynh hướng nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Việt như sau:

2.1 Quan điểm tiếng Việt không có dạng bị động hay câu bị động

Bên cạnh hình thái học khi nhận định tiếng Việt không tồn tại câu bị động, một

số tác giả còn dựa vào đặc điểm tiếng Việt là ngôn ngữ thiên chủ đề (topic-

promiment) chứ không phải ngôn ngữ thiên chủ ngữ (subject-promiment), các ngôn

ngữ thiên chủ đề thì không thể xuất hiện dạng bị động bởi dạng bị động là đặc trưng của các ngôn ngữ thiên chủ ngữ, ý kiến này xuất phát từ luận điểm của hai tác giả

N.L Charles và S.A Thompson (1976) [108] về sự đối lập giữa hai loại hình ngôn

ngữ thiên chủ đề và thiên chủ ngữ Dựa vào luận điểm của hai tác giả này, tác giả

Cao Xuân Hạo (2001b) [25] cho rằng tiếng Việt không có dạng bị động, do đó không có câu bị động và cho rằng câu bị động là loại câu trong đó chủ ngữ không đảm đương vai người hành động, người mang tính chất hay người có cảm xúc, mà

là một vai nghĩa khác, thường là vai đối tượng của hành động, của tình cảm hay là

Trang 5

vai người nhận, trong khi các vai thường do chủ ngữ đảm đương có thể được chỉ rõ một cách hiển ngôn hay không Nghĩa bị động chính là nghĩa của loại câu vừa nói trên Theo tác giả, tiếng Anh và các thứ tiếng Âu châu khác là những ngôn ngữ

thiên chủ ngữ còn tiếng Việt có đủ những thuộc tính của một ngôn ngữ thiên chủ đề

Dạng bị động là một trong những đặc trưng của ngôn ngữ thiên chủ ngữ, còn trong các ngôn ngữ thiên chủ đề thì dạng bị động được xem là một hiện tượng ngoại biên, hạn hữu, không mấy khi có

Tác giả Nguyễn Thị Ảnh (2000) [1] dựa trên quan niệm Ngữ pháp chức năng

và tiếp thu quan điểm tác giả Cao Xuân Hạo cũng có quan điểm tương tự

Khi bàn về vị từ, tác giả Cao Xuân Hạo (2001b) [25] đã nhận định “bị, được” thường được xem là chỉ tố của dạng bị động nhưng tiếng Việt không có dạng bị động vì vai nghĩa của Đề không bị giới hạn như chủ ngữ trong các thứ tiếng Âu

Châu Hai vị từ này đều giữ nguyên nghĩa từ vựng nên không thể xếp vào loại hư từ

chỉ tố Bổ ngữ của nó có thể là danh ngữ hay vị ngữ Khi bổ ngữ của “bị, được” là

vị ngữ, hai vị từ này có thể được xem là một thứ vị từ tình thái, dù chủ thể của nó không trùng với chủ thể của vị ngữ làm bổ ngữ trực tiếp cho nó

Những tác giả ủng hộ quan điểm tiếng Việt không có dạng bị động và câu bị

động còn dựa trên quan niệm hai động từ “bị, được” là ngoại động từ (động từ

ngoại động chính danh) nên không thể xem chúng là dấu hiệu ngữ pháp biểu hiện quan hệ bị động

hai động từ độc lập đóng vai trò chính trong bộ phận vị ngữ của câu, không phải là

hư từ biểu thị dạng bị động của động từ Dạng chủ động và dạng bị động là phạm

trù ngữ pháp của tiểu loại ngoại động từ Động từ tiếng Việt không có phạm trù dạng theo khái niệm ngữ pháp truyền thống và tiếng Việt không có dạng bị động như các ngôn ngữ châu Âu nhưng tiếng Việt có cách diễn đạt ý nghĩa bị động riêng của mình, đó là cách biểu hiện bằng cấu trúc cú pháp

Tiếp nối ý kiến của tác giả Nguyễn Kim Thản, tác giả Nguyễn Minh Thuyết (1986b) [61], (1998) [63] cũng đã ủng hộ về việc không thừa nhận tiếng Việt có

Trang 6

dạng bị động và theo tác giả thì tiếng Việt có cách diễn đạt ý nghĩa bị động riêng,

đó là cách biểu hiện bằng phương tiện từ vựng

Tác giả Đinh Văn Đức (2001) [21] thì cho rằng hai từ “bị, được” chưa được

xem là hai hư từ thực sự, tác giả xếp chúng vào nhóm các động từ tình thái ngữ pháp, là những động từ trống nghĩa Ở chúng, các ý nghĩa từ vựng là rất ít, chúng đã được ngữ pháp hóa nhưng lại chưa trở thành những hư từ thực sự, những động từ này có nội hàm rất hẹp bên ngoài nên ngoại diên phải rộng, chúng luôn luôn có thành tố phụ Theo tác giả, xét trên phương diện ngữ nghĩa, các động từ này có hai

mặt: Một mặt chúng mang ý nghĩa ngữ pháp với tính cách là một trung tâm ngữ

pháp trong tổ hợp với thành tố khác, có thể đóng vai trò của tiêu chí ngữ pháp, trong quan hệ với ý nghĩa tiếp thu, bị động nhưng mặt khác chúng còn mang ý nghĩa tình thái tham gia diễn đạt các nhận xét đánh giá chủ quan của người nói, tính mục đích

của phát ngôn Khi diễn đạt ý nghĩa, các từ “bị, được” một mặt là phương diện diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp tiếp thụ nhưng tiếp thụ ở đây có thể được hiểu theo sắc thái

may hay rủi, mà may hay rủi là theo nhận thức và đánh giá của người nói, do đó

“bị, được” cũng lâm thời trở thành những từ tình thái Tình hình đối với các động

từ khác trong nhóm này, trên nguyên tắc cũng như vậy, điều đó khiến chúng trở thành những động từ tình thái – ngữ pháp

Thông qua việc so sánh ngữ nghĩa, ngữ pháp của các từ “bị, được, phải” trong tiếng Việt với các từ “ban, t’râm” trong tiếng Khmer, tác giả Vũ Đức Nghiệu (2002) cũng có cách nhìn nhận ý nghĩa bị động của các từ “bị, được” là do nghĩa tự

nó, chứ không phải do sự cấu tạo dạng bị động đem đến Vì vậy, theo tác giả: “Đó

là những từ có ý nghĩa thụ động chứ không phải là những từ ở dạng bị động hay yếu tố tạo dạng bị động cho động từ khác.” [38, tr.13-24]

Trong tiếng Việt, các cấu trúc cú pháp có thể được tạo lập nhờ những từ có ý nghĩa thụ động hoặc với cấu trúc có từ mang nghĩa thụ động và những từ này lại hoàn toàn không phải là những từ được biến hình để thể hiện dạng bị động (được hiểu với

tư cách là một phạm trù ngữ pháp), cho nên có thể nói cách khác, để thể hiện ý

nghĩa tương đương của dạng bị động trong các ngôn ngữ biến hình châu Âu thì

Trang 7

tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập, không biến hình đã sử dụng các phương thức từ ngữ chứ không phải là những phương thức về ngữ pháp

2.2 Quan điểm tiếng Việt có dạng bị động hay câu bị động

Theo hai tác giả Diệp Quang Ban và Nguyễn Thị Thuận (2000b) [3] thì ý

nghĩa bị động của câu cũng là một phạm trù như thức của câu, ý nghĩa bị động của

câu gắn nhiều với cách nhìn sự việc được phản ánh và hai tác giả đồng tình với quan niệm cho rằng tiếng Việt có dạng bị động, có câu bị động Theo hai tác giả, dạng hay thái bị động trong tiếng Việt không phải là dạng của động từ mà là dạng của một kiến trúc riêng với những đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa xác định Hai

tác giả lập luận rằng động từ trong tiếng Việt không biến hình từ, trong lúc đó phạm

trù dạng bị động, theo cách hiểu của các nhà ngôn ngữ Ấn – Âu, thì gắn liền với

dạng thức biến hình của động từ trong các ngôn ngữ có biến hình từ Kết luận hiển

nhiên là động từ tiếng Việt, nếu theo cách nhìn hình thái học đó, thì không thể có dạng bị động Tuy nhiên, hai tác giả lưu ý rằng việc xem xét dạng bị động như vậy

mới chỉ là kết luận về hình thái của động từ chứ không phải nói về phạm trù ý nghĩa

của dạng bị động và cách biểu hiện ngữ pháp tính của nó trong tiếng Việt Phạm trù dạng bị động của tiếng Việt theo hai tác giả vẫn có đủ tư cách một phạm trù ngữ pháp với điều kiện bắt buộc của ngữ pháp, là sự có mặt của ý nghĩa ngữ pháp phải được thể hiện bằng phương tiện hình thức theo lối ngữ pháp, nghĩa là hoặc bằng phụ

tố, hư từ, trật tự từ, các phương thức ngữ pháp khác và những phương thức ngữ pháp đó có thể được dùng tách riêng biệt hoặc dùng phối hợp với nhau

Theo tác giả Hoàng Trọng Phiến (1980): “Trong tiếng Việt, phương thức đối

lập bị động và chủ động không phải bằng con đường ngữ pháp thuần túy mà bằng con đường từ vựng – ngữ pháp” [40, tr.75] Theo tác giả, quan hệ cú pháp trong câu

bị động tiếng Việt được biểu hiện như sau:

- Bổ ngữ trong câu chủ động trở thành chủ ngữ trong câu bị động tương ứng

- Vị ngữ bao gồm các từ “bị, được, do” kèm theo động từ ngoại động

- Chủ thể ở câu chủ động không bắt buộc phải xuất hiện trong câu bị động tương ứng

Trang 8

Tác giả N.V Stankevick (1982) khi đối chiếu tiếng Việt với ba loại hình tiếng Hán đã nhận định tiếng Việt có mấy đặc điểm như sau về cách diễn đạt ý nghĩa bị động:

- Kiểu câu có động từ thụ động là kiểu phổ biến khá rộng

- Trong khi trình bày ý nghĩa bị động, có sự phân biệt rõ giữa trường hợp

“may; tốt” và trường hợp “rủi; xấu”

- Cái mà người ta gọi là “câu bị động” chỉ là một trường hợp cá biệt trong những biến thể của kiểu câu có động từ thụ động

- Vai trò của hư từ trong câu bị động là vai trò không rõ nét lắm

[28, tr.174-185] Tác giả Lê Xuân Thại (1985) [42] cũng tán đồng một quan điểm tương tự khi cho rằng tiếng Việt mặc dù không có các câu bị động hoàn toàn giống như câu bị động trong các ngôn ngữ châu Âu nhưng cũng có loại câu có thể gọi là câu bị động với những đặc điểm sau:

- Chủ ngữ của câu biểu thị đối tượng hành động chứ không phải là chủ thể hành động

- Vị ngữ câu bị động do tác động các động từ “bị, được” đảm nhiệm

- Sau vị ngữ là một cụm chủ vị

Tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh (2002) cũng có đồng quan niệm tiếng Việt có tồn tại câu bị động Tác giả đã nêu một số nhận xét của mình về loại câu bị động của tiếng Nhật và tiếng Việt:

… vấn đề câu bị động của tiếng Việt cho đến nay vẫn chưa dành được sự quan tâm thích đáng từ phía các nhà ngôn ngữ Người ta chỉ mới bàn đến những câu bị động “điển hình”, còn rất nhiều trường hợp không điển hình thì chưa được bàn tới Do vậy, người sử dụng chỉ mới biết dùng các

từ bị, được một cách tự nhiên chứ chưa có ý thức phân biệt khi nào biểu thị nghĩa bị động, khi nào không

[49, tr.25-30]

Trang 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Kế thừa thành tựu lý thuyết của các công trình nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Anh từ nhiều tác giả đi trước, thông qua luận văn thạc sĩ này, chúng tôi thực tiễn khảo sát các sinh viên chuyên và không chuyên tiếng Anh của Trường Cao Đẳng Kinh Tế Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh và Trường Cao Đẳng Bến Tre về cách diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt khi chuyển dịch từ các mẫu câu bị động tiếng Anh thông dụng qua hình thức dịch Anh - Việt và qua hình thức trắc nghiệm Đồng thời cũng với nguồn ngữ liệu khảo sát này chúng tôi

thực hiện khảo sát bản dịch sang tiếng Việt của chương trình dịch tự động Google

translate

Tuy nhiên, do khuôn khổ một luận văn Cao học và sự giới hạn của điều kiện nghiên cứu nên còn nhiều điều chúng tôi chưa thực hiện được, chẳng hạn như chúng tôi không đối chiếu và dịch các mẫu câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt cũng như ngược lại ở các văn bản thuộc những thể loại khác nhau với các phong cách khác nhau và chúng tôi không thể trích dẫn hết những quan điểm về dạng bị động của những tác giả trong và ngoài nước

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tiếp cận, khảo sát, phân tích, lý giải đối tượng, chúng tôi cố gắng tìm đọc các bài viết, công trình có liên quan đến vấn đề câu chủ động và câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Anh Trên cơ sở đó, chúng tôi cố gắng liệt kê các mẫu câu bị động tiếng Anh và thực hiện việc khảo sát thực tế về cách diễn đạt ý nghĩa câu bị động trong tiếng Việt khi chuyển dịch từ các mẫu câu bị động tiếng Anh thông dụng sang, sau đó chúng tôi tiến hành phân tích, thống kê một số lỗi

thường gặp thường gặp của sinh viên và chương trình dịch tự động Google translate

với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS, từ đó đưa ra các nhận xét và đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế những lỗi sai, cũng như khắc phục các khó khăn trong việc diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt khi chuyển dịch từ câu bị động tiếng Anh

Trang 10

4.2 Nguồn ngữ liệu

Ngữ liệu các vấn đề lý thuyết trong luận văn được kế thừa từ các công trình nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Anh của các tác giả đi trước Phần lớn các ngữ liệu ví dụ bằng tiếng Anh để minh họa các vấn đề lý thuyết trong luận văn được trích từ các nguồn sách, tự điển, trang web phục vụ cho việc giảng dạy và học tiếng Anh giao tiếp Trong đó chúng tôi chọn lọc một số câu bị động đa dạng về thể loại và có nguồn song ngữ Anh – Việt đưa vào việc khảo sát thực tiễn

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

5.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Luận văn này hy vọng bổ sung tư liệu và cụ thể hóa những khía cạnh của lý thuyết dịch cho những công trình nghiên cứu về dịch thuật mà vì lý do này hay lý

do khác đã không được phát triển mạnh trong nhiều năm qua Việc so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ ở cấp độ câu sẽ mang đến cho người đọc có cái nhìn chi tiết hơn

và sự hiểu biết sâu sắc hơn sự khác biệt và tư duy văn hóa thể hiện trong cả hai ngôn ngữ Anh và Việt

5.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Những phát hiện và ghi nhận của luận văn có thể được ứng dụng trực tiếp vào việc giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ cho học viên Việt Nam Những gợi ý của chúng tôi mong muốn được phần nào hỗ trợ người học trong việc chuyển tải nội dung bản dịch, cũng như việc chuyển dịch ý nghĩa bị động Anh –Việt và góp phần nâng cao chất lượng việc giảng dạy tiếng Anh cho người Việt Nam, đặc biệt rất thiết thực cho chuyên ngành đào tạo biên phiên dịch tiếng Anh, cũng như giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Việc nắm vững câu bị động giữa hai ngôn ngữ là hết sức cần thiết, kết quả nghiên cứu của công trình cũng sẽ góp phần tìm hiểu sự diễn đạt ý nghĩa bị động trong phát ngôn của người Việt, người Anh và để tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài học tiếng Việt cũng như người Việt Nam học tiếng Anh

Trang 11

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung luận văn được triển khai thành ba chương với hướng trình bày và nghiên cứu như sau:

Chương 1 Một số vấn đề lí thuyết về câu và câu bị động trong tiếng Việt Chúng tôi trình bày một số lý thuyết, quan điểm về câu trong tiếng Việt trên các bình diện cấu trúc và chức năng của câu, từ đó giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quan về bức tranh chung của việc nghiên cứu ngữ pháp câu nói chung và câu

bị động trong tiếng Việt nói riêng qua hai quan niệm cơ bản, một quan niệm cho rằng trong tiếng Việt có dạng hay câu bị động và một quan niệm khác lại cho rằng trong tiếng Việt không có dạng hay câu bị động mà chỉ có những phương tiện diễn đạt ý nghĩa bị động

Chương 2 Câu bị động trong tiếng Anh

Chúng tôi trình bày khá đầy đủ, chi tiết các loại câu bị động tiếng Anh với các hình thức, chức năng của từng mẫu câu bị động tương ứng với từng mẫu câu chủ động và chúng tôi đưa ra mục đích sử dụng của từng mẫu câu bị động này trong các ngữ cảnh, trường hợp cụ thể

Chương 3 Về việc dịch thuật câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt

Chúng tôi khái quát một số vấn đề liên quan về lý thuyết dịch thuật, về những cấp độ tương đương trong dịch thuật Anh – Việt, … làm cơ sở lý thuyết cho việc khảo sát thực tiễn cách diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt khi chuyển dịch từ câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt của người Việt nói chung và của sinh viên,

chương trình dịch tự động Google translate nói riêng

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ CÂU

VÀ CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT

1.1 Một số vấn đề lí thuyết về câu

1.1.1 Định nghĩa về câu

Lịch sử ngôn ngữ học chỉ ra rằng: Ở cấp độ trừu tượng nhất có thể thấy rõ hai hướng nghiên cứu ngôn ngữ truyền thống dường như mâu thuẫn với nhau có nguồn

gốc từ thời cổ Hi Lạp là Chủ nghĩa hình thức và Chủ nghĩa chức năng

Trên bình diện của Chủ nghĩa hình thức, ngôn ngữ được xem là đối tượng trừu

tượng và ngữ pháp là sự đặc trưng hóa các đối tượng này theo các qui tắc của cú pháp và được ứng dụng độc lập cùng với ý nghĩa và sử dụng các cấu trúc được mô

tả Ở bình diện này, ngôn ngữ (language) theo quan điểm của tác giả F De Saussure (2005) [27], hay khả năng (competence) theo tác giả N Chomsky (1965)

[81] được xem là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học và ngữ pháp được xem như một hệ thống các qui tắc

Trái với Chủ nghĩa hình thức, Chủ nghĩa chức năng không xem ngôn ngữ như

một tập hợp các qui tắc mà như một nguồn lực, một cách thức hành động Theo tác

giả N Chomsky (1965): “Ngôn ngữ được xem như là công cụ của sự tương tác xã

hội giữa người với người, được sử dụng với mục đích chủ yếu là thiết lập các mối quan hệ giữa người nói và người nghe.” [81, tr.1]

Trong quá trình phát triển của nền Việt ngữ học, cho dù việc nghiên cứu ngữ

pháp muộn hơn nhiều so với việc nghiên cứu các ngôn ngữ khác nhưng thành tựu nghiên cứu tiếng Việt của các nhà ngôn ngữ học là rất đáng kể, đặc biệt là sự nghiên

cứu tiếng Việt trên bình diện Ngữ pháp chức năng, một cách tiếp cận ngôn ngữ khá

mới mẻ

Các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Hệ hình hệ thức hướng sự chú ý của

mình đến công cụ hay phương tiện ngôn ngữ, tức tập trung vào việc cơ chế hóa công cụ này để xem nó được cơ cấu về mặt hình thức như thế nào, nhưng lại không

Trang 13

quan tâm đến việc sử dụng nó như thế nào trong đời sống xã hội của con người cho

dù câu được xem là đơn vị giao tiếp nhưng việc nghiên cứu ý nghĩa của câu lại được

đưa xuống hàng thứ yếu, nghĩa là câu chỉ được xem xét khi cần phục vụ cho mục

đích nghiên cứu bình diện hình thức của ngôn ngữ

Điều này, theo tác giả Cao Xuân Hạo (2004) là tất yếu bởi mục đích nghiên cứu chính của các nhà ngôn ngữ học theo hướng này là nghiên cứu cấu trúc của các

dấu hiệu ngôn ngữ trong trạng thái tĩnh Tác giả cho rằng: “Ngữ pháp chức năng là

một hệ thống phương pháp được xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ như là một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người với người.” [26, tr.3]

Như vậy, Ngữ pháp chức năng đặt vấn đề xem xét không chỉ trên bình diện

Ngôn ngữ học mà còn trên cả những bình diện khác như Dụng học, Ngon ngữ học

xã hội và Ngôn ngữ học tâm lí

Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu câu bị động tiếng Anh và câu bị động tiếng

Việt trong cả trạng thái động lẫn trạng thái tĩnh, tức xem xét câu bị động tiếng Anh

và câu bị động tiếng Việt tồn tại trên văn bản với tư cách là một sản phẩm mang cơ chế tuyến tính đã có sẵn, và xem xét câu ở trạng thái động, tức câu trong văn bản với tư cách là sản phẩm của quá trình chuyển tiếp sự kiện – tình thái trong tư duy sang sự kiện – tình thái trong lời Rõ ràng, trạng thái tĩnh và động của hiện tượng ngôn ngữ thuộc nhiều cấp độ khác nhau, tùy thuộc vào loại đơn vị ngôn ngữ nào được xét đến

Theo Ngữ pháp truyền thống, câu được hiểu như đơn vị ngữ pháp lớn nhất (là đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp học) Bên cạnh đó, câu còn được hiểu là đơn vị

được làm thành từ một mệnh đề (mà mệnh đề lại là thuật ngữ của logic và đơn vị

nhỏ nhất có thể dùng để giao tiếp là câu), vì thế có thể hiểu câu là mệnh đề theo cách nhìn của ngôn ngữ học Cho thấy định nghĩa câu là mệnh đề được thể hiện

bằng ngôn ngữ của tác giả E Sapir (1949) [107] là hoàn toàn có thể chấp nhận

được Về việc định nghĩa câu, cho đến nay có khá nhiều điểm khác nhau Theo sự

thống kê của các chuyên gia ngôn ngữ học thì có hơn 300 định nghĩa khác nhau về câu Có thể qui về những hướng quan sát sau đây:

Trang 14

(i) Dựa vào hoạt động giao tiếp, theo định nghĩa của tác giả A Meillet, tác giả Trương Văn Chình (1963) cho rằng: “Câu là tổ hợp tiếng dùng để diễn tả một sự

tình hay nhiều sự tình có quan hệ với nhau, tổ hợp ấy tự nó tương đối đầy đủ ý nghĩa, và không phụ thuộc về ngữ pháp vào một tổ hợp nào khác.” [10, tr.476]

(ii) Dựa vào hành động phát ngôn, tác giả E Sapir (1949) [107] đã có ý kiến

câu là một hành động ngôn ngữ diễn đạt một hành động của tư duy Việc phân loại

câu theo cấu trúc nghĩa, cấu trúc Đề – Thuyết dựa trên định hướng triển khai của tư duy Tư duy chọn cái gì làm xuất phát điểm, đó là phần Đề, còn tư duy triển khai cái

gì thì đó là phần Thuyết Tác giả Cao Xuân Hạo và các học trò của tác giả cũng đã

theo hướng phân tích ngữ nghĩa này

(iii) Theo quan điểm của Ngữ pháp truyền thống, các nhà Ngôn ngữ học dựa

vào các tiêu chí sau đây:

- Về tiêu chí hình thức, hai tác giả N.L Charles và L.C Thompson (1976) cho

rằng:

Ở trong tiếng Việt, các câu được tách ra khỏi nhau bởi những ngữ điệu kết thúc Một đoạn có một hay nhiều nhóm nghĩa, kết thúc bằng một ngữ điệu kết thúc hay đứng sau một sự im lặng hay tiếp một đoạn khác cũng như vậy là một câu Sự độc lập của những yếu tố như vậy là một câu Sự đối lập của những yếu tố như vậy được phù hiệu hóa trong chữ viết bởi cách dùng một chữ hoa ở đầu câu và một dấu kết thúc (dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than ở cuối câu)

[108, tr.85]

Nhìn chung định nghĩa này chỉ đơn thuần dựa trên tiêu chí hình thức mà bỏ qua tiêu chí ý nghĩa cũng như cấu tạo của câu

- Về tiêu chí ý nghĩa, các tác giả Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Phan

Thiều, Lê Cận, Hoàng Văn Thung, Hồ Lê, Hồng Dân, … đại diện cho khuynh

hướng xem hình thức - ngữ nghĩa là cơ sở cho việc tạo câu vì thế dựa vào định

nghĩa của tác giả V.V.Vinogradov, tác giả Nguyễn Kim Thản (1997c) cho rằng:

“Câu không phải là những đơn vị sẵn có của ngôn ngữ, nó là những tổ hợp được

Trang 15

thành lập khi con người vận dụng ngôn ngữ để tư duy, giao tiếp hay truyền đạt tư tưởng, tình cảm, thái độ Sự vận dụng ngôn ngữ như thế chính là lời nói.” [47,

tr.501-506] và tác giả đã đưa ra ba đặc điểm để đề cập đến việc cấu tạo câu là: Tính

hoàn chỉnh không tách rời hoàn cảnh ngôn ngữ; Tính không tách rời qui tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ; Câu phải có ngữ điệu kết thúc

- Về tiêu chí cấu tạo, theo tác giả Diệp Quang Ban (2000a): “Câu là đơn vị

của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ.” [2, tr.106-107] Theo Ủy

Ban Khoa Học Việt Nam (1983) cũng cho rằng: “Câu là đơn vị dùng từ hay đúng

hơn dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; Nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp và có tính chất độc lập.” [68, tr.167]

Nhìn chung các tác giả trên đều quan tâm đến ba tiêu chí: Tiêu chí hình thức;

Tiêu chí ý nghĩa; Tiêu chí cấu tạo nhưng chưa đề cập đến mối quan hệ với người sử

dụng, vì vậy trong quá trình nghiên cứu về câu trong tiếng Việt và tiếng Anh, chúng

tôi nhận thấy câu là đơn vị dùng từ hay ngữ đặt ra trong quá trình tư duy và luôn

gắn với một ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ,

truyền đạt tư tưởng, tình cảm của người nói Câu có cấu tạo ngữ pháp đôc lập và có

ngữ điệu kết thúc Từ góc nhìn ba bình diện: bình diện kết học; bình diện nghĩa học; bình diện dụng học, chúng ta nhận thấy:

- Trên bình diện kết học, câu là một đơn vị cấu trúc (một tổ chức hình thức)

độc lập bao gồm các yếu tố là các ngữ đoạn và mối quan hệ giữa các yếu tố qui định chức năng cho từng yếu tố

- Trên bình diện nghĩa học, tổ chức hình thái của câu biểu đạt một nhận định

của tư duy, tức là biểu đạt một mệnh đề - một tư tưởng tương đối trọn vẹn về mặt ý

nghĩa nên có chức năng thông báo

- Trên bình diện dụng học, câu được hình thành thông qua người nói, tức thông

qua sự nhận thức của chủ thể nói năng đối với hiện thực Nhờ vậy, ngoài việc biểu

Trang 16

hiện ý nghĩa khách quan của thực tại, câu còn biểu hiện ý nghĩa sắc thái mang tính chủ quan của người nói trong việc nhận thức, đánh giá thực tại và trong cách thức phát ngôn thông báo nhằm mục đích giao tiếp nhất định

Như vậy, câu là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, là sản phẩm được tạo ra để phục vụ mục đích giao tiếp và là một trong những đơn vị không có sẵn (so sánh với âm vị, âm tiết, hình vị, từ, ngữ cố định, thành ngữ là những đơn vị

có sẵn, ngữ tự do) Câu do các đơn vị có sẵn kết hợp theo các qui tắc ngữ pháp tạo thành Câu có cấu tạo ngữ pháp nhất định và là một chỉnh thể ngữ pháp độc lập với

ngữ điệu thể hiện riêng Ngữ điệu kết thúc khi phát ngôn câu là dấu hiệu kết thúc

câu Câu chứa đựng một nội dung thông báo như: Phản ánh hiện thực hoặc truyền đạt những thái độ, tình cảm, ý định, … của người nói đối với giao tiếp, đồng thời thể hiện thái độ chủ quan của người nói đối với hiện thực, với đối tượng giao tiếp

Đó là tính tình thái của câu, là dấu hiệu quan trọng để nhận diện câu Chức năng

thông báo là chức năng của câu và các đơn vị trên câu Nói cách khác, những đơn vị

và các kết cấu ngữ pháp nào không có chức năng thông báo thì chưa phải là câu Câu có thể được xem xét theo hai mặt: Một mặt câu do các đơn vị và các kết cấu ngữ pháp tạo thành, thuộc hệ thống kết cấu của ngôn ngữ Mặt khác câu thực hiện

chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, là sản phẩm của hoạt động giao tiếp thuộc lời nói Căn cứ vào hai mặt trên, câu được phân loại ra theo hai hướng: Hướng cấu tạo

ngữ pháp, tức là các kiểu kết cấu, tạo thành câu trong hệ thống ngôn ngữ và hướng

mục đích pháp ngôn, tức là các kiểu câu thực hiện các chức năng giao tiếp nhất

định

1.1.2 Việc phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp

Việc phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp có lẽ là một trong những vấn đề gây nhiều tranh luận trong nhiều thập niên qua Như chúng ta đã biết, để phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp, các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt và các tài liệu khác thường dựa vào các tiêu chí sau:

1.1.2.1 Tiêu chí hình thức

a Dựa vào cụm Chủ – Vị

Trang 17

Lien quan đến câu bị động tiếng Anh và câu bị động trong tiếng Việt, Ngữ

pháp học truyền thống cho rằng cụm Chủ – Vị là cơ sở để xây dựng mệnh đề và dựa

vào số lượng mệnh đề trong câu để phân loại câu, trong đó vị ngữ là thành phần không thể thiếu được Tác giả Hoàng Tuệ (1992) cho rằng câu tiếng Việt có kết cấu nền tảng là cụm Chủ – Vị Câu chỉ có một mệnh đề là câu đơn, câu có từ hai mệnh

đề trở lên là câu ghép Nhưng với những câu có mô hình cấu tạo như nhau hay những câu không phải là mệnh đề như: “Cháy!”; “Mùa thu năm 1946”; … thì không thể xếp vào loại câu đơn hay câu ghép được mà tác giả gọi là “câu đơn bổ

cú” [65, tr 124]

Cũng dựa vào số lượng cụm Chủ – Vị làm nòng cốt, mà mỗi phần Chu, phần

Vị của nó đảm nhiệm vai trò là thành phần chính trong câu, cụm Chủ – Vị nào chỉ

đóng vai trò của một thành phần trong câu đều không phải là cụm Chủ – Vị trong câu để phân loại câu Câu có một cụm Chủ – Vị làm nòng cốt thì đó là câu đơn, câu

có từ hai cụm Chủ – Vị trở lên làm nòng cốt thì đó là câu phức hay câu ghép

Các tác giả Hoàng Tuệ, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, … tuy không

tuyên bố là dựa vào số lượng của cụm Chủ – Vị làm nòng cốt trong câu để phân loại

câu nhưng trên thực tế thì có dựa vào hướng phân loại này Dù vậy, quan điểm của các tác giả này vẫn có điểm không thống nhất Các tác giả Hoàng Tuệ, Lê Cận, Cù

hệ nhất định về ý nghĩa (điều kiện, giả thiết, …) và những đặc trưng nhất định về hình thức (ngắt đoạn, có tín hiệu, …) Hai tác giả Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến

Lê (1963) thì gọi cụm Chủ – Vị nòng cốt là cú, hai tác giả cho rằng: “Câu có một cú

là câu đơn, câu có từ hai cú trở lên là câu phức” [10, tr.476] Tác giả Lưu Vân

Lăng (1975) cũng gọi cụm Chủ – Vị nòng cốt là cu, tác giả cho rằng: “Cú là ngữ

đoạn thuyết ngữ tính”; “Câu đơn là câu chỉ có một cú (đơn hoặc kép) và câu kép là câu gồm nhiều cú (từ hai trở lên), đứng tách bạch nhau, cú này không phải là bộ phận phát triển của cú kia, nói cách khác là câu có quan hệ đề - thuyết tách bạch nhau” [34, tr.54-56] Các tác giả Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn

Thung (1983) [7] thì căn cứ vào số lượng cụm Chủ – Vị làm thành phần câu hoặc

Trang 18

làm thành phần phụ của nhóm từ trong câu là câu đơn giản bình thường, còn câu có

từ hai cụm Chủ – Vị làm hạt nhân trong câu, có quan hệ với nhau về mặt ý nghĩa, ngữ pháp là câu phức hợp

Liên quan đến vấn đề đang bàn, Tác giả Diệp Quang Ban (2004) [5] chia câu

làm hai loại: Câu đơn hai thành phần và câu đặc biệt dựa vào nòng cốt câu Câu

đơn hai thành phần là câu có chứa một cụm Chủ – Vị duy nhất làm nòng cốt câu và

chiếm vị trí chủ yếu của việc miêu tả ngữ pháp về câu, được sử dụng rộng rãi nhất

và được dùng làm cơ sở cho những kiểu câu có cấu tạo lớn hơn Từ đó có thể thấy,

dựa vào cấu trúc bề mặt, hướng quan sát vào cụm Chủ – Vị với loại câu không đầy

đủ Chủ – Vị hoặc loại câu không phân định được thành phần Tuy nhiên, tiêu chí này lại không phù hợp với câu ghép bởi vì cho dù các vế trong câu ghép có thể được xây dựng dựa vào cụm Chủ – Vị, nhưng kết cấu chủ yếu trong câu ghép lại là

kết cấu đẳng lập, quan hệ ngữ pháp giữa các vế trong câu ghép lại là quan hệ đẳng lập

Quan điểm của tác giả Nguyễn Kim Thản (1999) là dựa vào vị ngữ hoặc thể từ làm cấu trúc để xác định câu đơn và dựa vào sự ghép lại những cấu trúc vốn dĩ là

câu đơn để xác định câu ghép Cũng theo tác giả: “Câu đơn giản gồm có câu song phần, câu đơn phần, câu danh xưng, … trong đó câu song phần gồm có hai bộ phận chủ yếu là chủ ngữ và vị ngữ còn câu đơn phần chỉ có một bộ phận tương đương với vị ngữ trong câu song phần và không có chủ ngữ.” [48, tr.175-229] Theo tác

giả Hồ Lê (1992): “Việc phân định ranh giới giữa các tiểu loại trong câu đơn giản

là chưa thỏa đáng.” [37, tr.38] Như vậy, để nhận diện các loại câu trong tiếng Việt

thì dựa vào cụm Chủ – Vị Tuy nhiên vấn đề này vẫn chưa được giải quyết một cách

triệt để

b Dựa vào cụm từ

Theo tác giả Lê Xuân Thại (1985): “Cụm từ bao gồm hai loại: Loại cụm từ có

thành phần qui định lẫn nhau (cụm từ một chiều và cụm từ hai chiều) và loại cụm từ

có thành phần không qui định lẫn nhau (cụm từ song song) Dựa vào tính chất của

Trang 19

các cụm từ làm nòng cốt, từ đó chia câu thành câu đơn và câu ghép và mỗi loại này lại được chia thành câu bình thường và câu đặc biệt.” [42, tr.32-42]

Dựa vào số lượng các đơn vị ngữ pháp trong câu, tác giả Nguyễn Kim Thản

(1999) cho rằng: “Câu đơn giản nhất trong tiếng Việt là sự cấu thành của một đơn

vị ngữ pháp (từ, cụm từ) và giọng điệu độc lập Câu đơn là câu chỉ do một từ hay một cụm từ tạo thành; Câu ghép thì do hai hay một số từ, hai hay một số cụm từ ghép song song với nhau tạo thành.” [48, tr.57]

c Dựa vào cấu trúc Đề - Thuyết

Các tác giả nghiên cứu câu trong tiếng Việt theo hướng cấu trúc Đề - Thuyết

cần kể đến là các tác giả Trần Ngọc Thêm, Cao Xuân Hạo, Hồ Lê, Lưu Vân Lăng,

… Nghiên cứu cấu trúc câu theo hướng Đề - Thuyết là đáng chú ý, tuy nhiên khái niệm Đề - Thuyết vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau nên cách dùng thuật ngữ Đề -

Thuyết cũng được hiểu không giống nhau Tác giả Hoàng Văn Vân (2005a) [73]

dùng thuật ngữ Đề - Thuyết gần như trùng với thuật ngữ Chủ – Vị, song tác giả Diệp Quang Ban (2000a) [2], (2000b) [3] thì quan niệm Đề - Thuyết khác hoàn toàn với khái niệm Chủ – Vị Tác giả Trần Ngọc Thêm (1991) [51] nhận định rằng cấu trúc của mọi câu đều chia thành hai phần gồm trung tâm ngữ pháp gọi là phần Đề và trung tâm ngữ nghĩa của câu, gọi là phần Thuyết Nếu phát ngôn có đủ cả hai phần

Đề - Thuyết là phát ngôn hoàn chỉnh, gọi là câu Nếu phát ngôn thiếu một trong hai

phần hoặc thiếu cả hai phần Đề - Thuyết thì gọi là ngữ trực thuộc Tác giả còn giải thích thêm: “Ngữ trực thuộc là câu không hoàn chỉnh về cấu trúc.” [51, tr.57-58]

Theo tác giả là tạo ra sự lưỡng phân khá rõ, nhưng tác giả chưa nêu lên được tiêu

chí để xác định Đề - Thuyết, do đó nó chỉ hé mở về một cách tiếp cận mới

Tác giả Cao Xuân Hạo (2004) [26] khi bàn về vấn đề phân định ranh giới giữa

phần Đề và phần Thuyết trong câu tiếng Việt, đã đưa ra tiêu chí phân loại Theo tác giả, phan Đề và phần Thuyết trong câu có thể nhận ra nhờ sự có mặt của một trong hai tiểu từ “thì; là” hoặc bằng cách thêm chúng vào mà không làm thay đổi cấu trúc

cơ bản và ý nghĩa của câu

Trang 20

Nhìn chung, việc các tác giả đã dựa vào cấu trúc Đề - Thuyết cũng vẫn chưa

giải quyết thấu đáo vấn đề phân định câu trong tiếng Việt

1.1.2.2 Tiêu chí ý nghĩa

Lịch sử nghiên cứu câu tiếng Việt theo tiêu chí này cho thấy, về mặt nội dung thông báo của câu mà các định nghĩa thường nêu ra như: câu biểu đạt một tư tưởng, câu biểu thị phán đoán, câu biểu thị nội dung hoàn chỉnh, một ý tưởng toàn vẹn, … vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Mãi cho đến các công trình nghiên cứu gần đây, khi xem xét câu trong hoạt động giao tiếp, để phân biệt câu với phát ngôn, một vài tác giả như Hoàng Trọng Phiến, Hồ Lê, Cao Xuân Hạo, … có hướng sự chú ý đến Theo các tác giả, cấu trúc nòng cốt của câu phải biểu đạt được ý nghĩa miêu tả của câu là nội dung mệnh đề (sự nhận định của tư duy) Mệnh đề bao giờ cũng bao gồm

hai phần: Phần nêu chủ đề của sự nhận định (Đề); Phần nói về chủ đề, thuyết minh thông báo cho chủ đề (Thuyết) Quan hệ Đề - Thuyết là quan hệ lô gic ngữ nghĩa được cấu trúc hóa và tuyến tính hóa thành cấu trúc Đề - Thuyết ở bình diện cú pháp với ngữ đoạn cụ thể được gọi là Đề ngữ và Thuyết ngữ theo trật tự Đề đứng trước

Thuyết để thể hiện hướng đi của tư duy, thể hiện cách tổ chức phát ngôn của người

nói Tư duy chia thực tại khách quan thành hai mảng: Mảng các thực thể (sự vật) được biểu hiện bằng danh từ và mảng các đặc trưng (hoạt động, trạng thái, tính chất) của thực thể được biểu hiện bằng vị từ, tức biểu hiện bằng động từ hay tính từ Còn phán đoán, thực chất là đơn vị lôgic thể hiện sự nhận định của tư duy thì được

hình thành trên sự liên kết giữa hai mảng đó theo quan hệ Đề – Thuyết

Tóm lại, nếu chỉ dựa trên tiêu chí về ý nghĩa thì cũng chưa đủ sức thuyết phục

để phân biệt câu nào là câu biểu thị phán đoán và câu không biểu thị đầy đủ phán đoán

1.1.2.3 Tiêu chí thông tin

Dựa vào tiêu chí thông tin (tâm lí thông báo), chúng ta có thể phân tích câu,

tức là dùng Phương pháp phân đoạn thực tại (Actual division of the sentence) thành

những thành phần khác nhau

Trang 21

Theo tác giả Hồ Lê (1992) [37], vì Phương pháp phân đoạn thực tại gắn với

tâm lí nên kết quả phân đoạn không phải nhằm tìm ra một loại cấu trúc câu (thuộc

về cú pháp học của ngôn ngữ - theo quan niệm cú pháp chức năng) mà chỉ là phát hiện những cách vận dụng cấu trúc câu (thuộc về dụng học của lời nói)

Đến đây có thể đúc kết, từ việc nêu ra ba tiêu chí nhận diện câu như trên, có thể thấy rằng do xem câu là đơn vị ngữ pháp cao nhất, thực hiện chức năng thông báo, nên việc nhìn nhận câu cũng sẽ thật khó lòng mà tìm thấy được tiếng nói chung giữa các tác giả

- Về mặt hình thức, các tác giả nhận diện câu dựa vào thành phần nòng cốt câu

vì khi nói tới nòng cốt câu là ám chỉ bộ khung ngữ pháp của câu Đó chính là cấu trúc tối giản vừa đủ đảm bảo cho câu độc lập về mặt nội dung và hoàn chỉnh về mặt hình thức

Trong luận văn này, chúng tôi đặt vấn đề xem xét câu bị động tiếng Anh và câu bị động trong tiếng Việt trên bình diện cấu trúc chức năng, tức là căn cứ vào cấu trúc nền để tạo nên một câu bị động tiếng Anh và câu bị động trong tiếng Việt

hoàn chỉnh về một trật tự có đầy đủ cụm Chủ – Vị có giá trị là một nòng cốt của

câu

- Về mặt ý nghĩa, dựa vào khả năng biểu thị phán đoán không phải là một

hướng có triển vọng vì để nhận diện câu thì khả năng biểu thị phán đoán không phải

là đặc điểm giúp chúng ta tách nòng cốt câu ra khỏi cấu trúc của chúng Những ngữ nghĩa có chức năng thông báo hay định danh phải được xem xét trong kết cấu của nòng cốt câu, nếu tách mỗi vế ra khỏi nòng cốt của chúng thì cấu trúc câu của chúng

sẽ không còn nữa và câu cũng sẽ không còn tồn tại

- Về mặt thông tin, thì phần nêu hay phần báo có liên quan đến tiêu điểm

thông báo, bao gồm các tiêu điểm bộ phận và các tiêu điểm toàn thể Một kết cấu có thể được xem là một câu khi và chỉ khi chúng mang một thông tin có tính chất

thông báo (tức là bao gồm đầy đủ hai thành phần, là phần nêu và phần báo)

Trang 22

1.2 Câu bị động trong tiếng Việt

1.2.1 Tiền đề lí thuyết của câu bị động trong tiếng Việt

1.2.1.1 Chủ đề và chủ ngữ

Trong nhiều năm gần đây, chủ đề (topic/ theme); chủ ngữ; tính thiên chủ đề;

tính thiên chủ ngữ đã trở thành những khái niệm trung tâm trong các cuộc thảo luận

về loại hình học ngôn ngữ Có hai vấn đề được bàn bạc trong những cuộc thảo luận này Vấn đề thứ nhất có tính chất khái niệm và vấn đề thứ hai có tính chất kinh nghiệm Hai vấn đề này lệ thuộc vào nhau nhưng khác biệt với nhau Vấn đề thứ nhất liên quan tới việc hiển ngôn hóa một cách chuẩn mực các thuật ngữ phổ quát, còn vấn đề thứ hai, liên quan tới việc trắc nghiệm những giả thiết có tính kinh nghiệm về những xu thế phổ quát và những cách diễn đạt nghĩa các giả thiết ấy Hai tác giả N.L Charles và S.A Thompson (1976) [108] đề nghị một cách

phân loại hình ngôn ngữ mới dựa trên sự phân biệt giữa tính chất thiên chủ ngữ và

thiên chủ đề Hai tác giả bắt đầu bằng việc trình bày một danh sách những thuộc

tính cho phép vạch rõ sự khác nhau giữa chủ ngữ và chủ đề Danh sách ấy có thể tóm lược như sau:

- Chủ đề phải có tính xác định (về nghĩa)

- Chủ đề không cần có một mối quan hệ

tuyển lựa với bất kỳ vị từ nào trong câu

- Vị từ chính của câu không quy định chủ

đề của nó quyết định phân cho chủ đề một

vai nghĩa nhất định

- Chủ đề có một vai nhất định xuyên qua

các câu, cụ thể là chức năng “giới hạn khả

năng ứng dụng kết cấu Chủ - vị chính của

câu trong một phạm vi nhất định” [80,

- Chủ ngữ thì không cần có tính này

- Chủ ngữ bao giờ cũng có một quan hệ

tuyển lựa hết sức hạn chế với vị từ mà nó làm chủ ngữ

- Vị từ chính của câu quy định chủ ngữ của

nó quyết định phân cho chủ ngữ một vai nghĩa nhất định, vai người tác động chẳng

hạn

- Vai trò chức năng của chủ ngữ, nếu có,

được quy định trong phạm vi nội bộ của câu

Trang 23

tr.464], chức năng này liên quan đến cấu

trúc của diễn ngôn

- Chủ đề thường xuất hiện ở đầu câu

- Chủ đề không đóng một vai trò nổi bật

như vậy

- Chủ ngữ không bị gò ép vào vị trí này

- Chủ ngữ đóng một vai trò nổi bật trong

Như chúng ta biết, chủ đề là thành phần nêu rõ câu đang xét nói về cái gì? nói

về đề tài nào? Một cách lập thức hữu ích hơn là cách của tác giả W Chafe (1976)

[80], theo tác giả, nhiệm vụ của chủ đề là giới hạn khả năng ứng dụng của kết cấu vị ngữ chính (tức phần Thuyết) vào một lĩnh vực hữu hạn Chức năng này bao hàm hai loại thuộc tính: thuộc tính có liên quan đến ngôn cảnh và thuộc tính có liên quan đến sở chỉ trong nôi bộ của câu

Một thuộc tính có liên quan đến ngôn cảnh thường được gán cho chủ đề là tính

cho sẵn (given) Hai tác giả N.L Charles và L.A Thompson lại còn đòi hỏi chủ đề

phải xác định về ngữ nghĩa có tính xác định, nghĩa là có một sở chỉ duy nhất, tức là tiền giả định rằng người nghe có thể xác định được căn cứ đơn nhất của vật sở chỉ

Hai tác giả đưa cả sở chỉ tổng loại (generic reference), chẳng hạn như câu “Hổ là

giống ăn thịt” vào phạm trù xác định, nhưng dù có như vậy thì cái yêu cầu của họ

hình như cũng không thấp Chúng ta thử xét các ngữ đoạn được gạch dưới ở câu (B)

ở hai ví dụ sau là những ngữ đoạn mang những thuộc tính chủ đề rất rõ:

(1) A: Do you sell spirits and tobaccos here? (Ở đây có bán rượu mạnh và thuốc lá không?)

Trang 24

B: Spirits we are not allowed to sell here, unfortunately As for tobaccos,

we only stock cigars (Ở đây chúng tôi không được phép bán rượu mạnh, còn thuốc

lá thì chúng tôi chỉ có xì - gà thôi.) {4}

(2) A: How about a swim and a game of tennis? (Bơi một vòng rồi làm một ván quần vợt nhé, anh thấy thế nào?)

B: A game of tennis I might consider; but as for a swim, I don’t feel quite

up to it this morning (Một ván quần vợt thì may ra cũng được; chứ một vòng bơi thì sáng nay tôi thấy mình không đủ sức lắm.) {4}

Các ngữ đoạn được gạch dưới ở hai ví dụ (1), (2) trên thì chắc chắn là chứa đựng thông tin cho sẵn, nhưng đó không phải tuyệt nhiên là những ngữ đoạn xác định dù có hiểu hai chúng theo cách nào trong những cách hiện có Điều này cho

thấy rằng chúng ta phải phân biệt mấy loại tính cho sẵn khác nhau Một loại thứ ba

có thể đồng nhất hóa với cái gọi là thông tin cũ hiểu theo một nghĩa đủ hẹp của thuật ngữ này Tác giả W Chafe (1976) [80] có chỉ rõ rằng tính xác định có thể đi đôi với thông tin mới, ví dụ:

(3) I saw your younger sister yesterday (Hôm qua tôi thấy em gái của bạn.)

Trong đó khó có thể cho rằng người nói giả định là người nghe không biết gì

về cha mình, mặc dù ngữ đoạn đang xét có chứa đựng một thông tin mới Tác giả gợi ý rằng vấn đề thông tin mới hay thông tin cũ là ở điểm tri thức của người nghe

có được đánh thức trở dậy (tái huy động) trong cuộc giao tiếp hay không (mới

được đánh thức trở dậy có thể đi đôi với biết sẵn từ trước) Điều này không được

minh xác cho lắm, vì ở đây chúng ta không rõ mới được đánh thức trở dậy cần được

hiểu như thế nào

Để sơ kết lại, có thể nói rằng chúng ta đã phân biệt ba tính cho sẵn khác nhau:

(i) Tính cho sẵn sở chỉ, trong đó tiền giả định là vật sở chỉ là duy nhất

(ii) Tính cho sẵn về nội dung, như ở hai ví dụ (1), (2) khi nội dung hay nghĩa

của các ký hiệu ngôn ngữ được ngôn cảnh làm rõ và nhờ đó mà trở thành cho sẵn, tuy không hề có sở chỉ được tiền giả định Cần lưu ý rằng (i) không kéo theo (ii) như ở ví dụ sau:

Trang 25

(4) A: Have you known their faces? (Cô biết mặt chúng chưa?)

B: No, I haven’t known the bastards’ faces (Chưa, tôi chưa biết mặt mấy tên khốn đó.)

(iii) Tính cho sẵn liên quan bổ sung thêm cho (i), (ii) hoặc bổ sung thêm cho

(i) hay (ii) khi một yếu tố được cho sẵn nhờ mối quan hệ với một tình huống (được nêu rõ một cách chính xác ít nhiều được biểu thị bằng một ký hiệu cùng xuất hiện, thường là một vị từ)

Tính cho sẵn liên quan có tầm quan trọng đối với việc hiển ngôn hóa khái

niệm tiêu điểm, khái niệm này loại trừ tính cho sẵn đó Mặt khác, nó không được

đưa vào làm tiêu chuẩn phân định chủ đề (nhưng chúng ta sẽ có dịp trở về với nó

nhân nói về những chuyện khác trong khi bàn về tiếng Việt) Như vậy, tính cho sẵn

có tầm quan yếu đối với việc hiển ngôn hóa chủ đề không được phân định rõ giữa hai loại hình (i) và (ii)

Chức năng của chủ đề trong nội bộ của câu có thể được miêu tả như là thế ưu

tiên về sở chỉ so với các thành phần khác của câu Nghĩa là nếu sở chỉ của một số thành phần lệ thuộc vào sở chỉ của các thành phần khác, thì sở chỉ của các thành phần khác sẽ lệ thuộc vào sở chỉ của chủ đề, chứ không bao giờ ngược lại Nếu biết chắc rằng vị trí đầu câu là một cách đề hóa của tiếng Anh, ta có thể nhận ra thuộc tính này ở hai ví dụ sau:

(5) Every day thousands of vehicles pass through that bridge (Hàng ngày có

hàng ngàn xe cộ qua cây cầu đó.)

(6) Thousands of vehicles pass through that bridge every day (Hàng ngàn xe

cộ ngày nào cũng qua cây cầu đó.)

Ở ví dụ (5) cho biết số xe cộ ước khoảng hàng ngày qua cây cầu đó, mà không ngụ ý rằng ngày nào cũng chính những xe cộ đó qua cây cầu, ở ví dụ (6) ít ra cũng

có thể hiểu như vậy Nói một cách khác, ở ví dụ (5) sở chỉ của “thousands of

vehicles (hàng ngàn xe cộ)” bị bó hẹp lại do sở chỉ của thành phần câu là “every day (hàng ngày)” được chủ đề hóa Mặt khác xin lưu ý rằng thành phần chủ đề hóa

này không gợi cho chúng ta cảm giác là nó được cho sẵn ở ví dụ (5)

Trang 26

Trong những cách biểu hiện tính toán vị ngữ tiêu chuẩn dùng cho câu, sự khác biệt quan yếu sẽ là sự khác nhau về tầm tác động của lượng từ Chúng ta có thể

dùng khái niệm tầm tác động để khái quát hóa thuộc tính thế ưu tiên về sở chỉ ra

ngoài sở chỉ hiểu theo nghĩa hẹp một chút Không chỉ phải có các lượng từ, mà cả các tác tử cú pháp cũng có thể có những tầm tác động chồng chéo lên nhau Sở chỉ

thức (mood) và thì (tense) của các câu có thể chuyển một cách tự nhiên thành những

tác tử cú pháp của câu, những tác tử này biến đổi các thuyết minh các danh ngữ Vậy có thể khái quát hóa ra là khi các chủ đề có hình thức câu, thì tầm tác động của các tác tử câu của nó rộng hơn tầm tác động của các tác tử câu khác trong kết cấu

Để kết luận, chúng ta có thể tập hợp các thuộc tính của chủ đề lại thành một định nghĩa khái quát của phạm trù này: Một loại thành phần câu làm thành một phạm trù ngữ pháp có thể phân xuất trong ngôn ngữ có thể được gọi là chủ đề nếu

những trường hợp tiêu biểu cho thấy cả tính cho sẵn lẫn tầm tác động rộng hiểu

theo những ý nghĩa đã bàn trên, sao cho mỗi trường hợp tiêu biểu đều cho thấy hoặc

tính cho sẵn, hoặc tầm tác động rộng, hoặc cả hai trong chừng mực có liên quan

đến tầm tác động chồng chéo lên nhau

b Chủ ngữ

Hai khái niệm chủ ngữ và chủ đề vốn có liên quan gần gũi với nhau, hai thực thể được gọi tên bằng hai thuật ngữ này vốn có một số thuộc tính chung Nói một cách khái quát, chúng ta có thể miêu tả sự khác nhau giữa hai khái niệm này bằng cách nói rằng chủ ngữ tham gia cấu trúc của câu một cách hữu cơ hơn chủ đề Chủ ngữ cho thấy một sự ngữ pháp hóa đặc thù đối với một số thuộc tính nhất định của chủ đề Điều này có thể hiển ngôn hóa một cách chính xác hơn như sau: Những thuộc tính của chủ đề có liên quan đến ngôn cảnh không làm thành một bộ phận của

cách định nghĩa khái quát của chủ ngữ, phạm trù chủ ngữ không tự nó bao hàm tính

cho sẵn

So sánh chủ ngữ ở ví dụ (6) với cái ngữ đoạn giống như chủ đề ở ví dụ (7) sau:

(6) An elephant is walking down the Main Street (Một con voi đang đi dọc lộ Main Street.)

Trang 27

(7) As for elephants, here is one walking down the Main Street (Khi nói về voi thì một con đang đi trên lộ Main Street.) {4}

Không có gì cho phép chúng ta nghĩ rằng ở ví dụ (6), chúng ta có một cái gì có

tính cho sẵn quy nạp, trong khi ở ví dụ (7) tiền giả định một ngôn cảnh trong đó có

nói đến “voi” Dĩ nhiên, điều này không loại trừ khả năng là có một ưu thế về tỷ lệ thống kê của các danh ngữ xác định, nghĩa là các danh ngữ bao hàm tính cho sẵn

trong bản thân, được dùng làm chủ ngữ trong các thứ tiếng khác nhau

Mặt khác, các thuộc tính có tầm tác động động (vốn thuộc cấu trúc nội bộ của

câu) có mặt trong chủ ngữ như trong chủ đề, chúng ta có thể thấy rõ qua nhiều ví dụ trong sách vở, chẳng hạn so sánh hai câu không đồng nghĩa sau:

(8) Everyboy loves at least one girl (Mỗi cậu con trai yêu ít nhất một cô gái.) {4} (9) At least one girl is loved by everyboy (Ít nhất một cô gái được tất cả các cậu con trai yêu.) {4}

Khi một ngôn ngữ cho phép đề hóa một cách tùy ý (như ở ví dụ (8), chủ ngữ

có thể được lót thêm một phương tiện biểu thị tầm tác động rộng bằng một phương

tiện trực tiếp hơn và do đó cái thuộc tính chủ ngữ này có thể bị triệt tiêu trong những trường hợp như thế Sự đề hóa sẽ trở thành trực tiếp hơn hiểu theo nghĩa là

nó có tính tùy ý và do đó quyền lựa chọn của người nói có tác dụng nhiều hơn so với chủ ngữ, vốn là một bộ phận gắn bó sâu hơn với cấu trúc cú pháp, thậm chí là một thành phần bắt buộc của câu như trong tiếng Anh

Bây giờ, khi quay sang những thuộc tính khu biệt chủ ngữ với chủ đề, chúng ta

có thể bắt đầu bằng việc nhận xét rằng một chủ ngữ phải là một thành phần danh

tính (nominal) Một thành phần danh tính là một thành phần mà tự nó không biểu

hiện vai nghĩa bên ngoài (hình thức) của nó như vai tác thể; vai người hưởng lợi;

vai nơi chốn;…) nghĩa là không có cách gì diễn dịch vai nghĩa của nó ra từ như

thuộc tính hình thức của nó Các trạng từ, giới từ, tiểu cú chỉ thời gian thì bình

thường không phải là những thành phần có danh tính, mà là những phụ ngữ, tuy có thể có danh tính trong một số hoàn cảnh cú pháp nhất định, không bị định nghĩa loại

trừ, chẳng hạn như tiểu cú, ví dụ:

Trang 28

(10) I remember when we were in Da Lat (Tôi nhớ hồi chúng tôi ở Đà Lạt.)

Đặc biệt chủ ngữ có sẵn một vai nghĩa riêng hay một số rất hạn chế nhưng vai nghĩa chọn lọc do trung tâm vị ngữ phân cho nó Để minh họa, có thể lấy trường hợp phân vai ở hai câu (11b), (11c) sau đây, trong đó trung tâm vị ngữ bị động chỉ

dành cho chủ ngữ vai đối tượng và vai người nhận, trong khi trung tâm vị ngữ chủ động ở câu (11a) bắt buộc chủ ngữ nhận vai người tác động

(11a) Eve gave Adam an apple (Eva đã trao Adam quả táo.) {4}

(11b) An apple was given Adam by Eve (Quả táo đã được Eva trao Adam.) {4} (11c) Adam was given an apple by Eve (Adam đã được Eva trao quả táo.) {4}

Chúng ta cũng có thể lưu ý thấy rằng quyền được chọn vai nghĩa mà chủ ngữ được hưởng trong từng trường hợp là một bộ phận thích hợp lấy trong số những vai nghĩa mà vị từ với tư cách một yếu tố từ vựng có khả năng phân bố cho các thành

phần danh tính khi vị từ là ngoại động Chẳng hạn, vị từ “give” có thể phân ba vai:

Vai người tác động, vai người nhận và vai đối tượng nhưng không có một hình thái

nào của vị từ có thể phân cả ba vai này cho chủ ngữ Chủ ngữ của một động từ ngoại động chỉ có thể được phân đủ các vai nhờ thay đổi hình thái của vị ngữ, cụ thể

là chuyển từ hình thái chủ động sang hình thái bị động (trong chừng mực ngôn ngữ đang xét có một chủ ngữ, điều đó thì tiêu chuẩn không yêu cầu)

Cái tiêu chuẩn phân vai nghĩa này yêu cầu cái tập hợp vai nghĩa ấy phải được phân cho chủ ngữ với tính cách là một phạm trù, nghĩa là cho chủ ngữ với tư cách là chủ ngữ Do đó tiêu chuẩn không loại trừ cái khả năng là các chủ đề trong một số

trường hợp cá biệt có thể là những thành phần danh tính được trung tâm vị ngữ

phân cho những vai nghĩa, chủ đề không bị gạt ra ngoài khung vai của vị từ nhưng

nó không bao giờ được phân vai với tư cách là chủ đề, chẳng hạn, ở ví dụ (12) sau đây không cản trở việc xếp các thành phần đặt ở đầu câu trong tiếng Anh vào loại

chủ đề, ngay cả khi “Vợ yêu của ông ấy (his beloved wife)” được vị từ phân vai

người nhận vì nó là một bổ ngữ gián tiếp được đưa ra phía trước

(12) His beloved wife, Audrey Sarah Ivesh had passed away a year ago (Vợ

yêu của ông ấy, Audrey Sarah Ivesh đã qua đời cách đây 1 năm.)

Trang 29

Để tổng kết, chúng tôi định nghĩa chủ ngữ như sau: Một phạm trù thành phần câu có thể phân xuất bằng những tiêu chuẩn ngữ pháp trong một ngôn ngữ được gọi

là chủ ngữ nếu nó có danh tính, được mỗi trung tâm vị ngữ phân một số vai hạn chế theo cung cách đã trình bày, và có được một tầm tác động rộng với những giới hạn

đã trình bày

1.2.1.2 Cấu trúc Đề - Thuyết

Năm 1965, tác giả Lawrence C Thompson, thuộc Trường phái Miêu tả Mĩ, đã

chứng minh rằng tiếng Việt không có chủ ngữ ngữ pháp (grammatical subject), mà chỉ có chủ đề lô gic (logic subject) Đây là một điều hiển nhiên vì theo tác giả Cao Xuân Hạo (2004) [26], trong tiếng Việt chỉ có chủ đề lôgic được ngữ pháp hóa và được đánh dấu bằng từ “thì” khi biên giới giữa Đề - Thuyết chưa được phân rõ

Theo cách phân loại hình mới đối với các ngôn ngữ của thế giới như theo hai tác giả L.A Charles và S.A Thompson (1976) [108] thì tiếng việt cùng với tiếng

Hán, tiếng La Hu, … phải được xếp vào các loại hình ngôn ngữ Đề - Thuyết, trong

đó Đề không được ngữ pháp hóa như chủ ngữ của các ngôn ngữ Ấn – Âu nhưng lại được đánh dấu (khi cần thiết) bằng một từ như từ “thì” làm Đề cho câu tiếng Việt

có thể là bất cứ vai nghĩa nào, kể cả vai đối tượng của hành động bổ ngữ trực tiếp

hay khung cảnh của sự tình như ở ba ví dụ sau:

phân biệt về thái (voice) tức sự phân biệt ngữ pháp giữa chủ động và bị động vì Đề

có thể đảm đương bất cứ vai nghĩa nào trong câu

Theo tác giả Cao Xuân Hạo (2004): “Cấu trúc Đề - Thuyết của câu là một

hiện tượng thuộc bình diện lô gic ngôn từ (logic-discursive), nghĩa là nó thuộc lĩnh vực lô gic trong chừng mực lô gic, được tuyến tính hóa trong ngôn từ và thuộc lĩnh

Trang 30

vực ngôn từ, trong chừng mực nó phản ánh tác động nhận định của tư duy.” [26,

tr.67]

Trong tiếng Việt, cấu trúc cơ bản của câu chia làm hai phần Đề - Thuyết tương ứng với hai phần sở đề (subjectum/ theme) và sở thuyết (praedicatum/ rhema) của

một mệnh đề trong lô gic học

Sự cấu trúc hóa câu thành hai phần Đề - Thuyết không lệ thuộc vào tính chất

của sự tình được trần thuật Nội dung nghĩa học của nó nằm trọn trong cách tổ chức mệnh đề theo một hướng đi nhất định của tư duy: Xuất hiện lần lượt cái trước và cái sau (cái xuất phát và cái kết thúc)

Chủ ngữ trong các thứ tiếng châu Âu chỉ có một số vai nhất định như: vai

người hành động, vai người tác động; vai người mang tính chất (thường xuyên thuộc bản chất); vai người mang trạng thái (nhất thời)

Cấu trúc Đề - Thuyết khác với cấu trúc Chủ - Vị ở điểm là Đề không quy định

cho nó một cái vai gì hết, sự khác nhau cơ bản là về ngữ nghĩa Chủ ngữ của các thứ

tiếng Ấn –Âu chỉ đảm đương một số vai nghĩa rất hạn chế, thường là vai hành thể,

trong khi chủ đề của những ngôn ngữ như tiếng Hán hay tiếng Việt có thể đảm đương bất cứ vai gì, thậm chí không cần có liên quan gì đến vị từ trung tâm của câu

làm thành phần Thuyết, có nghĩa là nó không phải là một diễn tố, một chủ ngữ hay

một bổ ngữ bắt buộc của vị từ

1.2.2 Các chỉ tố của câu bị động và nghĩa bị động trong tiếng Việt

1.2.2.1 “bị, được” hai chỉ tố đánh dấu câu bị động hay nghĩa bị động trong

tiếng Việt

Trong câu bị động tiếng Việt thường có các chỉ tố “bị, được” đặt trước vị từ

trung tâm của câu để biểu thị câu bị động (hay có ý nghĩa bị động), ví dụ:

(16) Phòng của tôi đã được sơn lại cuối năm rồi

(17) Su Su bị mẹ đánh

Chúng ta cũng biết rằng chỉ tố của thái bị động trong tiếng Việt là “bị, được”

có một vị thế và chức năng như các trợ động từ (auxillary verbs) trong các thứ tiếng

Trang 31

châu Âu, và thao tác cải biến từ dạng chủ động (CĐ) sang dạng bị động (BĐ) như

sau:

(18b) Su Mi bị phượng đánh./ Su Mi bị đánh (bởi Phượng) [BĐ]

(19b) Tôi được chị Hà hỗ trợ./ Tôi được hỗ trợ (bởi chị Hà) [BĐ]

Thực ra, bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có khả năng diễn tả ý nghĩa bị động Tuy nhiên với một ngôn ngữ thiên chủ ngữ như tiếng Anh thì thái bị động được ngữ pháp hóa thành một phạm trù được biểu đạt bằng một hình thức riêng có tính bắt buộc tuyệt đối, trong khi tiếng Việt, một ngôn ngữ thiên chủ đề thì ý nghĩa bị động

không có một hình thức biểu đạt nào như thế Những tác giả xem “bị, được”

thường dùng để dịch các kết cấu bị động của tiếng châu Âu là những kết cấu bị động, không nhận thấy hai vị từ này là những vị từ ngoại động chính danh mà ngôn ngữ nào cũng có và ngôn ngữ nào cũng dùng ở thái chủ động để biểu đạt những ý nghĩa mà các tác giả ấy gọi là nghĩa bị động

Ở hai ví dụ (18b), (19b) trên thì hai vị từ “bị, được” đều có tư cách của những

vị từ bình thường, nghĩa là nó có đủ những thuộc tính ngữ pháp của từ loại vị từ nói

chung và của tiểu loại vị từ ngoại động nói riêng

Hai vị từ “bị, được” được dùng như những vị từ tình thái khi bổ ngữ trực tiếp

của nó là một vị từ hay ngữ vị từ đồng chủ thể với nó Về nội dung, ý nghĩa tình thái

của “bị” là bình luận về sự tình do vị từ bổ ngữ biểu thị như một sự tình bất lợi cho

chủ thể hay cho cái đối tượng được chọn làm chủ đề, ví dụ:

(20) Cô Mai bị vỡ cặp kính cận rồi

Ngược lại, ý nghĩa tình thái của “được” là bình luận về sự tình ấy như một sự

tình có lợi cho chủ thể hay cho sở chỉ của chủ đề, ví dụ:

(21) Su Mi được ăn kem

Cần nói rõ là không có một sự đối xứng hoàn toàn giữa “bị, được” trong ý nghĩa bị động Trong khi “bị” chiếm ưu thế tuyệt đối là được dùng với những vị từ

Trang 32

hành động không có chủ ý thì “được” được dùng với những vị từ hành động có chủ

ý nhiều không kém như trong các ngữ đoạn ở hai ví dụ sau:

(22) bị trả thù; bị gạt tiền; bị chia rẽ;…

(23) được rữa hận; được tài trợ tiền; được hòa giải; …

Do đó những trường hợp lưỡng khả như các ngữ đoạn ở ví dụ (24) sau chỉ có thể căn cứ vào nghĩa từ vựng của ngữ đoạn làm chủ đề hay nghĩa của ngôn cảnh mà giải quyết

(24) được chụp hình; được sinh; được hôn; …

So sánh hai ví dụ (25), (26) sau:

(25) Tôi rất hạnh phúc khi được hỗ trợ ông xã [CĐ]

(26) Tôi rất hạnh phúc khi được ông xã hỗ trợ [BĐ]

Ở đây, vị từ tình thái thật sự đối xứng với “được” là “phải”, nghĩa chính của

“phải” là nghĩa tình thái của tính tất yếu do bổn phận (deontic necessity), những

điều gì chỉ vì tất yếu mà làm thường là bất đắc dĩ, cho nên “phải” trở thành đối xứng với “được” và trong các trường hợp tương tự như vậy ít khi có thể dùng “bị”,

ví dụ:

(27a) Được nghe những lời bốc phét

(27b) Phải nghe những lời bốc phét

(28a) Được đảm trách chức vị đó

(28b) Phải đảm trách chức vị đó

Với tư cách là một ngoại động từ bị động thực thụ, ở các ví dụ nói trên với

những điều kiện của một ngôn ngữ “SVO” nhất quán như tiếng Việt, mà trong đó trung tâm của ngữ đoạn có xu thế rất mạnh được đặt trước phụ ngữ “được, bị” hoàn

toàn có thể được coi là trung tâm của ngữ đoạn vị từ và sau nó là bất kỳ bổ ngữ nào

có thể có được của một ngoại động từ, đó có thể là một ngữ danh từ, một ngữ vị từ hay một tiểu cú (một câu bổ ngữ) như ở ba ví dụ sau:

(29) Tôi được một giỏ hoa

(30) Tôi được gia nhập Công đoàn cơ sở

(31) Tôi được Công đoàn cơ sở bình bầu

Trang 33

Không có lý do gì và không có dấu hiệu hình thái nào để xem các ví dụ trên

thuộc hai loại kết cấu khác nhau Nếu xem “được” ở ví dụ (29) là vị từ trung tâm có

bổ ngữ trực tiếp chỉ đối tượng là “một giỏ hoa” thì không thể không thừa nhận

“được” ở hai ví dụ (30), (31) là vị từ trung tâm có bổ ngữ trực tiếp chỉ đối tượng là

“gia nhập vào Công đoàn cơ sở” và “Công đoàn cơ sở bình bầu” Những ngữ đoạn

bổ ngữ này đều trả lời một câu hỏi duy nhất: “Tôi được cái gì?”

Xét tiếp ba ví dụ sau:

(32) Tôi bị ốm

(33) Tôi bị rơi xuống vực./ đẩy rơi xuống vực

(34) Tôi bị chúng nó vòi tiền

Trong đó, “bị” là vị từ trung tâm và theo sau nó là bổ ngữ trực tiếp chỉ đối tượng (vai bị tác động) của nó là một danh từ hay ngữ danh từ “ốm”như ở ví dụ (32); một vị từ hay ngữ vị từ “rơi xuống vực” hay “đẩy rơi xuống vực” như ở ví dụ (33); một tiểu cú “chúng nó vòi tiền” như ở ví dụ (34) Những câu dùng “bị” đều

có thể dùng để trả lời câu hỏi: “bị cái gì?” hay “bị làm sao?”

So sánh cách hành chức của “bị, được” với các loại bổ ngữ của nó với cách hành chức của các vị từ thông dụng khác như: “chịu, phải, muốn, cũng” với những

bổ ngữ tương tự:

Bọn nhỏ bị/ chịu/ phải/ muốn/ được hít (hóa chất từ keo dán sắt)

Chúng ta có thể thấy hai vị từ “bị, được” mà một số tác giả cố gò vào các

khuôn châu Âu của phạm trù thái, tuyệt nhiên không có gì khác với các vị từ thông dụng khác như vừa đề cập trên, đó là cách hành chức bình thường của tất cả các vị

từ ngoại động có thể có bổ ngữ trực tiếp là vị từ, ngữ vị từ hay tiểu cú (tức kết cấu

Chủ - Vị hay Đề - Thuyết) Mặt khác, nếu so sánh những câu bị động với những câu

chủ động dùng “bị, được”, chúng ta cũng không thấy có cách gì phân biệt hai loại

câu về cấu trúc ngữ pháp và về ngữ nghĩa như ở ví dụ sau:

(35a) Tôi rất hân hạnh được kết bạn với những người tử tế

(35b) Tôi rất hân hạnh được những người tử tế kết bạn

Trang 34

Vậy thì chẳng lẽ “kết bạn với những người tử tế” là bổ ngữ của “được”, trung tâm của vị ngữ ở câu (35a), còn ở câu (35b) thì “được” chỉ còn là một trợ từ đánh dấu thái bị động của “kết bạn” Thật ra cả hai câu ở ví dụ (35) đều trả lời câu hỏi:

“Tôi được gì mà rất hân hạnh?”

Nếu “bị, được” là những hư từ thì chúng có thể vắng mặt ở đó, chỉ có điều nếu

chúng vắng mặt thì kết cấu vốn chứa chúng không còn là kết cấu bị động nữa Ví dụ

so sánh hai câu sau:

(36a) Chị Hà được cô khen

(36b) Chị Hà thì cô khen (còn tôi thì không)

Ở câu (36b) “được” có thể vắng mặt Tuy nhiên không phải trong mọi trường

hợp sự có mặt của hai từ này cũng dễ dàng chuyển thành cách dùng không có mặt của chúng So sánh hai câu sau:

(37a) Cô Quỳnh Giao được hiệu trưởng tuyên dương

(37b) Cô Quỳnh Giao được tuyên dương Ban Ngoại ngữ của cô

Trong diều kiện phổ biến, ở câu (37b) nếu vắng mặt “được” câu sẽ mang một

ý nghĩa khác hẳn vì trong đó “Cô Quỳnh Giao” là người khen, chứ không phải là người được khen Trong tiếng Việt, có những trường hợp vắng mặt hai từ “bị,

được” thì điều đó làm cho nghĩa của câu khác hẳn đi (chủ đề từ chỗ đóng vai bị tác động chuyển sang đóng vai tác động)

1.2.2.2 Phạm vi xuất hiện các chỉ tố “bị, được” trong câu tiếng Việt mang ý

nghĩa bị động

Về nội dung, ý nghĩa tình thái của “bị” bình luận về cái sự tình do vị từ bổ ngữ biểu thị như một sự tình bất lợi cho chủ thể hay cho cái đối tượng được chọn

làm chủ đề, ví dụ:

(38) Cô Mai bị vỡ mất cặp kính cận rồi

Ngược lại, ý nghĩa tình thái của “được” bình luận về sự tình ấy như một sự

tình có lợi cho chủ thể hay cho sở chỉ của chủ đề như ở ví dụ sau:

(39) Su Mi được ăn bánh snack

Trang 35

Theo tác giả Nguyễn Thị Ảnh (2000) [1], tiếng Việt không có một vai nghĩa nào có thể do nghĩa của vị từ phân cho các thành phần câu như trong các thứ tiếng châu Âu Vậy chỉ có thái độ muốn áp đặt các phạm trù ngữ pháp của các thứ tiếng châu Âu vào tiếng Việt, một ngôn ngữ khác hẳn loại hình mới có thể nói rằng tiếng Việt có thái bị động

Hơn nữa, “bị, được” trong tiếng Việt không mất chút ý nghĩa từ vựng nào để

chúng ta có thể nói rằng nó đã hư hóa (tức ngữ pháp hóa) và biến thành những trợ

từ Dù khi bổ ngữ của nó là ngữ danh từ hay ngữ vị từ, nghĩa tình thái của “được

(có lợi)” và của “bị (bất lợi)” không thay đổi Chúng ta so sánh các ngữ đoạn có

Trong khi đó, ý nghĩa chủ động hay ý nghĩa bị động hoàn toàn lệ thuộc vào

nghĩa của vị từ làm bổ ngữ cho “bị, được” trong văn cảnh cụ thể Trong các ngữ đoạn ở hai ví dụ sau đây, nghĩa tình thái của “bị, được” quan trọng nên những văn cảnh như thế thường không thể thay “bị” bằng “được” và ngược lại

(41a) được hỗ trợ hàng xóm; được hôn bé Su Bo; …

(41b) được hàng xóm hỗ trợ; được bé Su Bo hôn; …

(42a) bị bong gân; bị nhiễm virus ba cái USB; bị lem màu áo; …

(42b) bị con nít ranh chơi khăm; bị bọn xấu móc túi; bị mọi người né tránh; …

Nếu không muốn rơi vào tình trạng phi lý, một tình hình khác hẳn ở các thứ tiếng có chủ ngữ ngữ pháp, trong đó trợ động từ của thái bị động không có nghĩa tình thái như ở hai ví dụ sau:

(43a) Tôi được đỡ đần mẹ chồng công việc nội trợ

(43b) Tôi được mẹ chồng đỡ đần công việc nội trợ

(44a) Tôi bị trễ hạn

(44b) Tôi bị cháu gái giận

Trang 36

Chúng ta thấy hai câu ở ví dụ (43) về cấu trúc chúng chỉ là một, về mặt nghĩa

thì người nghe có thể hiểu rằng “được đỡ đần mẹ chồng” hay “được mẹ chồng đỡ

đần” với sự hiện diện của “được” đều biểu thị sự tình có lợi cho “tôi”, còn hai câu

ở ví dụ (44) về cấu trúc chúng cũng chỉ là một, về mặt nghĩa, người nghe cũng có

thể hiểu rằng “bị trễ hạn” hay “bị cháu gái giận” với sự hiện diện của “bị” đều là

sự tình bất lợi cho “tôi”

Trong nhiều ngôn cảnh có ý nghĩa bị động, khi nghĩa từ vựng của chủ đề cho phép hiểu câu theo nghĩa bị động, đặc biệt là khi chủ đề là danh ngữ không phải là

con người hay con vật thì “bị, được” hoàn toàn có thể lược bỏ, ví dụ:

(45a) Gương mặt được trang điểm kỹ lưỡng

(45b) Gương mặt trang điểm kỹ lưỡng

(46a) Bản sao chép cẩu thả này bị mua đắt đấy

(46b) Bản sao chép cẩu thả này mua đắt đấy

Sự khác nhau giữa các câu có “bị, được” và câu đã lược bỏ “bị, được” ở hai

ví dụ (45), (46) trên là ở điểm có sắc thái nghĩa sự tình có lợi hay có sắc thái nghĩa

sự tình bất lợi với sự có mặt của “bị, được” chứ tuyệt nhiên không phải ở điểm bị

động hay chủ động Chúng ta xét tiếp các câu ở hai ví dụ sau:

(47a) Mẹ tôi đã được mổ xong

(47b) Mẹ tôi đã mổ xong

(48a) Su Bin đầu đã bị cạo trọc

(48b) Su Bin đầu cạo trọc

Nếu như các câu ở hai ví dụ (45), (46) các vị từ hành động “trang điểm; mua”

ro ràng không thể diễn tả ý nghĩa vai tác động hay vai hành động của các chủ đề

“gương mặt; bản sao chép cẩu thả” thì việc thừa nhận chúng không phải là câu chủ

động để đối lập với câu bị động như hai câu (47a), (48a) là khá dễ dàng, các vị từ

hành động “mổ; cạo trọc đầu” hoàn toàn có thể chỉ những hành động của các chủ thể “mẹ tôi; Su Bin” Thế nhưng về mặt dụng học, ngữ cảnh không cho phép hiểu các chủ thể ấy ở vai tác thể Ở câu (47b) “Mẹ tôi đã mổ xong” thì người Việt bản ngữ bao giờ cũng nghĩ là Mẹ tôi đã được bác sĩ nào đó mổ xong, cũng với cách hiểu

Trang 37

như thế, ở câu (48b) “Su Bin đầu đã bị cạo trọc” thì cũng được nghĩ là Su Bin đã

được người thợ hớt tóc nào đó cạo trọc đầu Như vậy, về cấu trúc, các câu ở ví dụ

(47), (48) là đồng nhất Sự khác biệt thuộc về ý nghĩa tình thái của “được, bị”, ở câu (47a) sự có mặt của “được” khiến cho sự tình “mổ” mang sắc thái ý nghĩa sự

tình có lợi, còn ở câu (48a) sự có mặt của “bị” khiến cho sự tình “cạo trọc đầu”

mang ý nghĩa sự tình bất lợi cho chủ thể Còn khi “được, bị” được lược bỏ như hai câu (47b), (48b) thì ý nghĩa sắc thái đó không còn nữa mà thôi

Chính sự lược bỏ “được, bị” không ảnh hưởng gì đến việc diễn tả ý nghĩa bị

động trong câu cho nên trong tiếng Việt có những kiểu câu mà chủ đề là không phải

là con người thì theo sau nó vẫn có thể là một vị từ nhận thức – nói năng vốn chỉ chấp nhận chủ thể của nó là con người như ở hai ví dụ sau:

(49) Con chó này tưởng ngoan hóa ra hay cắn ẩu

(50) Sự đời ngẫm kể cũng lạ

Còn hai câu ở ví dụ sau cho thấy sự lưỡng khả giữa ý nghĩa chủ động và bị động

(51a) Ông xã tôi được sinh ở Long Thành

(52a) Tôi được quay phim

Nếu chúng ta muốn hình dung và xác định được ý nghĩa chủ động và bị động, vậy chúng ta phải đặt hai câu (51a), (52a) trên trong ngữ cảnh như ở hai câu (51b), (52b) hoặc ở hai câu (51c), (52c) sau:

(51b) Ông xã tôi được sinh ra và lớn lên ở Long Thành [CĐ]

(51c) Ông xã tôi được sinh ở Phòng Khám Đa Khoa Long Thành chứ không phải chuyển lên Bệnh Viện Từ Dũ ở Sài Gòn [BĐ]

(52b) Tôi được quay phim Lăng Bác để làm kỷ niệm [CĐ]

(52c) Tôi được quay phim trong tiệc cưới bạn thân tôi [BĐ]

Tóm lại, những điều trình bày trên cho thấy các vị từ “bị, được” trong tieng Việt hoàn toàn xa lạ với động từ “be”, vốn là yếu tố mang tính bắt buộc thuần túy hình thái trong câu bị động của tiếng Anh Hai vị từ “bị, được” trong tiếng Việt

không hề mang tính bắt buộc như thế để thể hiện ý nghĩa bị động Các câu ở các ví

Trang 38

dụ (45), (46), (47), (48) cho thấy rằng “bị, được” có thể vắng mặt nhưng ý nghĩa bị

động không hề thay đổi Trái lại, các câu ở các ví dụ (51); (52) lại chứng tỏ rằng sự

có mặt của “bị, được” tùy ngữ cảnh mà nó tham gia mà khi thì biểu thị ý nghĩa bị động, khi thì biểu thị ý nghĩa chủ động, Điều này càng cho thấy “bị, được” không

thể xem là một tiêu chí ngữ pháp để nhận diện câu bị động, và sự phân biệt ý nghĩa

bị động hay chủ động trong tiếng Việt là vấn đề ngôn cảnh (dụng pháp), không phải

là vấn đề ngữ pháp Do đó có thể khẳng định trong tiếng Việt không có thái bị động như là một phạm trù ngữ pháp

Điều kiện về khả năng xuất hiện từ “bị, được” và kết cấu Chủ - Vị cùng với

điều kiện về vai nghĩa của chủ ngữ ngữ pháp là những điều kiện có tác dụng đồng thời, nghĩa là không thể thiếu một trong những điều kiện đó khi tạo câu bị động

trong tiếng Việt Những câu chứa từ “bị, được” mà không thỏa mãn những điều

kiện này thì không thuộc vào phạm trù câu bị động

Từ “bị” thường được dùng với tính âm (người nói xem là không tốt, bất lợi),

từ “được” thường được dùng với tính dương (người nói xem là tốt, có lợi) đối với thực thể nêu ở chủ ngữ, xét trong quan hệ với sự diễn đạt bằng kết cấu Chủ - Vị đứng sau hai từ này Hai ý nghĩa này của các từ “bị, được” nói chung và của chúng

trong câu bị động nói riêng, làm cho thái bị động của tiếng Việt có màu sắc riêng

mà không thể bỏ qua hai từ “bị, được” khi dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh và

ngược lại

1.2.3 Ý nghĩa thời gian trong câu bị động tiếng Việt

Thoạt nhìn, vấn đề câu bị động không liên quan đến thời gian Thực ra, nhìn từ quá trình thì mọi tương tác đều xảy ra trong thời gian Trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, quan hệ giữa con người với tự nhiên có một ý nghĩa đặc biệt Con người nhận thức thời gian và sự nhận thức này được phản ánh theo những hình thức biểu hiện riêng biệt của từng ngôn ngữ

Trong lĩnh vực ý nghĩa của ngôn ngữ và tương ứng với nó là lĩnh vực khái niệm, việc xác lập một số phạm trù ngữ nghĩa cơ bản nhất là một điều hết sức cần thiết để có thể xây dựng được một hệ thống ngữ nghĩa có tính chất đầy đủ, khoa

Trang 39

học Cũng như các phạm trù khác, phạm trù thời gian trong tiếng Việt cần được ngữ nghĩa hóa một cách có hệ thống dựa trên cơ sở phân tích ý nghĩa, phân loại thành tố ngôn ngữ nằm trong phạm trù này

Nói về ngôn ngữ thì thời gian là một phạm trù ngữ nghĩa phổ quát của ngôn ngữ Thời gian phản ánh phạm vi thời gian của hiện thực gắn với sự tồn tại của sự vật nói chung Như vậy, định vị thời gian là xác định vị trí của thời gian trong sự kiện mà người phát ngôn phản ánh Như vậy vị trí của thời gian đóng vai trò không kém quan trọng trong câu nói, nếu không có vị trí thời gian, thì chúng ta không thể xác định được hành động ấy xảy ra khi nào, vào thời điểm nào để từ đó đi đến một kết luận chính xác cho hành động đó

Phạm trù thời gian trong câu bị động tiếng Việt mang đậm tính chất ngữ nghĩa Trong hầu hết các trường hợp phát ngôn thì các chỉ tố thời gian trong tiếng Việt chủ yếu ở yếu tố từ vựng - ngữ nghĩa Nói cách khác, việc biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt là do các đơn vị từ vựng - ngữ nghĩa đảm nhiệm Và đây cũng chính là điểm khác biệt giữa một bên là ngôn ngữ có thì, ngôn ngữ biến hình và một bên là ngôn ngữ vô thì, ngôn ngữ không biến hình trong tiếng Việt

Tiếng Việt là ngôn ngữ không có phạm trù thì với tư cách là một phạm trù ngữ pháp Tuy nhiên, là một ngôn ngữ đơn lập, tiếng Việt cũng thể hiện sự định vị thời gian theo cách riêng của mình Để định vị thời gian của một sự tình của một phát ngôn, tiếng Việt dùng phương tiện từ vựng là danh từ, danh ngữ có ý nghĩa thời

gian, chẳng hạn như “sáng, trưa, chiều, tối, ngày, tuần, tháng, nam, bây giờ, trước

đây, …” những danh từ, danh ngữ này thường được sử dụng với chức năng ngữ

pháp là trạng từ chỉ thời gian Ngoài ra còn có các từ chẳng hạn như “đang, đã, sẽ,

xong, …” những từ này được gọi là phụ từ tình thái

Để phân biệt thời gian trong hiện tại, trong quá khứ và trong tương lai, trong

tiếng Việt lấy mốc thời điểm quy chiếu là hiện giờ làm chuẩn Vì vậy, hiện giờ chỉ thời gian của hiện tại, trước hiện giờ là nói đến quá khứ và sau hiện giờ là chỉ tương

lai

Trang 40

Qua bài ca dao dưới đây cho thấy việc định vị thời gian trong quá khứ, trong hiện tại và trong tương lai được thể hiện như sau:

Hôm qua anh đến chơi nhà Thấy mẹ nằm võng thấy cha nằm giường Thấy em nằm đất, anh thương Anh ra kẻ chợ đóng giường tám thang Bốn góc thì anh thiếp vàng Bốn chân thiếp bạc, tám thang chạm rồng Bây giờ phải bỏ giường không

Em đi lấy chồng phí cả công anh!

(Ca dao Việt Nam)

Trong bài ca dao trên chúng ta bắt gặp “hôm qua” có nghĩa là trước bây giờ,

là chỉ thời gian quá khứ Còn “bây giờ” có nghĩa là hiện giờ, là chỉ thời gian trong hiện tại và có thể cả sau hiện giờ, là chỉ thời gian trong tương lai

Ngoài những danh từ, danh ngữ nêu trên để nhận diện thời gian, trong tiếng Việt thường dùng những cụm từ, câu mang tính hình ảnh, ẩn dụ để nói về thời gian,

chẳng hạn khi nói về buổi sáng có thể nói “khi bình minh bắt đầu; khi ông mặt trời

ló dạng; khi trời còn mờ sương; những tia nắng bắt đầu xuyên qua kẽ lá; …”, còn

buổi trưa có thể diễn đạt “khi mặt trời đứng bóng; giờ ngọ;…” và buổi chiều tối có thể nói “mặt trời khuất núi; hoàng hôn buông xuống; mặt trời gác núi; bóng ngã về

tây; …”

Điểm qua việc định thời gian, chúng ta nhận thấy rằng việc định vị thời gian trong tiếng Việt là khá đa dạng Chính điều này đã góp phần tạo nên các định dạng cho câu chủ động trong tiếng Việt thêm rõ nét, giúp chúng ta xác định được thời điểm mà hành động đã tham gia

1.2.3.1 Ý nghĩa thời gian trong hiện tại

Tiếng Việt sử dụng phương tiện từ vựng bao gồm những từ như “luôn luôn,

thường, thường thường, thỉnh thoảng, đôi khi, hiếm khi, gần như không,…” để diễn

tả một sự tình trong hiện tại như ở hai ví dụ sau:

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Ảnh (2000), “Tiếng Việt có “Thái bị động” không?”, Tc. Ngôn Ngữ, (Số 5), tr. 36 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt có “Thái bị động” không
Tác giả: Nguyễn Thị Ảnh
Nhà XB: Tc. Ngôn Ngữ
Năm: 2000
2. Diệp Quang Ban (2000a), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo Dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
Năm: 2000
3. Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Thuận (2000b), “Lại bàn về vấn đề câu bị động Tiếng Việt”, T.c Ngôn Ngữ, (Số 7), tr. 14 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại bàn về vấn đề câu bị động Tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Thuận
Nhà XB: T.c Ngôn Ngữ
Năm: 2000
4. Diệp Quang Ban (2001), “Có phải trong ngôn ngữ học chỉ có cộng và trừ? Và bàn thêm về câu bị động tiếng Việt”, Tc. Ngôn Ngữ, (Số 13), tr. 1 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có phải trong ngôn ngữ học chỉ có cộng và trừ? Và bàn thêm về câu bị động tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Tc. Ngôn Ngữ
Năm: 2001
5. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp Việt Nam, phần câu, Nxb. Đại học Sư Phạm, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam, phần câu
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư Phạm
Năm: 2004
6. Ngô Văn Bằng (1996), “Câu bị động trong tiếng Việt”, Tc. Khoa Học Xã Hội, (Số chuyên đề), tr 174 - 183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu bị động trong tiếng Việt
Tác giả: Ngô Văn Bằng
Nhà XB: Tc. Khoa Học Xã Hội
Năm: 1996
7. Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1983), Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt, (Tập 2), Nxb. Giáo Dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
Năm: 1983
8. Nguyễn Tài Cẩn (1998), “Quá trình hình thành thế đối lập giữa ba từ “bị, được, phải” trong tiếng Việt hiện đại”. Tc. Ngôn Ngữ, (Số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hình thành thế đối lập giữa ba từ “bị, được, phải” trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Tc. Ngôn Ngữ
Năm: 1998
9. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1993), Đại cương ngôn ngữ học, (Tập 2), Nxb. Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
Năm: 1993
10. Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận về Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb. Đại học Huế
Năm: 1963
11. Nguyễn Hồng Cổn (2001), “Về vấn đề tương đương trong dịch thuật”, Tc. Ngôn Ngữ, (Số 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề tương đương trong dịch thuật
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Nhà XB: Tc. Ngôn Ngữ
Năm: 2001
12. Nguyễn Hồng Cổn (2004a), “Các kiểu cấu trúc phi ngoại động trong tiếng Việt”, Tc. Khoa Học, (Số 2), Nxb. Đại học Quốc Gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kiểu cấu trúc phi ngoại động trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc Gia
Năm: 2004
13. Nguyễn Hồng Cổn - Bùi Thị Diên (2004b), “Dạng bị động và vấn đề bị động trong tiếng Việt”, Tc. Ngôn Ngữ, (Số 7), tr. 1 - 13, (Số 8), tr. 8 - 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạng bị động và vấn đề bị động trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn, Bùi Thị Diên
Nhà XB: Tc. Ngôn Ngữ
Năm: 2004
14. Nguyễn Hồng Cổn (2004c), “Cơ sở ngôn ngữ học của nghiên cứu dịch thuật và bộ môn dịch thuật học”, Tc. Ngôn Ngữ, (Số 11), tr. 30 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học của nghiên cứu dịch thuật và bộ môn dịch thuật học
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Nhà XB: Tc. Ngôn Ngữ
Năm: 2004
15. Nguyễn Hồng Cổn (2008), “Cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt: Chủ – Vị hay Đề – Thuyết?”, Bài tham dự Hội Nghị Khoa Học Việt Nam Học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt: Chủ – Vị hay Đề – Thuyết
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Nhà XB: Bài tham dự Hội Nghị Khoa Học Việt Nam Học
Năm: 2008
16. Nguyễn Đức Dân (1993), “Dịch máy như thế nào?”, Tc. Ngôn Ngư , (Số 1), tr. 55 – 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch máy như thế nào
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Tc. Ngôn Ngư
Năm: 1993
17. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
Năm: 1998
18. Nguyễn Đức Dân (2000), “Dịch máy”, Tc. Ngôn Ngư , (Số 7), tr. 22 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch máy
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Tc. Ngôn Ngư
Năm: 2000
19. Bùi Thị Diên (2003a), Câu bị động tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn học, Đại học KHXH & NV, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu bị động tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt
Tác giả: Bùi Thị Diên
Nhà XB: Đại học KHXH & NV
Năm: 2003
20. Bùi Thị Diên (2003b), “Các phương thức chuyển dịch câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt”, Tc. Khoa Học Đại học Quốc Gia, HN, Ngoại Ngữ, T, XXI, (Số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương thức chuyển dịch câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt
Tác giả: Bùi Thị Diên
Nhà XB: Tc. Khoa Học Đại học Quốc Gia
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức ngữ pháp là động từ theo sau chủ ngữ sẽ là “shall/ will have - PP”, trong - Câu bị động trong tiếng việt và tiếng anh qua thực tiễn dịch thuật anh   việt
Hình th ức ngữ pháp là động từ theo sau chủ ngữ sẽ là “shall/ will have - PP”, trong (Trang 65)
Bảng 1a: Bảng tổng kết số lượng sinh viên tham gia khảo sát thực nghiệm về cách - Câu bị động trong tiếng việt và tiếng anh qua thực tiễn dịch thuật anh   việt
Bảng 1a Bảng tổng kết số lượng sinh viên tham gia khảo sát thực nghiệm về cách (Trang 102)
Bảng 1b: Về giới tính - Câu bị động trong tiếng việt và tiếng anh qua thực tiễn dịch thuật anh   việt
Bảng 1b Về giới tính (Trang 103)
Bảng 1c: Về độ tuổi - Câu bị động trong tiếng việt và tiếng anh qua thực tiễn dịch thuật anh   việt
Bảng 1c Về độ tuổi (Trang 103)
Bảng 1b cho thấy đối tượng khảo sát là nữ gồm có 774 sinh viên chiếm tỉ lệ  77,4% nhiều hơn nam,  trong  khi  số lượng  sinh  viên  tham  gia  thuộc  giới  tính nam  chỉ 226, chiếm 22,6% - Câu bị động trong tiếng việt và tiếng anh qua thực tiễn dịch thuật anh   việt
Bảng 1b cho thấy đối tượng khảo sát là nữ gồm có 774 sinh viên chiếm tỉ lệ 77,4% nhiều hơn nam, trong khi số lượng sinh viên tham gia thuộc giới tính nam chỉ 226, chiếm 22,6% (Trang 103)
Bảng 1d: Về nghề nghiệp - Câu bị động trong tiếng việt và tiếng anh qua thực tiễn dịch thuật anh   việt
Bảng 1d Về nghề nghiệp (Trang 103)
Bảng 1e:  Về trình độ tiếng Anh - Câu bị động trong tiếng việt và tiếng anh qua thực tiễn dịch thuật anh   việt
Bảng 1e Về trình độ tiếng Anh (Trang 104)
Bảng 2a: Kết quả khảo từ câu 1 đến câu 30 - Câu bị động trong tiếng việt và tiếng anh qua thực tiễn dịch thuật anh   việt
Bảng 2a Kết quả khảo từ câu 1 đến câu 30 (Trang 108)
Bảng 2b:  Kết quả khảo từ câu 31 đến câu 60 - Câu bị động trong tiếng việt và tiếng anh qua thực tiễn dịch thuật anh   việt
Bảng 2b Kết quả khảo từ câu 31 đến câu 60 (Trang 110)
Bảng 2c: Bảng tổng kết số lượng câu khảo sát trắc nghiệm - Câu bị động trong tiếng việt và tiếng anh qua thực tiễn dịch thuật anh   việt
Bảng 2c Bảng tổng kết số lượng câu khảo sát trắc nghiệm (Trang 111)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w