Khi bàn về vị từ, tác giả Cao Xuân Hạo 2001b [25] đã nhận định “bị, được” thường được xem là chỉ tố của dạng bị động nhưng tiếng Việt không có dạng bị động vì vai nghĩa của Đề không bị g
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
oOo
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 602201 Học viên thực hiện: NGUYỄN THỊ HỒNG YẾN Cán bộ hướng dẫn: PGS TS ĐINH LÊ THƯ
Tp HỒ CHÍ MINH – Năm 2010
Trang 3CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Một trong những con đường thuận lợi nhất để tiếp thu trí tuệ và thành tựu của nhân loại là thông qua việc đọc tài liệu cũng như dịch thuật Tuy nhiên, dịch thuật lại là một công tác đòi hỏi rất nhiều kiến thức về ngôn ngữ, cũng như nền tảng về vốn sống, khả năng tiếp nhận thông tin, khả năng diễn đạt bằng cấu trúc sâu, cấu trúc bề mặt trong cả ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích, tức kiến thức về văn hoá Việc dạy và học ngoại ngữ đang phát triển rất nhanh ở hầu hết các nước trên thế giới và một nhu cầu thiết yếu cần phải làm hiện nay trong lĩnh vực ngôn ngữ là tìm ra điểm chung giữa hai ngôn ngữ để tạo điều kiện thuận lợi trong việc dạy và học ngoại ngữ Từ nhiều năm nay, tiếng Anh vẫn là ngoại ngữ được dạy và học rất phổ biến ở Việt Nam, đồng thời việc so sánh giữa tiếng Anh và tiếng Việt vẫn là vấn đề cấp thiết trong hoàn cảnh thông tin khoa học kỹ thuật, văn hoá ngày càng phát triển Xu hướng dạy tiếng Anh trong những năm gần đây đang được áp dụng
theo phương pháp phổ biến là Phương pháp giao tiếp (Communicative approach),
song không ít người lại không rõ thế nào là khái niệm giao tiếp Con người giao tiếp qua nhiều hình thức như qua nghe, nói, đọc, viết, ngôn ngữ cơ thể, thái độ, … Chính
vì hiểu chưa rõ khái niệm này nên một số chương trình dạy tiếng Anh hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng ít chú trọng nhiều đến môn dịch thuật Do vậy, khi bước vào làm việc hay khi đọc hiểu một bài đọc tiếng Anh, phần lớn người học tiếng Anh rất lúng túng khi chuyển dịch những nội dung tưởng chừng đơn giản
Là giáo viên dạy tiếng, qua thực tiễn giảng dạy, chúng tôi nhận thấy rằng phần lớn những người học, sử dụng tiếng Anh khi dịch bài đọc, tài liệu gặp không ít khó khăn trong việc chuyển ngữ chúng từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại Một phần là do người học ngoại ngữ chưa được đào tạo một cách cơ bản về ngôn ngữ, đặc biệt về lĩnh vực ngôn ngữ học so sánh, nhằm hiểu rõ và có thể chuyển dịch văn bản chính xác hơn về cấu trúc và ngữ nghĩa
Trang 4Hơn thế nữa, việc đối dịch Anh – Việt và Việt – Anh đối với ý nghĩa bị động hiện nay vẫn là một vấn đề mang tính thời sự nhằm giải quyết một số vấn đề về thực tiễn, về câu bị động nói chung và ý nghĩa bị động nói riêng, cũng như góp phần vào việc soi sáng một số đặc điểm loại hình ngôn ngữ Trên cơ sở đó luận văn này chọn
đề tài nghiên cứu là “Câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Anh qua thực tiễn dịch
Anh - Việt”
Một trong những vấn đề về cấu trúc ngôn ngữ ảnh hưởng đến việc dịch thuật là việc chuyển dịch nghĩa giữa hai ngôn ngữ nói chung và việc chuyển dịch nghĩa của câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt nói riêng vốn rất khác biệt nhau về văn hoá,
về cấu trúc ngôn ngữ và về cách diễn đạt theo thói quen của người bản ngữ do ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ Cũng qua thực tiễn giảng dạy, chúng tôi thấy rằng phần lớn người Việt khi tiếp xúc với phạm trù ý nghĩa ngữ pháp này vẫn còn không ít lúng túng nên việc diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt khi chuyển dịch từ câu bị
động tiếng Anh sang đôi khi rất ngây ngô, tối nghĩa
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dựa trên những thành quả nghiên cứu về ngôn ngữ học, có thể thấy có hai khuynh hướng nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Việt như sau:
2.1 Quan điểm tiếng Việt không có dạng bị động hay câu bị động
Bên cạnh hình thái học khi nhận định tiếng Việt không tồn tại câu bị động, một
số tác giả còn dựa vào đặc điểm tiếng Việt là ngôn ngữ thiên chủ đề (topic-
promiment) chứ không phải ngôn ngữ thiên chủ ngữ (subject-promiment), các ngôn
ngữ thiên chủ đề thì không thể xuất hiện dạng bị động bởi dạng bị động là đặc trưng của các ngôn ngữ thiên chủ ngữ, ý kiến này xuất phát từ luận điểm của hai tác giả
N.L Charles và S.A Thompson (1976) [108] về sự đối lập giữa hai loại hình ngôn
ngữ thiên chủ đề và thiên chủ ngữ Dựa vào luận điểm của hai tác giả này, tác giả
Cao Xuân Hạo (2001b) [25] cho rằng tiếng Việt không có dạng bị động, do đó không có câu bị động và cho rằng câu bị động là loại câu trong đó chủ ngữ không đảm đương vai người hành động, người mang tính chất hay người có cảm xúc, mà
là một vai nghĩa khác, thường là vai đối tượng của hành động, của tình cảm hay là
Trang 5vai người nhận, trong khi các vai thường do chủ ngữ đảm đương có thể được chỉ rõ một cách hiển ngôn hay không Nghĩa bị động chính là nghĩa của loại câu vừa nói trên Theo tác giả, tiếng Anh và các thứ tiếng Âu châu khác là những ngôn ngữ
thiên chủ ngữ còn tiếng Việt có đủ những thuộc tính của một ngôn ngữ thiên chủ đề
Dạng bị động là một trong những đặc trưng của ngôn ngữ thiên chủ ngữ, còn trong các ngôn ngữ thiên chủ đề thì dạng bị động được xem là một hiện tượng ngoại biên, hạn hữu, không mấy khi có
Tác giả Nguyễn Thị Ảnh (2000) [1] dựa trên quan niệm Ngữ pháp chức năng
và tiếp thu quan điểm tác giả Cao Xuân Hạo cũng có quan điểm tương tự
Khi bàn về vị từ, tác giả Cao Xuân Hạo (2001b) [25] đã nhận định “bị, được” thường được xem là chỉ tố của dạng bị động nhưng tiếng Việt không có dạng bị động vì vai nghĩa của Đề không bị giới hạn như chủ ngữ trong các thứ tiếng Âu
Châu Hai vị từ này đều giữ nguyên nghĩa từ vựng nên không thể xếp vào loại hư từ
chỉ tố Bổ ngữ của nó có thể là danh ngữ hay vị ngữ Khi bổ ngữ của “bị, được” là
vị ngữ, hai vị từ này có thể được xem là một thứ vị từ tình thái, dù chủ thể của nó không trùng với chủ thể của vị ngữ làm bổ ngữ trực tiếp cho nó
Những tác giả ủng hộ quan điểm tiếng Việt không có dạng bị động và câu bị
động còn dựa trên quan niệm hai động từ “bị, được” là ngoại động từ (động từ
ngoại động chính danh) nên không thể xem chúng là dấu hiệu ngữ pháp biểu hiện quan hệ bị động
hai động từ độc lập đóng vai trò chính trong bộ phận vị ngữ của câu, không phải là
hư từ biểu thị dạng bị động của động từ Dạng chủ động và dạng bị động là phạm
trù ngữ pháp của tiểu loại ngoại động từ Động từ tiếng Việt không có phạm trù dạng theo khái niệm ngữ pháp truyền thống và tiếng Việt không có dạng bị động như các ngôn ngữ châu Âu nhưng tiếng Việt có cách diễn đạt ý nghĩa bị động riêng của mình, đó là cách biểu hiện bằng cấu trúc cú pháp
Tiếp nối ý kiến của tác giả Nguyễn Kim Thản, tác giả Nguyễn Minh Thuyết (1986b) [61], (1998) [63] cũng đã ủng hộ về việc không thừa nhận tiếng Việt có
Trang 6dạng bị động và theo tác giả thì tiếng Việt có cách diễn đạt ý nghĩa bị động riêng,
đó là cách biểu hiện bằng phương tiện từ vựng
Tác giả Đinh Văn Đức (2001) [21] thì cho rằng hai từ “bị, được” chưa được
xem là hai hư từ thực sự, tác giả xếp chúng vào nhóm các động từ tình thái ngữ pháp, là những động từ trống nghĩa Ở chúng, các ý nghĩa từ vựng là rất ít, chúng đã được ngữ pháp hóa nhưng lại chưa trở thành những hư từ thực sự, những động từ này có nội hàm rất hẹp bên ngoài nên ngoại diên phải rộng, chúng luôn luôn có thành tố phụ Theo tác giả, xét trên phương diện ngữ nghĩa, các động từ này có hai
mặt: Một mặt chúng mang ý nghĩa ngữ pháp với tính cách là một trung tâm ngữ
pháp trong tổ hợp với thành tố khác, có thể đóng vai trò của tiêu chí ngữ pháp, trong quan hệ với ý nghĩa tiếp thu, bị động nhưng mặt khác chúng còn mang ý nghĩa tình thái tham gia diễn đạt các nhận xét đánh giá chủ quan của người nói, tính mục đích
của phát ngôn Khi diễn đạt ý nghĩa, các từ “bị, được” một mặt là phương diện diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp tiếp thụ nhưng tiếp thụ ở đây có thể được hiểu theo sắc thái
may hay rủi, mà may hay rủi là theo nhận thức và đánh giá của người nói, do đó
“bị, được” cũng lâm thời trở thành những từ tình thái Tình hình đối với các động
từ khác trong nhóm này, trên nguyên tắc cũng như vậy, điều đó khiến chúng trở thành những động từ tình thái – ngữ pháp
Thông qua việc so sánh ngữ nghĩa, ngữ pháp của các từ “bị, được, phải” trong tiếng Việt với các từ “ban, t’râm” trong tiếng Khmer, tác giả Vũ Đức Nghiệu (2002) cũng có cách nhìn nhận ý nghĩa bị động của các từ “bị, được” là do nghĩa tự
nó, chứ không phải do sự cấu tạo dạng bị động đem đến Vì vậy, theo tác giả: “Đó
là những từ có ý nghĩa thụ động chứ không phải là những từ ở dạng bị động hay yếu tố tạo dạng bị động cho động từ khác.” [38, tr.13-24]
Trong tiếng Việt, các cấu trúc cú pháp có thể được tạo lập nhờ những từ có ý nghĩa thụ động hoặc với cấu trúc có từ mang nghĩa thụ động và những từ này lại hoàn toàn không phải là những từ được biến hình để thể hiện dạng bị động (được hiểu với
tư cách là một phạm trù ngữ pháp), cho nên có thể nói cách khác, để thể hiện ý
nghĩa tương đương của dạng bị động trong các ngôn ngữ biến hình châu Âu thì
Trang 7tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập, không biến hình đã sử dụng các phương thức từ ngữ chứ không phải là những phương thức về ngữ pháp
2.2 Quan điểm tiếng Việt có dạng bị động hay câu bị động
Theo hai tác giả Diệp Quang Ban và Nguyễn Thị Thuận (2000b) [3] thì ý
nghĩa bị động của câu cũng là một phạm trù như thức của câu, ý nghĩa bị động của
câu gắn nhiều với cách nhìn sự việc được phản ánh và hai tác giả đồng tình với quan niệm cho rằng tiếng Việt có dạng bị động, có câu bị động Theo hai tác giả, dạng hay thái bị động trong tiếng Việt không phải là dạng của động từ mà là dạng của một kiến trúc riêng với những đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa xác định Hai
tác giả lập luận rằng động từ trong tiếng Việt không biến hình từ, trong lúc đó phạm
trù dạng bị động, theo cách hiểu của các nhà ngôn ngữ Ấn – Âu, thì gắn liền với
dạng thức biến hình của động từ trong các ngôn ngữ có biến hình từ Kết luận hiển
nhiên là động từ tiếng Việt, nếu theo cách nhìn hình thái học đó, thì không thể có dạng bị động Tuy nhiên, hai tác giả lưu ý rằng việc xem xét dạng bị động như vậy
mới chỉ là kết luận về hình thái của động từ chứ không phải nói về phạm trù ý nghĩa
của dạng bị động và cách biểu hiện ngữ pháp tính của nó trong tiếng Việt Phạm trù dạng bị động của tiếng Việt theo hai tác giả vẫn có đủ tư cách một phạm trù ngữ pháp với điều kiện bắt buộc của ngữ pháp, là sự có mặt của ý nghĩa ngữ pháp phải được thể hiện bằng phương tiện hình thức theo lối ngữ pháp, nghĩa là hoặc bằng phụ
tố, hư từ, trật tự từ, các phương thức ngữ pháp khác và những phương thức ngữ pháp đó có thể được dùng tách riêng biệt hoặc dùng phối hợp với nhau
Theo tác giả Hoàng Trọng Phiến (1980): “Trong tiếng Việt, phương thức đối
lập bị động và chủ động không phải bằng con đường ngữ pháp thuần túy mà bằng con đường từ vựng – ngữ pháp” [40, tr.75] Theo tác giả, quan hệ cú pháp trong câu
bị động tiếng Việt được biểu hiện như sau:
- Bổ ngữ trong câu chủ động trở thành chủ ngữ trong câu bị động tương ứng
- Vị ngữ bao gồm các từ “bị, được, do” kèm theo động từ ngoại động
- Chủ thể ở câu chủ động không bắt buộc phải xuất hiện trong câu bị động tương ứng
Trang 8Tác giả N.V Stankevick (1982) khi đối chiếu tiếng Việt với ba loại hình tiếng Hán đã nhận định tiếng Việt có mấy đặc điểm như sau về cách diễn đạt ý nghĩa bị động:
- Kiểu câu có động từ thụ động là kiểu phổ biến khá rộng
- Trong khi trình bày ý nghĩa bị động, có sự phân biệt rõ giữa trường hợp
“may; tốt” và trường hợp “rủi; xấu”
- Cái mà người ta gọi là “câu bị động” chỉ là một trường hợp cá biệt trong những biến thể của kiểu câu có động từ thụ động
- Vai trò của hư từ trong câu bị động là vai trò không rõ nét lắm
[28, tr.174-185] Tác giả Lê Xuân Thại (1985) [42] cũng tán đồng một quan điểm tương tự khi cho rằng tiếng Việt mặc dù không có các câu bị động hoàn toàn giống như câu bị động trong các ngôn ngữ châu Âu nhưng cũng có loại câu có thể gọi là câu bị động với những đặc điểm sau:
- Chủ ngữ của câu biểu thị đối tượng hành động chứ không phải là chủ thể hành động
- Vị ngữ câu bị động do tác động các động từ “bị, được” đảm nhiệm
- Sau vị ngữ là một cụm chủ vị
Tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh (2002) cũng có đồng quan niệm tiếng Việt có tồn tại câu bị động Tác giả đã nêu một số nhận xét của mình về loại câu bị động của tiếng Nhật và tiếng Việt:
… vấn đề câu bị động của tiếng Việt cho đến nay vẫn chưa dành được sự quan tâm thích đáng từ phía các nhà ngôn ngữ Người ta chỉ mới bàn đến những câu bị động “điển hình”, còn rất nhiều trường hợp không điển hình thì chưa được bàn tới Do vậy, người sử dụng chỉ mới biết dùng các
từ bị, được một cách tự nhiên chứ chưa có ý thức phân biệt khi nào biểu thị nghĩa bị động, khi nào không
[49, tr.25-30]
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Kế thừa thành tựu lý thuyết của các công trình nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Anh từ nhiều tác giả đi trước, thông qua luận văn thạc sĩ này, chúng tôi thực tiễn khảo sát các sinh viên chuyên và không chuyên tiếng Anh của Trường Cao Đẳng Kinh Tế Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh và Trường Cao Đẳng Bến Tre về cách diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt khi chuyển dịch từ các mẫu câu bị động tiếng Anh thông dụng qua hình thức dịch Anh - Việt và qua hình thức trắc nghiệm Đồng thời cũng với nguồn ngữ liệu khảo sát này chúng tôi
thực hiện khảo sát bản dịch sang tiếng Việt của chương trình dịch tự động Google
translate
Tuy nhiên, do khuôn khổ một luận văn Cao học và sự giới hạn của điều kiện nghiên cứu nên còn nhiều điều chúng tôi chưa thực hiện được, chẳng hạn như chúng tôi không đối chiếu và dịch các mẫu câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt cũng như ngược lại ở các văn bản thuộc những thể loại khác nhau với các phong cách khác nhau và chúng tôi không thể trích dẫn hết những quan điểm về dạng bị động của những tác giả trong và ngoài nước
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiếp cận, khảo sát, phân tích, lý giải đối tượng, chúng tôi cố gắng tìm đọc các bài viết, công trình có liên quan đến vấn đề câu chủ động và câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Anh Trên cơ sở đó, chúng tôi cố gắng liệt kê các mẫu câu bị động tiếng Anh và thực hiện việc khảo sát thực tế về cách diễn đạt ý nghĩa câu bị động trong tiếng Việt khi chuyển dịch từ các mẫu câu bị động tiếng Anh thông dụng sang, sau đó chúng tôi tiến hành phân tích, thống kê một số lỗi
thường gặp thường gặp của sinh viên và chương trình dịch tự động Google translate
với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS, từ đó đưa ra các nhận xét và đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế những lỗi sai, cũng như khắc phục các khó khăn trong việc diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt khi chuyển dịch từ câu bị động tiếng Anh
Trang 104.2 Nguồn ngữ liệu
Ngữ liệu các vấn đề lý thuyết trong luận văn được kế thừa từ các công trình nghiên cứu về câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Anh của các tác giả đi trước Phần lớn các ngữ liệu ví dụ bằng tiếng Anh để minh họa các vấn đề lý thuyết trong luận văn được trích từ các nguồn sách, tự điển, trang web phục vụ cho việc giảng dạy và học tiếng Anh giao tiếp Trong đó chúng tôi chọn lọc một số câu bị động đa dạng về thể loại và có nguồn song ngữ Anh – Việt đưa vào việc khảo sát thực tiễn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
5.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn này hy vọng bổ sung tư liệu và cụ thể hóa những khía cạnh của lý thuyết dịch cho những công trình nghiên cứu về dịch thuật mà vì lý do này hay lý
do khác đã không được phát triển mạnh trong nhiều năm qua Việc so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ ở cấp độ câu sẽ mang đến cho người đọc có cái nhìn chi tiết hơn
và sự hiểu biết sâu sắc hơn sự khác biệt và tư duy văn hóa thể hiện trong cả hai ngôn ngữ Anh và Việt
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Những phát hiện và ghi nhận của luận văn có thể được ứng dụng trực tiếp vào việc giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ cho học viên Việt Nam Những gợi ý của chúng tôi mong muốn được phần nào hỗ trợ người học trong việc chuyển tải nội dung bản dịch, cũng như việc chuyển dịch ý nghĩa bị động Anh –Việt và góp phần nâng cao chất lượng việc giảng dạy tiếng Anh cho người Việt Nam, đặc biệt rất thiết thực cho chuyên ngành đào tạo biên phiên dịch tiếng Anh, cũng như giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Việc nắm vững câu bị động giữa hai ngôn ngữ là hết sức cần thiết, kết quả nghiên cứu của công trình cũng sẽ góp phần tìm hiểu sự diễn đạt ý nghĩa bị động trong phát ngôn của người Việt, người Anh và để tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài học tiếng Việt cũng như người Việt Nam học tiếng Anh
Trang 116 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung luận văn được triển khai thành ba chương với hướng trình bày và nghiên cứu như sau:
Chương 1 Một số vấn đề lí thuyết về câu và câu bị động trong tiếng Việt Chúng tôi trình bày một số lý thuyết, quan điểm về câu trong tiếng Việt trên các bình diện cấu trúc và chức năng của câu, từ đó giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quan về bức tranh chung của việc nghiên cứu ngữ pháp câu nói chung và câu
bị động trong tiếng Việt nói riêng qua hai quan niệm cơ bản, một quan niệm cho rằng trong tiếng Việt có dạng hay câu bị động và một quan niệm khác lại cho rằng trong tiếng Việt không có dạng hay câu bị động mà chỉ có những phương tiện diễn đạt ý nghĩa bị động
Chương 2 Câu bị động trong tiếng Anh
Chúng tôi trình bày khá đầy đủ, chi tiết các loại câu bị động tiếng Anh với các hình thức, chức năng của từng mẫu câu bị động tương ứng với từng mẫu câu chủ động và chúng tôi đưa ra mục đích sử dụng của từng mẫu câu bị động này trong các ngữ cảnh, trường hợp cụ thể
Chương 3 Về việc dịch thuật câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt
Chúng tôi khái quát một số vấn đề liên quan về lý thuyết dịch thuật, về những cấp độ tương đương trong dịch thuật Anh – Việt, … làm cơ sở lý thuyết cho việc khảo sát thực tiễn cách diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt khi chuyển dịch từ câu bị động tiếng Anh sang tiếng Việt của người Việt nói chung và của sinh viên,
chương trình dịch tự động Google translate nói riêng
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ CÂU
VÀ CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT
1.1 Một số vấn đề lí thuyết về câu1.1.1 Định nghĩa về câu
Lịch sử ngôn ngữ học chỉ ra rằng: Ở cấp độ trừu tượng nhất có thể thấy rõ hai hướng nghiên cứu ngôn ngữ truyền thống dường như mâu thuẫn với nhau có nguồn
gốc từ thời cổ Hi Lạp là Chủ nghĩa hình thức và Chủ nghĩa chức năng
Trên bình diện của Chủ nghĩa hình thức, ngôn ngữ được xem là đối tượng trừu
tượng và ngữ pháp là sự đặc trưng hóa các đối tượng này theo các qui tắc của cú pháp và được ứng dụng độc lập cùng với ý nghĩa và sử dụng các cấu trúc được mô
tả Ở bình diện này, ngôn ngữ (language) theo quan điểm của tác giả F De Saussure (2005) [27], hay khả năng (competence) theo tác giả N Chomsky (1965)
[81] được xem là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học và ngữ pháp được xem như một hệ thống các qui tắc
Trái với Chủ nghĩa hình thức, Chủ nghĩa chức năng không xem ngôn ngữ như
một tập hợp các qui tắc mà như một nguồn lực, một cách thức hành động Theo tác
giả N Chomsky (1965): “Ngôn ngữ được xem như là công cụ của sự tương tác xã
hội giữa người với người, được sử dụng với mục đích chủ yếu là thiết lập các mối quan hệ giữa người nói và người nghe.” [81, tr.1]
Trong quá trình phát triển của nền Việt ngữ học, cho dù việc nghiên cứu ngữ
pháp muộn hơn nhiều so với việc nghiên cứu các ngôn ngữ khác nhưng thành tựu nghiên cứu tiếng Việt của các nhà ngôn ngữ học là rất đáng kể, đặc biệt là sự nghiên
cứu tiếng Việt trên bình diện Ngữ pháp chức năng, một cách tiếp cận ngôn ngữ khá
mới mẻ
Các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Hệ hình hệ thức hướng sự chú ý của
mình đến công cụ hay phương tiện ngôn ngữ, tức tập trung vào việc cơ chế hóa công cụ này để xem nó được cơ cấu về mặt hình thức như thế nào, nhưng lại không
Trang 13quan tâm đến việc sử dụng nó như thế nào trong đời sống xã hội của con người cho
dù câu được xem là đơn vị giao tiếp nhưng việc nghiên cứu ý nghĩa của câu lại được
đưa xuống hàng thứ yếu, nghĩa là câu chỉ được xem xét khi cần phục vụ cho mục
đích nghiên cứu bình diện hình thức của ngôn ngữ
Điều này, theo tác giả Cao Xuân Hạo (2004) là tất yếu bởi mục đích nghiên cứu chính của các nhà ngôn ngữ học theo hướng này là nghiên cứu cấu trúc của các
dấu hiệu ngôn ngữ trong trạng thái tĩnh Tác giả cho rằng: “Ngữ pháp chức năng là
một hệ thống phương pháp được xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ như là một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người với người.” [26, tr.3]
Như vậy, Ngữ pháp chức năng đặt vấn đề xem xét không chỉ trên bình diện
Ngôn ngữ học mà còn trên cả những bình diện khác như Dụng học, Ngon ngữ học
xã hội và Ngôn ngữ học tâm lí
Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu câu bị động tiếng Anh và câu bị động tiếng
Việt trong cả trạng thái động lẫn trạng thái tĩnh, tức xem xét câu bị động tiếng Anh
và câu bị động tiếng Việt tồn tại trên văn bản với tư cách là một sản phẩm mang cơ chế tuyến tính đã có sẵn, và xem xét câu ở trạng thái động, tức câu trong văn bản với tư cách là sản phẩm của quá trình chuyển tiếp sự kiện – tình thái trong tư duy sang sự kiện – tình thái trong lời Rõ ràng, trạng thái tĩnh và động của hiện tượng ngôn ngữ thuộc nhiều cấp độ khác nhau, tùy thuộc vào loại đơn vị ngôn ngữ nào được xét đến
Theo Ngữ pháp truyền thống, câu được hiểu như đơn vị ngữ pháp lớn nhất (là đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp học) Bên cạnh đó, câu còn được hiểu là đơn vị
được làm thành từ một mệnh đề (mà mệnh đề lại là thuật ngữ của logic và đơn vị
nhỏ nhất có thể dùng để giao tiếp là câu), vì thế có thể hiểu câu là mệnh đề theo cách nhìn của ngôn ngữ học Cho thấy định nghĩa câu là mệnh đề được thể hiện
bằng ngôn ngữ của tác giả E Sapir (1949) [107] là hoàn toàn có thể chấp nhận
được Về việc định nghĩa câu, cho đến nay có khá nhiều điểm khác nhau Theo sự
thống kê của các chuyên gia ngôn ngữ học thì có hơn 300 định nghĩa khác nhau về câu Có thể qui về những hướng quan sát sau đây:
Trang 14(i) Dựa vào hoạt động giao tiếp, theo định nghĩa của tác giả A Meillet, tác giả Trương Văn Chình (1963) cho rằng: “Câu là tổ hợp tiếng dùng để diễn tả một sự
tình hay nhiều sự tình có quan hệ với nhau, tổ hợp ấy tự nó tương đối đầy đủ ý nghĩa, và không phụ thuộc về ngữ pháp vào một tổ hợp nào khác.” [10, tr.476]
(ii) Dựa vào hành động phát ngôn, tác giả E Sapir (1949) [107] đã có ý kiến
câu là một hành động ngôn ngữ diễn đạt một hành động của tư duy Việc phân loại
câu theo cấu trúc nghĩa, cấu trúc Đề – Thuyết dựa trên định hướng triển khai của tư duy Tư duy chọn cái gì làm xuất phát điểm, đó là phần Đề, còn tư duy triển khai cái
gì thì đó là phần Thuyết Tác giả Cao Xuân Hạo và các học trò của tác giả cũng đã
theo hướng phân tích ngữ nghĩa này
(iii) Theo quan điểm của Ngữ pháp truyền thống, các nhà Ngôn ngữ học dựa
vào các tiêu chí sau đây:
- Về tiêu chí hình thức, hai tác giả N.L Charles và L.C Thompson (1976) cho
rằng:
Ở trong tiếng Việt, các câu được tách ra khỏi nhau bởi những ngữ điệu kết thúc Một đoạn có một hay nhiều nhóm nghĩa, kết thúc bằng một ngữ điệu kết thúc hay đứng sau một sự im lặng hay tiếp một đoạn khác cũng như vậy là một câu Sự độc lập của những yếu tố như vậy là một câu Sự đối lập của những yếu tố như vậy được phù hiệu hóa trong chữ viết bởi cách dùng một chữ hoa ở đầu câu và một dấu kết thúc (dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than ở cuối câu)
[108, tr.85]
Nhìn chung định nghĩa này chỉ đơn thuần dựa trên tiêu chí hình thức mà bỏ qua tiêu chí ý nghĩa cũng như cấu tạo của câu
- Về tiêu chí ý nghĩa, các tác giả Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Phan
Thiều, Lê Cận, Hoàng Văn Thung, Hồ Lê, Hồng Dân, … đại diện cho khuynh
hướng xem hình thức - ngữ nghĩa là cơ sở cho việc tạo câu vì thế dựa vào định
nghĩa của tác giả V.V.Vinogradov, tác giả Nguyễn Kim Thản (1997c) cho rằng:
“Câu không phải là những đơn vị sẵn có của ngôn ngữ, nó là những tổ hợp được
Trang 15thành lập khi con người vận dụng ngôn ngữ để tư duy, giao tiếp hay truyền đạt tư tưởng, tình cảm, thái độ Sự vận dụng ngôn ngữ như thế chính là lời nói.” [47,
tr.501-506] và tác giả đã đưa ra ba đặc điểm để đề cập đến việc cấu tạo câu là: Tính
hoàn chỉnh không tách rời hoàn cảnh ngôn ngữ; Tính không tách rời qui tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ; Câu phải có ngữ điệu kết thúc
- Về tiêu chí cấu tạo, theo tác giả Diệp Quang Ban (2000a): “Câu là đơn vị
của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ.” [2, tr.106-107] Theo Ủy
Ban Khoa Học Việt Nam (1983) cũng cho rằng: “Câu là đơn vị dùng từ hay đúng
hơn dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; Nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp và có tính chất độc lập.” [68, tr.167]
Nhìn chung các tác giả trên đều quan tâm đến ba tiêu chí: Tiêu chí hình thức;
Tiêu chí ý nghĩa; Tiêu chí cấu tạo nhưng chưa đề cập đến mối quan hệ với người sử
dụng, vì vậy trong quá trình nghiên cứu về câu trong tiếng Việt và tiếng Anh, chúng
tôi nhận thấy câu là đơn vị dùng từ hay ngữ đặt ra trong quá trình tư duy và luôn
gắn với một ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ,
truyền đạt tư tưởng, tình cảm của người nói Câu có cấu tạo ngữ pháp đôc lập và có
ngữ điệu kết thúc Từ góc nhìn ba bình diện: bình diện kết học; bình diện nghĩa học; bình diện dụng học, chúng ta nhận thấy:
- Trên bình diện kết học, câu là một đơn vị cấu trúc (một tổ chức hình thức)
độc lập bao gồm các yếu tố là các ngữ đoạn và mối quan hệ giữa các yếu tố qui định chức năng cho từng yếu tố
- Trên bình diện nghĩa học, tổ chức hình thái của câu biểu đạt một nhận định
của tư duy, tức là biểu đạt một mệnh đề - một tư tưởng tương đối trọn vẹn về mặt ý
nghĩa nên có chức năng thông báo
- Trên bình diện dụng học, câu được hình thành thông qua người nói, tức thông
qua sự nhận thức của chủ thể nói năng đối với hiện thực Nhờ vậy, ngoài việc biểu
Trang 16hiện ý nghĩa khách quan của thực tại, câu còn biểu hiện ý nghĩa sắc thái mang tính chủ quan của người nói trong việc nhận thức, đánh giá thực tại và trong cách thức phát ngôn thông báo nhằm mục đích giao tiếp nhất định
Như vậy, câu là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, là sản phẩm được tạo ra để phục vụ mục đích giao tiếp và là một trong những đơn vị không có sẵn (so sánh với âm vị, âm tiết, hình vị, từ, ngữ cố định, thành ngữ là những đơn vị
có sẵn, ngữ tự do) Câu do các đơn vị có sẵn kết hợp theo các qui tắc ngữ pháp tạo thành Câu có cấu tạo ngữ pháp nhất định và là một chỉnh thể ngữ pháp độc lập với
ngữ điệu thể hiện riêng Ngữ điệu kết thúc khi phát ngôn câu là dấu hiệu kết thúc
câu Câu chứa đựng một nội dung thông báo như: Phản ánh hiện thực hoặc truyền đạt những thái độ, tình cảm, ý định, … của người nói đối với giao tiếp, đồng thời thể hiện thái độ chủ quan của người nói đối với hiện thực, với đối tượng giao tiếp
Đó là tính tình thái của câu, là dấu hiệu quan trọng để nhận diện câu Chức năng
thông báo là chức năng của câu và các đơn vị trên câu Nói cách khác, những đơn vị
và các kết cấu ngữ pháp nào không có chức năng thông báo thì chưa phải là câu Câu có thể được xem xét theo hai mặt: Một mặt câu do các đơn vị và các kết cấu ngữ pháp tạo thành, thuộc hệ thống kết cấu của ngôn ngữ Mặt khác câu thực hiện
chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, là sản phẩm của hoạt động giao tiếp thuộc lời nói Căn cứ vào hai mặt trên, câu được phân loại ra theo hai hướng: Hướng cấu tạo
ngữ pháp, tức là các kiểu kết cấu, tạo thành câu trong hệ thống ngôn ngữ và hướng
mục đích pháp ngôn, tức là các kiểu câu thực hiện các chức năng giao tiếp nhất
định
1.1.2 Việc phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp
Việc phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp có lẽ là một trong những vấn đề gây nhiều tranh luận trong nhiều thập niên qua Như chúng ta đã biết, để phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp, các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt và các tài liệu khác thường dựa vào các tiêu chí sau:
1.1.2.1 Tiêu chí hình thức
a Dựa vào cụm Chủ – Vị
Trang 17Lien quan đến câu bị động tiếng Anh và câu bị động trong tiếng Việt, Ngữ
pháp học truyền thống cho rằng cụm Chủ – Vị là cơ sở để xây dựng mệnh đề và dựa
vào số lượng mệnh đề trong câu để phân loại câu, trong đó vị ngữ là thành phần không thể thiếu được Tác giả Hoàng Tuệ (1992) cho rằng câu tiếng Việt có kết cấu nền tảng là cụm Chủ – Vị Câu chỉ có một mệnh đề là câu đơn, câu có từ hai mệnh
đề trở lên là câu ghép Nhưng với những câu có mô hình cấu tạo như nhau hay những câu không phải là mệnh đề như: “Cháy!”; “Mùa thu năm 1946”; … thì không thể xếp vào loại câu đơn hay câu ghép được mà tác giả gọi là “câu đơn bổ
cú” [65, tr 124]
Cũng dựa vào số lượng cụm Chủ – Vị làm nòng cốt, mà mỗi phần Chu, phần
Vị của nó đảm nhiệm vai trò là thành phần chính trong câu, cụm Chủ – Vị nào chỉ
đóng vai trò của một thành phần trong câu đều không phải là cụm Chủ – Vị trong câu để phân loại câu Câu có một cụm Chủ – Vị làm nòng cốt thì đó là câu đơn, câu
có từ hai cụm Chủ – Vị trở lên làm nòng cốt thì đó là câu phức hay câu ghép
Các tác giả Hoàng Tuệ, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, … tuy không
tuyên bố là dựa vào số lượng của cụm Chủ – Vị làm nòng cốt trong câu để phân loại
câu nhưng trên thực tế thì có dựa vào hướng phân loại này Dù vậy, quan điểm của các tác giả này vẫn có điểm không thống nhất Các tác giả Hoàng Tuệ, Lê Cận, Cù
hệ nhất định về ý nghĩa (điều kiện, giả thiết, …) và những đặc trưng nhất định về hình thức (ngắt đoạn, có tín hiệu, …) Hai tác giả Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến
Lê (1963) thì gọi cụm Chủ – Vị nòng cốt là cú, hai tác giả cho rằng: “Câu có một cú
là câu đơn, câu có từ hai cú trở lên là câu phức” [10, tr.476] Tác giả Lưu Vân
Lăng (1975) cũng gọi cụm Chủ – Vị nòng cốt là cu, tác giả cho rằng: “Cú là ngữ
đoạn thuyết ngữ tính”; “Câu đơn là câu chỉ có một cú (đơn hoặc kép) và câu kép là câu gồm nhiều cú (từ hai trở lên), đứng tách bạch nhau, cú này không phải là bộ phận phát triển của cú kia, nói cách khác là câu có quan hệ đề - thuyết tách bạch nhau” [34, tr.54-56] Các tác giả Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn
Thung (1983) [7] thì căn cứ vào số lượng cụm Chủ – Vị làm thành phần câu hoặc
Trang 18làm thành phần phụ của nhóm từ trong câu là câu đơn giản bình thường, còn câu có
từ hai cụm Chủ – Vị làm hạt nhân trong câu, có quan hệ với nhau về mặt ý nghĩa, ngữ pháp là câu phức hợp
Liên quan đến vấn đề đang bàn, Tác giả Diệp Quang Ban (2004) [5] chia câu
làm hai loại: Câu đơn hai thành phần và câu đặc biệt dựa vào nòng cốt câu Câu
đơn hai thành phần là câu có chứa một cụm Chủ – Vị duy nhất làm nòng cốt câu và
chiếm vị trí chủ yếu của việc miêu tả ngữ pháp về câu, được sử dụng rộng rãi nhất
và được dùng làm cơ sở cho những kiểu câu có cấu tạo lớn hơn Từ đó có thể thấy,
dựa vào cấu trúc bề mặt, hướng quan sát vào cụm Chủ – Vị với loại câu không đầy
đủ Chủ – Vị hoặc loại câu không phân định được thành phần Tuy nhiên, tiêu chí này lại không phù hợp với câu ghép bởi vì cho dù các vế trong câu ghép có thể được xây dựng dựa vào cụm Chủ – Vị, nhưng kết cấu chủ yếu trong câu ghép lại là
kết cấu đẳng lập, quan hệ ngữ pháp giữa các vế trong câu ghép lại là quan hệ đẳng lập
Quan điểm của tác giả Nguyễn Kim Thản (1999) là dựa vào vị ngữ hoặc thể từ làm cấu trúc để xác định câu đơn và dựa vào sự ghép lại những cấu trúc vốn dĩ là
câu đơn để xác định câu ghép Cũng theo tác giả: “Câu đơn giản gồm có câu song phần, câu đơn phần, câu danh xưng, … trong đó câu song phần gồm có hai bộ phận chủ yếu là chủ ngữ và vị ngữ còn câu đơn phần chỉ có một bộ phận tương đương với vị ngữ trong câu song phần và không có chủ ngữ.” [48, tr.175-229] Theo tác
giả Hồ Lê (1992): “Việc phân định ranh giới giữa các tiểu loại trong câu đơn giản
là chưa thỏa đáng.” [37, tr.38] Như vậy, để nhận diện các loại câu trong tiếng Việt
thì dựa vào cụm Chủ – Vị Tuy nhiên vấn đề này vẫn chưa được giải quyết một cách
triệt để
b Dựa vào cụm từ
Theo tác giả Lê Xuân Thại (1985): “Cụm từ bao gồm hai loại: Loại cụm từ có
thành phần qui định lẫn nhau (cụm từ một chiều và cụm từ hai chiều) và loại cụm từ
có thành phần không qui định lẫn nhau (cụm từ song song) Dựa vào tính chất của
Trang 19các cụm từ làm nòng cốt, từ đó chia câu thành câu đơn và câu ghép và mỗi loại này lại được chia thành câu bình thường và câu đặc biệt.” [42, tr.32-42]
Dựa vào số lượng các đơn vị ngữ pháp trong câu, tác giả Nguyễn Kim Thản
(1999) cho rằng: “Câu đơn giản nhất trong tiếng Việt là sự cấu thành của một đơn
vị ngữ pháp (từ, cụm từ) và giọng điệu độc lập Câu đơn là câu chỉ do một từ hay một cụm từ tạo thành; Câu ghép thì do hai hay một số từ, hai hay một số cụm từ ghép song song với nhau tạo thành.” [48, tr.57]
c Dựa vào cấu trúc Đề - Thuyết
Các tác giả nghiên cứu câu trong tiếng Việt theo hướng cấu trúc Đề - Thuyết
cần kể đến là các tác giả Trần Ngọc Thêm, Cao Xuân Hạo, Hồ Lê, Lưu Vân Lăng,
… Nghiên cứu cấu trúc câu theo hướng Đề - Thuyết là đáng chú ý, tuy nhiên khái niệm Đề - Thuyết vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau nên cách dùng thuật ngữ Đề -
Thuyết cũng được hiểu không giống nhau Tác giả Hoàng Văn Vân (2005a) [73]
dùng thuật ngữ Đề - Thuyết gần như trùng với thuật ngữ Chủ – Vị, song tác giả Diệp Quang Ban (2000a) [2], (2000b) [3] thì quan niệm Đề - Thuyết khác hoàn toàn với khái niệm Chủ – Vị Tác giả Trần Ngọc Thêm (1991) [51] nhận định rằng cấu trúc của mọi câu đều chia thành hai phần gồm trung tâm ngữ pháp gọi là phần Đề và trung tâm ngữ nghĩa của câu, gọi là phần Thuyết Nếu phát ngôn có đủ cả hai phần
Đề - Thuyết là phát ngôn hoàn chỉnh, gọi là câu Nếu phát ngôn thiếu một trong hai
phần hoặc thiếu cả hai phần Đề - Thuyết thì gọi là ngữ trực thuộc Tác giả còn giải thích thêm: “Ngữ trực thuộc là câu không hoàn chỉnh về cấu trúc.” [51, tr.57-58]
Theo tác giả là tạo ra sự lưỡng phân khá rõ, nhưng tác giả chưa nêu lên được tiêu
chí để xác định Đề - Thuyết, do đó nó chỉ hé mở về một cách tiếp cận mới
Tác giả Cao Xuân Hạo (2004) [26] khi bàn về vấn đề phân định ranh giới giữa
phần Đề và phần Thuyết trong câu tiếng Việt, đã đưa ra tiêu chí phân loại Theo tác giả, phan Đề và phần Thuyết trong câu có thể nhận ra nhờ sự có mặt của một trong hai tiểu từ “thì; là” hoặc bằng cách thêm chúng vào mà không làm thay đổi cấu trúc
cơ bản và ý nghĩa của câu
Trang 20Nhìn chung, việc các tác giả đã dựa vào cấu trúc Đề - Thuyết cũng vẫn chưa
giải quyết thấu đáo vấn đề phân định câu trong tiếng Việt
1.1.2.2 Tiêu chí ý nghĩa
Lịch sử nghiên cứu câu tiếng Việt theo tiêu chí này cho thấy, về mặt nội dung thông báo của câu mà các định nghĩa thường nêu ra như: câu biểu đạt một tư tưởng, câu biểu thị phán đoán, câu biểu thị nội dung hoàn chỉnh, một ý tưởng toàn vẹn, … vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Mãi cho đến các công trình nghiên cứu gần đây, khi xem xét câu trong hoạt động giao tiếp, để phân biệt câu với phát ngôn, một vài tác giả như Hoàng Trọng Phiến, Hồ Lê, Cao Xuân Hạo, … có hướng sự chú ý đến Theo các tác giả, cấu trúc nòng cốt của câu phải biểu đạt được ý nghĩa miêu tả của câu là nội dung mệnh đề (sự nhận định của tư duy) Mệnh đề bao giờ cũng bao gồm
hai phần: Phần nêu chủ đề của sự nhận định (Đề); Phần nói về chủ đề, thuyết minh thông báo cho chủ đề (Thuyết) Quan hệ Đề - Thuyết là quan hệ lô gic ngữ nghĩa được cấu trúc hóa và tuyến tính hóa thành cấu trúc Đề - Thuyết ở bình diện cú pháp với ngữ đoạn cụ thể được gọi là Đề ngữ và Thuyết ngữ theo trật tự Đề đứng trước
Thuyết để thể hiện hướng đi của tư duy, thể hiện cách tổ chức phát ngôn của người
nói Tư duy chia thực tại khách quan thành hai mảng: Mảng các thực thể (sự vật) được biểu hiện bằng danh từ và mảng các đặc trưng (hoạt động, trạng thái, tính chất) của thực thể được biểu hiện bằng vị từ, tức biểu hiện bằng động từ hay tính từ Còn phán đoán, thực chất là đơn vị lôgic thể hiện sự nhận định của tư duy thì được
hình thành trên sự liên kết giữa hai mảng đó theo quan hệ Đề – Thuyết
Tóm lại, nếu chỉ dựa trên tiêu chí về ý nghĩa thì cũng chưa đủ sức thuyết phục
để phân biệt câu nào là câu biểu thị phán đoán và câu không biểu thị đầy đủ phán đoán
1.1.2.3 Tiêu chí thông tin
Dựa vào tiêu chí thông tin (tâm lí thông báo), chúng ta có thể phân tích câu,
tức là dùng Phương pháp phân đoạn thực tại (Actual division of the sentence) thành
những thành phần khác nhau
Trang 21Theo tác giả Hồ Lê (1992) [37], vì Phương pháp phân đoạn thực tại gắn với
tâm lí nên kết quả phân đoạn không phải nhằm tìm ra một loại cấu trúc câu (thuộc
về cú pháp học của ngôn ngữ - theo quan niệm cú pháp chức năng) mà chỉ là phát hiện những cách vận dụng cấu trúc câu (thuộc về dụng học của lời nói)
Đến đây có thể đúc kết, từ việc nêu ra ba tiêu chí nhận diện câu như trên, có thể thấy rằng do xem câu là đơn vị ngữ pháp cao nhất, thực hiện chức năng thông báo, nên việc nhìn nhận câu cũng sẽ thật khó lòng mà tìm thấy được tiếng nói chung giữa các tác giả
- Về mặt hình thức, các tác giả nhận diện câu dựa vào thành phần nòng cốt câu
vì khi nói tới nòng cốt câu là ám chỉ bộ khung ngữ pháp của câu Đó chính là cấu trúc tối giản vừa đủ đảm bảo cho câu độc lập về mặt nội dung và hoàn chỉnh về mặt hình thức
Trong luận văn này, chúng tôi đặt vấn đề xem xét câu bị động tiếng Anh và câu bị động trong tiếng Việt trên bình diện cấu trúc chức năng, tức là căn cứ vào cấu trúc nền để tạo nên một câu bị động tiếng Anh và câu bị động trong tiếng Việt
hoàn chỉnh về một trật tự có đầy đủ cụm Chủ – Vị có giá trị là một nòng cốt của
câu
- Về mặt ý nghĩa, dựa vào khả năng biểu thị phán đoán không phải là một
hướng có triển vọng vì để nhận diện câu thì khả năng biểu thị phán đoán không phải
là đặc điểm giúp chúng ta tách nòng cốt câu ra khỏi cấu trúc của chúng Những ngữ nghĩa có chức năng thông báo hay định danh phải được xem xét trong kết cấu của nòng cốt câu, nếu tách mỗi vế ra khỏi nòng cốt của chúng thì cấu trúc câu của chúng
sẽ không còn nữa và câu cũng sẽ không còn tồn tại
- Về mặt thông tin, thì phần nêu hay phần báo có liên quan đến tiêu điểm
thông báo, bao gồm các tiêu điểm bộ phận và các tiêu điểm toàn thể Một kết cấu có thể được xem là một câu khi và chỉ khi chúng mang một thông tin có tính chất
thông báo (tức là bao gồm đầy đủ hai thành phần, là phần nêu và phần báo)
Trang 221.2 Câu bị động trong tiếng Việt
1.2.1 Tiền đề lí thuyết của câu bị động trong tiếng Việt
1.2.1.1 Chủ đề và chủ ngữ
Trong nhiều năm gần đây, chủ đề (topic/ theme); chủ ngữ; tính thiên chủ đề;
tính thiên chủ ngữ đã trở thành những khái niệm trung tâm trong các cuộc thảo luận
về loại hình học ngôn ngữ Có hai vấn đề được bàn bạc trong những cuộc thảo luận này Vấn đề thứ nhất có tính chất khái niệm và vấn đề thứ hai có tính chất kinh nghiệm Hai vấn đề này lệ thuộc vào nhau nhưng khác biệt với nhau Vấn đề thứ nhất liên quan tới việc hiển ngôn hóa một cách chuẩn mực các thuật ngữ phổ quát, còn vấn đề thứ hai, liên quan tới việc trắc nghiệm những giả thiết có tính kinh nghiệm về những xu thế phổ quát và những cách diễn đạt nghĩa các giả thiết ấy Hai tác giả N.L Charles và S.A Thompson (1976) [108] đề nghị một cách
phân loại hình ngôn ngữ mới dựa trên sự phân biệt giữa tính chất thiên chủ ngữ và
thiên chủ đề Hai tác giả bắt đầu bằng việc trình bày một danh sách những thuộc
tính cho phép vạch rõ sự khác nhau giữa chủ ngữ và chủ đề Danh sách ấy có thể tóm lược như sau:
- Chủ đề phải có tính xác định (về nghĩa)
- Chủ đề không cần có một mối quan hệ
tuyển lựa với bất kỳ vị từ nào trong câu
- Vị từ chính của câu không quy định chủ
đề của nó quyết định phân cho chủ đề một
vai nghĩa nhất định
- Chủ đề có một vai nhất định xuyên qua
các câu, cụ thể là chức năng “giới hạn khả
năng ứng dụng kết cấu Chủ - vị chính của
câu trong một phạm vi nhất định” [80,
- Chủ ngữ thì không cần có tính này
- Chủ ngữ bao giờ cũng có một quan hệ
tuyển lựa hết sức hạn chế với vị từ mà nó làm chủ ngữ
- Vị từ chính của câu quy định chủ ngữ của
nó quyết định phân cho chủ ngữ một vai nghĩa nhất định, vai người tác động chẳng
hạn
- Vai trò chức năng của chủ ngữ, nếu có,
được quy định trong phạm vi nội bộ của câu
Trang 23tr.464], chức năng này liên quan đến cấu
trúc của diễn ngôn
- Chủ đề thường xuất hiện ở đầu câu
- Chủ đề không đóng một vai trò nổi bật
như vậy
- Chủ ngữ không bị gò ép vào vị trí này
- Chủ ngữ đóng một vai trò nổi bật trong
Như chúng ta biết, chủ đề là thành phần nêu rõ câu đang xét nói về cái gì? nói
về đề tài nào? Một cách lập thức hữu ích hơn là cách của tác giả W Chafe (1976)
[80], theo tác giả, nhiệm vụ của chủ đề là giới hạn khả năng ứng dụng của kết cấu vị ngữ chính (tức phần Thuyết) vào một lĩnh vực hữu hạn Chức năng này bao hàm hai loại thuộc tính: thuộc tính có liên quan đến ngôn cảnh và thuộc tính có liên quan đến sở chỉ trong nôi bộ của câu
Một thuộc tính có liên quan đến ngôn cảnh thường được gán cho chủ đề là tính
cho sẵn (given) Hai tác giả N.L Charles và L.A Thompson lại còn đòi hỏi chủ đề
phải xác định về ngữ nghĩa có tính xác định, nghĩa là có một sở chỉ duy nhất, tức là tiền giả định rằng người nghe có thể xác định được căn cứ đơn nhất của vật sở chỉ
Hai tác giả đưa cả sở chỉ tổng loại (generic reference), chẳng hạn như câu “Hổ là
giống ăn thịt” vào phạm trù xác định, nhưng dù có như vậy thì cái yêu cầu của họ
hình như cũng không thấp Chúng ta thử xét các ngữ đoạn được gạch dưới ở câu (B)
ở hai ví dụ sau là những ngữ đoạn mang những thuộc tính chủ đề rất rõ:
(1) A: Do you sell spirits and tobaccos here? (Ở đây có bán rượu mạnh và thuốc lá không?)
Trang 24B: Spirits we are not allowed to sell here, unfortunately As for tobaccos,
we only stock cigars (Ở đây chúng tôi không được phép bán rượu mạnh, còn thuốc
lá thì chúng tôi chỉ có xì - gà thôi.) {4}
(2) A: How about a swim and a game of tennis? (Bơi một vòng rồi làm một ván quần vợt nhé, anh thấy thế nào?)
B: A game of tennis I might consider; but as for a swim, I don’t feel quite
up to it this morning (Một ván quần vợt thì may ra cũng được; chứ một vòng bơi thì sáng nay tôi thấy mình không đủ sức lắm.) {4}
Các ngữ đoạn được gạch dưới ở hai ví dụ (1), (2) trên thì chắc chắn là chứa đựng thông tin cho sẵn, nhưng đó không phải tuyệt nhiên là những ngữ đoạn xác định dù có hiểu hai chúng theo cách nào trong những cách hiện có Điều này cho
thấy rằng chúng ta phải phân biệt mấy loại tính cho sẵn khác nhau Một loại thứ ba
có thể đồng nhất hóa với cái gọi là thông tin cũ hiểu theo một nghĩa đủ hẹp của thuật ngữ này Tác giả W Chafe (1976) [80] có chỉ rõ rằng tính xác định có thể đi đôi với thông tin mới, ví dụ:
(3) I saw your younger sister yesterday (Hôm qua tôi thấy em gái của bạn.)
Trong đó khó có thể cho rằng người nói giả định là người nghe không biết gì
về cha mình, mặc dù ngữ đoạn đang xét có chứa đựng một thông tin mới Tác giả gợi ý rằng vấn đề thông tin mới hay thông tin cũ là ở điểm tri thức của người nghe
có được đánh thức trở dậy (tái huy động) trong cuộc giao tiếp hay không (mới
được đánh thức trở dậy có thể đi đôi với biết sẵn từ trước) Điều này không được
minh xác cho lắm, vì ở đây chúng ta không rõ mới được đánh thức trở dậy cần được
hiểu như thế nào
Để sơ kết lại, có thể nói rằng chúng ta đã phân biệt ba tính cho sẵn khác nhau:
(i) Tính cho sẵn sở chỉ, trong đó tiền giả định là vật sở chỉ là duy nhất
(ii) Tính cho sẵn về nội dung, như ở hai ví dụ (1), (2) khi nội dung hay nghĩa
của các ký hiệu ngôn ngữ được ngôn cảnh làm rõ và nhờ đó mà trở thành cho sẵn, tuy không hề có sở chỉ được tiền giả định Cần lưu ý rằng (i) không kéo theo (ii) như ở ví dụ sau:
Trang 25(4) A: Have you known their faces? (Cô biết mặt chúng chưa?)
B: No, I haven’t known the bastards’ faces (Chưa, tôi chưa biết mặt mấy tên khốn đó.)
(iii) Tính cho sẵn liên quan bổ sung thêm cho (i), (ii) hoặc bổ sung thêm cho
(i) hay (ii) khi một yếu tố được cho sẵn nhờ mối quan hệ với một tình huống (được nêu rõ một cách chính xác ít nhiều được biểu thị bằng một ký hiệu cùng xuất hiện, thường là một vị từ)
Tính cho sẵn liên quan có tầm quan trọng đối với việc hiển ngôn hóa khái
niệm tiêu điểm, khái niệm này loại trừ tính cho sẵn đó Mặt khác, nó không được
đưa vào làm tiêu chuẩn phân định chủ đề (nhưng chúng ta sẽ có dịp trở về với nó
nhân nói về những chuyện khác trong khi bàn về tiếng Việt) Như vậy, tính cho sẵn
có tầm quan yếu đối với việc hiển ngôn hóa chủ đề không được phân định rõ giữa hai loại hình (i) và (ii)
Chức năng của chủ đề trong nội bộ của câu có thể được miêu tả như là thế ưu
tiên về sở chỉ so với các thành phần khác của câu Nghĩa là nếu sở chỉ của một số thành phần lệ thuộc vào sở chỉ của các thành phần khác, thì sở chỉ của các thành phần khác sẽ lệ thuộc vào sở chỉ của chủ đề, chứ không bao giờ ngược lại Nếu biết chắc rằng vị trí đầu câu là một cách đề hóa của tiếng Anh, ta có thể nhận ra thuộc tính này ở hai ví dụ sau:
(5) Every day thousands of vehicles pass through that bridge (Hàng ngày có
hàng ngàn xe cộ qua cây cầu đó.)
(6) Thousands of vehicles pass through that bridge every day (Hàng ngàn xe
cộ ngày nào cũng qua cây cầu đó.)
Ở ví dụ (5) cho biết số xe cộ ước khoảng hàng ngày qua cây cầu đó, mà không ngụ ý rằng ngày nào cũng chính những xe cộ đó qua cây cầu, ở ví dụ (6) ít ra cũng
có thể hiểu như vậy Nói một cách khác, ở ví dụ (5) sở chỉ của “thousands of
vehicles (hàng ngàn xe cộ)” bị bó hẹp lại do sở chỉ của thành phần câu là “every day (hàng ngày)” được chủ đề hóa Mặt khác xin lưu ý rằng thành phần chủ đề hóa
này không gợi cho chúng ta cảm giác là nó được cho sẵn ở ví dụ (5)
Trang 26Trong những cách biểu hiện tính toán vị ngữ tiêu chuẩn dùng cho câu, sự khác biệt quan yếu sẽ là sự khác nhau về tầm tác động của lượng từ Chúng ta có thể
dùng khái niệm tầm tác động để khái quát hóa thuộc tính thế ưu tiên về sở chỉ ra
ngoài sở chỉ hiểu theo nghĩa hẹp một chút Không chỉ phải có các lượng từ, mà cả các tác tử cú pháp cũng có thể có những tầm tác động chồng chéo lên nhau Sở chỉ
thức (mood) và thì (tense) của các câu có thể chuyển một cách tự nhiên thành những
tác tử cú pháp của câu, những tác tử này biến đổi các thuyết minh các danh ngữ Vậy có thể khái quát hóa ra là khi các chủ đề có hình thức câu, thì tầm tác động của các tác tử câu của nó rộng hơn tầm tác động của các tác tử câu khác trong kết cấu
Để kết luận, chúng ta có thể tập hợp các thuộc tính của chủ đề lại thành một định nghĩa khái quát của phạm trù này: Một loại thành phần câu làm thành một phạm trù ngữ pháp có thể phân xuất trong ngôn ngữ có thể được gọi là chủ đề nếu
những trường hợp tiêu biểu cho thấy cả tính cho sẵn lẫn tầm tác động rộng hiểu
theo những ý nghĩa đã bàn trên, sao cho mỗi trường hợp tiêu biểu đều cho thấy hoặc
tính cho sẵn, hoặc tầm tác động rộng, hoặc cả hai trong chừng mực có liên quan
đến tầm tác động chồng chéo lên nhau
b Chủ ngữ
Hai khái niệm chủ ngữ và chủ đề vốn có liên quan gần gũi với nhau, hai thực thể được gọi tên bằng hai thuật ngữ này vốn có một số thuộc tính chung Nói một cách khái quát, chúng ta có thể miêu tả sự khác nhau giữa hai khái niệm này bằng cách nói rằng chủ ngữ tham gia cấu trúc của câu một cách hữu cơ hơn chủ đề Chủ ngữ cho thấy một sự ngữ pháp hóa đặc thù đối với một số thuộc tính nhất định của chủ đề Điều này có thể hiển ngôn hóa một cách chính xác hơn như sau: Những thuộc tính của chủ đề có liên quan đến ngôn cảnh không làm thành một bộ phận của
cách định nghĩa khái quát của chủ ngữ, phạm trù chủ ngữ không tự nó bao hàm tính
cho sẵn
So sánh chủ ngữ ở ví dụ (6) với cái ngữ đoạn giống như chủ đề ở ví dụ (7) sau:
(6) An elephant is walking down the Main Street (Một con voi đang đi dọc lộ Main Street.)
Trang 27(7) As for elephants, here is one walking down the Main Street (Khi nói về voi thì một con đang đi trên lộ Main Street.) {4}
Không có gì cho phép chúng ta nghĩ rằng ở ví dụ (6), chúng ta có một cái gì có
tính cho sẵn quy nạp, trong khi ở ví dụ (7) tiền giả định một ngôn cảnh trong đó có
nói đến “voi” Dĩ nhiên, điều này không loại trừ khả năng là có một ưu thế về tỷ lệ thống kê của các danh ngữ xác định, nghĩa là các danh ngữ bao hàm tính cho sẵn
trong bản thân, được dùng làm chủ ngữ trong các thứ tiếng khác nhau
Mặt khác, các thuộc tính có tầm tác động động (vốn thuộc cấu trúc nội bộ của
câu) có mặt trong chủ ngữ như trong chủ đề, chúng ta có thể thấy rõ qua nhiều ví dụ trong sách vở, chẳng hạn so sánh hai câu không đồng nghĩa sau:
(8) Everyboy loves at least one girl (Mỗi cậu con trai yêu ít nhất một cô gái.) {4} (9) At least one girl is loved by everyboy (Ít nhất một cô gái được tất cả các cậu con trai yêu.) {4}
Khi một ngôn ngữ cho phép đề hóa một cách tùy ý (như ở ví dụ (8), chủ ngữ
có thể được lót thêm một phương tiện biểu thị tầm tác động rộng bằng một phương
tiện trực tiếp hơn và do đó cái thuộc tính chủ ngữ này có thể bị triệt tiêu trong những trường hợp như thế Sự đề hóa sẽ trở thành trực tiếp hơn hiểu theo nghĩa là
nó có tính tùy ý và do đó quyền lựa chọn của người nói có tác dụng nhiều hơn so với chủ ngữ, vốn là một bộ phận gắn bó sâu hơn với cấu trúc cú pháp, thậm chí là một thành phần bắt buộc của câu như trong tiếng Anh
Bây giờ, khi quay sang những thuộc tính khu biệt chủ ngữ với chủ đề, chúng ta
có thể bắt đầu bằng việc nhận xét rằng một chủ ngữ phải là một thành phần danh
tính (nominal) Một thành phần danh tính là một thành phần mà tự nó không biểu
hiện vai nghĩa bên ngoài (hình thức) của nó như vai tác thể; vai người hưởng lợi;
vai nơi chốn;…) nghĩa là không có cách gì diễn dịch vai nghĩa của nó ra từ như
thuộc tính hình thức của nó Các trạng từ, giới từ, tiểu cú chỉ thời gian thì bình
thường không phải là những thành phần có danh tính, mà là những phụ ngữ, tuy có thể có danh tính trong một số hoàn cảnh cú pháp nhất định, không bị định nghĩa loại
trừ, chẳng hạn như tiểu cú, ví dụ:
Trang 28(10) I remember when we were in Da Lat (Tôi nhớ hồi chúng tôi ở Đà Lạt.)
Đặc biệt chủ ngữ có sẵn một vai nghĩa riêng hay một số rất hạn chế nhưng vai nghĩa chọn lọc do trung tâm vị ngữ phân cho nó Để minh họa, có thể lấy trường hợp phân vai ở hai câu (11b), (11c) sau đây, trong đó trung tâm vị ngữ bị động chỉ
dành cho chủ ngữ vai đối tượng và vai người nhận, trong khi trung tâm vị ngữ chủ động ở câu (11a) bắt buộc chủ ngữ nhận vai người tác động
(11a) Eve gave Adam an apple (Eva đã trao Adam quả táo.) {4}
(11b) An apple was given Adam by Eve (Quả táo đã được Eva trao Adam.) {4} (11c) Adam was given an apple by Eve (Adam đã được Eva trao quả táo.) {4}
Chúng ta cũng có thể lưu ý thấy rằng quyền được chọn vai nghĩa mà chủ ngữ được hưởng trong từng trường hợp là một bộ phận thích hợp lấy trong số những vai nghĩa mà vị từ với tư cách một yếu tố từ vựng có khả năng phân bố cho các thành
phần danh tính khi vị từ là ngoại động Chẳng hạn, vị từ “give” có thể phân ba vai:
Vai người tác động, vai người nhận và vai đối tượng nhưng không có một hình thái
nào của vị từ có thể phân cả ba vai này cho chủ ngữ Chủ ngữ của một động từ ngoại động chỉ có thể được phân đủ các vai nhờ thay đổi hình thái của vị ngữ, cụ thể
là chuyển từ hình thái chủ động sang hình thái bị động (trong chừng mực ngôn ngữ đang xét có một chủ ngữ, điều đó thì tiêu chuẩn không yêu cầu)
Cái tiêu chuẩn phân vai nghĩa này yêu cầu cái tập hợp vai nghĩa ấy phải được phân cho chủ ngữ với tính cách là một phạm trù, nghĩa là cho chủ ngữ với tư cách là chủ ngữ Do đó tiêu chuẩn không loại trừ cái khả năng là các chủ đề trong một số
trường hợp cá biệt có thể là những thành phần danh tính được trung tâm vị ngữ
phân cho những vai nghĩa, chủ đề không bị gạt ra ngoài khung vai của vị từ nhưng
nó không bao giờ được phân vai với tư cách là chủ đề, chẳng hạn, ở ví dụ (12) sau đây không cản trở việc xếp các thành phần đặt ở đầu câu trong tiếng Anh vào loại
chủ đề, ngay cả khi “Vợ yêu của ông ấy (his beloved wife)” được vị từ phân vai
người nhận vì nó là một bổ ngữ gián tiếp được đưa ra phía trước
(12) His beloved wife, Audrey Sarah Ivesh had passed away a year ago (Vợ
yêu của ông ấy, Audrey Sarah Ivesh đã qua đời cách đây 1 năm.)
Trang 29Để tổng kết, chúng tôi định nghĩa chủ ngữ như sau: Một phạm trù thành phần câu có thể phân xuất bằng những tiêu chuẩn ngữ pháp trong một ngôn ngữ được gọi
là chủ ngữ nếu nó có danh tính, được mỗi trung tâm vị ngữ phân một số vai hạn chế theo cung cách đã trình bày, và có được một tầm tác động rộng với những giới hạn
đã trình bày
1.2.1.2 Cấu trúc Đề - Thuyết
Năm 1965, tác giả Lawrence C Thompson, thuộc Trường phái Miêu tả Mĩ, đã
chứng minh rằng tiếng Việt không có chủ ngữ ngữ pháp (grammatical subject), mà chỉ có chủ đề lô gic (logic subject) Đây là một điều hiển nhiên vì theo tác giả Cao Xuân Hạo (2004) [26], trong tiếng Việt chỉ có chủ đề lôgic được ngữ pháp hóa và được đánh dấu bằng từ “thì” khi biên giới giữa Đề - Thuyết chưa được phân rõ
Theo cách phân loại hình mới đối với các ngôn ngữ của thế giới như theo hai tác giả L.A Charles và S.A Thompson (1976) [108] thì tiếng việt cùng với tiếng
Hán, tiếng La Hu, … phải được xếp vào các loại hình ngôn ngữ Đề - Thuyết, trong
đó Đề không được ngữ pháp hóa như chủ ngữ của các ngôn ngữ Ấn – Âu nhưng lại được đánh dấu (khi cần thiết) bằng một từ như từ “thì” làm Đề cho câu tiếng Việt
có thể là bất cứ vai nghĩa nào, kể cả vai đối tượng của hành động bổ ngữ trực tiếp
hay khung cảnh của sự tình như ở ba ví dụ sau:
phân biệt về thái (voice) tức sự phân biệt ngữ pháp giữa chủ động và bị động vì Đề
có thể đảm đương bất cứ vai nghĩa nào trong câu
Theo tác giả Cao Xuân Hạo (2004): “Cấu trúc Đề - Thuyết của câu là một
hiện tượng thuộc bình diện lô gic ngôn từ (logic-discursive), nghĩa là nó thuộc lĩnh vực lô gic trong chừng mực lô gic, được tuyến tính hóa trong ngôn từ và thuộc lĩnh
Trang 30vực ngôn từ, trong chừng mực nó phản ánh tác động nhận định của tư duy.” [26,
tr.67]
Trong tiếng Việt, cấu trúc cơ bản của câu chia làm hai phần Đề - Thuyết tương ứng với hai phần sở đề (subjectum/ theme) và sở thuyết (praedicatum/ rhema) của
một mệnh đề trong lô gic học
Sự cấu trúc hóa câu thành hai phần Đề - Thuyết không lệ thuộc vào tính chất
của sự tình được trần thuật Nội dung nghĩa học của nó nằm trọn trong cách tổ chức mệnh đề theo một hướng đi nhất định của tư duy: Xuất hiện lần lượt cái trước và cái sau (cái xuất phát và cái kết thúc)
Chủ ngữ trong các thứ tiếng châu Âu chỉ có một số vai nhất định như: vai
người hành động, vai người tác động; vai người mang tính chất (thường xuyên thuộc bản chất); vai người mang trạng thái (nhất thời)
Cấu trúc Đề - Thuyết khác với cấu trúc Chủ - Vị ở điểm là Đề không quy định
cho nó một cái vai gì hết, sự khác nhau cơ bản là về ngữ nghĩa Chủ ngữ của các thứ
tiếng Ấn –Âu chỉ đảm đương một số vai nghĩa rất hạn chế, thường là vai hành thể,
trong khi chủ đề của những ngôn ngữ như tiếng Hán hay tiếng Việt có thể đảm đương bất cứ vai gì, thậm chí không cần có liên quan gì đến vị từ trung tâm của câu
làm thành phần Thuyết, có nghĩa là nó không phải là một diễn tố, một chủ ngữ hay
một bổ ngữ bắt buộc của vị từ
1.2.2 Các chỉ tố của câu bị động và nghĩa bị động trong tiếng Việt
1.2.2.1 “bị, được” hai chỉ tố đánh dấu câu bị động hay nghĩa bị động trong
tiếng Việt
Trong câu bị động tiếng Việt thường có các chỉ tố “bị, được” đặt trước vị từ
trung tâm của câu để biểu thị câu bị động (hay có ý nghĩa bị động), ví dụ:
(16) Phòng của tôi đã được sơn lại cuối năm rồi
(17) Su Su bị mẹ đánh
Chúng ta cũng biết rằng chỉ tố của thái bị động trong tiếng Việt là “bị, được”
có một vị thế và chức năng như các trợ động từ (auxillary verbs) trong các thứ tiếng
Trang 31châu Âu, và thao tác cải biến từ dạng chủ động (CĐ) sang dạng bị động (BĐ) như
sau:
(18b) Su Mi bị phượng đánh./ Su Mi bị đánh (bởi Phượng) [BĐ]
(19b) Tôi được chị Hà hỗ trợ./ Tôi được hỗ trợ (bởi chị Hà) [BĐ]
Thực ra, bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có khả năng diễn tả ý nghĩa bị động Tuy nhiên với một ngôn ngữ thiên chủ ngữ như tiếng Anh thì thái bị động được ngữ pháp hóa thành một phạm trù được biểu đạt bằng một hình thức riêng có tính bắt buộc tuyệt đối, trong khi tiếng Việt, một ngôn ngữ thiên chủ đề thì ý nghĩa bị động
không có một hình thức biểu đạt nào như thế Những tác giả xem “bị, được”
thường dùng để dịch các kết cấu bị động của tiếng châu Âu là những kết cấu bị động, không nhận thấy hai vị từ này là những vị từ ngoại động chính danh mà ngôn ngữ nào cũng có và ngôn ngữ nào cũng dùng ở thái chủ động để biểu đạt những ý nghĩa mà các tác giả ấy gọi là nghĩa bị động
Ở hai ví dụ (18b), (19b) trên thì hai vị từ “bị, được” đều có tư cách của những
vị từ bình thường, nghĩa là nó có đủ những thuộc tính ngữ pháp của từ loại vị từ nói
chung và của tiểu loại vị từ ngoại động nói riêng
Hai vị từ “bị, được” được dùng như những vị từ tình thái khi bổ ngữ trực tiếp
của nó là một vị từ hay ngữ vị từ đồng chủ thể với nó Về nội dung, ý nghĩa tình thái
của “bị” là bình luận về sự tình do vị từ bổ ngữ biểu thị như một sự tình bất lợi cho
chủ thể hay cho cái đối tượng được chọn làm chủ đề, ví dụ:
(20) Cô Mai bị vỡ cặp kính cận rồi
Ngược lại, ý nghĩa tình thái của “được” là bình luận về sự tình ấy như một sự
tình có lợi cho chủ thể hay cho sở chỉ của chủ đề, ví dụ:
(21) Su Mi được ăn kem
Cần nói rõ là không có một sự đối xứng hoàn toàn giữa “bị, được” trong ý nghĩa bị động Trong khi “bị” chiếm ưu thế tuyệt đối là được dùng với những vị từ
Trang 32hành động không có chủ ý thì “được” được dùng với những vị từ hành động có chủ
ý nhiều không kém như trong các ngữ đoạn ở hai ví dụ sau:
(22) bị trả thù; bị gạt tiền; bị chia rẽ;…
(23) được rữa hận; được tài trợ tiền; được hòa giải; …
Do đó những trường hợp lưỡng khả như các ngữ đoạn ở ví dụ (24) sau chỉ có thể căn cứ vào nghĩa từ vựng của ngữ đoạn làm chủ đề hay nghĩa của ngôn cảnh mà giải quyết
(24) được chụp hình; được sinh; được hôn; …
So sánh hai ví dụ (25), (26) sau:
(25) Tôi rất hạnh phúc khi được hỗ trợ ông xã [CĐ]
(26) Tôi rất hạnh phúc khi được ông xã hỗ trợ [BĐ]
Ở đây, vị từ tình thái thật sự đối xứng với “được” là “phải”, nghĩa chính của
“phải” là nghĩa tình thái của tính tất yếu do bổn phận (deontic necessity), những
điều gì chỉ vì tất yếu mà làm thường là bất đắc dĩ, cho nên “phải” trở thành đối xứng với “được” và trong các trường hợp tương tự như vậy ít khi có thể dùng “bị”,
ví dụ:
(27a) Được nghe những lời bốc phét
(27b) Phải nghe những lời bốc phét
(28a) Được đảm trách chức vị đó
(28b) Phải đảm trách chức vị đó
Với tư cách là một ngoại động từ bị động thực thụ, ở các ví dụ nói trên với
những điều kiện của một ngôn ngữ “SVO” nhất quán như tiếng Việt, mà trong đó trung tâm của ngữ đoạn có xu thế rất mạnh được đặt trước phụ ngữ “được, bị” hoàn
toàn có thể được coi là trung tâm của ngữ đoạn vị từ và sau nó là bất kỳ bổ ngữ nào
có thể có được của một ngoại động từ, đó có thể là một ngữ danh từ, một ngữ vị từ hay một tiểu cú (một câu bổ ngữ) như ở ba ví dụ sau:
(29) Tôi được một giỏ hoa
(30) Tôi được gia nhập Công đoàn cơ sở
(31) Tôi được Công đoàn cơ sở bình bầu
Trang 33Không có lý do gì và không có dấu hiệu hình thái nào để xem các ví dụ trên
thuộc hai loại kết cấu khác nhau Nếu xem “được” ở ví dụ (29) là vị từ trung tâm có
bổ ngữ trực tiếp chỉ đối tượng là “một giỏ hoa” thì không thể không thừa nhận
“được” ở hai ví dụ (30), (31) là vị từ trung tâm có bổ ngữ trực tiếp chỉ đối tượng là
“gia nhập vào Công đoàn cơ sở” và “Công đoàn cơ sở bình bầu” Những ngữ đoạn
bổ ngữ này đều trả lời một câu hỏi duy nhất: “Tôi được cái gì?”
Xét tiếp ba ví dụ sau:
(32) Tôi bị ốm
(33) Tôi bị rơi xuống vực./ đẩy rơi xuống vực
(34) Tôi bị chúng nó vòi tiền
Trong đó, “bị” là vị từ trung tâm và theo sau nó là bổ ngữ trực tiếp chỉ đối tượng (vai bị tác động) của nó là một danh từ hay ngữ danh từ “ốm”như ở ví dụ (32); một vị từ hay ngữ vị từ “rơi xuống vực” hay “đẩy rơi xuống vực” như ở ví dụ (33); một tiểu cú “chúng nó vòi tiền” như ở ví dụ (34) Những câu dùng “bị” đều
có thể dùng để trả lời câu hỏi: “bị cái gì?” hay “bị làm sao?”
So sánh cách hành chức của “bị, được” với các loại bổ ngữ của nó với cách hành chức của các vị từ thông dụng khác như: “chịu, phải, muốn, cũng” với những
bổ ngữ tương tự:
Bọn nhỏ bị/ chịu/ phải/ muốn/ được hít (hóa chất từ keo dán sắt)
Chúng ta có thể thấy hai vị từ “bị, được” mà một số tác giả cố gò vào các
khuôn châu Âu của phạm trù thái, tuyệt nhiên không có gì khác với các vị từ thông dụng khác như vừa đề cập trên, đó là cách hành chức bình thường của tất cả các vị
từ ngoại động có thể có bổ ngữ trực tiếp là vị từ, ngữ vị từ hay tiểu cú (tức kết cấu
Chủ - Vị hay Đề - Thuyết) Mặt khác, nếu so sánh những câu bị động với những câu
chủ động dùng “bị, được”, chúng ta cũng không thấy có cách gì phân biệt hai loại
câu về cấu trúc ngữ pháp và về ngữ nghĩa như ở ví dụ sau:
(35a) Tôi rất hân hạnh được kết bạn với những người tử tế
(35b) Tôi rất hân hạnh được những người tử tế kết bạn
Trang 34Vậy thì chẳng lẽ “kết bạn với những người tử tế” là bổ ngữ của “được”, trung tâm của vị ngữ ở câu (35a), còn ở câu (35b) thì “được” chỉ còn là một trợ từ đánh dấu thái bị động của “kết bạn” Thật ra cả hai câu ở ví dụ (35) đều trả lời câu hỏi:
“Tôi được gì mà rất hân hạnh?”
Nếu “bị, được” là những hư từ thì chúng có thể vắng mặt ở đó, chỉ có điều nếu
chúng vắng mặt thì kết cấu vốn chứa chúng không còn là kết cấu bị động nữa Ví dụ
so sánh hai câu sau:
(36a) Chị Hà được cô khen
(36b) Chị Hà thì cô khen (còn tôi thì không)
Ở câu (36b) “được” có thể vắng mặt Tuy nhiên không phải trong mọi trường
hợp sự có mặt của hai từ này cũng dễ dàng chuyển thành cách dùng không có mặt của chúng So sánh hai câu sau:
(37a) Cô Quỳnh Giao được hiệu trưởng tuyên dương
(37b) Cô Quỳnh Giao được tuyên dương Ban Ngoại ngữ của cô
Trong diều kiện phổ biến, ở câu (37b) nếu vắng mặt “được” câu sẽ mang một
ý nghĩa khác hẳn vì trong đó “Cô Quỳnh Giao” là người khen, chứ không phải là người được khen Trong tiếng Việt, có những trường hợp vắng mặt hai từ “bị,
được” thì điều đó làm cho nghĩa của câu khác hẳn đi (chủ đề từ chỗ đóng vai bị tác động chuyển sang đóng vai tác động)
1.2.2.2 Phạm vi xuất hiện các chỉ tố “bị, được” trong câu tiếng Việt mang ý
nghĩa bị động
Về nội dung, ý nghĩa tình thái của “bị” bình luận về cái sự tình do vị từ bổ ngữ biểu thị như một sự tình bất lợi cho chủ thể hay cho cái đối tượng được chọn
làm chủ đề, ví dụ:
(38) Cô Mai bị vỡ mất cặp kính cận rồi
Ngược lại, ý nghĩa tình thái của “được” bình luận về sự tình ấy như một sự
tình có lợi cho chủ thể hay cho sở chỉ của chủ đề như ở ví dụ sau:
(39) Su Mi được ăn bánh snack
Trang 35Theo tác giả Nguyễn Thị Ảnh (2000) [1], tiếng Việt không có một vai nghĩa nào có thể do nghĩa của vị từ phân cho các thành phần câu như trong các thứ tiếng châu Âu Vậy chỉ có thái độ muốn áp đặt các phạm trù ngữ pháp của các thứ tiếng châu Âu vào tiếng Việt, một ngôn ngữ khác hẳn loại hình mới có thể nói rằng tiếng Việt có thái bị động
Hơn nữa, “bị, được” trong tiếng Việt không mất chút ý nghĩa từ vựng nào để
chúng ta có thể nói rằng nó đã hư hóa (tức ngữ pháp hóa) và biến thành những trợ
từ Dù khi bổ ngữ của nó là ngữ danh từ hay ngữ vị từ, nghĩa tình thái của “được
(có lợi)” và của “bị (bất lợi)” không thay đổi Chúng ta so sánh các ngữ đoạn có
Trong khi đó, ý nghĩa chủ động hay ý nghĩa bị động hoàn toàn lệ thuộc vào
nghĩa của vị từ làm bổ ngữ cho “bị, được” trong văn cảnh cụ thể Trong các ngữ đoạn ở hai ví dụ sau đây, nghĩa tình thái của “bị, được” quan trọng nên những văn cảnh như thế thường không thể thay “bị” bằng “được” và ngược lại
(41a) được hỗ trợ hàng xóm; được hôn bé Su Bo; …
(41b) được hàng xóm hỗ trợ; được bé Su Bo hôn; …
(42a) bị bong gân; bị nhiễm virus ba cái USB; bị lem màu áo; …
(42b) bị con nít ranh chơi khăm; bị bọn xấu móc túi; bị mọi người né tránh; …
Nếu không muốn rơi vào tình trạng phi lý, một tình hình khác hẳn ở các thứ tiếng có chủ ngữ ngữ pháp, trong đó trợ động từ của thái bị động không có nghĩa tình thái như ở hai ví dụ sau:
(43a) Tôi được đỡ đần mẹ chồng công việc nội trợ
(43b) Tôi được mẹ chồng đỡ đần công việc nội trợ
(44a) Tôi bị trễ hạn
(44b) Tôi bị cháu gái giận
Trang 36Chúng ta thấy hai câu ở ví dụ (43) về cấu trúc chúng chỉ là một, về mặt nghĩa
thì người nghe có thể hiểu rằng “được đỡ đần mẹ chồng” hay “được mẹ chồng đỡ
đần” với sự hiện diện của “được” đều biểu thị sự tình có lợi cho “tôi”, còn hai câu
ở ví dụ (44) về cấu trúc chúng cũng chỉ là một, về mặt nghĩa, người nghe cũng có
thể hiểu rằng “bị trễ hạn” hay “bị cháu gái giận” với sự hiện diện của “bị” đều là
sự tình bất lợi cho “tôi”
Trong nhiều ngôn cảnh có ý nghĩa bị động, khi nghĩa từ vựng của chủ đề cho phép hiểu câu theo nghĩa bị động, đặc biệt là khi chủ đề là danh ngữ không phải là
con người hay con vật thì “bị, được” hoàn toàn có thể lược bỏ, ví dụ:
(45a) Gương mặt được trang điểm kỹ lưỡng
(45b) Gương mặt trang điểm kỹ lưỡng
(46a) Bản sao chép cẩu thả này bị mua đắt đấy
(46b) Bản sao chép cẩu thả này mua đắt đấy
Sự khác nhau giữa các câu có “bị, được” và câu đã lược bỏ “bị, được” ở hai
ví dụ (45), (46) trên là ở điểm có sắc thái nghĩa sự tình có lợi hay có sắc thái nghĩa
sự tình bất lợi với sự có mặt của “bị, được” chứ tuyệt nhiên không phải ở điểm bị
động hay chủ động Chúng ta xét tiếp các câu ở hai ví dụ sau:
(47a) Mẹ tôi đã được mổ xong
(47b) Mẹ tôi đã mổ xong
(48a) Su Bin đầu đã bị cạo trọc
(48b) Su Bin đầu cạo trọc
Nếu như các câu ở hai ví dụ (45), (46) các vị từ hành động “trang điểm; mua”
ro ràng không thể diễn tả ý nghĩa vai tác động hay vai hành động của các chủ đề
“gương mặt; bản sao chép cẩu thả” thì việc thừa nhận chúng không phải là câu chủ
động để đối lập với câu bị động như hai câu (47a), (48a) là khá dễ dàng, các vị từ
hành động “mổ; cạo trọc đầu” hoàn toàn có thể chỉ những hành động của các chủ thể “mẹ tôi; Su Bin” Thế nhưng về mặt dụng học, ngữ cảnh không cho phép hiểu các chủ thể ấy ở vai tác thể Ở câu (47b) “Mẹ tôi đã mổ xong” thì người Việt bản ngữ bao giờ cũng nghĩ là Mẹ tôi đã được bác sĩ nào đó mổ xong, cũng với cách hiểu
Trang 37như thế, ở câu (48b) “Su Bin đầu đã bị cạo trọc” thì cũng được nghĩ là Su Bin đã
được người thợ hớt tóc nào đó cạo trọc đầu Như vậy, về cấu trúc, các câu ở ví dụ
(47), (48) là đồng nhất Sự khác biệt thuộc về ý nghĩa tình thái của “được, bị”, ở câu (47a) sự có mặt của “được” khiến cho sự tình “mổ” mang sắc thái ý nghĩa sự
tình có lợi, còn ở câu (48a) sự có mặt của “bị” khiến cho sự tình “cạo trọc đầu”
mang ý nghĩa sự tình bất lợi cho chủ thể Còn khi “được, bị” được lược bỏ như hai câu (47b), (48b) thì ý nghĩa sắc thái đó không còn nữa mà thôi
Chính sự lược bỏ “được, bị” không ảnh hưởng gì đến việc diễn tả ý nghĩa bị
động trong câu cho nên trong tiếng Việt có những kiểu câu mà chủ đề là không phải
là con người thì theo sau nó vẫn có thể là một vị từ nhận thức – nói năng vốn chỉ chấp nhận chủ thể của nó là con người như ở hai ví dụ sau:
(49) Con chó này tưởng ngoan hóa ra hay cắn ẩu
(50) Sự đời ngẫm kể cũng lạ
Còn hai câu ở ví dụ sau cho thấy sự lưỡng khả giữa ý nghĩa chủ động và bị động
(51a) Ông xã tôi được sinh ở Long Thành
(52a) Tôi được quay phim
Nếu chúng ta muốn hình dung và xác định được ý nghĩa chủ động và bị động, vậy chúng ta phải đặt hai câu (51a), (52a) trên trong ngữ cảnh như ở hai câu (51b), (52b) hoặc ở hai câu (51c), (52c) sau:
(51b) Ông xã tôi được sinh ra và lớn lên ở Long Thành [CĐ]
(51c) Ông xã tôi được sinh ở Phòng Khám Đa Khoa Long Thành chứ không phải chuyển lên Bệnh Viện Từ Dũ ở Sài Gòn [BĐ]
(52b) Tôi được quay phim Lăng Bác để làm kỷ niệm [CĐ]
(52c) Tôi được quay phim trong tiệc cưới bạn thân tôi [BĐ]
Tóm lại, những điều trình bày trên cho thấy các vị từ “bị, được” trong tieng Việt hoàn toàn xa lạ với động từ “be”, vốn là yếu tố mang tính bắt buộc thuần túy hình thái trong câu bị động của tiếng Anh Hai vị từ “bị, được” trong tiếng Việt
không hề mang tính bắt buộc như thế để thể hiện ý nghĩa bị động Các câu ở các ví
Trang 38dụ (45), (46), (47), (48) cho thấy rằng “bị, được” có thể vắng mặt nhưng ý nghĩa bị
động không hề thay đổi Trái lại, các câu ở các ví dụ (51); (52) lại chứng tỏ rằng sự
có mặt của “bị, được” tùy ngữ cảnh mà nó tham gia mà khi thì biểu thị ý nghĩa bị động, khi thì biểu thị ý nghĩa chủ động, Điều này càng cho thấy “bị, được” không
thể xem là một tiêu chí ngữ pháp để nhận diện câu bị động, và sự phân biệt ý nghĩa
bị động hay chủ động trong tiếng Việt là vấn đề ngôn cảnh (dụng pháp), không phải
là vấn đề ngữ pháp Do đó có thể khẳng định trong tiếng Việt không có thái bị động như là một phạm trù ngữ pháp
Điều kiện về khả năng xuất hiện từ “bị, được” và kết cấu Chủ - Vị cùng với
điều kiện về vai nghĩa của chủ ngữ ngữ pháp là những điều kiện có tác dụng đồng thời, nghĩa là không thể thiếu một trong những điều kiện đó khi tạo câu bị động
trong tiếng Việt Những câu chứa từ “bị, được” mà không thỏa mãn những điều
kiện này thì không thuộc vào phạm trù câu bị động
Từ “bị” thường được dùng với tính âm (người nói xem là không tốt, bất lợi),
từ “được” thường được dùng với tính dương (người nói xem là tốt, có lợi) đối với thực thể nêu ở chủ ngữ, xét trong quan hệ với sự diễn đạt bằng kết cấu Chủ - Vị đứng sau hai từ này Hai ý nghĩa này của các từ “bị, được” nói chung và của chúng
trong câu bị động nói riêng, làm cho thái bị động của tiếng Việt có màu sắc riêng
mà không thể bỏ qua hai từ “bị, được” khi dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh và
ngược lại
1.2.3 Ý nghĩa thời gian trong câu bị động tiếng Việt
Thoạt nhìn, vấn đề câu bị động không liên quan đến thời gian Thực ra, nhìn từ quá trình thì mọi tương tác đều xảy ra trong thời gian Trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, quan hệ giữa con người với tự nhiên có một ý nghĩa đặc biệt Con người nhận thức thời gian và sự nhận thức này được phản ánh theo những hình thức biểu hiện riêng biệt của từng ngôn ngữ
Trong lĩnh vực ý nghĩa của ngôn ngữ và tương ứng với nó là lĩnh vực khái niệm, việc xác lập một số phạm trù ngữ nghĩa cơ bản nhất là một điều hết sức cần thiết để có thể xây dựng được một hệ thống ngữ nghĩa có tính chất đầy đủ, khoa
Trang 39học Cũng như các phạm trù khác, phạm trù thời gian trong tiếng Việt cần được ngữ nghĩa hóa một cách có hệ thống dựa trên cơ sở phân tích ý nghĩa, phân loại thành tố ngôn ngữ nằm trong phạm trù này
Nói về ngôn ngữ thì thời gian là một phạm trù ngữ nghĩa phổ quát của ngôn ngữ Thời gian phản ánh phạm vi thời gian của hiện thực gắn với sự tồn tại của sự vật nói chung Như vậy, định vị thời gian là xác định vị trí của thời gian trong sự kiện mà người phát ngôn phản ánh Như vậy vị trí của thời gian đóng vai trò không kém quan trọng trong câu nói, nếu không có vị trí thời gian, thì chúng ta không thể xác định được hành động ấy xảy ra khi nào, vào thời điểm nào để từ đó đi đến một kết luận chính xác cho hành động đó
Phạm trù thời gian trong câu bị động tiếng Việt mang đậm tính chất ngữ nghĩa Trong hầu hết các trường hợp phát ngôn thì các chỉ tố thời gian trong tiếng Việt chủ yếu ở yếu tố từ vựng - ngữ nghĩa Nói cách khác, việc biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt là do các đơn vị từ vựng - ngữ nghĩa đảm nhiệm Và đây cũng chính là điểm khác biệt giữa một bên là ngôn ngữ có thì, ngôn ngữ biến hình và một bên là ngôn ngữ vô thì, ngôn ngữ không biến hình trong tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ không có phạm trù thì với tư cách là một phạm trù ngữ pháp Tuy nhiên, là một ngôn ngữ đơn lập, tiếng Việt cũng thể hiện sự định vị thời gian theo cách riêng của mình Để định vị thời gian của một sự tình của một phát ngôn, tiếng Việt dùng phương tiện từ vựng là danh từ, danh ngữ có ý nghĩa thời
gian, chẳng hạn như “sáng, trưa, chiều, tối, ngày, tuần, tháng, nam, bây giờ, trước
đây, …” những danh từ, danh ngữ này thường được sử dụng với chức năng ngữ
pháp là trạng từ chỉ thời gian Ngoài ra còn có các từ chẳng hạn như “đang, đã, sẽ,
xong, …” những từ này được gọi là phụ từ tình thái
Để phân biệt thời gian trong hiện tại, trong quá khứ và trong tương lai, trong
tiếng Việt lấy mốc thời điểm quy chiếu là hiện giờ làm chuẩn Vì vậy, hiện giờ chỉ thời gian của hiện tại, trước hiện giờ là nói đến quá khứ và sau hiện giờ là chỉ tương
lai
Trang 40Qua bài ca dao dưới đây cho thấy việc định vị thời gian trong quá khứ, trong hiện tại và trong tương lai được thể hiện như sau:
Hôm qua anh đến chơi nhà Thấy mẹ nằm võng thấy cha nằm giường Thấy em nằm đất, anh thương Anh ra kẻ chợ đóng giường tám thang Bốn góc thì anh thiếp vàng Bốn chân thiếp bạc, tám thang chạm rồng Bây giờ phải bỏ giường không
Em đi lấy chồng phí cả công anh!
(Ca dao Việt Nam)
Trong bài ca dao trên chúng ta bắt gặp “hôm qua” có nghĩa là trước bây giờ,
là chỉ thời gian quá khứ Còn “bây giờ” có nghĩa là hiện giờ, là chỉ thời gian trong hiện tại và có thể cả sau hiện giờ, là chỉ thời gian trong tương lai
Ngoài những danh từ, danh ngữ nêu trên để nhận diện thời gian, trong tiếng Việt thường dùng những cụm từ, câu mang tính hình ảnh, ẩn dụ để nói về thời gian,
chẳng hạn khi nói về buổi sáng có thể nói “khi bình minh bắt đầu; khi ông mặt trời
ló dạng; khi trời còn mờ sương; những tia nắng bắt đầu xuyên qua kẽ lá; …”, còn
buổi trưa có thể diễn đạt “khi mặt trời đứng bóng; giờ ngọ;…” và buổi chiều tối có thể nói “mặt trời khuất núi; hoàng hôn buông xuống; mặt trời gác núi; bóng ngã về
tây; …”
Điểm qua việc định thời gian, chúng ta nhận thấy rằng việc định vị thời gian trong tiếng Việt là khá đa dạng Chính điều này đã góp phần tạo nên các định dạng cho câu chủ động trong tiếng Việt thêm rõ nét, giúp chúng ta xác định được thời điểm mà hành động đã tham gia
1.2.3.1 Ý nghĩa thời gian trong hiện tại
Tiếng Việt sử dụng phương tiện từ vựng bao gồm những từ như “luôn luôn,
thường, thường thường, thỉnh thoảng, đôi khi, hiếm khi, gần như không,…” để diễn
tả một sự tình trong hiện tại như ở hai ví dụ sau: