2) NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN Nghị quyết của Quốc hội về khoanh tiền nợ thuế,xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước –––––––– Phần I THỰC TRẠN[.]
Trang 1.2) NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN Nghị quyết của Quốc hội về khoanh tiền nợ thuế,xóa tiền phạt chậm nộp,
tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng
nộp ngân sách nhà nước
––––––––
Phần I:
THỰC TRẠNG, SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT
1 Thực trạng và nguyên nhân của việc nợ đọng thuế
Thực hiện quy định của Luật Quản lý thuế năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, Chính phủ đã tổ chức bộ phận quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế từ Trung ương đến địa phương, cơ quan quản lý thuế đã triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp thu hồi nợ đọng thuế
Theo đó tỷ trọng tổng nợ trên tổng thu nội địa đã giảm mạnh từ 12,2% năm
2014, đến năm 2018 giảm xuống ở mức 6,7% và tính đến cuối tháng 8 năm 2019 ở mức 6,9%
Mặc dù vậy, tổng số tiền nợ thuế cơ quan thuế và cơ quan Hải quan quản lý tính đến ngày 31/8/2019 vẫn còn khoảng 88 nghìn tỷ, trong đó tiền nợ thuế không còn khả năng thu ngân sách gần 43 nghìn tỷ , chiếm 48,7% tổng số tiền nợ thuế Cụ thể:
- Số nợ cơ quan Thuế quản lý: là hơn 82 nghìn tỷ trong đó:
+ Tiền nợ thuế có khả năng thu là hơn 26 nghìn chiếm tỷ trọng 32,5% tổng
số tiền nợ thuế, tiền phạt vi phạm hành chính về thuế và tiền chậm nộp phát sinh của nợ có khả năng thu là gần 17 nghìn tỷ , chiếm tỷ trọng 20,3% tổng số tiền nợ thuế
+ Tiền nợ thuế không còn khả năng nộp của người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, liên quan đến trách nhiệm hình sự, đã giải thể, phá sản, ngừng, nghỉ và bỏ địa chỉ kinh doanh là 39 nghìn tỷ chiếm tỷ trọng 47,3% tổng số tiền nợ thuế,
- Số nợ Hải quan quản lý: là hơn 5 nghìn tỷ , trong đó:
+ Tiền nợ thuế có khả năng thu là hơn 1 nghìn tỷ đồng; nợ đang chờ xử lý là
Trang 2hơn 100 tỷ đồng; chiếm 29,3% trong tổng số nợ
+ Tiền thuế nợ không còn khả năng thu gần 4 nghìn tỷ đ, chiếm 70,7% tổng
nợ của toàn cơ quan Hải quan quản lý, trong đó 43,4% các khoản nợ khó thu phát sinh trước thời điểm Luật quản lý thuế sửa đổi, bổ sung năm 2012 có hiệu lực
Trong số nợ đọng nêu trên, có hơn 800 nghìn người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, đã tự phá sản, giải thể, người nộp thuế đã chấm dứt kinh doanh, không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh, địa chỉ liên lạc
đã đăng ký với cơ quan quản lý thuế, người nộp thuế đã bị cơ quan quản lý thuế có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi hoặc đã bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, người nộp thuế bị thiệt hại vật chất
do gặp thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ, với tổng số nợ đọng là hơn 38 nghìn tỷ , trong đó: nợ tiền thuế là 22 nghìn tỷ đồng, nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp là hơn 16 nghìn tỷ đồng
Luật Quản lý thuế quy định tiền chậm nộp là 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp, quy định này là chế tài xử lý cần thiết Tuy nhiên, do người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc các doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể, phá sản hoặc doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh thực tế
đã ngừng hoạt động hoặc bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh mà không còn khả năng nộp thuế nên số tiền chậm nộp ngày càng tăng theo thời gian; tổng số tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp cơ quan quản lý thuế đã tính và quản lý của các đối tượng nêu trên đến ngày 31/12/2018 là gần 12 nghìn tỷ đồng song thực tế không có khả năng thu hồi
2 Về trách nhiệm trong việc nợ đọng thuế.
Chính sách pháp luật về quản lý thuế hiện hành đã quy định rõ trách nhiệm của người nộp thuế theo cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế theo thông lệ quốc tế,
đi theo đó là chế tài xử lý phạt vi phạm hành chính về kê khai và nghĩa vụ phạt chậm nộp; đồng thời quy định pháp luật về quản lý thuế cũng đã xác định rõ vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc quản lý thuế từ khâu tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, đăng ký thuế, kê khai thuế, tổ chức đôn đốc thu nộp thuế, hoàn thuế đến kiểm tra, thanh tra xử lý vi phạm về thuế và thực hiện cưỡng chế, công khai thông tin người nộp thuế, đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng trong quản lý và thu thuế, mặt khác cũng xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức,
cá nhân có liên quan trong quản lý thuế, cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cấp trong công tác quản lý thuế
- Trách nhiệm của người nộp thuế
+ Pháp luật tôn trọng quyền tự do kinh doanh của các tổ chức và cá nhân, đi
Trang 3theo đó là nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa dịch vụ, có doanh nghiệp bị rủi ro, làm ăn thua lỗ, mất khả năng thanh toán dẫn đến việc phải giải thể, phá sản Tuy nhiên, quá trình giải thể, phá sản phải theo trình tự thủ tục quy định, trong khi đó thực chất các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh không còn khả năng nộp thuế cho Nhà nước Theo thống kê của cơ quan quản lý thuế hiện tại có khoảng gần 24 nghìn doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể, phá sản
+ Ngoài các doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể, phá sản nói trên, cũng
có không ít các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phải ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng không làm thủ tục giải thể, phá sản (tự giải thể, phá sản), bỏ địa chỉ sản xuất kinh doanh Cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật, tuy nhiên do không có tài sản, tiền để nộp thuế nên phát sinh
nợ đọng thuế mà không có khả năng thu hồi
+ Bên cạnh đó còn có trường hợp các doanh nghiệp không tuân thủ quy định pháp luật, bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (hoặc giấy phép thành lập và hoạt động) theo đó các đối tượng này không còn hoạt động sản xuất, kinh doanh nữa, nhưng vẫn còn nợ đọng tiền thuế với Nhà nước mà không có khả năng nộp ngân sách nhà nước
+ Đối với hộ kinh doanh hoặc cá nhân, cá nhân kinh doanh có trường hợp bị chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, tuyên bố tự giải thể cơ sở kinh doanh, không còn khả năng nộp thuế cho Nhà nước Bản thân cá nhân kinh doanh hoặc hộ gia đình không có tài sản để nộp thuế, hoặc chỉ có tài sản nhưng không được cơ quan có thẩm quyền phân định nguồn gốc sở hữu tài sản để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước
- Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế
+ Thực hiện quy định của Luật Quản lý thuế, Chính phủ đã ban hành 10 Nghị định quy định chi tiết và Bộ Tài chính đã ban hành 21 Thông tư hướng dẫn, trong đó đã hướng dẫn quản lý nợ, cưỡng chế nợ và xử lý xóa nợ tiền thuế, tiền phạt cho người nộp thuế kịp thời, đúng quy định của pháp luật Cơ quan quản lý thuế đã ban hành các quy trình Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, quy định trình tự thực hiện các biện pháp thu nợ và cưỡng chế nợ thuế
+ Cơ quan quản lý thuế đã tổ chức triển khai quyết liệt các biện pháp quản lý thu, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu, thực hiện nghiêm túc công tác thu hồi nợ đọng, chống thất thu, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, khai thác tăng thu cho ngân sách nhà nước gắn với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tạo môi trường sản xuất kinh
Trang 4doanh bình đẳng cho người nộp thuế thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước, góp phần thúc đẩy đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh
+ Bộ Tài chính đã ban hành Chỉ thị về tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế thu nợ thuế để giảm nợ đọng thuế, trong đó giao chỉ tiêu thu nợ cho các Cục Thuế, Chi cục Thuế, đến từng bộ phận, phân công đến từng cán bộ, công chức thu nợ và áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo quy định của Luật Quản
lý thuế và công khai thông tin người nộp thuế chây ỳ nợ thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng Đồng thời, Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc thu hồi nợ đọng thuế, thành lập các đoàn liên ngành thu hồi nợ và thực hiện cưỡng chế thu nợ Bộ trưởng Bộ Tài chính có văn bản gửi các đồng chí Bí thư tỉnh ủy và các đồng chí lãnh đạo UBND tỉnh, thành phố đề nghị quan tâm tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các cấp trên địa bàn, phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý thuế trong công tác thu hồi nợ đọng thuế
+ Cơ quan quản lý thuế các cấp xây dựng phương án thu hồi nợ đọng thuế đối với từng tổ chức, cá nhân nợ thuế, báo cáo UBND tỉnh, thành phố, Ban Chỉ đạo chống thất thu ngân sách và thu hồi nợ thuế tỉnh, thành phố để chỉ đạo cơ quan pháp luật và các cơ quan khác có liên quan trên địa bàn xử lý, thu hồi nợ đọng thuế
+ Các khoản nợ thuế đã được Cơ quan quản lý thuế phân loại, theo dõi quản
lý, đôn đốc, cưỡng chế thu nợ đúng quy định pháp luật và quy trình quản lý của cơ quan quản lý thuế, hàng năm đã thu đạt trên 80% số nợ có khả năng thu hồi, tính đến cuối tháng 8/2019 tỷ lệ nợ thuế có khả năng thu trên tổng thu nội địa ở mức thấp Số nợ còn lại chủ yếu là của các các nhân đã chết, mất tích, mất năng lực hành
vi dân sự hoặc các doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể, phá sản hoặc đối tượng thực tế đã ngừng hoạt động hoặc bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Các đối tượng này cơ quan quản lý thuế đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định nhưng do người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước nên không thể thu được như đã báo cáo ở trên
+ Việc xử lý nợ đọng phải theo đúng quy định pháp luật, đúng quy trình, rất chặt chẽ, cơ quan quản lý thuế phải áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế, bắt buộc là phải thực hiện đầy đủ tuần tự 07 biện pháp cưỡng chế, khoản nợ thuế phải
đủ 10 năm mới được xử lý xóa nợ Nhiều khoản nợ đã kéo dài nhiều năm nay nhưng chưa đủ 10 năm, nên không xử lý được, tiền phạt và tiền chậm nộp tăng lên theo thời gian
3 Sự cần thiết ban hành Nghị quyết
Trang 5Để giải quyết trình trạng nợ đọng thuế không còn khả năng nộp ngân sách, Chính phủ thấy cần thiết phải xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về khoanh tiền
nợ thuế, xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước, xuất phát từ những lý do sau:
Một là, Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại văn bản số
2667/TB-TTKQH ngày 19/3/2019, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính hoàn thiện Luật Quản lý thuế sửa đổi trình Quốc hội ban hành (Luật Quản lý thuế số 38/2019/ QH14) Tại Luật này đã quy định đầy đủ các trường hợp xử lý nợ (tiền thuế, tiền phạt vi phạm hành chính, tiền chậm nộp), đối với từng trường hợp cụ thể (chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, giải thể, phá sản, bị thiên tai, bất khả kháng ) và các điều kiện xử lý, thẩm quyền xử lý nợ Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực thi hành từ 01/7/2020, vì vậy đối với các khoản
nợ phát sinh trước ngày 01/7/2020 không được hồi tố để xử lý
Hai là, Luật Quản lý thuế hiện hành quy định 3 trường hợp được xóa nợ
thuế nhưng phải đáp ứng được điều kiện là phải thực hiện tuần tự các biện pháp cưỡng chế nợ và khoản nợ thuế đủ 10 năm Hầu hết các khoản nợ hiện nay chưa đủ điều kiện 10 năm nên không được xử lý nợ; Trong khi đó đối với các trường hợp người nộp thuế đã chết, đã mất tích, giải thể, phá sản, ngừng bỏ hoạt động kinh doanh, thực tế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước nhưng vẫn phải tính phạt và tiền chậm nộp Số nợ này là nợ ảo, không còn khả năng thu vào ngân sách Nếu theo Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020 thì các đối tượng này được khoanh nợ Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế hiện hành không có quy định khoanh nợ Đây là trường hợp phát sinh trước ngày Luật Quản lý thuế mới có hiệu lực, nhưng lại chưa được quy định tại Luật Quản lý thuế hiện hành, vì vậy Chính phủ thấy cần thiết phải báo cáo Quốc hội cho cơ chế
xử lý
Ba là, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 trước đây quy định tiền phạt,
phạt chậm nộp, tuy nhiên theo quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính yêu cầu phải tách 2 hành vi phạt vi phạm hành chính và tiền chậm nộp Luật Quản
lý thuế số 21/2012/QH13 có hiệu lực từ 1/7/2013 đã điều chỉnh hành vi chậm nộp tiền thuế bị “phạt chậm nộp” thành “tiền chậm nộp” Do đó, đối với các khoản
“tiền chậm nộp” theo Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 đến nay chưa có cơ chế
xử lý (Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 không có điều khoản chuyển tiếp xử lý
nợ đọng này)
Bốn là, Luật Quản lý thuế số số 78/2006/QH11 quy định đối với các trường
hợp gặp thiên tai bất khả kháng thì được miễn xử phạt vi phạm pháp luật đối với hành vi chậm nộp tiền thuế hay còn gọi là “phạt chậm nộp” Tuy nhiên, Luật Quản
Trang 6lý thuế số 21/2012/QH13 thì không có quy định miễn đối với “tiền chậm nộp” Vì vậy, đối với một số khoản tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp thuộc các trường hợp gặp thiên tai bất khả kháng phát sinh tiền chậm nộp chưa được xử lý Vì vậy, Chính phủ thấy cần báo cáo Quốc hội để có cơ chế xử lý
Năm là, Các khoản nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp phát sinh do ngân
sách nhà nước chưa thanh toán cho người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán trực tiếp bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước thì theo quy định tại Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, từ ngày 01/01/2011 nếu người nộp thuế chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản thì được gia hạn nộp thuế tối đa 02 năm; đến Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi,
bổ sung một số điều của các luật về thuế có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 đã có quy định không tính tiền chậm nộp cho những đối tượng này Tuy nhiên, còn một số trường hợp phát sinh trước ngày 01/01/2011 đến nay còn nợ đọng tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp chưa được xử lý, cần có cơ chế xử lý, đồng thời cần quy định
rõ không chỉ nhà thầu chính mà cả nhà thầu phụ được quy định trong hợp đồng ký với chủ đầu tư
Từ tình hình trên, Chính phủ thấy rằng việc báo cáo Quốc hội có biện pháp
để xử lý nợ đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước là cần thiết, tạo cơ sở pháp lý để xử lý nợ tồn đọng trước ngày 01/7/2020 mà không
có khả năng thu nộp ngân sách nhà nước
4 Mục tiêu, nguyên tắc xây dựng nghị quyết của Quốc Hội
4.1 Mục tiêu
- Tổ chức thực hiện kịp thời các chủ trương, định hướng của Quốc hội tại Nghị quyết số 55/2017/QH14 ngày 24/11/2017, yêu cầu tái cơ cấu lại ngân sách, tăng cường quản lý thu, trong đó có việc xử lý nợ
- Xử lý, khắc phục triệt để số nợ đọng không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước đã tồn tại qua nhiều năm, không để dây dưa kéo dài; đồng thời tháo gỡ khó khăn cho những người nộp thuế có phát sinh nợ thuế do gặp thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ
- Phân loại, xác định tiền nợ thuế, tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp để trình Quốc hội xử lý nợ đối với những trường hợp thực sự không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước; giảm tỷ lệ nợ đọng thuế
4.2 Nguyên tắc xây dựng Nghị quyết
Việc xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về khoanh tiền nợ thuế, xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp
Trang 7ngân sách nhà nước theo các nguyên tắc sau:
- Tuân thủ chủ trương, đường lối, chính sách của đảng và nhà nước, nghị quyết của Quốc hội, theo đó cụ thể hóa Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý
nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn và Nghị quyết số 55/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội
- Đảm bảo đồng bộ với hệ thống các văn bản quy định pháp luật, trong đó có Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 mà Quốc hội vừa ban hành
- Quy định rõ phạm vi, đối tượng áp dụng, các biện pháp xử lý cũng như thẩm quyền xử lý nợ, đồng thời quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan có liên quan, đảm bảo chặt chẽ, phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng
Phần II:
NỘI DUNG CỦA DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT
Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội gồm 8 Điều với các nội dung cơ bản như sau:
1 Phạm vi điều chỉnh
Nghị quyết này quy định về khoanh tiền nợ thuế, xóa tiền phạt chậm nộp, tiền châm nộp (sau đây gọi chung là xử lý nợ) đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước, bao gồm tiền thuế, tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp, tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan phát sinh trước ngày Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực thi hành
2 Đối tượng áp dụng
Đối tượng áp dụng bao gồm: i) Người nộp thuế phát sinh trước ngày 01/7/2020 thuộc đối tượng được xử lý nợ quy định tại Nghị quyết này; ii) Cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế; iii) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
3 Về nguyên tắc xử lý nợ
Việc xử lý nợ phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Một là, Xử lý nợ phải đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền và đảm bảo điều kiện quy định hồ sơ, quy trình, thủ tục và chịu trách nhiệm của cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật
- Hai là, Công khai, minh bạch việc xử lý nợ, đảm bảo việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền, giám sát của người dân
Trang 8- Ba là, Việc xử lý nợ nhằm tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế, nhưng phải phòng ngừa và ngăn chặn việc lợi dụng chính sách để trục lợi và
cố tình chây ỳ, nợ thuế
- Bốn là, Các trường hợp đã được xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp, nếu cơ quan có thẩm quyền, cơ quan quản lý thuế phát hiện việc xóa nợ không đúng quy định hoặc người nộp thuế (là tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh) đã được xóa nợ khi quay lại sản xuất, kinh doanh hoặc thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh mới thì phải hủy quyết định xóa nợ, khoanh nợ (nếu có) và nộp vào ngân sách khoản nợ đã được xóa
4 Về đối tượng xử lý nợ
Căn cứ vào tình hình thực tế nợ, quy định pháp luật hiện hành và Luật Quản
lý thuế số 38/2019/QH14, Chính phủ trình Quốc hội đối tượng xử lý nợ bao gồm:
(1) Người nộp thuế là người đã chết, người bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự;
(2) Người nộp thuế có quyết định giải thể gửi cơ quan quản lý thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh để làm thủ tục giải thể hoặc cơ quan đăng ký kinh doanh đã thông báo người nộp thuế đang làm thủ tục giải thể trên hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp nhưng người nộp thuế chưa hoàn thành thủ tục giải thể;
(3) Người nộp thuế đã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản;
(4) Người nộp thuế không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ kinh doanh
đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý thuế đã phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi người nộp thuế có trụ sở hoặc địa chỉ liên lạc để kiểm tra, xác minh thông tin người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh, địa chỉ liên lạc đã đăng ký với cơ quan quản lý thuế;
(5) Người nộp thuế đã bị cơ quan quản lý thuế có văn bản đề nghị cơ quan
có thẩm quyền hoặc đã bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã hoặc giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy phép hành nghề;
(6) Người nộp thuế bị thiệt hại vật chất do gặp thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ;
Trang 9(7) Người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán trực tiếp bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, bao gồm cả nhà thầu phụ được quy định trong hợp đồng ký với chủ đầu tư và được chủ đầu tư trực tiếp thanh toán nhưng chưa được thanh toán
Các đối tượng trên phải đáp ứng được điều kiện chung là không có khả năng nộp ngân sách nhà nước Các điều kiện cụ thể được quy định theo từng trường hợp
xử lý nợ
5 Biện pháp xử lý nợ
a) Khoanh tiền nợ thuế đối với các đối tượng quy định tại điểm 1, 2, 3, 4, 5 mục 4 nói trên kể từ ngày 01/7/2020.
- Đối với các đối tượng này theo quy định tại Điều 83 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 nếu phát sinh từ ngày 01/7/2020 thì được khoanh nợ Tuy nhiên, do
số nợ đọng và các đối tượng này phát sinh trước ngày Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực, vì vậy Chính phủ trình Quốc hội cho khoanh nợ kể từ ngày 01/7/2020 đối với các đối tượng phát sinh trước ngày 01/7/2020
- Điều kiện khoanh nợ thực hiện như đối với trường hợp xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp quy định tại điểm b dưới đây
b) Xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với các đối tượng được khoanh tiền thuế nợ quy định tại điểm 1, 2, 3, 4, 5 mục 4 nói trên
- Theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 thì các đối tượng xóa trên được khoanh nợ, theo đó người nộp thuế không bị tính tiền chậm nộp trong thời gian được khoanh nợ, tuy nhiên các đối tượng này xảy ra trước ngày Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực thi hành nên cơ quan quản lý thuế
đã tính tiền phạt chậm nộp và tiền chậm nộp Mặt khác như đã báo cáo ở trên, do không có khả năng nộp ngân sách nhà nước nên thực chất đây là nợ ảo, số tiền chậm nộp 0,03%/ngày được tính và quản lý trên hệ thống của cơ quan quản lý thuế, nhưng không có khả năng nộp ngân sách Nhà nước Do đó, Chính phủ trình Quốc hội cho phép xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp của các đối tượng được khoanh nợ nêu trên
- Điều kiện xóa nợ theo từng đối tượng như sau:
+ Là đối tượng quy định tại điểm (1) mục 4 nêu trên, có giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc quyết định của tòa án tuyên bố một người là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc các giấy tờ thay cho giấy báo tử theo quy định của pháp luật;
Trang 10+ Là đối tượng quy định tại điểm (2) mục 4 nêu trên, có quyết định giải thể hoặc thông báo của cơ quan đăng ký kinh doanh về việc người nộp thuế đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp;
+ Là đối tượng quy định tại điểm (3) mục 4 nêu trên, có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc Tòa án có thông báo thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
+ Là đối tượng quy định tại điểm (4) và điểm (5) mục 4 nêu trên, không còn hoạt động sản xuất, kinh doanh và có biên bản bản xác nhận giữa cơ quan quản lý thuế với Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi người nộp thuế có trụ sở hoặc địa chỉ liên lạc về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh, địa chỉ liên lạc hoặc cơ quan quản lý thuế có văn bản đề nghị cơ quan
có thẩm quyền thu hồi hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
c) Xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp còn nợ đến trước ngày 01/07/2020 đối với người nộp thuế bị thiệt hại vật chất do gặp thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ quy định tại điểm (6) mục 4 nói trên.
- Theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 thì trường hợp người nộp thuế gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ được miễn xử phạt hành vi
vi phạm pháp luật về thuế Tuy nhiên, từ ngày 01/7/2013, theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 thì hành vi chậm nộp tiền thuế bị “phạt chậm nộp”
đã được sửa đổi thành “tiền chậm nộp”, do đó không còn quy định miễn tiền chậm nộp cho các trường hợp gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ
Nhiều người nộp thuế đã thực hiện nộp đủ hoặc nộp một phần tiền thuế nợ nhưng chưa nộp số nợ tiền chậm nộp thuế và chưa được cơ quan thuế xử lý vì Luật Quản lý thuế đã có sự thay đổi như báo cáo ở trên, theo đó chưa có quy định để xử
lý xóa tiền chậm nộp đối với các trường hợp này Đến nay có 186 người nộp thuế
bị thiên tai, thảm họa, hoả hoạn, dịch bệnh, tai nạn bất ngờ, số tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đề nghị xóa là 151 tỷ đồng
Từ 01/7/2020, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã có quy định tại khoản
8 Điều 59 về việc miễn tiền chậm nộp đối với người nộp thuế gặp thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ Vì vậy, Chính phủ trình Quốc hội cho phép áp dụng quy định này
- Điều kiện xóa nợ phải đảm bảo đồng thời các điều kiện sau:
+ Có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc trường hợp bất khả kháng khác;
+ Chưa được xử lý miễn tiền chậm nộp từ khi Luật số 21/2012/QH13 sửa