Bảng tổng hợp so sánh tin bài trên Kênh STV2 Một số hình ảnh- tài liệu minh họa cho nội dung luận văn Ở phần phụ lục Hình: Các văn bản liên quan đến việc thành lập kênh STV2 Hình: M
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÊ QUỐC KHỞI
QUẢN LÝ NỘI DUNG KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO ĐỒNG BÀO KHMER CỦA ĐÀI PT - TH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Cần Thơ - 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÊ QUỐC KHỞI
QUẢN LÝ NỘI DUNG KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO ĐỒNG BÀO KHMER CỦA ĐÀI PT - TH SÓC TRĂNG
Ngành: Báo chí học
Mã số: 8 32 01 01
Chuyên ngành: Quản lý Phát thanh, truyền hình
và Báo mạng điện tử
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Vân Anh
Cần Thơ - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT –TH Sóc Trăng” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Trần Thị Vân Anh Đề tài luận văn không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố trong và ngoài nước Các kết quả công bố trong luận văn
là chính xác và trung thực Các tham khảo, trích dẫn đều rõ nguồn gốc Tôi xin chịu trách nhiệm đối với luận văn của mình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giảng viên
Khoa Phát thanh – Truyền hình, Học viện Báo chí và tuyên truyền đã tận
tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình theo học chương
trình Thạc sỹ; Lãnh đạo Đài PT–TH Sóc Trăng, đội ngũ Quản lý, PV,
BTV, PTV kênh STV2 Đài PT–TH Sóc Trăng đã nhiệt tình giúp đỡ và
tạo điều kiện để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Thị Vân Anh
người trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài này Trân
trọng cảm ơn gia đình, đồng nghiệp đã san sẽ công việc, tạo điều kiện cho
tác giả hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện Luận văn, tác giả đã cố gắng hoàn thành
thật tốt Tuy nhiên, do thời gian và trình độ còn hạn chế nên Luận văn
không thể tránh khỏi những hạn chế thiếu sót Tác giả mong muốn tiếp
tục nhận được sự góp ý, chỉ dẫn chân thành của các nhà khoa học, quý
thầy cô nhằm bổ sung và hoàn thiện Luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT
1 Hội đồng nhân dân HĐND
2 Ủy ban nhân dân QPVN
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Hình 1 : Lễ hội Ooc Om Bóc – Đua ghe Ngo Sóc Trăng & lực lượng
PV, BTV của STV đang tác nghiệp tại Lễ hội
Sơ đồ 1 Bộ máy quản lý nội dung sản xuất chương trình trên kênh STV2
Sơ đồ 2 Quy trình sản xuất chương trình trên kênh STV2
Hình 2 Quyết định điều động nhân sự thành lập Đài PT-TH ST năm
1992
Bảng 1 Bảng tổng hợp so sánh tin bài trên Kênh STV2
Một số hình ảnh- tài liệu minh họa cho nội dung luận văn
(Ở phần phụ lục)
Hình: Các văn bản liên quan đến việc thành lập kênh STV2
Hình: Một số ngôi Chùa Khmer nổi tiếng ở Sóc Trăng
Hình: Lễ hội Ooc Om Boc – Đua ghe Ngo Sóc Trăng
Hình: Lực lượng STV2 phối hợp với các đơn vị sản xuất chương trình Văn nghệ
Hình: Tác phẩm vừa gây tiếng vang: “ Rộn Ràng Tiếng Nhạc PIN PIET”
- Giải Vàng Liên hoan truyền hình Toàn Quốc 2020, do STV2 phối hợp thực hiện
Hình : Đội ngũ biên dịch tiếng Khmer – STV2 đang tác nghiệp
Hình : Văn bản “Sapo” - phần giới thiệu đầu của 1 Phóng sự được dịch
từ tiếng Việt sang tiếng Khmer của Phòng Chương trình tiếng dân tộc –Đài PT –TH Sóc Trăng
Trang 7MỤC LỤC
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
QUẢN LÝ NỘI DUNG KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.2 Quy trình quản lý nội dung kênh truyền hình dành cho
đồng bào dân tộc thiểu số
1.3 Vai trò quản lý nội dung kênh truyền hình dành cho đồng
bào dân tộc thiểu số
1.4 Yêu cầu đối với quản lý nội dung kênh truyền hình dành
cho đồng bào dân tộc thiểu số
17
21
23
26
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỘI DUNG KÊNH
TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO ĐỒNG BÀO KHMER CỦA
ĐÀI PT – TH SÓC TRĂNG
2.1 Giới thiệu kênh truyền hình dành cho Đồng bào Khmer
của Đài PT-TH Sóc Trăng
2.2 Khảo sát công tác quản lý nội dung kênh truyền hình dành
cho đồng bào Khmer của Đài PT - TH Sóc Trăng
2.3 Đánh giá hoạt động quản lý nội dung kênh truyền hình
dành cho đồng bào Khmer của Đài PT -TH Sóc Trăng
34
40
64
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NỘI DUNG KÊNH
TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO ĐỒNG BÀO KHMER CỦA
ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH SÓC TRĂNG
Trang 83.1 Một số vấn đề đặt ra
3.2 Những giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nội dung
kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời đại công nghệ thông tin, Internet, báo mạng điện tử, mạng xã hội…phát triển nhanh chóng và phủ khắp Ngày càng có nhiều người đón nhận và sử dụng “Thế giới di động”, thế giới trong tầm tay, việc giải trí, nắm bắt, tìm kiếm thông tin bằng Smartphone đã trở thành thói quen hằng ngày của nhiều người Trong đó có cả người dân nơi vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số Cuộc sống, sinh hoạt tinh thần, nhu cầu vui chơi giải trí…rõ ràng đã có nhiều thay đổi cùng “công nghệ số” Cùng với đó là báo nói, báo in vẫn hiện hữu Tuy nhiên “cái truyền hình” gần như vẫn có ở mỗi nhà, gắn bó với mỗi gia đình, báo hình vẫn không thể thiếu với đại bộ phận người dân
Ở góc độ địa phương, Sóc Trăng là tỉnh có đồng bào Khmer sinh sống nhiều nhất cả nước, khoảng 420 ngàn người, chiếm tỉ lệ 30,7 % dân
số địa phương Cho nên thông tin dành cho đồng bào nói chung, sóng truyền hình nói riêng luôn được chú trọng Điều này đã được Đảng bộ, chính quyền địa phương, lãnh đạo Đài PT – TH Sóc Trăng (STV) đặc biệt quan tâm từ những ngày đơn vị mới thành lập – tháng 4/1992 cho đến nay
Từ những chương trình dành cho đồng bào của những ngày đầu khó khăn thiếu thốn về nhân lực, trang thiết bị chỉ đơn thuần là những bản tin thời sự, khuyến nông khuyến ngư 5 -10 phút, từng bước nâng lên thành Chương trình thời sự 20 phút, mở thêm các chuyên mục, tiểu mục…ngày càng phong phú nội dung tuyên truyền Đặc biệt là Chương trình trực tiếp Giải Đua ghe Ngo – Ooc Om Bóc hằng năm luôn nằm trong tốp đầu được xem cùng thời điểm trên các kênh sóng truyền hình toàn quốc Chương trình không chỉ góp phần “giữ gìn” bản sắc văn hóa dân tộc mà còn “phát huy” khi đưa Lễ hội cổ truyền của đồng bào Khmer
Trang 10địa phương ngày càng vang xa, được nhiều người biết đến Và thêm khẳng định “vai trò” của truyền hình đối với đồng bào
Hình: Lễ hội Ooc Om Bóc – Đua ghe Ngo Sóc Trăng & lực lƣợng PV, BTV của STV đang tác nghiệp tại Lễ hội
Đặc biệt 3 năm nay với Đề án dành cho đồng bào dân tộc, Đài PT -
TH Sóc Trăng đã có thêm 1 kênh phát sóng – (STV 2) – với nội dung chính cũng như phần lớn thời lượng là chương trình tiếng Khmer
Có thể nói đây là “vốn quý” là niềm tự hào của đồng bào Khmer Sóc Trăng nói chung và Đài PT –TH Sóc Trăng nói riêng, bởi STV2 là kênh truyền hình tiếng dân tộc duy nhất ở ĐBSCL hiện nay Ở các tỉnh lân cận
An Giang, Bạc Liêu, Trà Vinh – cũng có đông đồng bào Khmer sinh sống như Sóc Trăng, nhưng chương trình dành cho đồng bào vẫn được phát chung trên kênh tiếng Việt với thời lượng khá khiêm tốn
Mặc dù “non trẻ” và còn không ít khó khăn, nhưng hiệu quả mà STV2 mang lại cho đồng bào Khmer địa phương là điều rõ ràng đã được công nhận Với ngôn ngữ, chữ viết của chính đồng bào, STV2 đã góp phần không nhỏ trong việc truyền tải chủ trương, chính sách, phát luật của Đảng
và nhà nước đến với đồng bào Ghi nhận tâm tư, nguyện vọng của đồng bào chuyển đến các ngành các cấp hữu quan Giữ gìn phát huy bản sắc dân tộc,
cỗ vũ phong trào, biểu dương người tốt việc tốt, nhân rộng điều hay lẽ phải,
Trang 11mô hình hiệu quả cho bà con tham khảo, học hỏi làm theo Đặc biệt STV2 còn là tiếng nói đanh thép phản bác lại những luận điệu sai trái của những thế lực thù địch vẫn chưa từ bỏ những ý định đen tối ở vùng đất Tây nam
bộ nói chung và Sóc Trăng nói riêng Đặc biệt là thủ đoạn xuyên tạc lịch sử
và chia rẽ dân tộc
Hiệu quả rõ ràng đã được công nhận, tuy nhiên kênh truyền hình tiếng Khmer dành cho đồng bào Khmer – STV2 của Đài PT-TH Sóc Trăng vẫn còn đó không ít những hạn chế Xuất phát từ sự “mới mẽ, non trẻ”, khó khăn về nhân lực của một Đài tỉnh có lượng cán bộ viên chức ít nhất nhì cả nước hiện nay Hạn hẹp về kinh phí …Đặc biệt là công tác quản lý về nội dung, tư duy ý tưởng sản xuất chương trình phát trên kênh vẫn còn nhiều điều đáng bàn
Bàn để chỉ ra cái hay cái thiếu, để làm thế nào phát huy hiệu quả đạt được, hạn chế đến mức thấp nhất những yếu kém còn tồn tại Để STV2 luôn
là cầu nối hữu hiệu giữa Đảng, nhà nước với nhân dân với đồng bào, phát huy hiệu quả trên mặt trận đấu tranh tư tưởng trước các thế lực thù địch Để STV2 thật sự là một kênh truyền hình chuyên biệt, đậm chất dân tộc, ngày càng là niềm tự hào, là “vốn quý” của đồng bào Khmer địa phương Và đó
cũng là những điều đã thoi thúc tôi quyết định chọn đề tài: Quản lý nội
dung kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT -TH Sóc Trăng, để làm luận văn Thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Những công trình nghiên cứu về báo chí, quản lý báo chí Việt Nam
Mặc dù đề tài mang tính “chuyên biệt” kênh truyền hình dành cho
đồng bào Khmer Nhưng khi đã đề cập đến: Quản lý báo chí, truyền hình, kênh truyền hình, nội dung chương trình truyền hình, truyền thông
Trang 12chuyên biệt, truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số … Dĩ nhiên
đã có rất nhiều sách vỡ, những công trình nghiên cứu liên quan Những tài liệu “căn bản” phải đọc, phải tham khảo để triển khai thực hiện đề tài
Tác giả Tô Huy Rứa, với bài viết đăng trên Tạp chí Cộng sản, ngày
21-6-2007 có tựa đề: Tiếp tục đổi mới và phát triển vững chắc nền báo chí cách mạng nước ta đã đề cập đến giải pháp ưu tiên về cơ sở vật chất,
kỹ thuật, công nghệ cho các báo, đài, tạp chí từ trung ương đến địa phương nhằm giúp các cơ quan chủ quản chú trọng nâng cao chất lượng nội dung, hình thức, tăng tính hấp dẫn, lượng phát hành, phạm vi phủ sóng, tính định hướng thông tin
Tác giả Hoàng Quốc Bảo (chủ biên) với quyển: Lãnh đạo và quản
lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay, NXB Lý luận chính trị, năm
2010, đã khái quát quan điểm của Đảng về lãnh đạo và quản lý báo chí, cách thức tổ chức hoạt động của cơ quan báo chí và thực trạng hoạt động báo chí trong sự nghiệp đổi mới đất nước Cuốn sách với những lý luận
cơ bản về quản điểm của Đảng về lãnh đạo và quản lý báo chí từ năm
2010 nhưng vẫn còn nguyên giá trị “vận dụng” hôm nay
P.GS TS Nguyễn Thị Trường Giang (2011), Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo, NXB Chính trị - Hành chính Có thể nói cuốn sách như là
một “điều luật” đối với Người làm báo cũng như đội ngũ quản lý báo chí Yếu tố đầu tiên phải có và tuân thủ trong suốt quá trình hành nghề Tác giả đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đạo đức trong hoạt động báo
Trang 13chí, đó là sự trung thực, khách quan, tuân thủ pháp luật Đây là những định hướng quan trọng đối với quản lý báo chí nói chung và quản lý kênh truyền hình, chương trình truyền hình nói riêng Yếu tố đầu tiên phải tuân thủ chính là đạo đức nghề nghiệp
Tác giả Nguyễn Quang Hòa với Tổ chức hoạt động cơ quan Báo chí – Thực tiễn và xu hướng phát triển, NXB Thông tin và truyền thông,
năm 2016 Một “kim chỉ nam” cho đội ngũ những nhà quản lý trong việc
tổ chức hoạt động của cơ quan báo chí theo xu hướng thực tiển và hướng đến tương lai Cuốn sách là một bức tranh toàn cảnh về báo chí hiện đại, đồng thời làm rõ bản chất của hoạt động báo chí với mỗi trang báo, số báo, chương trình phát thanh, truyền hình, thậm chí là một tác phẩm riêng
lẻ cũng thấm đẫm mồ hôi, công sức, trí tuệ của nhiều người Cùng với đó, cuốn sách còn trình bày một cách khá toàn diện về bộ máy tòa soạn của
cơ quan báo chí, bao gồm báo in, phát thanh, truyền hình, hãng tin, báo mạng điện tử và cả xu hướng phát triển của báo chí trong tương lai
P.GS TS Nguyễn Văn Dững (2018), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb
Thông Tin Và Truyền Thông, với những khái quát chung về truyền thông, quan niệm chung về báo chí, tổng quan về các loại hình báo chí, công chúng báo chí, nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí, nhà báo-chủ thể hoạt động báo chí…đã cung cấp cho đọc giả, đặc biệt là sinh viên báo chí, nhà báo những kiến thức rất cơ bản về “nghề”, những khái niệm
cụ thể về báo chí, các loại hình báo chí để làm nền tảng cho các công trình nghiên cứu cũng như hành nghề, tác nghiệp
Ngoài ra, còn có các công trình: Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn, các kỳ xuất bản năm 1994, 1996, 1997, 2001, 2010 do các NXB
Giáo dục, NXB Đại học quốc gia xuất bản; Tác giả Hà Minh Đức (2000),
Cơ sở lý luận báo chí - Đặc tính chung và phong cách, NXB Đại học Quốc gia; Tác giả Tạ Ngọc Tấn (2000), Từ lý luận đến thực tiễn báo chí, NXB Văn hóa - Thông tin; Hai tác giả Nguyễn Văn Dững, Hồ Bất Khuất (2000),
Trang 14Báo chí: Những điểm nhìn từ thực tiễn, NXB VHTT đã làm sáng rõ một số
phạm trù, khái niệm cơ bản, tìm ra mối quan hệ bên trong, các sự liên hệ trong quá trình vận hành với các tiến trình xã hội; đưa ra các quy luật, phương pháp nguyên tắc … nhằm tăng cường chất lượng hoạt động của báo chí và các cơ quan quản lý báo chí
Có thể nói với những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cho tác giả những kiến thức cơ bản về Báo chí, quản lý báo chí, quan điểm chủ trương của Đảng, nhà nước về báo chí để vững thêm kiến thức, định hướng
tư tưởng rõ ràng tiến hành nghiên cứu và viết luận văn
2.2 Những công trình nghiên cứu về truyền hình và quản lý
kênh truyền hình, chương trình truyền hình
Là loại hình tuyên truyền đắc lực và phổ biến của báo chí: Truyền hình, quản lý truyền hình lâu nay luôn là vấn đề quan trọng của báo chí truyền thông nên có rất nhiều sách, giáo trình, công trình nghiên cứu như:
“Sản xuất chương trình truyền hình” Tác giả Trần Bảo Khánh, do
NXB Văn hóa – Thông tin phát hành năm 2003 đề cập đến những vấn đề
cơ bản của báo hình Theo tác giả Trần Bảo Khánh: “Đó là các chương trình mà người xem được thấy rõ con người thật, tình huống thật, và sự kết hợp khéo léo giữa tình hình thực tế đang diễn ra với cách giải quyết, ứng xử của người dẫn chương trình…”
Tác giả Lê Hồng Quang (2004), Cuốn Một ngày thời sự truyền hình do Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí – Hội nhà báo Việt Nam
xuất bản đề cập về công việc hàng ngày của chương trình thời sự truyền hình
Tác giả Dương Xuân Sơn (2009), Giáo trình báo chí truyền hình,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Đã đề cập khá rõ và căn bản về lịch sử
ra đời và phát triển của Truyền hình, chức năng của báo chí truyền hình,
Trang 15kịch bản và kịch bản truyền hình, các thể loại báo chí truyền hình…Đây
là tài liệu hữu ích dành cho giảng dạy - học tập và thể loại Báo hình
Tác giả Hán Việt Linh (2017), Luận văn Quản lý các chương trình
xã hội hóa phát trên hệ thống VTVCAB-Đài truyền hình Việt Nam (khảo sát năm 2004) Qua thời gian khảo sát, nghiên cứu tác giả đã hệ thống
hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, chỉ ra thực trạng, ưu, nhược điểm của việc quản lý các chương trình xã hội hóa trên hệ thống truyền hình trả tiền (VTVcab) - Đài truyền hình Việt Nam Từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc
Cũng liên quan đến quản lý chương trình ở Đài truyền hình Việt
Nam, tác giả Nguyễn Văn Hào (2019), với Luận văn Quản lý chương trình truyền hình thực tế ở Đài truyền hình Việt Nam đã làm rõ những vấn
đề lý luận về quản lý chương trình truyền hình thực tế: khái niệm, vai trò của hoạt động quản lý, nội dung, phương thức quản lý các chương trình truyền hình thực tế, tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả của hoạt động quản lý các chương trình truyền hình thực tế Cùng với đó là những đề xuất, giải pháp để nâng cao chất lượng
Tác giả Trần Văn Toản (2019), Luận văn Quản lý hoạt động sản xuất các chương trình truyền hình trên kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam đã xây dựng khung lý thuyết về quản lý sản xuất chương trình
truyền hình Góp phần làm cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động sản xuất chương trình của truyền hình QPVN nói riêng và hoạt động sản xuất chương trình truyền hình nói chung
Ở gốc độ liên quan khá gần với nội dung đề tài thực hiện, qua khảo sát tác giả thấy có:
+ Về các công trình mang tính “chuyên biệt” dành cho khán giả “riêng
biệt”
Tác giả Pham Quốc Hải với bài viết: “Sự trưởng thành của công chúng truyền hình và xu hướng phát triển truyền hình chuyên biệt ở Việt Nam”,
Trang 16Tạp chí Khoa học và công nghệ, số 2 (2014) khẳng định Công chúng
truyền hình ở Việt Nam những năm gần đây đã có những bước chuyển biến mới Khán giả truyền hình đã và đang tách thành các cụm, nhóm công chúng với nhu cầu và sở thích khác nhau, vừa có nhu cầu thông tin mình cần, vừa có nhu cầu thông tin mình muốn Sự “trưởng thành” của
họ trong việc hưởng thụ thông tin đã kéo theo sự ra đời của một loại trình truyền hình mới, truyền hình chuyên biệt Và đây cũng sẽ là hướng đi có tính tiên quyết cho các Đài truyền hình Việt Nam để tồn tại và phát triển trong tương lai
Kênh truyền hình chuyên biệt Văn hóa-Du lịch Vietnam Journey (của Đài Tiếng nói Việt Nam) Là Kênh truyền hình áp dụng công nghệ
tương tác trực tiếp đa điểm cầu, đa nền tảng đầu tiên tại Việt Nam với người xem Với công nghệ tương tác này, người xem truyền hình có thể trực tiếp tham gia vào chương trình, giao lưu với MC, với những người xem khác… thông qua điện thoại thông minh hoặc smart TV
Tác giả Vũ Thị Ngọc Thu (2011), với Luận văn Vấn đề công chúng truyền thông chuyên biệt (khảo sát công chúng Hà Nội) đã đi sâu vào tìm
hiểu phân tích và đề cập đến cách thức tìm hiểu nhu cầu, vai trò của công chúng truyền hình chuyên biệt
Tác giả Lê Mai Hương Trà (2011), Luận văn Xu hướng truyền hình chuyên biệt dành cho giới trẻ tại Việt Nam Đã có một đánh giá tổng quát
về phát triển của truyền hình chuyên biệt tại Việt Nam, cụ thể là tại VTV6; đồng thời chỉ ra bài học kinh nghiệm, giải pháp nâng cao chất lượng của nội dung tuyên truyền này
+ Về các đề tài truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số như:
Tác giả Nguyễn Xuân An Việt (2001), Đề tài Thông tin về dân tộc miền núi trên VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam Qua quá trình tìm hiểu,
khảo sát thực tế chương trình, tác giả đã chỉ ra những mặt tích cực, hiệu
Trang 17quả đạt được, cùng những hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin về dân tộc, miền núi trên kênh VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam
Một công trình nghiên cứu cũng khá gần với đề tài này là của Tác
giả Phạm Ngọc Bách (2005), Luận văn Chương trình dân tộc và miền núi trên sóng VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam cũng đã đưa ra các giải pháp
nâng cao chất lượng chương trình trên cơ sở khảo sát các chương trình có nội dung liên quan trên sóng VTV1 - từ tháng 1/2004 đến tháng 6/2005
Tác giả Nguyễn Thanh Giang (2016) với luận văn Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc trên Đài PT-TH Hà Giang
Sau thời gian nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn tại Đài Phát thanh - truyền hình Hà Giang, bên cạnh khẳng định giá trị, hiệu quả mang lại, tác giả đã chỉ ra những thực trạng còn tồn tại, những hạn chế trong công tác quản lý cũng như tổ chức sản xuất và phát sóng của đơn vị Từ đó đã có những đề xuất giải pháp hữu ích nhằm cải tiến quy trình, hình thức tổ chức sản xuất chương trình phát thanh dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang
Với luận văn : Giữ gìn và quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc thiểu
số trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình Yên Bái hiện nay (2016) Tác giả Hoàng Thị Thu Hiền cũng đã đi sâu nghiên cứu làm
rõ cơ sở lý luận và thực tiễn từ việc quản lý nội dung, tổ chức thực hiện các chương trình truyền hình mang bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần giữ gìn và phát huy, quảng bá “bản sắc” văn hóa dân tộc Đồng thời đã đề ra những giải pháp phát huy vai trò của Đài PT-TH Yên Bái trong việc giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên sóng truyền hình
+ Về các đề tài nghiên cứu dành cho đồng bào Khmer
Tác giả Tô Ngọc Trân và những cộng sự Nguyễn Thị Minh
Hạnh, Trần Thị Hiếu (2004) với đề tài khoa học “Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ” đã giúp hình dung
Trang 18lược sử về sự ra đời, quá trình phục vụ cách mạng và phát triển của phát thanh tiếng Khmer Nam bộ
Tác giả Thạch Tùng Linh (2010), với đề tài Nâng cao chất lượng chương trình tiếng Khmer của các Đài PT-TH tỉnh ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long”, đã có những cuộc khảo sát trên diện rộng tại các Đài PT-TH: Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh… để nêu thực trạng và đưa ra các giải pháp cải tiến nâng cao chất lượng chương trình
Tác giả Lư Xuân Lái (2015) với luận văn Thạc sĩ: Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng Khmer cho bà con dân tộc Khmer của Đài Phát thanh – Truyền hình Sóc Trăng hiện nay Luận văn đã đi sâu vào
tìm hiểu, phân tích quy trình tổ chức sản xuất chương trình phát thanh dành cho đối tượng chuyên biệt; chương trình phát thanh dành cho đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng Từ đó đã có những đề xuất những giải pháp góp phần cải tiến quy trình tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng
Có thể nói đây là đề tài gần gũi nhất với đề tài tôi đang thực hiện Tác giả lại là đồng hương Sóc Trăng, đối tượng nghiên cứu cũng là Chương trình dành đồng bào Khmer ở Đài PTTH Sóc Trăng Nhưng với
tác giả Lư Xuân Lái là “Chương trình phát thanh” còn tôi là “Chương
và hiệu quả nhất cho đối tượng truyền thông chuyên biệt, mà đối tượng trong công trình của người viết là bà con dân tộc Khmer
Nhìn chung những cuốn sách, giáo trình, công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập khá rõ những vấn đề lý luận báo chí truyền hình, về
Trang 19quản lý của Nhà nước về báo chí nói chung và quản lý chương trình truyền hình nói riêng Đề cập ít nhiều những khía cạnh về truyền thông chuyên biệt về kênh truyền hình, chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số Thật sự là những kiến thức hữu ích cho tôi – tác giả cũng đang thực hiện một công trình nghiên cứu về truyền thông chuyên biệt, một kênh truyền hình dành cho đồng bào dân tộc
Nhưng trong tầm khảo sát cũng như hiểu biết của bản thân, có thể nói chưa có một công trình nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu nào dành cho một kênh truyền hình đặc biệt ở dãy đất chín rồng hiện nay – STV2- Kênh truyền hình tiếng Khmer của Đài PT –TH Sóc Trăng
Và đó sẽ là phần việc của tôi trong luận văn này Sẽ rất mới mẻ và riêng biệt Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu như trên đã trình bày
sẽ là nền tảng kiến thức cơ bản để tác giả kế thừa, vận dụng một cách
sáng tạo khi tiến hành nghiên cứu khảo sát: Quản lý nội dung kênh
truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT – TH Sóc Trăng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng với những hiệu quả mang lại, thành công lẫn hạn chế, tác giả đề xuất những phương hướng, giải pháp cụ thể để nâng cao hơn
nữa chất lượng, hiệu quả của Kênh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, tác giả phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến kênh truyền hình, chương trình truyền hình và vai trò của hoạt động quản lý nội dung kênh truyền hình
Trang 20- Nghiên cứu những yêu cầu đối với hoạt động quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng
- Khảo sát thực trạng hoạt động quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng Phân tích, làm sáng tỏ những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng thông qua khảo sát cụ thể các chương trình, phỏng vấn sâu để lấy ý kiến của công chúng, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý báo chí Đặc biệt là các vị Sư, Trưởng Ban quản trị Chùa để làm rõ vấn đề
- Xác định những yêu cầu đặt ra trong hoạt động quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm cải tiến và nâng cao vai trò quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng - STV2
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Năm 2020 - 2021
Phạm vi khảo sát: Chương trình dành cho đồng bào Khmer trên kênh
STV2 - Truyền hình Sóc Trăng hiện nay cơ bản gồm 3 phần: Thời sự, khoa giáo và giải trí, được bố trí trên nhiều khung giờ Để có cái nhìn tổng thể, đánh giá toàn diện, đề ra những đề xuất kiến nghị hiệu quả để tổ chức thực hiện, nâng cao chất lượng hơn nữa trong thời gian tới Trong luận văn này, tác giả sẽ cố gắng tập trung khảo sát tất cả chương trình, đặc biệt là chương trình Thời sự - được xem là nội dung chính của kênh
Trang 21STV2, trong khoảng thời gian cuối năm 2020 đến giữa năm 2021 Đây không chỉ khoảng thời gian gần nhất, với những thông tin sự kiện mới nhất mà còn là khoảng thời gian chương trình đạt thành tựu rõ nét nhất sau một quá trình dựng xây phát triển với nhiều thay đổi, cải tiến Đồng thời cũng có nhiều vấn đề đặt ra cho giai đoạn tiếp theo
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Với luận văn: Quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng
bào Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng, tác giả sẽ dựa trên nền tảng cơ
bản với cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và nhà nước về báo chí Cùng với đó là những cơ sở lý luận báo chí truyền hình, xã hội học báo chí, tâm lý học báo chí để khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn đã đề ra, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: với phương pháp này nhằm
tìm hiểu những vấn đề lý luận liên quan đến báo chí, báo chí truyền hình, kênh truyền hình, chương trình truyền hình, vai trò của hoạt động quản lý… để xây dựng khung lý thuyết của đề tài
- Phương pháp khảo sát, thống kê: khảo sát thực tế chương trình,
thống kê hoạt động quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được dùng để phân tích,
đánh giá, đưa ra những kết luận có tính khái quát về thực trạng, chất lượng, quản lý nội dung kênh cũng như những thành công, hạn chế của hoạt động quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer
của Đài PT-TH Sóc Trăng
Trang 22- Phương pháp phỏng vấn sâu: nhằm thu thập những thông tin xác
thực của chuyên gia, của những nhà quản lý có kinh nghiệm trong việc thực hiện sản xuất các chương trình truyền hình; lấy ý kiến từ Ban lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên của Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer –STV2 của Đài PT-TH Sóc Trăng Cùng với đó là Lãnh đạo Ban dân tộc tỉnh, Ban quản trị Chùa Khmer, khán giả thường theo dõi kênh… Qua đó
để có những căn cứ cụ thể, thuyết phục để đưa ra những nhận định, đánh giá,
đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng chương trình trong thời gian tới
6 Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng rõ những vấn đề lý luận về công tác quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài
PT-TH Sóc Trăng
- Luận văn là công trình đầu tiên khảo sát, phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer –kênh mới STV2 của Đài PT-TH Sóc Trăng Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý, tiếp tục nâng chất kênh, chương trình phát sóng trong thời gian tới Qua đó, góp phần giúp cơ quan báo chí điều chỉnh nội dung, phương thức quản lý, đóng góp chung vào thành công của kênh
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm phần lý luận về quản lý nội dung kênh, chương trình truyền hình nói chung, kênh truyền hình cho Đồng bào Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng nói riêng (khái niệm, vai trò của hoạt động quản lý, nội dung, phương thức quản lý, tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả của hoạt động quản lý kênh truyền hình, chương trình truyền hình)
Trang 23- Thông qua kết quả nghiên cứu, có thể khẳng định vị trí, tầm quan trọng của hoạt động quản lý nội dung Kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng, góp phần làm cho nội dung tuyên truyền của Kênh ngày càng đổi mới, phát triển, khẳng định thương hiệu của cơ quan báo chí
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn tập trung nghiên cứu sâu về về cơ sở lý luận quản lý nội dung kênh truyền hình, chương trình truyền hình chuyên biệt, chương trình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số Chương trình dành cho đồng bào Khmer Cùng với đó là cập nhật các quy định pháp luật, bổ sung một
số điểm mới của hoạt động quản lý truyền hình trong bối cảnh công nghệ thông tin, mạng xã hội ngày càng phát triển
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho lãnh đạo Đài PT
- TH Sóc Trăng, đội ngũ quản lý Chương trình Tiếng dân tộc của Đài, lực lượng trực tiếp sản xuất chương trình Đặc biệt là nhấn mạnh các giải pháp để bảo đảm theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của STV, để công tác quản lý kênh, chương trình dành cho Đồng bào Khmer trên sóng STV2 - truyền hình Sóc Trăng ngày càng hoàn thiện
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các Đài PT – TH trên cả nước, đặc biệt là các Đài ở những địa phương có đặc điểm tình hình tương tự Sóc Trăng - đông đồng bào Khmer sinh sống, hoặc đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống
- Luận văn là tài liệu bổ ích cho các cơ sở đào tạo sinh viên, học viên báo chí, đặc biệt là báo hình
Trang 24- Luận văn còn là tài liệu cho những người quan tâm đến hoạt động quản lý phát thanh - truyền hình và nội dung kênh, chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài những phần mục lục, lời cảm ơn, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục theo quy định, luận văn được kết cấu thành ba chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về Quản lý nội dung kênh truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số
Chương 2: Thực trạng Quản lý nội dung kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài PT – TH Sóc Trăng
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả Quản lý nội dung kênh truyền hình dành cho đồng bào Khmer của Đài
PT – TH Sóc Trăng
Trang 25Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NỘI DUNG KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Kênh truyền hình và nội dung kênh truyền hình
Hiện nay, vẫn có nhiều khái niệm khác nhau về truyền hình
Theo giáo trình “Báo chí truyền hình” của PGS.TS Dương Xuân
Sơn: thuật ngữ truyền hình (television) có nguồn gốc từ tiếng La Tinh và
Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, tele có nghĩa là ở xa, còn videre là thấy được Tiếng La Tinh là xem được từ xa Ghép hai từ đó lại thành Televidere có nghĩa là xem được ở xa Tiếng Anh là “television”, tiếng Pháp cũng là “television”
Còn theo giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí” của PGS.TS Nguyễn
Văn Dững: “Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều sắc màu vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói,
Trang 26những năm 40 của thế kỷ XX mới phát triển rầm rộ và nhanh chóng trở thành tâm điểm trong giới truyền thông, có sức hút mạnh mẽ với công chúng Ở Việt Nam, truyền hình ra đời muộn hơn rất nhiều so với thế giới Vào ngày 07/09/1970, sau một thời gian dài chuẩn bị nhân lực, vật lực, chương trình thử nghiệm đầu tiên được phát sóng và đã có những thành công nhất định Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự ra đời của truyền hình Việt Nam Có thể nói, truyền hình đã đem tới cho công chúng những “món ăn tinh thần” hấp dẫn với những thông tin cập nhật, chân
thực, sinh động
1.1.1.2 Kênh Truyền hình
Theo căn cứ pháp lý, Điều 3 Luật Báo chí 2016: “Kênh phát thanh,
kênh truyền hình là sản phẩm báo chí, gồm các chương trình phát thanh, truyền hình được sắp xếp ổn định, liên tục, được phát sóng trong khung giờ nhất định và có dấu hiệu nhận biết”
Với khái niệm ở Điều 3 Luật Báo chí 2016 quy định như trên, chúng ta có thể hiểu “Kênh truyền hình” là một sản phẩm báo chí, gồm các chương trình được sắp xếp ổn định, liên tục và được phát sóng trong khung giờ nhất định Vậy nội dung kênh truyền hình chính là nội dung của các chương trình truyền hình được phát trên kênh đó Suy ra việc quản lý nội dung Kênh truyền hình chính là quản lý, tổ chức thực hiện nội
dung các chương trình truyền hình được phát sóng trên Kênh đó Và nội
dung quy định tại Điều 3 Luật Báo chí 2016 cũng là căn cứ để tôi tiến hành nghiên cứu thực hiện luận văn này
1.1.1.3 Chương trình truyền hình
Như trên đã đề cập: nội dung kênh truyền hình chính là nội dung
của các chương trình truyền hình được phát trên kênh đó Chúng ta có thể khái quát về Chương trình truyền hình như sau
Trang 27Căn cứ theo quy định tại Mục 1 Phần 1 Thông tư BTTTT về Định mức kinh tế - kỹ thuật về sản xuất chương trình truyền
03/2018/TT-hình, có quy định: “Chương trình truyền hình là tập hợp các tin, bài trên báo hình theo một chủ đề trong thời lượng nhất định, có dấu hiệu nhận biết mở đầu và kết thúc”
Trong giáo trình “Báo chí truyền hình”, PGS.TS Dương Xuân Sơn:
“Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp bố trí hợp lý các tin bài, bảng biểu, tư liệu bằng hình ảnh và âm thanh được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả”
Như vậy, có thể hiểu chương trình truyền hình là các chương trình như: chương trình “Thời sự”, chương trình “Chào buổi sáng”, chương trình “Sự kiện và bình luận”, chương trình “Thế giới ngày qua‟… Chương trình truyền hình là một đơn vị phát sóng trong nội dung truyền hình, là hình thức giao tiếp cơ bản của khán giả với truyền hình Công chúng đón xem chương trình truyền hình không phải là những thông tin lộn xộn, rời rạc
Và nơi truyền tải các chương trình truyền hình, các chương trình truyền hình được phát sóng chính là Kênh truyền hình Trên kênh truyền hình, mỗi ngày các Đài truyền hình sản xuất ra nhiều chương trình truyền hình có độ dài ngắn và thời lượng khác nhau phụ thuộc vào mục tiêu và nội dung mà chương trình muốn đề cập tới công chúng Trong đó có công chúng riêng biệt và công chúng riêng biệt mà tôi đề cập đến trong
công trình nghiên cứu này chính là đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng
1.1.2 Quản lý và quản lý kênh truyền hình
1.1.2.1 Quản lý
Theo các nhà khoa học thì quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã
Trang 28hội Mỗi ngành khoa học từ góc độ riêng của mình và có những định nghĩa về quản lý
Học giả thuộc các trường phái khác nhau cũng đưa ra những khái niệm về quản lý theo các cách tiếp cận khác nhau:
Các Mác cho rằng quản lý là một chức năng tất yếu của lao động
xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp Trong khi Mary Parker
Follett – Mỹ thì quan niệm: “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”
Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “trông nom, coi giữ” là
“trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”
Với tác giả luận văn này, khái niệm “quản lý” được hiểu là sự điều khiển, chỉ đạo bằng quyền lực của một cá nhân hay tổ chức được giao quyền nhằm định hướng hành động thống nhất của cá nhân khác hay tập thể để đạt được mục tiêu đề ra Việc quản lý này được thể hiện từ quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển và kiểm soát Và tất cả phải dựa trên cơ sở pháp luật
Như vậy, với khái niệm này quản lý được hiểu là quá trình tác động có chủ đích, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đề ra bằng những phương thức, giải pháp cụ thể
1.1.2.2 Quản lý nội dung kênh truyền hình
Hoạt động Quản lý đóng một vai trò quan trọng đối với chất lượng
và hiệu quả của chương trình truyền hình Để sản xuất ra một chương trình truyền hình chất lượng đòi hỏi một quy trình phức tạp với nhiều công đoạn, nhiều người có chuyên môn cùng những trang thiết bị khác nhau Chương trình truyền hình là kết quả lao động của một tập thể Và
để tập thể đó hoạt động hiệu quả, rất cần có một chủ thể đứng ra quản lý, định hướng, chỉ đạo
Trang 29Quản lý ở đây vừa về mặt con người, tức đội ngũ đạo diễn, phóng viên, biên tập, phát thanh viên, kỹ thuật viên…những người tham gia làm
ra chương trình truyền hình, vừa là cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí…phục vụ cho việc thực hiện các chương trình truyền hình
Hoạt động Quản lý chương trình truyền hình nói chung và chương trình truyền hình chuyên biệt dành cho đồng bào thiểu số nói riêng được hiểu là quá trình tác động có chủ đích, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tạo ra những sản phẩm bằng những công cụ truyền thông để đáp ứng nhu cầu của công chúng, đáp ứng nhu cầu của
nhà đầu tư sản xuất
1.2 Quy trình quản lý nội dung kênh truyền hình dành cho đồng
bào dân tộc thiểu số
1.2.1 Chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu
số
Theo Tiến sỹ Vũ Quang Hào: Công chúng truyền thông chuyên biệt chính là đồng bào dân tộc thiểu số; những nhóm công chúng yếu thế trong xã hội (tàn tật, khuyết tật, nhiễm HIV, mồ côi, không nơi nương tựa, nghèo đói…) Nhằm phục vụ đối tượng chuyên biệt này, góp phần tạo sự bình đẳng xã hội, Đảng, nhà nước đã chủ trương xây dựng và hình thành các kênh thông tin thời sự, khoa học, giáo dục, giải trí nhằm vào phục vụ cho từng nhóm đối tượng, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu
số, vùng sâu vùng xa và miền núi Minh chứng như các kênh truyền thông riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số của Đài TNVN; Đài THVN… Đối với chương trình truyền hình tiếng Khmer của Đài PT-TH Sóc Trăng, bà con dân tộc Khmer chính là công chúng truyền thông chuyên biệt mà chương trình này quan tâm phục vụ Và được thực hiện với quy trình sau:
1.2.2 Đội ngũ và quy trình tổ chức sản xuất chương trình
truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 30Như trên đã đề cập để sản xuất ra một chương trình truyền hình nói chung và chương trình truyền hình chuyên biệt dành cho đồng bào dân tộc nói riêng đòi hỏi một quy trình phức tạp với nhiều công đoạn, nhiều thành phần, nhiều người có chuyên môn cùng những trang thiết bị khác nhau Chương trình truyền hình là kết quả lao động, sáng tạo của cả một tập thể với những lực lượng và công đoạn cơ bản sau:
+ Xây dựng format chương trình: Đây là khâu rất quan trọng, thường do đội ngũ quản lý hay những biên tập viên chính đảm nhận Format chương trình phải thể hiện được nội dung tư tưởng của chương trình; thể loại thực hiện; tính cân đối về đề tài; tiêu điểm về nội dung, địa bàn phản ánh… Format chương trình càng chi tiết, rõ hướng làm thì việc triển khai thực hiện càng thuận lợi Format chương trình là căn cứ để quản lý nội dung
+ Duyệt format chương trình: Khâu này do đội ngũ quản lý đảm nhận nhằm xem xét lại format, khung chương trình đã đảm bảo tiêu chí, yêu cầu đặt ra Thêm bớt những nội dung cần thiết và quyết định cho thực hiện
+ Tổ chức thực hiện: Đây là khâu liên quan đến chất lượng, tiến độ thực hiện chương trình Trên cơ bản format đã được duyệt sẽ tiến hành triển khai thực hiện các tác phẩm, tin bài phù hợp với nội dung, thể loại
và thời lượng định sẵn Nếu không có tác phẩm, tin bài chất lượng sẽ không có chương trình chất lượng Việc triển khai thực hiện do đội ngũ quản lý đảm nhận Việc thực hiện tác phẩm, tin bài do các phóng viên, biên tập viên được phân công thực hiện
+ Biên tập chương trình: Công đoạn này do Biên tập viên thực hiện sau khi đã có tin bài theo format chương trình Đây là một khâu khá quan trọng trong quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình để đảm bảo nội dung chương trình “đúng – trúng – hay – phù hợp với thời lượng”, khắc phục những hạn chế trong quá trình sáng tạo tác phẩm, thực
Trang 31hiện tin bài Cùng với đó sắp xếp các tác phẩm, tin bài theo format, hoàn chỉnh chương trình Công đoạn tổ chức sắp xếp này có thể theo format định sẵn nhưng cũng có thể có những thay đổi để đảm bảo tính hợp lý Khâu này do Biên tập thực hiện
+ Duyệt chương trình: Công đoạn này do Lãnh đạo đơn vị hay Quản
lý được phân công trách nhiệm đảm nhận Xem duyệt chương trình trên văn bản do Biên tập chương trình thực hiện Xem chương trình có đảm bảo những tiêu chí, nội dung như format ban đầu đề ra hay đã có những chỉnh sửa gì Xem Sapo lời dẫn của Biên tập chương trình để gắn kết các tin bài lại với nhau và bổ sung lần cuối trước khi cho tiến hành thu dựng + Thu dựng chương trình: Công đoạn là sự phối hợp giữa Biên tâp, Phát thanh viên, Kỹ thuật viên, trên cơ sở văn bản chương trình đã được lãnh đạo duyệt để tạo ra chương trình hoàn chỉnh, một sản phẩm truyền hình với lời bình, âm thanh, hình ảnh…
+ Duyệt thành phẩm: Đây là công đoạn cuối cùng, thường do Lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo kênh chịu trách nhiệm Xem duyệt thành phẩm sau khi
đã thu dựng hoàn chỉnh Đây là lần Duyệt cuối cùng trước khi chương
Thứ nhất, đảm bảo nội dung chương trình “đúng - trúng-hay”, góp phần định hướng, hiện thực hóa các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước
Có thể nói nội dung chương trình là yếu tố quan trọng nhất, thể hiện trình độ, kỹ năng… của những người thực hiện Nội dung chương
Trang 32trình truyền hình nói chung, chương trình dành cho đồng bào dân tộc nói riêng trước tiên phải đảm bảo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phải phù hợp với tôn chỉ mục đích của cơ quan báo chí, đạo đức nghề báo Ngoài ra nội dung chương trình phải gắn với thực tế với đời sống, với nhân dân, lắng nghe, ghi nhận và góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc của người dân Phảo đảm bảo
sự cân bằng giữa “khen” và “chê” biểu dương và phê phán Cùng với đó
là những yêu cầu về sự hấp dẫn, sức lôi cuốn khán giả Chính vì vậy, để đảm bảo tốt những yêu cầu đó, hoạt động quản lý nội dung chương trình
là hết sức quan trọng
Thứ hai, công tác quản lý giúp hoạt động sản xuất chương trình được thực hiện với kế hoạch, mục tiêu rõ ràng, khung chương trình phù hợp Tránh sự tùy tiện, sai lệch trong tổ chức sản xuất chương trình và thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực báo chí
Yêu cầu thứ hai trong công tác quản lý hoạt động và tổ chức sản xuất chương trình truyền hình là phải xác định rõ mục tiêu cần đạt được, đối tượng tác động của chương trình, xây dựng khung chương trình phù hợp, có kế hoạch sản xuất và phát sóng đúng thời điểm Đây là vấn đề có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng Vì nếu không xác định rõ mục tiêu, không đưa ra được kế hoạch rõ ràng thì công tác sản xuất sẽ rất khó thực hiện và như thế tiến độ của chương trình sẽ không được đảm bảo
Thứ ba, quản lý tốt có thể tiết kiệm chi phí sản xuất
So với báo in, phát thanh hay báo mạng điện tử, thì chi phí để sản xuất một chương trình truyền hình là khá lớn Vì vậy, việc tính toán làm sao để sản xuất một chương trình truyền hình ít tốn kém nhất nhưng vẫn đảm bảo nội dung, các tiêu chí, mục tiêu đề ra là một bài toán khó đối với các cơ quan sản xuất chương trình truyền hình, cũng như đội ngũ quản lý tổ chức thực hiện chương trình Nhất là khi chuyển sang cơ chế tự chủ như hiện nay Nguyên tắc tăng thu, giảm chi trong tổ chức sản xuất
Trang 33chương trình truyền hình cần được tính toán thực hiện một cách chu đáo,
kỹ lưỡng, khoa học Phải đạt được mục tiêu sau cùng là: Chương trình làm ra với chi phí sản xuất thấp nhất mà vẫn đảm bảo chất lượng
Thứ tư, quản lý tốt có thể điều phối một cách hợp lý, khắc phục được việc thiếu phương tiện kỹ thuật, nhân lực
Mặc dù nội dung mang tính quyết định, phương thức tổ chức là thiết yếu, nhưng phương tiện kỹ thuật cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc sản xuất ra chương trình truyền hình Đặc khi khi mà những sản phẩm truyền hình ngày càng mang dấu ấn của công nghệ thì một đài truyền hình, một kênh truyền hình muốn hoạt động tốt phải đảm bảo đầy đủ phương tiện kỹ thuật, thiết bị hiện đại Tuy nhiên, trên thực
tế, không phải đài truyền hình nào cũng có thể thỏa mãn yêu cầu trên Vì vậy, việc điều phối một cách hợp lý phương tiện kỹ thuật để đảm bảo thực hiện đồng thời các chương trình trong đó có chương trình chuyên biệt dành cho đồng bào dân tộc là khâu quan trọng của hoạt động quản
lý Nếu quản lý tốt có thể khắc phục được những hạn chế về thiết bị, khó khăn trong quá trình sản xuất
Thứ năm, đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng
Cùng với sự phát triển của xã hội, báo chí nói chung, truyền hình nói riêng ngày càng có vị trí quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho công chúng Đối với đồng bào dân tộc thiểu số thì việc khẳng định
và phát huy vị thế của một kênh truyền hình dành cho đồng bào là rất quan trọng Đó là cầu nối giữa Đảng với đồng bào, góp phần phản biện các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, góp phần thắt chặt thêm khối đại đoàn kết toàn dân Cổ vũ đồng bào hăng hái, ra sức thi đua xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, vun đắp quê hương ngày thêm phát triển
Trang 341.4 Yêu cầu đối với quản lý nội dung kênh truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số
1.4.1 Đối với chủ thể, khách thể, đối tƣợng quản lý nội dung kênh truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số
Chủ thể quản lý: Cũng giống như các kênh truyền hình khác, kênh truyền hình dành cho đồng bào dân tộc STV2 – Đài PT -TH Sóc Trăng với chủ thể quản lý là cơ quan, tổ chức, cá nhân được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ủy quyền để nhân danh chủ thể ủy quyền sử dụng quyền lực được giao nhằm điều khiển, điều hành, xác định, lập kế hoạch, kiểm tra giám sát nguồn lực (con người, tài chính, vật chất) và hoạt động nhằm đạt hiệu quả các mục tiêu đã đề ra
Với vai trò, nhiệm vụ được giao, chủ thể quản lý có quyền hạn và trách nhiệm thực hiện hành vi quản lý tác động lên đối tượng quản lý, hoạt động riêng lẽ của từng cá nhân để tạo thành hoạt động chung thống nhất trong tập thể hướng theo một mục tiêu nhất định Với chức trách của mình, chủ thể quản lý đảm đương nhiều vai trò khác nhau như:
Giao tiếp, quan hệ: Đây là chức năng mang tính “Đối nội - đối ngoại”, người quản lý là đại diện cho tập thể để giao tiếp với đối tác với các bộ phận liên quan mang tính “đối ngoại” vừa giữ vai trò “đối nội” là lãnh đạo, liên kết mọi người để hoàn thành mục tiêu chung
Vai trò thông tin: Với vai trò này chủ thể quản lý thu thập thông tin
từ cấp dưới để nắm bắt tình hình, kịp thời đưa ra chủ trương giải pháp chấn chỉnh, tháo gở, định hướng Đồng thời tiếp nhận và phổ biến thông tin từ cấp trên cho cấp dưới, cung cấp thông tin ra bên ngoài khi cần thiết
Vai trò quyết định: đây là vai trò quan trọng nhất Chủ thể quản lý
là người có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về những quyết định của mình
Khách thể quản lý: Trong mối quan hệ mang tính qua lại, không thể thiếu trong bộ máy vận hành hay tổ chức quản lý thì đối tượng chịu sự
Trang 35tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý Đó là hành vi của con người và các quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý
Đối tượng quản lý: Là cá nhân, tổ chức tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý, trực tiếp thực hiện các hoạt động theo sự chỉ đạo, định
hướng của chủ thể quản lý nhằm đạt được kết quả nhất định
1.4.2 Đối với nội dung, phương pháp, phương thức quản lý nội dung kênh truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số
1.4.2.1 Về nội dung
Thứ nhất, việc quản lý nhằm đảm bảo cho hoạt động diễn ra xuyên suốt trong quá trình thực hiện chương trình, từ xây dựng kế hoạch, xây dựng format chương trình, duyệt kịch bản, thẩm định format chương trình, tổ chức thực hiện đến duyệt thành phẩm
Quản lý nội dung chương trình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Tính thời sự: Có thể khẳng định “Tính thời sự” là sự sống là yêu cầu mang tính bắt buộc của các loại hình báo chí nói chung, truyền hình nói riêng Những chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, các vấn đề
về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, đời sống, an ninh quốc phòng nóng hổi … luôn là những nội dung thu hút sự quan tâm đặc biệt của công chúng Cho nên nội dung chương trình dù là chuyên biệt, dành cho một bộ phận, đồng bào dân tộc nhưng cũng phải đảm bảo luôn mới, cập nhật phải
có “Tính thời sự” thì mới nhận được sự quan tâm, đón chờ của đồng bào cũng như khán giả nói chung
+ Tính định hướng: Các nội dung đề cập trong chương trình dành cho đồng bào trước tiên phải đảm bảo thông tin chính thống, đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, chủ trương của chính quyền địa phương Phù hợp với thuần phong mỹ tục đồng bào Thông tin được thực hiện kịp thời, liên tục, trung thực, có chiều sâu Như vậy mới tạo dư luận tích cực trong xã hội, tạo thẩm mỹ văn hóa, lối sống trong sáng trong cộng đồng
Trang 36+ Tính chính xác: Đây là vấn đề sống còn của chương trình Đồng bào có thể tìm kiếm thông tin trên báo mạng điện tử, các trang mạng xã hội, website, nghe những lời xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhưng họ
sẽ kiểm chứng thông tin qua truyền hình cũng như hệ thống truyền thông chính thống Kênh truyền hình tiếng dân tộc sẽ giữ một vai trò quan trọng như vậy đối với đồng bào dân tộc, nên tính chính xác được xem như một yêu cầu bắt buộc
+ Phù hợp đối tượng xem truyền hình: Khi thực hiện sản xuất chương trình thì nhà Đài đã xác định đối tượng mà chương trình hướng đến là gì Đối tượng mà kênh truyền hình tiếng dân tộc STV2 – Đài PTTH Sóc Trăng chính là các vị sư sãi, ban quản trị các chùa, phật tử, con em đồng bào Khmer Cùng với đó là các dân tộc anh em, những người có cùng sự quan tâm, sở thích Là một kênh truyền hình chuyên biệt về dân tộc, chương trình cần thể hiện được giá trị tư tưởng, văn hóa đặc thù về dân tộc
Thứ hai, quản lý việc thực hiện kế hoạch sản xuất chương trình, đảm bảo đúng tiến độ và thời gian phát sóng
Sản xuất chương trình truyền hình nói chung, chương trình truyền hình chuyên biệt dành cho đồng bào dân tộc nói riêng phải thực hiện nhiều công đoạn, đòi hỏi sự công phu, kỹ càng, tỉ mỉ, không được để ra sai sót vì tính chất của chương trình là rất quan trọng Chương trình phải thể hiện rõ quan điểm, mục tiêu tuyên truyền, phản ánh nhanh chóng, bao quát trên các lĩnh vực đời sống: kinh tế, văn hóa xã hội, chính trị, an ninh, quốc phòng… Những tin đưa muộn sẽ giảm dần giá trị của nó Ngoài ra chương trình cần
phải thực hiện đúng tiến độ, đúng giờ phát sóng
Thứ ba, quản lý chi phí sản xuất chương trình
Để sản xuất ra một chương trình truyền hình chất lượng cần có chi phí hợp lý Trên thực tế có thể xảy ra hai trường hợp: chi phí lớn nhưng chất lượng chương trình không cao hoặc ngược lại chi phí vừa phải nhưng chất
Trang 37lượng chương trình lại đảm bảo Điều này xuất phát từ công tác quản lý Cho nên, công tác quản lý hoạt động sản xuất chương trình có nhiệm vụ rất quan trọng: tiết kiệm chi phí sản xuất, đảm bảo hài hòa lợi ích của những người tham gia sản xuất chương trình
Thứ tư, quản lý nguồn lực và phương tiện sản xuất chương trình
Nhiệm vụ quan trọng của hoạt động sản xuất chương trình - nội dung trên một kênh truyền hình là tổ chức nguồn nhân lực một cách hợp lý Để sản xuất ra một chương trình đòi hỏi sự lao động, hợp tác của nhiều người, nhiều bộ phận Có những phóng sự, tin tức phát trong chương trình cần đến nhiều người với những chức danh, nhiệm vụ khác nhau (người viết kịch bản, người dẫn chương trình, quay phim, tổ chức sản xuất…) Số lượng người tham gia ít nhất nhưng đạt hiệu quả cao nhất, công việc chạy nhanh nhất là tiêu chí trong việc quản lý nhân lực
Bên cạnh đó, tình trạng thiếu nhân lực chất lượng cao và thừa nhân lực không đáp ứng được yêu cầu cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng của chương trình Những người làm chương trình đòi hỏi phải có đạo đức, phẩm chất chính trị rõ ràng, tuyệt đối trung thành với Đảng, có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, kỹ năng tốt, năng lực sáng tạo, nhanh nhạy, ứng biến tốt với những tình huống có thể xảy ra Họ phải cẩn thận, tỉ mỉ, nhặt ra những “hạt sạn” nhỏ nhất để đảm bảo thành quả cuối cùng là hoàn hảo, không cho phép sự sai sót Những người làm chương trình luôn phải cập nhật tin tức, định hướng công chúng hiểu được trọn vẹn thông điệp, ý nghĩa mà tác giả muốn truyền tải Có thể nói, chương trình là kết quả hoạt động, là sản phẩm của tập thể bao gồm các bộ phận lãnh đạo, bộ phận
kỹ thuật, bộ phần nội dung, bộ phận hậu cần…Vì vậy, việc quản lý nguồn nhân lực là rất quan trọng trong một chương trình truyền hình nói chung và truyền hình tiếng dân tộc nói riêng
Để đáp ứng những điều này, người quản lý chương trình, quản lý nội dung kênh phải thật tập trung, nhanh nhạy, giỏi nghề để đưa ra được các
Trang 38phương án giải quyết tối ưu và an toàn nhất, không làm ảnh hưởng đến kế hoạch chung Trong đó có những nguyên tắc cần phải tuyệt đối tuân thủ:
Nguyên tắc quản lý nội dung kênh truyền hình tiếng dân tộc
Trước tiên cần phải quán triệt và thống nhất quan điểm: trong hệ thống chính trị Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam đóng vai trò nòng cốt
là trung tâm là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội Sự lãnh đạo của Đảng luôn là một trong những nhân tố hết sức cơ bản, chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh quốc gia trong mọi giai đoạn lịch sử Đặc biệt các vấn đề nhạy cảm, tác động đến sự phát triển của một quốc gia, dân tộc Đối với báo chí, sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước là vấn đề có tính nguyên tắc để báo chí hoạt động theo đúng tôn chỉ, mục đích và có hiệu quả
Và kênh truyền hình tiếng dân tộc cũng phải tuân thủ nguyên tắc này Cùng với đó là sự tôn trọng tín ngưỡng, sinh hoạt truyền thống, văn hóa lễ nghi tốt đẹp… của đồng bào để kênh phát triển một cách trọn vẹn Đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền của Đảng nhà nước, chính quyền địa phương, phục vụ như cầu được thông tin, được thưởng thức những giá trị chân, thiện, mỹ của đồng bào
1.4.2.2 Về phương thức quản lý
Để công tác quản lý chương trình hiệu quả, phù hợp, chủ thể quản
lý cần có những phương thức quản lý phù hợp, khoa học
+ Quản lý trực tiếp: Đây là hoạt động tổ chức, sản xuất chương trình được hiểu là việc tác động của chủ thể quản lý tới chính đối tượng quản
lý mà không thông qua khâu, bộ phận trung gian – Quản lý trực tiếp Quản lý trực tiếp giúp cho việc sản xuất chương trình được đảm bảo đúng định hướng của nhà đài hơn Để làm tốt việc này đòi hỏi sự tận tâm và khả năng bố trí, sắp xếp công việc một cách khoa học, hiệu quả của người lãnh đạo, quản lý Bởi lẽ hoạt động sản xuất chương trình truyền hình, việc quản lý là một quá trình gồm nhiều khâu khác nhau Để quản lý theo
Trang 39phương thức này, cũng đòi hỏi ở người quản lý những năng lực nhất định
Đó là sự am hiểu có chiều sâu về toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất từ lập
kế hoạch thực hiện đến việc thực hiện, điều khiển, kiểm soát các nỗ lực
cá nhân, bộ phận… để đem lại kết quả là một chương trình chất lượng dành cho đồng bào
Để thực hiện tốt hoạt động quản lý nội dung kênh, tổ chức sản xuất chương trình cần thực hiện:
Quản lý bằng việc xây dựng khung chương trình: Đây có thể coi là
phương thức quản lý cơ bản nhất đối với bất kể chương trình truyền hình của bất kể lĩnh vực nào trong đó có chương trình chuyên biệt dành cho đồng bào dân tộc Từ việc xác định vị trí, vai trò, mục tiêu, nhiệm vụ của kênh để xây dựng chương trình một cách hợp lý, truyền tải các thông điệp một cách hiệu quả, đa chiều, sinh động, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của khán giả Nếu xây dựng được khung chương trình tốt sẽ thu hút được đông đảo khán giả theo dõi, nhờ đó sẽ tăng hiệu quả của chương trình khi
phát sóng
Quản lý bằng hệ thống tổ chức, cán bộ: Quản lý thông qua việc
phân cấp quyền hạn, trách nhiệm Đây là đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện các khâu trong quá trình sản xuất chương trình Kênh truyền hình tiếng dân tộc là kênh chuyên biệt với những tin tức nổi bật về dân tộc, liên quan đến đồng bào nên việc quản lý những người trực tiếp thực hiện việc tổ chức sản xuất chương trình mang thông điệp đúng tiêu chỉ, mục đích là rất cần thiết Nếu như đội ngũ các cán bộ, phóng viên, biên tập viên… không có sự hiểu biết sâu rộng, không nắm rõ bản chất hoặc không có sự kiểm duyệt chặt chẽ trong quy trình sản xuất thì các tin tức, các phóng sự trong chương trình không đạt yêu cầu đề ra Để đảm bảo chương trình được tổ chức sản xuất đúng tôn chỉ, mục đích của kênh, đi đúng định hướng của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương Phải phân bổ công việc cho từng cá nhân, từng bộ phận một cách hợp lí, đúng
Trang 40người đúng việc Mỗi bộ phận hợp thành nguồn nhân lực trong tổ chức sản xuất chương trình đều đóng một vai trò quan trọng, tuy nhiên, bộ phận đặc thù nhất cũng có thể coi là mạch máu của chương trình chính là đội ngũ phóng viên, biên tập viên Các phóng viên, biên tập viên phải luôn nắm vững chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phải có khả năng quan sát, nhìn nhận, nắm bắt sự kiện từ nhiều góc độ, phản ánh nhanh nhạy nhiều khía cạnh của cuộc sống xã hội, luôn phải cập nhật kiến thức để đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học – công nghệ
+ Quản lý gián tiếp: Đây là phương thức quản lý thông qua hệ thống văn bản chỉ đạo hoặc các cuộc họp định hướng, giao ban định kỳ Vai trò quản lý của các chủ thể trong trường hợp này thường được thể hiện khi duyệt các kế hoạch và chỉ đạo từ xa trước khi sản xuất và duyệt sản phẩm
đã hoàn thiện Được thể hiện bằng những phương thức sau:
Quản lý bằng chế độ thông tin, báo cáo: Đây là khâu quản lý thông
qua nắm bắt những yếu tố trong quá trình sản xuất, phát sóng và sau phát sóng Thực tế cho thấy phương thức quản lý này mang lại sự chủ động cho ekip tổ chức sản xuất và khi tổ chức sản xuất phải giữ vững sự kết nối, báo cáo phản hồi lại các cấp lãnh đạo để họ kịp thời nắm bắt tình hình, diễn biến sản xuất chương trình cũng như các phản hồi về các thông
điệp về dân tộc trên truyền hình
Quản lý bằng chế độ kiểm tra, giám sát: Đây là phương thức quản
lý hết sức cần thiết của Người quản lý – Chủ thể quản lý, nhằm mục đích đánh giá, theo dõi thực tế công tác tổ chức sản xuất, phát sóng chương trình để đảm bảo không có những sai sót xảy ra, giúp chủ thể quản lý phát hiện kịp thời những sự lệch lạc trong nội dung và hình thức sản xuất chương trình Đối với kênh truyền hình tiếng dân tộc thì việc kiểm tra, giám sát lại càng khắt khe và quan trọng hơn, nội dung phát sóng phải