Đã có nhiều học giả nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc gỗ truyền thống ở Thanh Hóa, nhưng chủ yếu tiếp cận theo góc độ văn hóa học, khảo cổ học, bảo tàng học hay du lịch học,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Trần Việt Anh
NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC GỖ THẾ KỶ XVII - XIX Ở THANH HÓA
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 9210101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Hà Nội – 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Trần Lâm Biền
Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS Lê Văn Tạo
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Số 32, Hào Nam, Ô chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi … giờ, ngày … tháng… năm 2018
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Ly ́ do lựa cho ̣n đề tài
Kiến trúc, chạm khắc gỗ truyền thống Thanh Hóa là một bộ phận của mỹ thuật Việt Nam, mang những giá trị và sắc thái nghệ thuật độc đáo
Đã có nhiều học giả nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc
gỗ truyền thống ở Thanh Hóa, nhưng chủ yếu tiếp cận theo góc độ văn hóa học, khảo cổ học, bảo tàng học hay du lịch học, chưa có công trình chuyên sâu về nghệ thuật chạm khắc gỗ truyến thống một cách hệ thống
Việc trùng tu, tôn tạo các di tích truyền thống cũng không được làm một cách bài bản, khoa học Trong khi đó Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998 về phát triển “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) năm 2014 nhấn mạnh “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” cho thấy vị thế văn hóa rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta Vật liệu gỗ lại không chịu được thời gian và khí hậu, chính vì vậy nghiên cứu nghệ thuật chạm khắc gỗ là việc làm cần thiết
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu: Luận án là nhận diện, lý giải về đặc
trưng, sắc thái riêng nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII đến TK XIX trên đất Thanh Hóa
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án chứng minh, khẳng định diễn
biến của nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII - XIX có những đặc trưng bởi sự chi phối về kinh tế, dân cư làng xã xứ Thanh đương thời Mối quan hệ hợp tác, liên kết lao động của các hiệp thợ từ Trấn Sơn Nam (Nam Định), Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) và thợ mộc người bản địa, đã
Trang 4tạo ra những sự tương đồng và sắc thái mới trong nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa
Nhận diện phong cách nghệ thuật, đồ án chạm khắc trang trí gỗ TK
XVII - XIX trong các di tích ở Thanh Hóa
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hệ thống các biểu trượng,
hình tươ ̣ng nghê ̣ thuâ ̣t, nội dung, đề tài, kỹ thuật, phong cách cha ̣m khắc gỗ hiện còn trên cấu kiê ̣n kiến trúc còn lại ở Thanh Hóa, tại 13 di tích điển hình (đình Phú Điền, Bảng Môn Đình, Thượng Phú, Trung; đền Cả Đế Thích, Độc Cước, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Khát Chân; chùa Hoa Long; nhà ông Hoàng Ngọc Quỹ, ông Phạm Ngọc Tùng)
3.2 Phạm vi nghiên cư ́ u
Tập trung nghiên cứu 13 di tích điển hình về chạm khắc gỗ, trên các vấn đề niên đại, phong cách chạm khắc và loại hình: đình làng, đền thờ, chùa, nhà dân (không bao gồm đồ thờ và đồ dùng sinh hoạt…) Đồng thời có thể mở rộng nghiên cứu đối chiếu, so sánh với nghệ thuật chạm khắc gỗ vùng đồng bằng Bắc Bộ cùng thời để làm sáng tỏ những vấn đề cần thiết
4 Giả thuyết khoa học
4.1 Câu hỏi nghiên cứu: Cơ sở hình thành và phát triển nghệ thuật
chạm khắc gỗ Thanh Hóa TK XVII - XIX là gì? Ảnh hưởng từ văn hóa, lịch sử, kinh tế, xã hội ở TK XVII - XIX được phản ánh trong nghệ thuật chạm khắc gỗ Thanh Hóa ra sao? Nghệ thuật chạm khắc gỗ
TK XVII - XIX ở Thanh Hóa có gì giống và khác với địa phương khác? Giá trị đặc trưng của nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII- XIX ở
Thanh Hóa?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu: Nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII -
XIX ở Thanh Hóa có những tương đồng so với vùng đồng bằng Bắc
Trang 5Bộ, nhưng đồng thời cũng thể hiện sắc thái riêng (1) Đồ án chạm khắc trang trí trên gỗ thuộc các di tích đình làng, đền thờ, nhà dân TK XVII
- XIX ở Thanh Hóa, in đậm dấu ấn kinh tế - văn hóa - xã hội của nông
thôn đương thời (2) Giao lưu giữa các tốp thợ vùng đồng bằng Bắc Bộ
và thợ địa phương đã tạo nên giá trị biểu đạt mới trong nghệ thuật
chạm khắc gỗ TK XVII – XIX ở Thanh Hóa (3)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp khảo cổ học mỹ thuật
5.2 Phương pháp dân tộc học mỹ thuật
5.3 Phương pháp so sánh - thực chứng lịch sử
5.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
6 Những đóng góp mới của luận án
Luận án góp phần hệ thống, xác định giá trị nghệ thuật chạm khắc
gỗ thế kỷ XVII - XIX ở Thanh Hóa với những đặc trưng riêng bối cảnh chung của nghệ thuật chạm khắc gỗ truyền thống Việt Nam
Thông qua nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVII - XIX ở Thanh Hóa cung cấp thông tin số liệu về di vật chạm khắc gỗ hiện tồn trong các đình, đền, chùa, nhà dân một cách chân thực, khách quan, khoa học
Kết quả nghiên cứu luận án góp phần nâng cao hiểu biết của cộng đồng xã hội về giá trị lịch sử, văn hóa - nghệ thuật thông qua một số di tích điển hình xứ Thanh, thế kỷ XVII - XIX, có thể làm tư liệu trong công tác giáo dục thẩm mỹ và tư liệu cho các cơ quan nghiên cứu văn hóa, giúp cho công tác quản lý, tu bổ, tôn tạo có được thông tin chính xác hơn
7 Bố cục của luận án
Luận án bao gồm 166 trang nội dung chính và 75 trang phụ lục Cụ thể: Phần mở đầu 13 trang; Chương 1: 35 trang; Chương 2: 34 trang;
Trang 6Chương 3: 33 trang; Chương 4: 31 trang; Kết luận: 5 trang; Các công trình NCKH đã công bố: 1 trang
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về nghệ thuật chạm khắc gỗ truyền thống Thanh Hóa (35 trang)
Chương 2: Niên đại, nội dung và phong cách kiến trúc, chạm khắc
gỗ thế kỷ XVII - XIX ở Thanh Hóa (34 trang)
Chương 3: Đặc trưng cơ bản chạm khắc gỗ thế kỷ XVII - XIX ở
Thanh Hóa (33 trang)
Chương 4: Luận bàn về giá trị nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII -
XIX ở Thanh Hóa (31 trang)
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC GỖ TRUYỀN THỐNG THANH HÓA 1.1 Cơ sở lý luận và khái lược diễn biến nghệ thuật chạm khắc
gỗ truyền thống ở Thanh Hóa
1.1.1 Cơ sở lý luận về nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII- XIX ở Thanh Hóa
- Vấn đề lý thuyết văn hóa vùng và văn hóa truyền thống Thanh Hóa: Nhiều nhà khoa học nêu quan điểm xem Thanh Hóa được xem là
một tiểu vùng văn hóa hạ lưu sông Mã [27], [32], [138], [139] Áp dụng trong nghiên cứu chạm khắc gỗ Thanh Hóa TK XVII-XIX cho thấy những sắc thái riêng trong kỹ thuật, nghệ thuật là có cơ sở từ đặc thù kinh tế xã hội làng xã Thanh Hóa đương thời, cũng như phong cách của các nhóm nghệ nhân bản địa từng bước khẳng định rõ nét trên
Trang 7khắc truyền thống chúng ta có thể thấy được những mối liên hệ, phản ánh về lịch sử xã hội đương thời [23], [31], [33], [34]
- Vấn đề môi trường kinh tế -văn hóa - xã hội chi phối nghệ thuật chạm khắc gỗ Thanh Hóa TK XVII-XIX: Kinh tế xã hội Thanh Hóa ở
TK XVI-XVII rất khó khăn do hậu quả nặng nề từ hai cuộc nội chiến
đã làm cho xã hội xứ này kiệt quệ nặng nề vì vậy có thể nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc gỗ ở Thanh Hóa từ TK XVI trở về trước không
còn [1], [5], [6], [11], [12],…
Từ cuối TK XVII-XIX Xứ Thanh được phục hồi kinh tế mạnh mẽ, thu hút một số lượng lớn di dân từ Bắc Bộ về sinh tụ, mang theo các nghề thủ công, trong đó có nghề mộc, liên kết lao động của hiệp thợ đã tạo ra những sắc thái mới trong phong cách chạm khắc gỗ TK XVII - XIX ở Thanh Hóa [1], [11], [22], [27], [32],…
1.1.2 Hình ảnh kiến trúc gỗ phản chiếu trên các di vật của văn hóa Đông Sơn: Kiến trúc của người Đông Sơn là loại nhà sàn có mái
cong mô phỏng đầu chim lạc (Hình khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, Quảng Xương, Sông Đà), một loại nhà khác cũng ở vòng quay cận tâm trống đồng Ngọc Lũ và trống Quảng Xương cho thấy nhà bé, bằng lá che, có vách ngăn, cửa trang trí nhiều vòng tròn, sàn tầng I thấp, tầng
II cao bằng 2 lần chiều cao của người
1.1.3 Dấu tích kiến trúc, chạm khắc gỗ các di tích thời Lý, Trần,
Lê ở Thanh Hóa: Thời Lý, sử sách còn ghi lại về số chùa được xây
dựng lớn như chùa Báo Ân (1100), chùa Linh Xứng (1101), chùa
Hương Nghiêm, chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (1116)…
Thời Trần (1226-1400), chủ yếu vẫn là kiến trúc Phật giáo, điển hình như chùa Cam Lộ, chùa Hưng Phúc ở Quảng Hùng, huyện Quảng Xương, được dựng từ năm 1264, đến năm 1324 xây lại và hoàn thành 1326…
Trang 8Thời Lê sơ hiện nay không tìm thấy di vật chạm khắc gỗ, ngoại trừ kiến trúc ở điện Lam Kinh với qui mô lớn, được nhận biết thông qua
130 chân tảng hiện tồn Nghệ thuật kiến trúc chạm khắc ở Thanh Hóa cho thấy sự phát triển liên tục và liền mạch
1.1.4 Nghề mộc và sự giao lưu của phường thợ mộc Đạt Tài ở Thanh Hóa và các địa phương khác: Làng nghề mộc Đạt Tài, Thanh
Hóa đã nổi tiếng cách nay 400, 500 năm Ông tổ của nghề người trấn Nam Sơn (Nam Định) là thợ cả một toán thợ vào Thanh Hóa truyền nghề cho dân Đạt Tài và sau đó là Hạ Vũ và Hà Thái (Hoằng Hoá) Làng nghề này đã tham gia nhiều công trình kiến trúc, chạm khắc cho
1.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVII – XIX ở Thanh Hóa
Các công trình nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVII - XIX ở Thanh Hóa theo hướng lịch sử, khảo cổ học, văn hóa học, chủ yếu đề cập đến nghề thủ công trong một bối cảnh kinh tế,
xã hội cụ thể
Nhóm nghiên cứu về nghệ thuật chạm khắc gỗ Thanh Hóa TK XVII đến XIX còn tương đối mỏng và nhiều điểm trống như: thể loại
Trang 9phong cách theo mỗi giai đoạn lịch sử, nghệ thuật chạm khắc con người, đồ thờ, trang trí chạm khắc gỗ trong nhà dân…
1.3 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến nghệ thuật chạm khắc gỗ
- Hình tượng nghệ thuật, biểu tượng nghệ thuật, họa tiết, hoa văn, nhịp điệu, khối, đầu dư, cốn…
Kiến trúc nhà ở của người Việt có từ thời kỳ văn minh Đông Sơn, thông qua hình khắc nhà sàn trên đồ đồng hiện có Sau này, thời Lý - Trần, Lê ở Thanh Hóa cũng có nhiều công trình, chủ yếu là đình,đền, chùa Nghệ thuật chạm khắc gỗ Thanh Hóa còn lại đến nay chủ yếu có phong cách nghệ thuật từ TK XVII trở về sau
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành để nghiên cứu đình, đền, chùa, nhà dân, lấy13 di tích điển hình, phân tích đối sánh làm rõ nhận định khoa học
Chương 2 NIÊN ĐẠI, NỘI DUNG VÀ PHONG CÁCH KIẾN TRÚC, CHẠM KHẮC GỖ THẾ KỶ XVII - XIX Ở THANH HÓA 2.1 Phân nhóm niên đại kiến trúc gỗ
Phân loại nhóm niên đại, mục đích tìm ra được quá trình khởi dựng, trùng tu; góp phần vào nhận định, đánh giá phong cách, giá trị nghệ thuật chạm khắc gỗ ở di tích
Nhóm 1 gồm 8 di tích Bảng Môn Đình, đền Cả Đế Thích, đền Độc Cước, đền thờ Lê Hoàn, đền thờ Lý Thường Kiệt, đền thờ Trần Khát
Trang 10Chân, chùa Hoa Long, đình Đông Môn: Có thông tin về thời gian khởi dựng, trùng tu sớm; nhiều lớp nhà, nhiều lớp trùng tu tôn tạo Hệ thống chạm khắc trên di tích thuộc nhóm này phong phú về nội dung, chủ đề, phong cách, thủ pháp nghệ thuật
Nhóm 2 gồm 3 di tích đình Thượng Phú, đình Trung, đình Phú Điền: Có niên đại kiến trúc TK XVII, trùng tu vào cuối thế kỷ XIX, nhóm này ít đơn nguyên kiến trúc, thời gian trùng tu muộn, theo đó lớp chạm khắc có phong cách ổn định ít bị ảnh hưởng do nhiều giai đoạn trùng tu
Nhóm 3 gồm 2 nhà dân, nhà ông Hoàng Ngọc Quỹ, ông Phạm Ngọc Tùng, niên đại kiến trúc TK XIX, nhóm này thể hiện rõ niên đại, khởi dựng muộn, không thấy nhiều lớp trùng tu thông qua nghệ thuật chạm khắc thống nhất ở công trình
2.2 Phân loại phong cách kiến trúc gỗ
Phân loại theo phong cách kiến trúc là: theo nhóm có cùng một đồ
án mặt bằng như bố cục chữ Nhất (一), chữ Nhị (二), chữ Công (工),
chữ Đinh (丁)…
Nhóm kiến trúc có nhà hậu cung (chuôi vồ) gồm 9 di tích: Bảng Môn Đình, đình Đông Môn, đình Phú Điền, đình Thượng Phú, đền Độc Cước, đền thờ lê Hoàn, đền thờ Lý Thường Kiệt, đền thờ Trần Khát Chân, chùa Hoa Long Nhóm này thường tương đương như nhóm
1, mục 2.1 Nhìn chung nhóm này có nhiều đơn nguyên kiến trúc, phong phú về phong cách nghệ thuật chạm khắc
Nhóm kiến trúc không có nhà hậu cung (chuôi vồ) gồm 3 di tích: nhà ông Hoàng Ngọc Quỹ, ông Phạm Ngọc Tùng và đình Trung Phong cách nghệ thuật chạm khắc gỗ ổn định
Nhóm kiến trúc theo mặt bằng hình vuông hai tầng, 4 mái, nhóm này thuộc các đình làng chủ yếu của TK XX, không thuộc diện 13 di tích điển hình
Trang 112.3 Phân loại nội dung chạm khắc gỗ trên kiến trúc
Đình Phú Điền, Bảng Môn Đình,Thượng Phú; đền Trần Khát Chân; chùa Hoa Long là nhóm di tích có chạm khắc, nội dung, đề tài khá phong phú bao gồm 4 nhóm hình tượng như: (1) thần tiên, (2) người bình dân, (3) tứ linh, (4) tứ quí cùng với cỏ cây muông thú dân gian Đình Trung, đền Cả Đế Thích, Lý Thường Kiệt, đình Đông Môn là bốn di tích đề cao tứ linh tứ quý, cỏ cây hoa là chim muông; Đền thờ
Lê hoàn, Trần Khát Chân có các biểu tượng người, có thể gắn với nhân vật anh hùng vốn là biểu tượng thiêng của thần chủ ở di tích; Nhà ông Hoàng Ngọc Quỹ, ông Phạm Ngọc Tùng có niên đại vào đầu TK XIX, chủ yếu chạm đề tài cỏ cây hoa lá, muông thú
2.4 Phân loại phong cách nghệ thuật chạm khắc gỗ
2.4.1 Nhóm phong cách chạm khắc gỗ TK XVII
Phong cách nghệ thuật chạm khắc gỗ TK XVII ở Thanh Hóa ảnh hưởng nghệ thuật đồng bằng Bắc Bộ: Chủ yếu ở hậu cung Bảng Môn Đình, hậu cung đền Trần Khát Chân, đặc biệt các bố cục đình Thượng Phú… Kỹ thuật chủ yếu chạm nông, khối dương chừng 1-1,5cm, khối
âm đục xuống nền gỗ 1cm, bố cục giản đơn, ít chú tạo diễn khối, hay
tả thực mà chủ yếu biểu đạt hình tượng hoa sen, cúc, mặt trời, tiên thần theo kiểu hình kỷ hà; cuối TK XVII Kỹ thuật chạm bong, kênh đã xuất hiện với độ cao hơn nền 7 - 10cm
2.4.2 Nhóm phong cách chạm khắc gỗ TK XVIII
Với đại diện điển hình là chạm khắc gỗ ở đền thờ Lê Hoàn, đền Độc Cước, nhà tiền tế đền Trần Khát Chân Tuy nhiên hai phong cách chạm khắc ở 4 di tích này lại chuyển biến thành 3 hướng; (1) Tại đền Độc Cước phong cách vẫn còn bảo lưu cách chạm nông, nền bức chạm
và đỉnh khối không quá 1,5cm, nhưng do cách lấn khối, nhấn đậm chân nét khá tinh vi nên hiệu quả ánh sáng rất tốt (2) Đền thờ Lê Hoàn, lại kết hợp hài hòa nghệ thuật tinh tế, mềm mại diễn khối
Trang 12TKXVII với những nhịp điệu khỏe khoắn ở TK XVIII (3) Còn ở nhà
tiền tế đền Trần Khát Chân đã thể hiện hình hổ phù ngậm chữ Thọ trên
các vì nóc, chồng rường, khối nông trông không dữ tợn
2.4.3 Nhóm phong cách chạm khắc gỗ TKXIX
Phong cách chạm khắc gỗ Thanh Hóa TK XIX, còn biểu hiện hầu hết ở các di tích cũ TK XVII - XVIII được trùng tu (phần làm mới nhà tiền tế) Có 2 nhà dân, do điều kiện kinh tế, chức năng của nhà mà các mảng chạm khắc ở đây thể hiện khối nông, kỹ thuật tinh xảo
Các phong cách nghệ thuật chạm khắc TK XIX được chạm với một mật độ dày hơn kết hợp nhiều phong cách nhưng sự tinh tế và khả năng biểu đạt vẫn chưa thể vượt trội được nhóm phong cách điển hình
TK XVII, XVIII
2.5 Một số đồ án chạm khắc gỗ điển hình
2.5.1 Bảng Môn Đình: Ở hậu cung (vì số 1, vì số 2 và số 3) là
nghệ thuật chạm khắc có sớm, với nhiều nội dung, chủ đề và hình thức,
kỹ thuật chạm khắc có giá trị nghệ thuật cao, mang đặc trưng phong cách thể kỷ XVI, XVII
2.5.2 Đền Độc Cước: Hình tượng thần Độc Cước và bộ vì “bắt
quyết” là những đồ án chạm khắc tiêu biểu thể kỷ XVII, đặc biệt hình tượng hổ phù ở trung tâm vì “bắt quyết” với những đao mác lượn sóng thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật cuối TK XVII
2.5.3 Đền Trần Khát Chân: Đồ án chạm khắc gỗ khá tiêu biểu đó là
bộ vì kèo “bắt quyết” nối gian hậu cung với nhà tiền tế và hình trúc hóa long, tiên nữ ở trước cửa nhà tiền tế là những tác phẩm chạm khắc chi tiết,
kỹ thuật cao, phong cách tạo hình gần gũi với nghệ thuật ở đồng bằng Bắc
Bộ có phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII
2.5.4 Chùa Hoa Long: Đồ án chạm khắc gỗ đặc biệt đó là vách
thưng phía ngoài mặt trước chùa Hoa Long, là đồ án điển hình và đặc
Trang 13trưng cho nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỷ XVII ở Thanh Hóa với đầy
đủ nội dung đề tài vui chơi, lễ hội
2.5.5 Đền Lê Hoàn: Bộ vì trước hậu cung, phong cách nghệ thuật
TK XVIII, được phủ bởi các hình tượng rồng, hoa văn đao mác, trong
đó có hai hình tượng người được tạc ở vị trí trung tâm nói về “bảng rồng” (biểu tượng tiến sĩ) và “bảng hổ” (biểu tượng cử nhân) trong nhận thức “phi trí bất hưng”
2.5.6 Đền thờ Lý Thường Kiệt: Vì kèo “bắt quyết” ở đền nghệ
nhân đã chạm một bức hổ phù khá to, khối cao, rồng 5 móng, gây cho cảm giác choáng ngợp bởi vị trí của bức chạm này nằm ngay gian giữa tiền đường, phong cách nghệ thuật TK XIX
Tiểu kết
Nghệ thuật chạm khắc gỗ là một thành tố của kiến trúc Do nhiều lần trùng tu từng phần kiến trúc hư hại nên dẫn đến trong một di tích, nhiều nhóm di vật kiến trúc gỗ, thường phản ánh khác biệt về niên đại
Về niên đại chủ yếu dựa vào số liệu ghi trên Thượng lương, bia ký, gia phả… Tuy nhiên, nhiều di tích, di vật phải phân tích đoán định theo phong cách và kỹ thuật chạm khắc Nhiều di tích nhà Hậu cung và nhà Tiền đường là các nhóm phóng cách nghệ thuật khác nhau, do nhiều lần trùng tu, tôn tạo
Có 3 nhóm: (1) di tích còn đầy đủ các đơn nguyên kiến trúc như nhà tiền tế, hậu cung… phong cách nghệ thuật sớm (chùa Hoa Long; Bảng Môn Đình; đền Cả Đế Thích, hậu cung Trần Khát Chân); (2) các di tích
có phong cách nghệ thuật muộn cuối TKXVII, XVIII như đền Độc Cước, đền Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Khát Chân, đình Thượng Phú; (3) các di tích có phong cách nghệ thuật cuối TK XVIII, XIX như đình Đông Môn, đình Trung, nhà ông Hoàng Ngọc Quỹ và nhà ông Phạm Ngọc Tùng