Thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức Hợp tác Công Tư (PPP) vào ngành điện tại Việt Nam.Thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức Hợp tác Công Tư (PPP) vào ngành điện tại Việt Nam.Thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức Hợp tác Công Tư (PPP) vào ngành điện tại Việt Nam.Thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức Hợp tác Công Tư (PPP) vào ngành điện tại Việt Nam.Thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức Hợp tác Công Tư (PPP) vào ngành điện tại Việt Nam.Thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức Hợp tác Công Tư (PPP) vào ngành điện tại Việt Nam.
Trang 1THU HÚT Đ U T T NHÂN D ẦU TƯ TƯ NHÂN DƯỚI HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG Ư TƯ NHÂN DƯỚI HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG Ư TƯ NHÂN DƯỚI HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG Ư TƯ NHÂN DƯỚI HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNGỚI HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG I HÌNH TH C H P TÁC CÔNG ỨC HỢP TÁC CÔNG ỢP TÁC CÔNG
T (PPP) VÀO NGÀNH ĐI N T I VI T NAM Ư TƯ NHÂN DƯỚI HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG ỆN TẠI VIỆT NAM ẠI VIỆT NAM ỆN TẠI VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số:62.31.01.06 (mã số mới: 9310106)
TRẦN THANH PHƯƠNG
Trang 2Luận án được hoàn thành tại: Trường Đại học Ngoại thương
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Thị Kim Oanh
TS Nguyễn Thị Việt Hoa
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp trường
họp tại Trường Đại học Ngoại thương
Vào hồi giờ ngày tháng năm 20
Có thể tham khảo luận án tại Thư viện Quốc gia
và thư viện Trường Đại học Ngoại thương
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, năng lượng điện đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế cũng nhưđời sống tại tất cả các quốc gia trên thế giới Tại Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ điệnngày càng gia tăng do tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế Vì vậy, đầu tư pháttriển ngành điện đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất điện trở thành một trong những ưutiên hàng đầu trong chính sách đảm bảo an ninh năng lượng của Chính phủ ViệtNam Nguồn vốn đầu tư này trước đây thường đến từ khu vực công, tuy nhiên,nguồn vốn công đang ngày càng thu hẹp Vậy giải pháp đặt ra để giải quyết đượcnhu cầu vốn tăng mạnh ở ngành này chính là việc thu hút nguồn vốn tư nhân baogồm tư nhân trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của ngành điện đó là đòi hỏi nguồn vốn đầu
tư lớn, lợi nhuận thấp, rủi ro cao, thời gian hoàn vốn dài v.v do đó ít có nhà đầu tư
tư nhân muốn chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ một dự án đầu tư điện Chính vìvậy, hình thức đầu tư phối hợp cả khu vực công và tư hay hình thức PPP - hợp táccông tư (Public Private Partnership) sẽ là giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đềthiếu vốn cho ngành điện Hình thức PPP đã bắt đầu xuất hiện từ những năm 80 củathế kỷ XX và ngày càng được áp dụng phổ biến, thành công trong lĩnh vực pháttriển cơ sở hạ tầng tại hơn 50 quốc gia trên thế giới suốt gần bốn thập kỷ qua Hìnhthức này đã chứng tỏ được tính hiệu quả trong việc chia sẻ rủi ro, gánh nặng tàichính với chính phủ; tiết kiệm thời gian, chi phí; tận dụng kỹ năng chuyên môn vàchuyển giao công nghệ trong quá trình thiết kế, mua sắm, thi công, vận hành côngtrình; đổi mới việc cung cấp dịch vụ công cộng và góp phần cải thiện mạnh mẽ hệthống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
Như vậy, thu hút các nhà đầu tư tư nhân đầu tư vào ngành điện là nhiệm vụquan trọng đối với chính phủ Việt Nam trong thời gian tới để đáp ứng được nhu cầuđiện càng gia tăng cũng như tăng cường sự ổn định của hệ thống điện Đồng thời,hình thức PPP được xem là một giải pháp hợp lý để thu hút tư nhân đầu tư vào các
dự án điện tại Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng đầu tư tư nhân dướihình thức PPP trong ngành điện Việt Nam hiện nay và các nhân tố ảnh hưởng tớiviệc thu hút khối tư nhân đầu tư vào ngành điện dưới hình thức này là điều vô cùngquan trọng để đưa ra được những giải pháp phát huy tính hấp dẫn của các dự ánPPP trong ngành điện đối với các doanh nghiệp tư nhân Chính vì lý do đó, người
Trang 4viết đã lựa chọn đề tài “Thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức Hợp tác Công Tư
(PPP) vào ngành điện tại Việt Nam” làm đề tài luận án của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường thuhút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực phát điện dưới hình thức PPP dựa trên cơ sở xácđịnh các yếu tố ảnh hưởng tới ý định đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân vào các
dự án PPP sản xuất điện
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đó, luận án có những nhiệm vụ nghiêncứu sau: Thứ nhất, hệ thống hoá cơ sở lý thuyết về hình thức PPP, ngành điện vàcác nhóm nhân tố ảnh hưởng tới thu hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực phát điện dướihình thức PPP; Thứ hai, phân tích thực trạng ngành điện hiện nay ở Việt Nam vàphân tích thực trạng thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP trong lĩnh vực phátđiện; Thứ ba, phân tích thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến ý định đầu tư củadoanh nghiệp tư nhân đầu tư vào lĩnh vực phát điện dưới hình thức PPP tại ViệtNam; Thứ tư, xác định mức độ ảnh hưởng của những nhân tố này tới ý định đầu tưcủa nhà đầu tư tư nhân vào lĩnh vực phát điện dưới hình thức PPP; Thứ năm, dựatrên những phân tích về thực trạng thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP tronglĩnh vực phát điện tại Việt Nam và thực trạng phân tích định tính và định lượng cácnhân tố nghiên cứu, cùng kinh nghiệm của một số quốc gia, luận án đưa ra các đánhgiá về những thành công, hạn chế, từ đó đưa ra giải pháp nhằm tăng cường thu hút
tư nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực phát điện của Việt Nam dưới hình thức PPP
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động thu hút nhà
đầu tư tư nhân vào lĩnh vực phát điện Việt Nam dưới hình thức PPP và những yếu
tố ảnh hưởng tới hoạt động đó
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: luận án nghiên cứu cụ thể ở lĩnh vực phát điện và
những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đó Tác giả lựa chọn lĩnh vực phát điện vì
lý do như sau: ngành điện là một hệ thống gồm ba khâu phát điện, truyền tải vàphân phối điện Trong đó, ở Việt Nam, khâu truyền tải vẫn được giữ độc quyền nhànước để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia Khâu phân phối điện mới chỉ thíđiểm chính sách cạnh tranh vào năm 2017 và yêu cầu về vốn chưa thực sự lớn Chỉ
có khâu phát điện đang gặp khó khăn về vấn đề thiếu vốn và đã có sự tham gia củakhối tư nhân từ năm 1996 và chính thức cho thí điểm cạnh tranh từ năm 2011
Trang 5Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: luận án nghiên cứu tại Việt Nam, học hỏi
kinh nghiệm của Trung Quốc và Ấn Độ
Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian: luận án nghiên cứu từ năm 2011-2019, bởi
năm 2011 là năm bắt đầu thí điểm thị trường phát điện Việt Nam, là mốc thời gianquan trọng đánh dấu bước tái cơ cấu toàn bộ ngành điện Việt Nam Giải pháp củaluận án được đề xuất cho giai đoạn 2020-2030
5.Phương pháp luận nghiên cứu
Luận án tiếp cận từ góc độ các cơ quan quản lý của nhà nước trong việc hoạchđịnh chính sách thu hút nhà đầu tư tư nhân vào các dự án PPP trong lĩnh vực phátđiện Tiếp cận hệ thống cơ sở lý thuyết về thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thứcPPP vào lĩnh vực sản xuất điện tại Việt Nam Tiếp cận thực tế thông qua điều trakhảo sát nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định đầu tư củacác nhà đầu tư tư nhân vào các dự án PPP phát điện tại Việt Nam Nghiên cứu, đánhgiá thực trạng thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP vào lĩnh vực phát điện tạiViệt Nam Luận án được xác định là nghiên cứu kết hợp giữa loại hình nghiên cứu
mô tả và nghiên cứu kiểm định
6.Ý nghĩa của luận án
án PPP trong lĩnh vực phát điện
6.2 Đóng góp về thực tiễn
Nhờ những phân tích có cơ sở, luận án đưa ra được các giải pháp thực tế giúpChính phủ Việt Nam có thể thu hút được các doanh nghiệp tư nhân tham gia vàosản xuất điện dưới hình thức PPP để giải quyết vấn đề thiếu vốn và chia sẻ kỹ thuậtchuyên môn trong việc phát điện nhằm cung cấp một hệ thống điện ổn định hơn choViệt Nam
Nghiên cứu cũng sẽ là tài liệu tham khảo đáng tin cậy cho những ai quan tâm
Trang 6đến vấn đề PPP trong lĩnh vực điện, hay các phương pháp luận nghiên cứu về thang
đo và kiểm định mô hình nghiên cứu
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục phụ lục khác, luận án được trình bày theo 5 chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TƯ NHÂN DƯỚI HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG TƯ (PPP)
VÀO NGÀNH ĐIỆN
1.Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án
1.1 Tình hình nghiên cứu về thu hút đầu tư tư nhân vào ngành điện
Luận án đã tổng quan và chỉ ra kết quả nghiên cứu của một số nghiên cứu nướcngoài và trong nước liên quan đến tình hình thu hút đầu tư tư nhân vào ngành điện,trong đó phần lớn các nghiên cứu phân tích theo hướng xác định các nhân tố ảnhhưởng đến thu hút đầu tư tư nhân vào ngành điện Nổi bật là hai nhóm nhân tố: yếu
tố vĩ mô và yếu tố thuộc ngành điện
1.2Tình hình nghiên cứu về thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP
Luận án đã tổng quan và chỉ ra kết quả nghiên cứu của một số nghiên cứu nướcngoài và trong nước liên quan đến thu hút đầu tư tư nhân theo hình thức PPP ở cácngành khác nhau, trong đó hình thức PPP chủ yếu được sử dụng trong lĩnh vực cơ
sở hạ tầng Hai nhóm nhân tố được đề cập tới trong phần lớn các nghiên cứu lànhóm nhân tố vĩ mô và nhân tố thuộc dự án PPP
1.3 Tình hình nghiên cứu về thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP vào ngành điện
Luận án đã tổng quan và chỉ ra kết quả nghiên cứu của một số nghiên cứu nướcngoài và trong nước liên quan đến thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP vàongành điện Trong các nghiên cứu này, ba nhóm nhân tố ảnh hưởng chính đã đượcxác định đó là: nhóm nhân tố vĩ mô, nhân tố thuộc ngành điện và nhân tố thuộc dựán
1.3Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
Đánh giá chung
Như vậy có thể thấy, phần lớn hướng nghiên cứu từ các tác phẩm trên thế giới
và ở Việt Nam là tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút các doanh nghiệp tưnhân đầu tư vào ngành điện dưới hình thức PPP Đồng thời, xét riêng với nhóm nhà
Trang 7đầu tư nước ngoài, những yếu tố chi phối quyết định đầu tư của họ cũng tương đồngvới nhà đầu tư tư nhân nói chung Từ các nghiên cứu trên, luận án khái quát hoá hệthống các yếu tố chính ảnh hưởng tới hoạt động thu hút đầu tư tư nhân vào ngànhđiện dưới hình thức PPP theo ba nhóm nhân tố chính: nhân tố vĩ mô, nhân tố thuộcngành điện và nhân tố thuộc dự án.
Khoảng trống nghiên cứu
Từ những đánh giá về tổng quan tình hình nghiên cứu ở trên, có thể khẳngđịnh rằng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào phân tích cụ thể về thuhút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP trong ngành điện tại Việt Nam và các yếu tốảnh hưởng tới việc ra quyết định đầu tư tư nhân trong lĩnh vực phát điện dưới hìnhthức PPP Do đó tiếp cận theo hướng này là một hướng đi mới để tác giả nghiên cứuchuyên sâu nhằm đưa ra những giải pháp thu hút được các doanh nghiệp tư nhântham gia đầu tư vào ngành điện dưới hình thức PPP để thúc đẩy sự phát triển của hệthống điện Việt Nam
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH THỨC
HỢP TÁC CÔNG TƯ (PPP)
2.1 Tổng quan về hình thức PPP
2.1.1 Khái niệm
Tổng hợp từ các khái niệm trên thế giới, có thể hiểu Hợp tác công – tư là
Hợp đồng giữa cơ quan công và doanh nghiệp tư nhân, đồng ý chia sẻ trách nhiệm liên quan đến thực hiện, hoạt động và quản lý dự án Thông qua thỏa thuận này, các
kỹ năng và tài sản của từng khu vực công và tư được chia sẻ để cung cấp một dịch
vụ hoặc cơ sở cho việc sử dụng tài sản công nói chung Sự hợp tác được xây dựngtrên chuyên môn của mỗi đối tác để đáp ứng được nhu cầu xác định của cộng đồngthông qua việc phân bổ thích hợp: tài nguyên, rủi ro, lợi nhuận và trách nhiệm Cóthể hiểu PPP nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của các dự án cơ sở hạ tầng bằngphương tiện là sự hợp tác lâu dài giữa các khu vực công với các doanh nghiệp tưnhân
2.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, chủ thể tham gia hợp đồng hợp tác công – tư (PPP) gồm cơ quannhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư tư nhân Thứ hai, PPP là một cam kết hợptác dài hạn, một thỏa thuận pháp lý giữa khu vực công và khu vực tư nhân, nhằmhuy động nguồn lực từ khu vực tư nhân để tài trợ và kinh doanh các cơ sở hạ tầng
Trang 8vốn thuộc trách nhiệm của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường
từ 10 – 50 năm) Thứ ba, phân bổ hợp lý rủi ro mà mỗi đối tác nhà nước và đối tác
tư nhân phải gánh vác là vấn đề trung tâm và đặc điểm nổi bật nhất của mô hìnhPPP Thứ tư, PPP là một cách thức tài trợ dự án hiệu quả Thứ năm, mô hình PPPtận dụng, tích hợp được lợi thế của cả hai khu vực nhà nước và tư nhân trong cùngmột dự án Thứ sáu, chất lượng dịch vụ cung cấp từ các hợp đồng PPP được cảithiện đáng kể
2.1.3 Các hình thức thực hiện
Thứ nhất, về hợp đồng quản lý và hợp đồng vận hành và bảo dưỡng, đặcđiểm chung là cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cho phép nhà đầu tư/ doanhnghiệp tham gia vào việc quản lý các hoạt động trong khoảng thời gian ngắn (từ 2-5năm)
Thứ hai, trong hợp đồng giao thầu hoặc cho thuê, nhà đầu tư/ doanh nghiệpchịu trách nhiệm vận hành và bảo dưỡng dịch vụ và cơ quan nhà nước có thẩmquyền chịu các khoản đầu tư mới và đầu tư thay thế trong thời gian từ 8-15 năm
Thứ ba, nhượng quyền, hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (BOT)
và các hợp đồng tương tự có đặc điểm là đều tập trung vào sản phẩm đầu ra.Nhượng quyền cho phép nhà đầu tư/ doanh nghiệp (người được nhượng quyền)cung cấp toàn bộ dịch vụ trong một khu vực cụ thể, bao gồm việc điều hành, bảodưỡng, thu phí, quản lý, xây dựng và tu bổ hệ thống
Thứ tư, trong liên doanh, cơ sở hạ tầng cùng được sở hữu và điều hành bởikhu vực nhà nước và nhà điều hành tư nhân Trong một liên doanh, các đối tác nhànước và tư nhân có thể thành lập một công ty mới hoặc tiến hành liên doanh trongmột công ty đã có thông qua việc bán cổ phần cho một hoặc nhiều nhà đầu tư/doanh nghiệp
2.1.4 Một số cơ sở lý thuyết về PPP
Quan hệ giữa nhà nước và khu vực tư nhân đã thu hút sự chú ý của các nhànghiên cứu trong suốt thời kỳ phát triển kinh tế Đại diện của các trường phái tưtưởng kinh tế khác nhau đã có cách lý giải khác nhau về sự cần thiết và bản chất củamối quan hệ hợp tác giữa hai khu vực này Tuy nhiên, tất cả các trường phái đều cókết luận thống nhất về những lợi ích chung cho cả khu vực nhà nước, tư nhân và cả
xã hội khi có sự hợp tác giữa Nhà nước và Tư nhân Có thể kể tên một số học thuyếtkinh tế cơ bản đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của mối quan hệ hợp tác giữa Nhà
Trang 9nước và Tư nhân như: Kinh tế chính trị cổ điển, Chủ nghĩa Keynes, Chủ nghĩa Tân thể chế.
2.2 Tổng quan về ngành điện
2.2.1 Khái niệm
Ngành điện là một khái niệm gần gũi trong đời sống bởi sản phẩm của ngành này
xuất Hiện nay trên thế giới có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngành điện, tuy
nhiên, về bản chất đều như nhau Tóm lại, có thể hiểu, ngành điện bao gồm sản
xuất, truyền tải, phân phối điện và bán điện cho công chúng nói chung và các ngành công nghiệp điện nói riêng Các ngành công nghiệp điện là tổng hợp của tất
cả các ngành công nghiệp liên quan đến việc sản xuất và bán điện, bao gồm nhiên liệu khai thác, sản xuất, lọc và phân phối.
2.2.2 Đặc điểm
Thứ nhất, ngành công nghiệp điện có sản phẩm đặc biệt là điện năng: đây là
sản phẩm hầu như không có khả năng lưu trữ Thứ hai, ngành công nghiệp điện có mạng lưới điện rộng lớn được liên kết chặt chẽ với nhau Thứ ba, ngành công nghiệp điện đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn.
2.2.3 Cấu trúc
Ngành điện là một chuỗi hoạt động gồm ba khâu chính: Sản xuất điện (Phátđiện) – Truyền tải điện – Phân phối điện Trong đó, khâu phát điện có sự tham gia
đa dạng các nhà đầu tư nhất
2.2.4 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư trong ngành điện
Cơ cấu nguồn vốn đầu tư trong ngành điện thường đến từ hai nguồn:
từ quỹ Hỗ trợ phát triển Chính thức ODA
Nguồn vốn tín dụng thương mại trong nước, Nguồn vốn đầu tư tư nhân (bao gồmNguồn vốn tự có của doanh nghiệp điện và Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài)2.3 Thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP trong ngành điện
2.3.1 Quan niệm về thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP trong ngành
điện
NCS đề xuất khái niệm như sau: Thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP vàongành điện là hoạt động kéo các nhà đầu tư tư nhân tham gia đầu tư vào các dự án
Trang 10PPP trong ngành điện nhờ vào sự hấp dẫn của các dự án này, từ đó làm cho khu vực
tư nhân hình thành nên ý định đầu tư
2.3.2 Sự cần thiết thu hút đầu tư tư nhân vào ngành điện
Thứ nhất, sự tái thiết ngành điện theo xu thế cạnh tranh là xu hướng toàn cầu Thứ hai, các dự án của các ngành xây dựng hạ tầng cơ sở nói chung và ngành điện nói
riêng thường đòi hỏi lượng vốn đầu tư khổng lồ vượt quá nguồn ngân sách hữu hạn
của Nhà nước Thứ ba, thu hút tư nhân vào ngành điện giúp tận dụng được những
kỹ năng, công nghệ hiện đại và tính hiệu quả của khu vực tư nhân Rủi ro được chia
sẻ giữa những đối tác khác nhau Thứ tư, cùng với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội
nhanh, nhu cầu điện tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô và có sự chuyển dịch trong cơcấu tiêu thụ do ảnh hưởng của sự phát triển của nhóm khách hàng công nghiệp.2.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP trong ngành điện
2.3.3.1Các yếu tố vĩ mô
a Khung pháp lý
Các nghiên cứu của Boyfield (1992), Stein (1995), Qiao (2001), Young (2009) đềucho rằng để thu hút các nhà đầu tư vào các dự án PPP, cần hoàn thiện khung pháp lýđầy đủ, tạo sự thuận lợi cho nhà đầu tư Môi trường pháp lý tốt không chỉ tạo ấntượng tốt cho các nhà đầu tư xem xét đầu tư vào một khu vực, quốc gia mà còn tạolợi thế cạnh tranh đáng kể cho khu vực, quốc gia đó so với những địa điểm đầu tưkhác Đặc biệt, đối với ngành điện, một ngành còn đang chịu nhiều ràng buộc vềphân chia khu vực công, tư, việc hoàn thiện một khung pháp lý hợp lý đóng vai tròrất quan trọng Môi trường pháp lý có thể hấp dẫn được các nhà đầu tư phải có đầy
đủ các yếu tố sau:
Thứ nhất, các quy định về đầu tư của một nước phải thể hiện được rằng các nhà đầu
tư được tạo điều kiện để tiếp cận thị trường một cách dễ dàng nhất
Thứ hai, quan trọng nhất đó là các quy định về hợp tác công tư PPP Mặc dù ADB
đã đưa ra các quy tắc chung cho các nước khi xây dựng khung pháp lý cho mô hìnhhợp tác công tư, song tùy từng điều kiện cụ thể sẽ có những quy định khác biệt phùhợp với hoàn cảnh mỗi nước
Thứ ba, các ưu đãi và hỗ trợ trong chính sách của Chính phủ cũng là một điều kiện
khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực đầu tư theo hình thức hợp táccông tư PPP
Trang 11b Tình hình kinh tế vĩ mô
Điều kiện kinh tế vĩ mô tại khu vực mà dự án đầu tư được triển khai đóng vai tròquan trọng trong việc quyết định sự hài lòng của các nhà đầu tư (Mansoor Dailami andMichael Klein, 1997) Đối với ngành điện, dựa vào việc các chỉ số GDP, tốc độ tăngtrưởng thị trường ở mức cao và ổn định có thể hình dung ra một thị trường tiềm năng,
có nhu cầu tiêu thụ điện lớn hằng ngày để phục vụ cho các nhu cầu của cá nhân cũngnhư các nhu cầu sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội
2.3.3.2Các yếu tố thuộc ngành điện
a Các nguồn lực kinh tế của ngành
Tareq Mahbub (2019) khẳng định các nguồn lực kinh tế như nguyên vật liệu vànền tảng cơ sở hạ tầng cũng là các yếu tố giúp thu hút các nhà đầu tư Đây là nguồncung cấp các yếu tố đầu vào cho không chỉ các dự án hợp tác công tư mà còn chobất kì một dự án đầu tư nào
b Cấu trúc thị trường điện
Rubino (2014), Song (2018) khẳng định mức độ cạnh tranh của ngành điện cũngquyết định việc khu vực tư nhân có tham gia đầu tư vào ngành này không Nhiềuquốc gia trên thế giới đã từng hoặc đang gặp phải tình trạng độc quyền của mộthoặc một số doanh nghiệp chủ chốt trong ngành điện, cản trở việc đầu tư tư nhânvào ngành này Do đó, việc xây dựng thị trường điện cạnh tranh bước đầu tạo đượcmôi trường cạnh tranh công khai, bình đẳng giữa các đơn vị tham gia và có hiệuứng tích cực thu hút vốn đầu tư
2.3.3.3Các yếu tố thuộc dự án
a Lợi nhuận dự án (giá điện)
Để thu hút nhà đầu tư tư nhân cho các dự án đầu tư hợp tác công tư PPP ngànhđiện, giải pháp chính vẫn là thông qua chính sách giá (Blackman và Wu, 1998;EMPEA, 2015) Một khi giá điện phù hợp, các nhà đầu tư trong ngành điện đảmbảo có lợi nhuận hợp lí, đương nhiên các dự án điện sẽ có đủ sức hấp dẫn, thu hútđầu tư trong và ngoài nước, khu vực nhà nước cũng như tư nhân Ngoài ra, chínhsách giá điện hợp lí còn góp phần giải quyết lâu dài những khó khăn về vốn, từ đóđảm bảo an ninh cung ứng năng lượng nói chung và cung ứng điện nói riêng chophát triển kinh tế - xã hội của đất nước
b Cơ chế phân bổ đảm bảo rủi ro trong dự án PPP
Cơ chế đảm bảo rủi ro hiệu quả cho khối tư nhân trong các dự án đầu tư hợp
Trang 12tác công tư PPP nói chung và đầu tư hợp tác công tư PPP ngành điện nói riêng lànhân tố quan trọng để đạt được thành công của dự án, từ đó thu hút khối tư nhânvào các dự án PPP sản xuất điện (Blackman và Wu, 1999; Tingting Liu, 2016) Cơchế này làm việc trên cơ sở phân bổ rủi ro cho các bên trong hợp đồng và quản lýrủi ro một cách hợp lý Mục tiêu của việc phân bổ rủi ro là để cải thiện chất lượngdịch vụ; giảm chi phí dài hạn của một dự án bằng cách phân bổ rủi ro cho bên tốtnhất có thể để quản lý một cách hiệu quả nhất về chi phí; chắc chắn về thời gian;tăng doanh thu và tăng hiệu quả đầu tư thông qua hoạt động hiệu quả.
2.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư tư nhân nước ngoài dưới hình thức PPP trong ngành điện
Ngoài những đặc điểm chung ở trên, các nhà đầu tư nước ngoài bị chi phốithêm bởi vài đặc điểm riêng của quốc gia chính nước họ như: GDP bình quân đầungười, trình độ khoa học công nghệ,… Một số yếu tố khác cũng có ảnh hưởng tớinhà đầu tư nước ngoài như: khoảng cách địa lý hay nét tương đồng văn hóa giữa haiquốc gia
2.4 Kinh nghiệm thu hút đầu tư tư nhân dưới hình thức PPP vào ngành điện của một số quốc gia
Thứ tư, hoạt động giám sát dự án PPP trong ngành điện được triển khai chặt chẽ và
được quản lý theo hai cấp: cấp TW và cấp tỉnh, thành phố, nhờ đó, quy chế về PPPđược thay đổi linh hoạt theo điều kiện của từng địa phương
2.4.2 Ấn Độ
Luận án giới thiệu chung về tình hình tăng trưởng của các dự án PPP tronglĩnh vực phát điện tại Ấn Độ Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam đó là:
Thứ nhất, chính quyền trung ương Ấn Độ đã chủ động xây dựng, hoàn thiện cơ chế
chính sách và các công cụ hướng dẫn triển khai mô hình này trong ngành Thứ hai,
việc ban hành hồ sơ PPP mẫu xác định rõ ràng vai trò của các bên tham gia trong dự
án PPP, vấn đề phân bổ rủi ro và thu hồi bù đắp chi phí cho thấy sự minh bạch, cẩn
Trang 13trọng khi thiết kế hợp đồng PPP Thứ ba, chính phủ Ấn Độ đã đưa ra những chính
sách hỗ trợ mang tính ưu đãi rất lớn cho nhà đầu tư tư nhân
CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ
3.1 Quy trình nghiên cứu
3.1.1 Khái quát sơ đồ quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu của luận án bao gồm 6 bước, đó là: xác định mục tiêunghiên cứu, thu thập và tổng quan tài liệu, thu thập dữ liệu nghiên cứu, nghiên cứu
sơ bộ, nghiên cứu chính thức, và báo cáo kết quả nghiên cứu
3.1.2 Các bước trong tiến trình nghiên cứu của luận án
Luận án giải thích rõ các hoạt động, mục đích của từng bước trong tiến trìnhnghiên cứu của luận án
3.2 Các phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu
3.2.1 Các phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập qua phương pháp nghiên cứu tại bàn bằngcách rà soát các dữ liệu từ các nguồn dữ liệu đã được công bố Bao gồm Báo cáongành Điện của các doanh nghiệp như EVN, FPT, Vietcombank,… hay từ cơ sở dữliệu của doanh nghiệp điều tra thị trường MarketLine, báo của Viện nghiên cứu chínhsách và phát triển truyền thông Ngoài ra, luận án cũng sử dụng các dữ liệu thu thập từNgân hàng thế giới, Tổng cục thống kê, Bộ Công Thương, qua các năm từ 2011 đến
2019 về tình hình dự án PPP phát điện, và các số liệu khác để đánh giá về các nhân tốảnh hưởng tới thu hút nhà đầu tư tham gia vào các dự án PPP phát điện
3.2.2 Các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp của luận án được sử dụng thông qua phương pháp phỏng vấnchuyên gia và điều tra bảng hỏi
3.2.2.1 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia nhằm đánh giá các nội dung (các nhân tốảnh hưởng) và các thang đo (câu hỏi) để phục vụ cho nghiên cứu định lượng chínhthức, cũng như đánh giá sơ bộ về ý định đầu tư của các nhà đầu tư tư nhân vào các
dự án PPP phát điện Kết quả phỏng vấn: loại bỏ yếu tố Cấu trúc thị trường điện rakhỏi mô hình nghiên cứu thực nghiệm
3.2.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi