Nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.Nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.Nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.Nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.Nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.Nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.Nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.Nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ NHƯ THÚY
NGHỆ THUẬT TUYÊN TRUYỀN
TRONG VĂN CHÍNH LUẬN CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9220121
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2022
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong hệ thống trước tác phong phú, đồ sộ của Hồ Chí Minh, văn chính luận có một
vị trí đặc biệt, đóng vai trò to lớn trong việc tác động vào hiện thực cuộc sống và thểhiện những tư tưởng chính trị – nhân văn quan trọng, có liên quan đến vận mệnhtoàn dân tộc và số phận của mỗi con người Việt Nam trong thời đại cách mạng vôsản và trào lưu đấu tranh giải phóng dân tộc Qua những tác phẩm chính luận được
Hồ Chí Minh viết ra trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, độc giả cóthể nhận thấy sự hiện diện của một phong cách tuyên truyền – thuyết phục hết sứcđặc sắc, cần phải được nghiên cứu một cách sâu rộng hơn trên cơ sở những dữ liệumới và cách tiếp cận mới
1.2 Nhìn tổng thể, văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thực sự độc đáo,
biểu hiện sinh động nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh với bút pháp đa dạng, lập luậnchặt chẽ, luận điểm tường minh, lí lẽ sắc sảo, luận cứ thuyết phục, hình ảnh gây ấntượng, giọng điệu biến hóa, diễn đạt ngắn gọn, súc tích Chính những điều này đãlàm nên khả năng lôi cuốn đặc biệt của của nó đối với người tiếp nhận Như vậy, disản văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là giá trị tinh thần quý báutrong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, cần được tiếp tục đánh giá trên tinh thầnkhách quan, khoa học để thế hệ hôm nay có thể xác định được hướng kế thừa đúngđắn
1.3 Di sản văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn mang
đậm tính thời sự Các tác phẩm của Người không chỉ có giá trị lịch sử, chứa đựngnhững tư tưởng lớn mà còn tồn tại như những mẫu mực của nghệ thuật viết vănchính luận vốn đề cao nội dung và phương thức thuyết phục, tuyên truyền Bởi vậy,rất cần phân tích, chỉ ra những đặc sắc của nghệ thuật tuyên truyền ở bộ phận di sảnnày, nhằm rút ra bài học đối với công tác tuyên truyền cách mạng bằng hình thứcngôn từ – văn học Hiện nay, trong chương trình môn Ngữ văn ở các cấp học phổthông, văn chính luận hết sức được coi trọng, do đó, việc tìm hiểu sâu văn chính luậncủa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn có ý nghĩa cung cấp, củng cố những tri thứcchung về thể văn này cho giáo viên và học sinh
Đó là những lý do cơ bản thúc đẩy chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài
Nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.
Trang 32 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài luận án đã xác định, đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi ở côngtrình này là nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án đi sâu tìm hiểu hệ thống các phương thức thuyết phục đối tượng tiếp nhận thểhiện trong toàn bộ văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh (được tập hợp và in
trong Hồ Chí Minh toàn tập gồm15 tập, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011), đồng
thời cũng chú ý phân tích một số vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận về mối quan hệ giữa tácgiả – tác phẩm – độc giả được đặt ra từ đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án hướng tới việc làm rõ và khẳng định những đóng góp mang tính đặc thù củavăn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, từ đó, rút ra các bài học kinh nghiệm bổ íchcho công tác tuyên truyền, vận động cách mạng bằng các phương tiện ngôn từ trong bối cảnhthời đại và đời sống đất nước hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nhìn nhận bao quát về tình hình nghiên cứu nghệ thuật tuyên truyền trongvăn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và xác lập cơ sở lý thuyết cho quá trìnhtriển khai các nội dung học thuật, luận án của chúng tôi hướng đến thực hiện các nhiệm vụ cụthể:
– Hệ thống hóa, thống kê, phân loại văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và chỉ
ra tính lịch sử, giá trị tuyên truyền của mảng trước tác này
– Phân tích các đặc điểm nội dung và hình thức của văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ ChíMinh qua các thời kỳ, giai đoạn lịch sử cụ thể theo hướng làm rõ hiệu quả tác động của chúngtrong sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc
– Rút ra các bài học về cách viết văn chính luận, cách nâng cao sức mạnh tuyên truyền của thểvăn này
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ khoa học nêu trên, luận án sử dụng phối hợpnhiều phương pháp nghiên cứu, đặc biệt là các phương pháp sau đây:
– Phương pháp loại hình: Phương pháp cho phép người nghiên cứu khảo sát,
Trang 4tìm hiểu, đánh giá văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh như một đối tượngchuyên biệt, phân biệt nó với các thể loại sáng tác khác thuộc văn xuôi hư cấu và phi hư cấu.
– Phương pháp tiểu sử: Phương pháp hỗ trợ người nghiên cứu chứng minh sự thống nhất cao độ
giữa đặc điểm con người Hồ Chí Minh với những điều được Người viết ra trong suốt cuộc đờihoạt động cách mạng của mình, đồng thời, cũng chứng minh được cội nguồn sức thuyết phụclớn lao từ những trang văn chính luận ấy
– Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học
nói chung, vừa hướng tới phân tích, minh chứng đối tượng cụ thể vừa xác định những đặc điểmchung, cho phép người nghiên cứu đưa ra được những luận điểm có căn cứ xác đáng, dựa trênviệc xử lý khối lượng dữ liệu phong phú và phức tạp
– Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Luận án tìm hiểu văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ
Chí Minh như một tiểu hệ thống trong hệ thống trước tác mà Người để lại, đồng thời cũng phântích các yếu tố của tiểu hệ thống này như một cấu trúc với những quan hệ chặt chẽ
– Phương pháp so sánh, đối chiếu: Với phương pháp này, người nghiên cứu có điều kiện chỉ ra
được sự biến đổi linh hoạt và đầy hiệu quả trong nghệ thuật tuyên truyền của văn chính luậnNguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh mỗi khi đối tượng vận động, tuyên truyền thay đổi
– Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp này một mặt giúp chỉ ra được cội nguồn
văn hóa của văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, mặt khác, cũng giúp ngườinghiên cứu thấy rõ sự chi phối của các điều kiện chính trị, xã hội phức tạp mang tính thời đạiđối với những sản phẩm ngôn từ cụ thể được tác giả hoàn thành trong những thời điểm khácbiệt của cuộc đấu tranh cách mạng nhằm giải phóng dân tộc và xác định con đường phát triểncủa đất nước
5 Đóng góp mới của luận án
Luận án xác định được rõ ràng các nhân tố làm nên một phong cách tuyên truyền, thuyếtphục đặc thù của văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – điều mà phần lớn côngtrình nghiên cứu trước đây chưa chú ý khảo sát, đánh giá với tư cách là đối tượng chuyên biệt.Luận án cũng chú ý chỉ ra và phân tích toàn diện những phương thức nghệ thuật được tác giả
Hồ Chí Minh sử dụng trong văn nghị luận của
Trang 5mình nhằm đạt mục đích thuyết phục từng đối tượng tiếp nhận cụ thể.
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án được triển
khai trong 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài và tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Nhận diện và định vị di sản văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí MinhChương 3: Đặc tính tuyên truyền trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh xét từ phương diện nội dung
Chương 4: Đặc tính tuyên truyền trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh xét từ phương diện nghệ thuật
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số giới thuyết về văn chính luận
1.1.1 Khái niệm văn chính luận
Do chịu sự chi phối của khoa học chính trị và tính thời sự, văn chính luận trực tiếp đềcập những vấn đề chính trị, bàn về những vấn đề đời sống nóng hổi, thiết thân với nhiều ngườinên được đông đảo đối tượng công chúng quan tâm Trong văn chính luận không chỉ có cácvấn đề đời sống mà còn có những giải pháp nhằm giải quyết vấn đề được nêu lên một cách
sáng rõ Từ điển thuật ngữ văn học, Từ điển Văn học (bộ mới) được viết bởi các tác giả Việt Nam, Từ điển bách khoa văn học của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô cũng như nhiều giáo trình Lý luận văn học được dùng phổ biến ở các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam hiện nay
gần như đều thống nhất nhìn nhận như vậy
1.1.2 Tính chức năng của văn chính luận
Nhiều chuyên khảo về văn nghị luận (nhất là văn nghị luận thời trung đại) đã đi đếnmột nhận thức chung: Văn chính luận luôn gắn liền với đời sống văn hóa chính trị, xã hội củađất nước, thời đại, do đó, người viết phải vận dụng những quy luật, khái niệm, thuật ngữ củakhoa học chính trị và phải xác định được một lập trường chính trị nhất định Mặt khác, vănchính luận luôn bàn đến những vấn đề thời sự nóng bỏng, vấn đề cấp thiết của cộng đồng,được nhiều người quan tâm, không chỉ để phản ánh
Trang 6mà còn để đưa ra những giải pháp nhằm giải quyết vấn đề một cách kịp thời Chính ở đây,người viết phải thể hiện được giác quan nhạy bén của mình trước thời cuộc và có ý thức thamgia vào giải quyết những vấn đề nóng do cuộc sống đặt ra.
1.1.3 Tính thẩm mỹ đặc thù của văn chính luận
Khi nghiên cứu vấn đề này, nhà nghiên cứu lý luận Phương Lựu đã viết: “Riêng khảnăng chuyển hóa từ một văn bản chính luận thành tác phẩm văn học, có thể thấy từ những mặtsau: Trước hết, xét về cảm hứng của chủ thể được biểu hiện trong bài văn chính luận Ngườiviết văn chính luận, dĩ nhiên trước hết là để thông tin lí lẽ, bàn bạc vấn đề, nhưng với tất cảnhiệt tình bảo vệ chân lý mà mình theo đuổi Lí trí, lí luận, lĩ lẽ ở đây đã đến độ nhuần nhuyễn,chín mùi, gắn bó chặt chẽ hoặc chuyển hóa thành tình cảm Và bài văn chính luận, do đó, đãtiếp cận qui luật của nghệ thuật” Cách nhìn nhận nói trên nhìn chung rất gần gũi với cách nhìnnhận của nhiều tác giả khác về vấn đề này, do vậy, nó có một ý nghĩa đại diện nhất định
1.1.2 Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính
luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
1.1.2.1 Trách nhiệm xã hội người cầm bút
Cũng như nhiều nhà yêu nước và cách mạng khác, Hồ Chí Minh luôn xác định rõtrách nhiệm của người cầm bút Người thường nhấn mạnh quan điểm lấy ngòi bút làm vũ khíđấu tranh, vừa vạch mặt tố cáo chế độ phong kiến, thực dân, kẻ xâm lược, vừa truyên truyền,giác ngộ quần chúng, động viên toàn dân dốc sức lao động kiến thiết cuộc sống mới và hănghái đấu tranh vì sự nghiệp thống nhất đất nước
1.1.2.2 Mối quan hệ giữa nghệ thuật và tuyên truyền
Với cả tư cách tác giả và vị thế người chỉ đạo văn nghệ, Hồ Chí Minh thường xuyên xácđịnh và yêu cầu tác phẩm (cả văn chương hư cấu và chính luận tuyên truyền) đều phải đảm bảo100% về nội dung và 100% về nghệ thuật, nghĩa là không thiên vị bên nào, tất cả đều phảihướng đến tác phẩm đạt chất lượng cao Không những thế, Người nhiều lần nêu bài học kinhnghiệm của bản thân trong việc trau dồi cách viết và phê phán lối viết cầu kỳ, lan man “dây càdây muống”
1.1.2.3 Sự thống nhất giữa phẩm chất nhà cách mạng và phẩm chất người nghệ sĩ ở Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
Suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn thể hiện phẩm chất của một con người giàu sangkhông thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất
Trang 7phục Trong buổi tiếp phái đoàn Phật giáo Việt Nam vào thăm tại Phủ Chủ tịch, Hồ Chí Minh
nói: “Tôi cũng học Phật và nhớ được một câu: Mình không vào địa ngục cứu chúng sinh thì ai vào?” Lời đại nguyện của Hồ Chí Minh thể hiện mong ước của Người: “Tôi chỉ có một ham
muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàntoàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Đó cũng chính làlòng “từ bi” mà Đức Phật dạy Lòng từ bi đó thể hiện nhất quán trong con người, trong cuộcđời Hồ Chí Minh, từ lời nói đến việc làm, từ thuở bôn ba hải ngoại tìm đường cứu dân, cứunước, đến khi Người đã trở thành Chủ tịch nước
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính
luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
1.2.1.Nghiên cứu về giá trị bao trùm của văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí
Minh
Đã có không ít ý kiến bình luận của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu lịch
sử về một số tác phẩm như Tuyên ngôn Độc lập, Di chúc Một số ý kiến các nhà Việt học ở
nước ngoài bàn về văn chính luận Hồ Chí Minh với những liên hệ, nhận xét, đánh giá đặt trongtương quan chung với toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng cũng như sự nghiệp văn thơ củaNgười Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu: E Sécnơ (Đức), J Buđaren (Pháp), N.Khơrútxôp (Nga), M Lômbácđô (Mêhicô), S.A Phonin và E Kobelev (Nga), Thinaung(Mianma), L Ogungieran (Mông Cổ), Đ Cheerrixian (Cu Ba) v.v…
Có thể kể một số công trình nghiên cứu và các ý kiến nhấn mạnh đặc tính tuyên truyềntrong văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh Đó là Hải Triều Lê (Biên soạn,
2007) với Hồ Chí Minh - Sự hội tụ tinh hoa tư tưởng đạo đức nhân loại, Nxb Văn hóa - Thông tin; Trần Quân Ngọc (2013) với Bác Hồ với bạn bè quốc tế, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh; Starôbin (2003) với “Gương chính nghĩa là đạo đức”, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh:
Về tác gia và tác phẩm (Nguyễn Như Ý tuyển chọn, giới thiệu) Nxb Giáo dục; J Stern (1985) với Bác Hồ như chúng tôi đã biết (Trần Đương ghi), Nxb Thanh niên v.v…
1.2.2 Nghiên cứu về đặc tính tuyên truyền trong văn chính luận Nguyễn
Ái Quốc – Hồ Chí Minh
Những nhà chính trị, học giả, nhà nghiên cứu có công trình tiêu biểu về đề tài này làPhạm Văn Đồng, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Văn Giàu, Phạm Huy Thông, Hoài
Trang 8Thanh, Hoàng Xuân Nhị, Vũ Khiêu, Trương Chính, Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Ngọc Hiến, PhùngVăn Tửu, Nguyễn Nghiệp, Hà Minh Đức, Thành Duy, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đức Nam,Phong Lê, v.v… Có thể nói Nguyễn Đăng Mạnh là một trong số những nhà nghiên cứu đã thực
sự đề xuất các vấn đề giàu ý nghĩa phương pháp luận đối với nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh.Ông đã chứng minh được cái hay đặc thù của loại văn tuyên truyền, cổ động trong sự nghiệpsáng tác phong phú của Hồ Chí Minh
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về thơ văn Hồ Chí Minh xem ra có phầntrầm lắng Chính thực tế này đã cho thấy tính bức thiết của việc soi xét giá trị trước tác củaNgười trên một tinh thần mới với những dữ kiện mới do sự tiến bộ của khoa học văn học đưalại
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở mô tả, phân tích, xác định kết quả, thành tựu nghiên cứu văn chính luậnNguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cả ở trong nước và nước ngoài trong suốt một thế kỷ qua,luận án xác định cơ sở lý luận nghiên cứu văn chính luận, kế thừa thành tựu của thế hệ đi trước
và vận dụng lý thuyết tự sự học, nhận thức mới về đặc tính “liên văn bản” nhằm nhấn mạnhđặc điểm, kết cấu, giọng điệu ngôn ngữ nghệ thuật tuyên truyền trong văn chính luận củaNguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
Chương 2 NHẬN DIỆN VÀ ĐỊNH VỊ DI SẢN VĂN CHÍNH LUẬN NGUYỄN
ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH
2.1 Di sản văn chính luận trong văn học Việt Nam thời trung đại
2.1.1 Văn chính luận từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVIII
Nói tới tác phẩm văn chính luận thời Lý - Trần, có thể kể đến Chiếu dời đô của Lí Thái
Tổ, Phạt Tống lộ bố văn của Lí Thường Kiệt, Dụ chư tì tướng hịch văn (hay còn được người đời sau gọi là Hịch tướng sĩ) của Trần Quốc Tuấn.
Bước sang thế kỷ XV, đáng nói trước hết là Quân trung từ mệnh tập gồm 62 văn kiện, thư từ do Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi viết gửi các tướng lĩnh nhà Minh và Bình Ngô đại cáo –
một tác phẩm chính luận được hậu thế đánh giá là “thiên cổ hùng văn”
Ở giai đoạn thế kỷ XVI – XVIII, Ngô Thì Nhậm (1746-1803) là tên tuổi nổi bật nhất vềvăn chính luận
Trang 92.1.2 Văn chính luận thế kỷ XIX
Trong bối cảnh Pháp xâm lược, dưới triều vua Tự Đức, các tác phẩm nghị luận, chínhluận của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch nêu yêu cầu canh tân đất nước trong cuộc vachạm, đối đầu với sức mạnh tư bản Pháp và phương Tây
2.2 Văn chính luận trong thời đại giải phóng dân tộc và cách mạng
2.2.1 Sự đa dạng về tư tưởng chính trị
Dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đã có những thayđổi lớn về mọi mặt, với sự tương tranh của nhiều luồng tư tưởng Phong trào đấu tranh giảiphóng dân tộc phát triển mạnh mẽ theo sự dẫn dắt của nhiều lí tưởng cách mạng khác nhau.Chính bối cảnh này đã tác động sâu sắc vào sáng tác ngôn từ, khiến nó không còn có vẻ thuầnnhất như những thời kỳ trước Thật tự nhiên khi văn chính luận cũng in đậm dấu ấn đó của thờiđại Điều này có thể nhận thấy rõ qua tác phẩm của những người đứng ở những vị trí khác nhautrong xã hội, có những quan điểm nhìn nhận khác nhau về tương lai, vận mệnh của nước nhà
2.2.2 Những hình thức thể hiện mới
Về thể loại, văn chính luận Việt Nam hiện đại đã dần thoát khỏi được các thể loại hịch,cáo, chiếu, biểu hướng đến các tác phẩm gắn liền với báo chí Tuy nhiên lực lượng sáng tácthể loại này không nhiều so với thành tựu sáng tác hình tượng, hư cấu
Về ngôn ngữ sáng tác, văn chính luận giai đoạn giai đoạn đầu thế kỷ XX đã không cònchịu sự tác động của văn tự cổ Trung Hoa Chữ Quốc ngữ và văn hóa phương Tây đã có cuộclấn sân và thay thế ngôn ngữ, phương thức sáng tác trước đó Nhiều văn bản chính luận giaiđoạn này được viết bằng tiếng Pháp, đăng trên một số báo, tạp chí nước ngoài
2.3 Di sản văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
2.3.1 Văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ góc nhìn định
lượng
Theo Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập), trong tổng số 3.300 tác phẩm viết từ 1910
đến 1969, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã viết 228 bài văn chính luận đề cập những vấn
đề chung của đất nước, trong đó có 129 bài cho ngành giáo dục
Hồ Chí Minh ký 174 bút danh khác nhau dưới các tác phẩm chính luận, trong khi đó, sốlượng bút danh gắn với truyện ký và thơ thì lại rất hạn chế
Trang 10Hướng cái nhìn định lượng về phương tiện, hình thức lưu truyền, phổ biến, có thể thấyvăn chính luận Hồ Chí Minh có mặt trên nhiều loại báo, tạp chí, sách, công văn, thư ngỏ, thưtrả lời, thư thăm, điện thư; báo cáo, lời kêu gọi, chúc mừng, cổ động, ý kiến ngắn; phân tích,nhận xét, tiểu luận, bình luận, bài nói chuyện, bài dịch, lược dịch Ít có loại sáng tác nào sánhđược với khả năng phổ cập, lan tỏa như văn chính luận Hồ Chí Minh trên nhiều loại báo chítrong và ngoài nước Điều này cho thấy vốn tri thức sâu rộng, khả năng ứng chiến linh hoạttrước các loại báo và yêu cầu mỗi loại chủ đề, mỗi đối tượng tuyên truyền và trình độ, sở thíchbạn đọc khác nhau.
2.3.2 Văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh qua hai giai
đoạn hoạt động cách mạng Giai đoạn 1911 – 1941
Văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc được viết ra trong giai đoạn này đều hướng đếnmục đích phanh phui những mặt trái của chế độ thực dân, chính sách khai hóa thuộc địa, sốphận người lao động ở bản xứ và chính quốc; đồng thời là các báo cáo, thư yêu cầu, đề xuất vềđường lối cách mạng Việt Nam, Đông Dương, khu vực châu Á, phong trào giải phóng dân tộc
và cách mạng vô sản thế giới nói chung Điểm nhấn ở đây là mối quan tâm và sự mở rộng diệnquan sát, phản ánh trong văn chính luận Hồ Chí Minh về số phận các thuộc địa từ An Nam đếnĐông Dương và châu Á, cho đến việc điểm danh các thuộc địa vùng Tân thế giới, lục địa Đen,châu Phi và Mỹ La tinh
Sau thời gian ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc bôn ba qua nhiều quốc gia khác nhau gồm cónước Nga, Trung Quốc, Thái Lan… Trong thời gian này, Hồ Chí Minh viết khoảng trên dưới
200 bài báo chính luận Các bài chính luận chủ yếu là báo cáo chính trị, báo cáo các sự kiện xãhội, báo cáo tình hình nông dân và nhấn mạnh phong trào cách mạng ở Trung Quốc và ViệtNam với Quốc tế Cộng sản
Giai đoạn 1941 – 1969
Theo Hồ Chí Minh toàn tập, từ tập 3 đến tập 15, xuất bản năm 2011, trong thời gian 28
năm (1941 – 1969), Hồ Chí Minh đã viết khoảng trên dưới 2500 tác phẩm chính luận Do cộngtác với nhiều báo, viết với nhiều mục đích, nhiều vấn đề, phục vụ nhiều đối tượng cũng như vớinhiều cách thức thể hiện khác nhau nên Người sử dụng khoảng 90 trên tổng số 175 bút danh
Khác với giai đoạn đầu chủ yếu viết bài bằng tiếng nước ngoài, giai đoạn này Hồ ChíMinh chủ yếu viết văn chính luận bằng tiếng Việt và in trên các loại báo chí
Trang 11trong nước Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm viết bài cho báo Nhân dân (Cơ quan Trung ương
của Đảng Cộng sản Việt Nam) Trải qua 18 năm (1951 – 1969), Hồ Chí Minh đã đăng 1.206
bài viết trên báo Nhân dân với 23 bút danh.
Việc định lượng, nghiên cứu so sánh các tác phẩm văn chính luận Hồ Chí Minh trước vàsau năm 1941 cho thấy ở giai đoạn trước tác giả dùng nhiều bút danh ngoại quốc, nghiêng về
đề cập những vấn đề đấu tranh tầm quốc gia, dân tộc, quốc tế, phần nhiều được viết bằng tiếngnước ngoài, không được lưu truyền công khai, thậm chí cần bảo mật; thì ở giai đoạn sau, Ngườithường dùng các bút danh quen thuộc trong một số chuyên đề, chuyên mục, tập trung bàn vềcác vấn đề nội bộ, cụ thể trong nước, có tính thời sự, chủ yếu viết bằng tiếng Việt và được công
bố rộng khắp tới các vùng miền và cho các đối tượng bạn đọc khác nhau
2.3.3 Đánh giá chung về tầm vóc tư tưởng, nghệ thuật và sức tác động
của văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
Văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có sự đồng dạng với truyện ký và
thơ ca ở ý thức nhấn mạnh quyền lợi người lao động, thức tỉnh đồng bào Có thể thấy Nhật ký trong tù (1942-1943) của Hồ Chí Minh gồm 135 bài cũng có sự tương hợp sâu sắc với phong
cách văn chính luận ở tinh thần quả cảm, ý chí vượt gian khó và tiếng nói hài hước, lạc quan,tin tưởng vào tương lai đất nước
Sau này, khi đối tượng tiếp nhận chủ yếu là các tầng lớp nhân dân, sáng tác của Người
ân cần, gần gũi, tôn trọng, khiêm nhường, theo đó, sự tuyên truyền trong văn chính luận cũngmang một màu sắc khác, cốt làm thế nào để nhân dân thấy nhẹ nhàng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thựchiện Không phải ngẫu nhiên mà hình thức thơ ca được Người sử dụng nhiều để chuyên chởcác nội dung chính luận
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Người lên tiếng mạnh mẽ trong lời hiệu triệu, tác độngsâu sắc đến công chúng chiến sĩ, đồng bào bằng ý chí quyết tâm đánh giặc cứu nước và tin vàongày mai tất thắng
Nhìn chung, những yếu tố đặc thù của tình huống giao tiếp luôn được Hồ Chí Minh chú
ý khai thác trong văn chính luận của Người Ở từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, việc lựa chọnngôn ngữ và tổ chức văn bản luôn được cân nhắc để các tác phẩm không chỉ phản ánh hiệnthực xã hội mà còn tác động mạnh mẽ đến nhận thức của người tiếp nhận Có thể nói văn chínhluận tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có được sức tác động sâu sắc tới côngchúng chính bởi tầm vóc tư tưởng và khả năng chinh phục, truyền cảm sâu rộng
Trang 12Tiểu kết chương 2
Dòng văn nghị luận, chính luận Việt Nam đã có truyền thống phát triển lâu dài, khởinguồn từ thế kỷ X, qua suốt thời trung đại đến giao thời cận đại và hiện đại Trên cơ sở tìmhiểu diện mạo, đặc điểm, thành tựu lớn của văn chính luận thời trung đại, cận hiện đại, hiện đạivới các đại biểu ưu tú, có thể xác định rõ nét sự tiếp nối, phát triển và vị trí của văn chính luậnNguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh Rõ ràng văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có
sự kế thừa truyền thống nhưng cũng có khác biệt so với các chí sĩ yêu nước và nhà cách mạngtrước đó, kể từ mục đích, đối tượng, nội dung và nghệ thuật tuyên truyền Những thống kê,phân loại dựa trên nhiều tiêu chí như mục đích, cơ sở địa chính trị, địa văn hóa, bút danh,phương tiện ngôn ngữ, phương thức lưu truyền, số lượng tác phẩm, hình thức phổ biến, đốitượng tiếp nhận cho thấy sự thống nhất cao giữa cốt cách nhà cách mạng thiên tài Hồ Chí Minh
và cây bút chính luận lấy văn chương như một phương tiện, vũ khí đấu tranh cách mạng
Chương 3 ĐẶC TÍNH TUYÊN TRUYỀN TRONG VĂN CHÍNH LUẬN NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
3.1 Sự ý thức sâu sắc về đối tượng tiếp nhận – điều kiện đảm bảo tính thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
3.1.1 Ý thức về đối tượng tiếp nhận trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc –
Hồ Chí Minh
3.1.1.1 Ý thức sáng rõ về đối tượng tiếp nhận – một biểu hiện của quan hệ mới giữa tác giả và độc giả
trong đời sống văn học hiện đại
Sự ý thức sáng rõ về đối tượng tiếp nhận chứng tỏ khả năng nhập cuộc, nắm bắt và làmchủ tình hình của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong quan hệ giữa tác giả và độc giả, đềcao tính thời sự, tính hiệu quả trong hoạt động tuyên truyền khi lấy văn chính luận làm vũ khíđấu tranh cách mạng Đây cũng là điều kiện, tiêu chí và cơ sở để phân loại văn chính luận HồChí Minh theo nhiều dòng chủ đề, đề tài, phạm vi chiến lược, sách lược và đối tượng khácnhau
3.1.1.2 Sự thể hiện của ý thức về đối tượng tiếp nhận khi viết văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc –
Hồ Chí Minh
Trang 13Từ sự cảm thông, hiểu biết đối tượng tuyên truyền, Người tạo nên những diễn ngôn phùhợp, khi thì hướng đến những mục tiêu chung, khi thì khơi gợi những nhiệm vụ cụ thể, khi tạo
sự đồng cảm với lời động viên, chia sẻ
Có thể xây dựng thành nhiều cặp đối lập để xác định những dấu hiệu thể hiện sự ý thứcsáng rõ về đối tượng tiếp nhận trong văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: nhândân Việt Nam và kẻ thù xâm lược, nhân dân yêu chuộng hòa bình Pháp – Mỹ và chính quyềndiều hâu Pháp – Mỹ, giai cấp lao động bị áp bức và kẻ thống trị, xã hội mới và xã hội cũ, việclàm tốt và chưa tốt trong nội bộ nhân dân ta Trong phạm vi cụ thể, những dẫn chứng đối lập ởtầm mâu thuẫn quốc gia, dân tộc, giữa đấu tranh giải phóng dân tộc và kẻ xâm lược, giá trịnhân văn và tội ác kẻ thù như đã nêu chính là thử thách ở tầm cao tư tưởng Nguyễn Ái Quốc –
Hồ Chí Minh khi Người xác định đối tượng tiếp nhận trong văn chính luận
3.1.2 Hệ thống đối tượng tiếp nhận trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc –
Hồ Chí Minh
3.1.2.1 Đối tượng tiếp nhận là kẻ thù giai cấp và tư tưởng
Khi đối diện trực tiếp với các kẻ thù xâm lược, Người sáng tạo diễn ngôn phù hợp từngđối tượng, khi là từng cá nhân cụ thể, khi chỉ rõ trách nhiệm của cả thể chế tổ chức chính phủ, khinhấn mạnh bè lũ, phe nhóm, khi chỉ trích mưu mô, đường lối sai lầm, hắc ám
3.1.2.2 Đối tượng tiếp nhận là quần chúng nhân dân, nhân loại tiến bộ
Trong mọi lĩnh vực công tác, Hồ Chí Minh khẳng định, không thể không xuất phát từquan điểm và lợi ích của nhân dân Gắn với nhân dân luôn là nguyên tắc tư tưởng, hành độngcủa Hồ Chí Minh
Có thể nói, những yếu tố của tình huống giao tiếp, đối tượng giao tiếp trong các văn bảnchính luận Hồ Chí Minh có những đặc điểm vô cùng quan trọng: từ bối cảnh lịch sử đến vị thế
xã hội người tạo lập diễn thuyết; đối tượng tiếp nhận; mục đích và đề tài, chủ đề phản ánh Tất
cả những yếu tố này đều có những đặc điểm riêng và thay đổi qua từng giai đoạn lịch sử khácnhau: trước và sau năm 1941 Do đó, cùng với các yếu tố khác của văn chính luận, chúng giữvai trò quan trọng trong việc chi phối và tác động mạnh mẽ đến quá trình tạo lập diễn ngôn củatác giả, từ việc lựa chọn ngôn từ đến cách thức tổ chức diễn ngôn sao cho phù hợp với từng đốitượng cụ thể và trong từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể để tác động mạnh mẽ đến nhận thức củacon người, đưa con người vào các quá trình cách mạng làm thay đổi bản thân và hoàn cảnh