1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án (Tiếng Việt): Đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) .

29 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 592,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) .Đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) .Đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) .Đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) .Đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) .

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-o0o -TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

ĐẨY MẠNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ

HÀN QUỐC TRONG KHUÔN KHỔ HIỆP ĐỊNH

THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – HÀN QUỐC (VKFTA)

Ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 9310106

HOÀNG HẢI

Hà Nội, 2021

Trang 2

LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM THU HƯƠNG

Có thể tham khảo luận án tại Thư viện Quốc gia và Thư viện ĐH Ngoại thương

Trang 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 Hoàng Hải (2017), Đẩy mạnh quan hệ hợp tác đầu tư Việt Nam – Hàn Quốc trong bối cảnh

Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA), Chủ nhiệm

đề tài NCKH cấp cơ sở, Trường Đại học Ngoại thương, 2016-2017

2 Hoàng Hải, Vũ Thị Minh Ngọc (2017), Tăng cường đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang

Hàn Quốc, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 95/2017, trang 3 – 14.

3 Hoàng Hải, Vũ Thị Minh Ngọc (2017), Tác động của ODA đến thu hút FDI của Hàn Quốc

và thương mại song phương Việt – Hàn, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, tháng 10/2017, số 30

(670), trang 7-10

4 Hoàng Hải (2017), Dự báo tác động của thuế quan trong VKFTA tới giá trị xuất nhập khẩu

của mặt hàng rau quả Việt Nam sang Hàn Quốc, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, tháng 02/2017,

số 06, trang 7-10

5 Vũ Thị Minh Ngọc, Hoàng Hải, Đặng Hương Giang, Hồng Thị Minh (2019), Một số vấn đề

về quan hệ hợp tác đầu tư Việt Nam – Hàn Quốc trong bối cảnh thực thi Hiệp định thương mại tư do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA), Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Hàng Hải.

Trang 5

Trong gầm 30 năm qua, Hàn Quốc luôn đứngtrong danh sách nhóm 5 nước có quan hệ kinh tế quy

mô lớn nhất với Việt Nam Vì vậy, có thể nói Hàn Quốc

đã trở thành một trong những đối tác kinh tế quan trọngbậc nhất của Việt Nam Kể từ sau khi thiết lập quan hệngoại giao cho đến nay, giao dịch thương mại hai chiềugiữa hai nước đã tăng khoảng 54 lần, thu hút hàng trămnghìn người lao động Việt Nam vào làm việc Điều này

đã góp phần cải thiện tình hình kinh tế xã hội và nângcao uy tín của từng quốc gia trong khu vực và trên thếgiới

Năm 2019, Hàn Quốc là đối tác thương mại lớnthứ ba của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu lớn thứ

tư, thị trường nhập khẩu lớn thứ hai của Việt Nam(dangcongsan.vn, 2020) Số liệu trên cho thấy tầm quantrọng của thị trường Hàn Quốc đối với thương mại củaViệt Nam

Việt Nam và Hàn Quốc cũng là những đối tácgắn bó chặt chẽ ngay trong các diễn đàn khu vực vàquốc tế như ASEAN+3, APEC, ASEM, Liên hợp Quốc,WTO Năm 2007, Việt Nam và các nước ASEAN khác

đã ký Hiệp định FTA ASEAN-Hàn Quốc Các Hiệpđịnh đa phương này đã đem lại sự khởi sắc cho mốiquan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc Tuy nhiên,quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc vẫn bị ràngbuộc bởi các cam kết đa phương Cán cân thương mạihai chiều Việt Nam – Hàn Quốc vẫn luôn ở mức xuấtsiêu từ phía Hàn Quốc

Chính vì vậy, để tăng cường mối quan hệ songphương Việt Nam – Hàn Quốc, năm 2012, chính phủhai nước đã khởi động các vòng đàm phán ký kết Hiệpđịnh thương mại tự do song phương Việt Nam – HànQuốc Hiệp định bao gồm các nhóm nội dung chính về:Thương mại hàng hóa (cam kết cắt giảm thuế quan);Thương mại dịch vụ (bao gồm các Phụ lục về viễnthông, tài chính ), Đầu tư, Sở hữu trí tuệ, Các biệnpháp vệ sinh an toàn thực phẩm và Kiểm dịch độngthực vật (SPS); Quy tắc xuất xứ, Thuận lợi hóa hảiquan, Phòng vệ thương mại, Hàng rào kỹ thuật trongthương mại (TBT), Thương mại điện tử, cạnh tranh,Thể chế và Pháp lý, Hợp tác kinh tế

Khi Hiệp định VKFTA chính thức được ký kếttrong năm 2015, luồng hàng hóa và vốn di chuyển sẽ tự

do hóa giữa hai quốc gia, các cơ hội thương mại được

Trang 6

mở rộng hơn đối với các doanh

nghiệp Việt Nam và Hàn Quốc

Song, cơ hội nhiều, thách thức

cũng sẽ càng lớn Nguy cơ đối

với các DN VN như phá sản, mất

thị trường ngay trên sân nhà có

thể nhìn thấy ngay trước mắt

Quan hệ kinh tế thương mại giữa

hai nước Hàn Quốc và Việt Nam

sẽ có nhiều sự thay đổi theo nhiều

chiều, cả về mặt tích cực và tiêu

cực, dẫn tới tác động đến sự phát

triển kinh tế của từng quốc gia

So với AKFTA, trong

VKFTA, Hàn Quốc dành riêng

cho Việt Nam những ưu đãi hơn

về cam kết dòng thuế, về mở cửa

thị trường hơn đối với một số sản

phẩm nhạy cảm Bên cạnh đó,

lĩnh vực thương mại dịch vụ cũng

được nhấn mạnh hơn, các cam

kết về thương mại điện tử lần đầu

tiên được đề cập đến trong quan

hệ thương mại giữa hai bên

Năm 2019, 4 năm sau khi

Hiệp định VKFTA được ký kết,

Việt Nam và Hàn Quốc vẫn là

những đối tác thương mại lớn của

nhau, song, trong bối cảnh

thương mại thế giới có nhiều biến

động phức tạp với sự leo thang

căng thẳng trong quan hệ thương

mại Mỹ - Trung và quan hệ

thương mại Nhật – Hàn làm tăng

trưởng trong thương mại Việt

Nam – Hàn Quốc đã chậm lại 8

tháng đầu năm 2019 tổng kim

ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam

– Hàn Quốc chỉ đạt 4,4 tỷ USD,

chỉ tăng 2,1% so với cùng kỳ năm

2018 Việt Nam vẫn là đối tác

nhập siêu lớn của Hàn Quốc Sự

giảm tốc trong tăng trưởng kinh

tế của Hàn Quốc cũng đã làm ảnh

hưởng đến khả năng xuất khẩu

của Việt Nam Tình hình dịch

bệnh Covid – 19 đang diễn ra từ

đầu năm 2020 đã khiến nền kinh

tế cả hai nước chịu ảnh hưởng,

giảm sút thương mại hàng hóa và

cả thương mại dịch vụ giữa hai

quốc gia Trong 9 tháng đầu năm

2020, kim ngạch xuất khẩu của

Việt Nam sang Hàn Quốc chỉ đạt

14,5 tỷ USD, giảm 2% so với

cùng kỳ năm 2019 Chính vì vậy,

việc đẩy mạnh quan hệ thương

Trang 7

mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc trong bối cảnh mới càng trở nên cấp thiết hơn Việt Nam

và Hàn Quốc cần phải tích cực phát huy hơn nữa vai trò của Hiệp định thương mại tự do ViệtNam – Hàn Quốc trong việc thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai quốc gia trong thời gian tới

Rõ ràng, sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt văn hóa, địa lý, chính trị, kinh tế giữa hai nước, bêncạnh đó, nhu cầu tăng trưởng kinh tế bền vững của cả hai nước dẫn tới yêu cầu phải phát triểnmối quan hệ hợp tác kinh tế thương mại trên một bình diện mới Điều này đòi hỏi mỗi quốc giaphải đánh giá đúng cơ hội và thách thức mà mối quan hệ hợp tác thương mại trong bối cảnh mớiđem lại, từ đó đưa ra những quan điểm và giải pháp hợp lý về chính sách kinh tế, nhằm đảm bảocác lợi ích kinh tế quốc gia, phát triển kinh tế và hội nhập hiệu quả

Đề tài: Đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) với mong muốn đem lại một góc

nhìn mới, trong bối cảnh mới về quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Hàn Quốc; đồng thời gợi ýmột số định hướng, giải pháp đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác thương mại giữa hai quốc gia; cũng

là những biện pháp có thể giúp Việt Nam phát triển kinh tế, nâng cao vị thế quốc gia và hội nhậpthành công trong thời đại mới

2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

-Phân tích sự phát triển kinh tế Việt Nam đặt trong mối quan hệ thương mại Việt Nam Hàn Quốc trước và sau khi VKFTA có hiệu lực

Xác định các giải pháp đẩy mạnh mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Hàn Quốctới năm 2030 trong bối cảnh VKFTA, đảm bảo thu được lợi ích kinh tế cho Việt Nam từ hợp tácthương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc

2.2.Câu hỏi nghiên cứu:

-Thực trạng về quan hệ thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và HànQuốc trước khi ký kết VKFTA như thế nào, sau khi ký VKFTA thì có thay đổi gì? Những mặtđược và hạn chế trong mối quan hệ thương mại Việt Nam và Hàn Quốc là gì?

-VKFTA có tác động gì đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc?

-Việt Nam cần làm gì để phát triển mối quan hệ hợp tác thương mại với Hàn Quốc trongbối cảnh Việt Nam ký kết Hiệp định VKFTA vào năm 2015, đồng thời đảm bảo được lợi ích kinh

tế từ quan hệ hợp tác thương mại này?

2.3.Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu quan hệ thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc đặt trong bối cảnh Hiệp định thương mại Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) có hiệu lực

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1.Không gian nghiên cứu

Luận án chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ thương mại về hàng hóa và dịch vụ giữa ViệtNam và Hàn Quốc, không nghiên cứu các mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các quốc giakhác trên thế giới

3.2.Thời gian nghiên cứu

Thời gian: Từ năm 1992 – 2019 (đối với thương mại hàng hóa) khi Việt Nam và Hàn Quốcbắt đầu đặt quan hệ thương mại chính thức và Từ năm 1995 đến năm 2019 (đối với thương mạidịch vụ) do dữ liệu thống kê chỉ thống kê bắt đầu từ năm 1995 Giải pháp được đề xuất áp dụngđến năm 2030

3.3.Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ hợp tác thương mại song phương chính thức trên haimảng: thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc Đề tài không đi

Trang 8

sâu vào phân tích các mối quan hệ khác giữa hai quốc gia như đầu tư, du lịch… Mặc dù trong quá trình phân tích, NCS cũng có đề cập đến các vấn đề này nhưng chỉ ở góc độ thương mại dịch vụ.

-Về thương mại hàng hóa: NCS nghiên cứu tác động của VKFTA đến kim ngạch xuất nhậpkhẩu Việt Nam – Hàn Quốc (dữ liệu được thu thập theo chương (mã HS 2 số))

-Về thương mại dịch vụ: tác giả nghiên cứu tác động của VKFTA đến kim ngạch xuất nhậpkhẩu dịch vụ của Việt Nam

4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1.Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp bao gồm: Mô tả thống kê đối với các phần phântích về thực trạng thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Để phân tích tác động của Hiệp định VKFTA đến thương mại hàng hóa và dịch vụ của ViệtNam và Hàn Quốc, NCS sử dụng mô hình trọng lực, là mô hình phù hợp để phân tích tác độngcủa Hiệp định thương mại đến xuất nhập khẩu của một quốc gia Luận án tiếp thu kết quả của cácnghiên cứu trước và lựa chọn một số biến giải thích phù hợp với đặc điểm thương mại hàng hóa

và dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc, bao gồm các biến về GDP bình quân đầu người của ViệtNam và Hàn Quốc (giải thích được nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ, là cơ sở để luân chuyển dònghàng và dịch vụ đi từ quốc gia này sang quốc gia khác), các yếu tố khác về kinh tế vĩ mô như chỉ

số lạm phát, yếu tố về cơ sở hạ tầng, yếu tố về lao động, chủng loại hàng hóa, v.v cũng đã đượcđưa vào mô hình để giải thích yếu tố luân chuyển hàng hóa và dịch vụ từ Việt Nam sang HànQuốc và ngược lại Trong bối cảnh giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã có những thỏa thuận thươngmại ưu đãi nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho thương mại song phương, Luận án cũng đã sử dụngcác biến về Hiệp định thương mại tự do để giải thích tác động của các Hiệp định này đến thươngmại hàng hóa và dịch vụ hai chiều giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Tuy nhiên, do dữ liệu về thương mại dịch vụ hai chiều giữa Việt Nam và Hàn Quốc chưa đisâu vào từng loại hình dịch vụ khác nhau, nên Luận án đã sử dụng thêm phương pháp phỏng vấnsâu chuyên gia (bao gồm các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, tổ chức và nhà nghiên cứu) để làm rõhơn tình hình thương mại trong một số lĩnh vực dịch vụ chủ yếu trong quan hệ Việt Nam và HànQuốc Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện trong tháng 5/2020 thông qua phỏng vấn trựctiếp và trao đổi qua điện thoại do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid – 19 Các ý kiến trao đổi đãđược ghi chép và sử dụng có chọn lọc làm cơ sở cho các nhận định trong Luận án

4.2.Nguồn dữ liệu

Các dữ liệu được sử dụng trong đề tài được lấy từ nhiều nguồn khác nhau: trong đó, số liệu

về thương mại hàng hóa của Việt Nam và Hàn Quốc được sử dụng từ nguồn của tổ chức KITA(The Korea International Trade Association – Hiệp hội Thương mại quốc tế Hàn Quốc) với dữliệu chi tiết đến chương

Với dữ liệu về thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc, để phân tích tác động củaVKFTA đến thương mại dịch vụ của Việt Nam, NCS sử dụng dữ liệu của OECD trong giai đoạn

1995 đến 2019 để phân tích

Các dữ liệu khác nhằm phục vụ cho quá trình phân tích mô hình cũng được sử dụng ở nhiềunguồn tin cậy khác nhau, như: GDP, lạm phát, dân số, tỷ giá hối đoái, cơ sở hạ tầng… đều đượclấy nguồn từ WB Với nguồn dữ liệu về đầu tư FDI giữa hai quốc gia trong giai đoạn nghiên cứu(1991 đến 2019) được lấy từ nguồn dữ liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tưViệt Nam Để bổ sung cho các nhận định về thương mại dịch vụ, NCS sử dụng nguồn tin sơ cấpthu thập từ việc phỏng vấn sâu các chuyên gia Đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ, do khó khăntrong việc tìm kiếm và thu thập dữ liệu thứ cấp, do vậy, các nhận định, dữ liệu đánh giá về thươngmại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc sẽ được bổ sung thông qua phỏng vấn các chuyên gia

5.NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN

Như vậy, trong tổng thể các nghiên cứu trong và ngoài nước, NCS nhận thấy đề tài Đẩymạnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự

do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) là một đề tài mới, cần được nghiên cứu sâu thêm Đóng gópmới của Luận án tập trung vào những điểm như sau:

Trang 9

Một là, đề tài đã góp phần hệ thống hóa được các cơ sở lý luận về quan hệ thương mại, xác

định mô hình tác động của Hiệp định thương mại tự do đến quan hệ thương mại song phương ViệtNam và Hàn Quốc trong khuôn khổ VKFTA

Hai là, đi sâu vào phân tích quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc không chỉ ở

góc độ thương mại hàng hóa, mà còn ở góc độ thương mại dịch vụ thông qua việc phân tích các

dữ liệu thứ cấp và thông qua các thông tin phỏng vấn sâu từ các chuyên gia, là lãnh đạo doanhnghiệp, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý

Ba là, đề tài đã sử dụng phương pháp phân tích định lượng (mô hình trọng lực) kết hợp với

phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia nhằm giải thích tác động của Hiệp định thương mại tự doViệt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) nói riêng và các yếu tố khác nói chung đến thương mại hàng hóa

và thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia, trên cơ sở đó để đánh giá việc tận dụng các cơ hội vàthách thức mà VKFTA mang lại, thúc đẩy thương mại của Việt Nam và Hàn Quốc theo hướng haibên cùng có lợi, góp phần tăng trưởng kinh tế của hai quốc gia VKFTA có tác động tích cực đốivới thương mại hàng hóa, song lại có tác động ngược chiều đối với thương mại dịch vụ, do độ trễtrong tác động của VKFTA đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ, bên cạnh đó, vẫn còn nhiều ràocản đối với lĩnh vực dịch vụ bởi đây là lĩnh vực có phạm vi rộng khắp nền kinh tế

Bốn là, đề tài đã đề xuất được một số giải pháp từ phía Nhà nước và doanh nghiệp nhằm đẩy

mạnh mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Hàn Quốc tới năm 2030 trong bối cảnhVKFTA, đảm bảo thu được lợi ích kinh tế cho Việt Nam từ hợp tác thương mại song phương ViệtNam – Hàn Quốc

Đề tài này hy vọng sẽ lấp được khoảng trống trong nghiên cứu, trong đó, tác giả dự định sẽ

đi sâu vào phân tích quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc trên cả hai góc độ: thương mạihàng hóa, thương mại dịch vụ, đặt trong bối cảnh trước và sau khi Hiệp định VKFTA được ký kết

Hy vọng nghiên cứu của tác giả sẽ mang lại cái nhìn tổng quan và toàn diện nhất về quan hệthương mại Việt Nam – Hàn Quốc

6.KẾT CẤU LUẬN ÁN

Ngoài Mục lục, Danh mục hình, bảng, danh mục từ viết tắt, Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, kết cấu của Luận án được chia thành 5 chương như sau:

Chương 1: Tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan tới đề tài luận án

Chương 2: Một số vấn đề lý thuyết về quan hệ thương mại và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)

Chương 3: Thực trạng thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Chương 4 Phân tích tác động của Hiệp định thương mại tự do đến quan hệ thương mại ViệtNam – Hàn Quốc

Chương 5: Định hướng, giải pháp và kiến nghị thúc đẩy mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong bối cảnh VKFTA

Trang 10

CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ

TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Về quan hệ hợp tác thương mại song phương giữa hai quốc gia, nhiều nghiên cứu đã đềcập đến việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ hợptác thương mại giữa hai quốc gia hoặc giữa một quốc gia với một khối kinh tế

Về hợp tác thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc:

Nhiều nghiên cứu của Kwesi Atuaful Quansah và Woo ChulAhn (2017), ADB (2010),

Jae – Ho Lee (2016), Park Noh Wan, (2014), Kim Kyoung Mi, (2011), Phan Thanh Hoan, Ji

Young Jeong (2014) đã đề cập đến mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia, trong đó cónhiều nghiên cứu phân tích cụ thể quan hệ thương mại Việt Nam và Hàn Quốc, dựa trên cơ sởcác Hiệp định thương mại tự do song phương và cho rằng đây là một công cụ tốt để thúc đẩytăng trưởng thương mại hai chiều

Các nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích dưới góc độ định tính, một số sử dụng công

cụ định lượng như chỉ số thương mại nội ngành (IIT) trong mô hình thương mại nội ngànhgiữa một nước phát triển và một nước đang phát triển, chỉ số cường độ thương mại (TII), chỉ

số lợi thế so sánh (RCA) của từng quốc gia để đánh giá mức độ hợp tác thương mại songphương giữa Việt Nam – Hàn Quốc

Hầu hết các tác giả chỉ đề cập đến quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc trên góc độ chungnhất, không đi sâu vào mối quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc Nhiềunghiên cứu đề cập đến quan hệ thương mại nhưng chưa thấy được tác động của một Hiệp địnhthương mại tự do song phương đối với sự phát triển kinh tế của hai quốc gia Đây là điểmtrống trong nghiên cứu mà NCS sẽ khai thác trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu củacác tác giả công trình này

Nhiều tác giả nghiên cứu về mô hình lực hấp dẫn để giải thích tác động của các Hiệpđịnh đến thương mại song phương nhưng không đề cập trực tiếp đến thương mại Việt Nam –Hàn Quốc như Chan (2005), Somayeh Razzaghi và cộng sự (2012), Rose và Frankel (2002);Projan (2001), Papazoglou (2007), Tri Thai Do (2006), Gul và Yasin (2011), Kết quả của cácnghiên cứu trên cũng sẽ được NCS tiếp thu và ứng dụng trong nghiên cứu của mình

Về thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc: hiện theo kết quả nghiên cứu của

NCS, chưa có đề tài nào đi sâu khai thác quan hệ thương mại dịch vụ của Việt Nam và HànQuốc, nhất là đặt trong bối cảnh VKFTA đã được ký kết

1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Về mối quan hệ hợp tác thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc, có một số

công trình, dự án nghiên cứu của một số cơ quan nhà nước như Bộ Kế hoạch và Đầu tư,VCCI, Bộ Ngoại giao, sách của nhiều tác giả trong nước về quan hệ song phương giữa ViệtNam – Hàn Quốc Nhiều công trình trong số này đề cập đến mối quan hệ tổng thể giữa ViệtNam – Hàn Quốc, trong đó có đề cập đến mối quan hệ song phương về thương mại Có thể kể

đến một số công trình về vấn đề này của các tác giả: VCCI, (2014), Đại sứ quán CHXHCN

Việt Nam tại Đại hàn Dân quốc, (2011, Đỗ Hoài Nam, (2005), Phạm Thu Hương, (2002), Ngô Xuân Bình, (2010), MUTRAP, (2011), Phạm Hữu Tài (2016) Các tác giả thường đề cập

đến quan hệ hợp tác kinh tế chung giữa Việt Nam và Hàn Quốc, hoặc chủ yếu đi sâu vàothương mại hàng hóa chứ không đề cập đến thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia, và chưa đềcập đến mối quan hệ này trong bối cảnh sau khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – HànQuốc được ký kết Một số nghiên cứu của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam lại sử dụng

mô hình lượng mô hình cân bằng tổng thể (CGE) để phân tích tác động của AKFTA đến mốiquan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc nói chung hoặc sử dụng phân tích đa nhân tố, sửdụng mô hình Input – Output truyền thống có cải tiến và cho thấy nền kinh tế Việt Nam có lợithế so sánh đáng kể về gạo, may mặc, đồ nội thất và giày dép từ các FTA này, mang lại hyvọng cho tương lai Mặc dù vậy, các tác giả không đi sâu phân tích quan hệ song phương ViệtNam - Hàn Quốc mà chỉ đánh giá với góc độ của cả khu vực ASEAN

Trang 11

Về thương mại dịch vụ: Có một số tác giả đề cập đến thương mại dịch vụ, ở góc độ

xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam, nhưng chưa nói đến quan hệ thương mại dịch vụ Việt Nam –Hàn Quốc hoặc đề cập đến mối quan hệ này ở một khía cạnh cụ thể như xuất khẩu lao độnghoặc du lịch Các tác giả điển hình như Hà Văn Hội, (2008), Phạm Chi Lan, Dorothy I.Riddle, (2005, Phạm Thị Kim Oanh, (2013) Nguyễn Thị Hồng Vân, (2013) Tuy nhiên, hầu hếtcác nghiên cứu trên chưa đề cập đến quan hệ thương mại dịch vụ giữa Viêt Nam và Hàn Quốc

mà chỉ nghiên cứu thương mại dịch vụ chung của Việt Nam

Bản thân tác giả cũng đã có công trình nghiên cứu về đề tài này Trong một nghiên cứu năm

2016, tác giả đã sử dụng mô hình trọng lực để thấy được tác động của việc ký kết VKFTA tớithúc đẩy xuất khẩu mặt hàng rau quả của Việt Nam sang Hàn Quốc Với phạm vi nghiên cứu hẹp,

đề tài này cũng chưa thể bao quát được mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Về mô hình trọng lực, NCS cũng dựa trên một số kết quả nghiên cứu của Đoàn QuangHưng (2013), Nguyễn Bình Dương và cộng sự, (2012), Từ Thúy Anh (2008) để làm cơ sở chonghiên cứu của Luận án

1.3 Kết luận chung về tổng thể nghiên cứu

Có thể khẳng định, đề tài nghiên cứu về mối quan hệ hợp tác thương mại - đầu tư giữaViệt Nam – Hàn Quốc trong khuôn khổ hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc(VKFTA) là một đề tài mới Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Thương mại, Công nghiệp vàNăng lượng Hàn Quốc đã ký bản Ký tắt Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốcvào ngày 30/3/2015, bản chính thức được ký kết trong năm 2015 Từ đó cho đến nay, donhiều nguyên nhân, trong đó có hạn chế về mặt dữ liệu nên chưa có công trình nghiên cứu nào

đề cập đến hợp tác thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc đặt trong bối cảnh hiệu lực củaVKFTA Đây cũng là khoảng trống trong nghiên cứu, dựa trên cơ sở đó tác giả đi sâu vàophân tích và khai thác mảng đề tài này

1.4 Khoảng trống nghiên cứu của đề tài

Trong các công trình nghiên cứu trên tác giả nhận thấy một số khoảng trống trongnghiên cứu, có thể liệt kê như sau:

Về nội dung nghiên cứu:

 Đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam

và Hàn Quốc, song chủ yếu chỉ dừng lại ở thương mại hàng hóa Có một vài công trìnhnghiên cứu đề cập đến quan hệ thương mại dịch vụ, song chỉ đề cập đến thương mại dịch vụcủa Việt Nam nói chung, chưa phân tích vào quan hệ thương mại dịch vụ Việt Nam – HànQuốc Trong khi đó, Luận án này đi sâu vào lý giải quan hệ thương mại giữa hai quốc gia ở cảgóc độ thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ

 Chưa có nghiên cứu nào phân tích mối quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc,nhất là thương mại dịch vụ giữa hai quốc gia được đặt trong bối cảnh Hiệp định VKFTA Mặc

dù trước đó, có một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến các hiệp định như AKFTA đếnmối quan hệ kinh tế thương mại và đầu tư nói chung của Việt Nam và Hàn Quốc Song hầuhết các nghiên cứu trên chưa phân tích tác động của một Hiệp định thương mại tự do songphương đến quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc

Về phương pháp nghiên cứu:

Nhiều công trình chỉ sử dụng phương pháp phân tích thống kê báo cáo; hoặc chỉ sử dụngphương pháp định lượng thông qua các chỉ số TII, IIT, PCI để phân tích mối quan hệ thươngmại song phương Việt Nam – Hàn Quốc; hoặc sử dụng mô hình cân bằng tổng thể CGE có sửdụng số liệu phân tích GTAP để phân tích tác động của Hiệp định AKFTA đến quan hệthương mại Việt Nam – Hàn Quốc; hoặc chỉ sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn đểphân tích và đánh giá hoạt động xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam

Dựa trên các dữ liệu thu thập được, tác giả sử dụng các dữ liệu thứ cấp thu thập được từnguồn của OECD và WB để phân tích tác động của VKFTA đến thương mại hàng hóa vàthương mại dịch vụ của Việt Nam và Hàn Quốc Mô hình phù hợp nhất với dữ liệu thu thập

Trang 12

được là trên cơ sở mô hình trọng lực Trong đó, biến giả VKFTA sẽ được đưa vào mô hìnhcùng với một số biến khác để đo lường và đánh giá tác động của VKFTA đến xuất nhập khẩuhàng hóa và dịch vụ của Việt Nam với đối tác Hàn Quốc Trên cơ sở các kết luận từ mô hình

và các đánh giá định tính, tác giả sẽ đề xuất các giải pháp phù hợp

Bên cạnh đó, do nguồn dữ liệu về thương mại dịch vụ giữa Việt Nam và Hàn Quốc được

sử dụng từ nguồn của OECD chưa đầy đủ, và do có sự thay đổi cách tính từ phía OECD từnăm 2012 nên để đánh giá được tình hình thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc, NCS đã

sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia Các đánh giá, nhận định của cácchuyên gia đến từ các cơ sở nghiên cứu, lãnh đạo các doanh nghiệp và bộ ngành góp thêm cơ

sở để đánh giá tình hình thương mại dịch vụ Việt Nam – Hàn Quốc

Như vậy, Luận án đã sử dụng được kết hợp nhiều phương pháp để làm rõ các nội dungnghiên cứu, trong đó, Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp thống kê mô tả, phươngpháp định tính thông qua mô hình trọng lực và phương pháp định tính thông qua phỏng vấnsâu chuyên gia Đây là điều mà chưa thấy sử dụng ở các công trình nghiên cứu khác cùng chủđề

Trang 13

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – HÀN QUỐC (VKFTA)

Chương 2 sẽ đề cập đến các vấn đề lý thuyết về quan hệ thương mại, các nội dung của Hiệpđịnh VKFTA và mô hình tác động của VKFTA đến quan hệ thương mại song phương giữa ViệtNam và Hàn Quốc Đây là cơ sở để thực hiện phân tích và đánh giá trong các chương tiếp theo

2.1.Các vấn đề chung về quan hệ thương mại quốc tế

2.1.1.Các lý thuyết về thương mại quốc tế

Các lý thuyết về thương mại quốc tế đã giải thích cho các quan hệ thương mại giữa cácquốc gia Theo đó, các quốc gia sẽ có quan hệ thương mại với nhau khi có lợi ích trong thươngmại Các lợi ích này có thể là lợi thế tuyệt đối hoặc lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế Các

lý thuyết cổ điển về lợi thế tuyệt đối của A.Smith và lợi thế so sánh của D Ricardo sẽ vẫn lànhững lý thuyết nền tảng giải thích nguyên nhân dẫn đến quan hệ thương mại giữa hai quốc gia

2.1.1.1.Lý thuyết về lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối

Đây là các lý thuyết cổ điển quan trọng, chứng minh mối quan hệ thương mại giữa hai quốcgia đều dựa trên cơ sở lợi ích, theo nguyên tắc: đôi bên cùng có lợi

*Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A Smith:

Theo lý thuyết của A Smith, hai quốc gia sẽ tiến hành trao đổi và mua bán với nhau khi dựavào lợi thế tuyệt đối của từng quốc gia Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được khi một quốc gia tậptrung chuyên môn hóa vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm có chi phí sản xuất thấp hơn cácquốc gia khác thì tất cả các quốc gia đều có lợi

*Lý thuyết lợi thế so sánh của D Ricardo

D Ricardo tiếp thu và phát triển lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A Smith, nêu rõ thươngmại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữa một quốc gia gặp bất lợi tuyệt đối về tất cả các mặt hàng vàmột quốc gia có lợi thế tuyệt đối về tất cả các mặt hàng, nếu như các quốc gia này có lợi thế sosánh

2.1.1.2.Lý thuyết trọng lực:

Lý thuyết trọng lực cũng là một trong những lý thuyết hiện đại được sử dụng để giải thích

sự dịch chuyển của hàng hóa từ địa điểm này sang địa điểm khác Mô hình lực hấp dẫn trong

kinh tế quốc tế cũng tương tự như mô hình lực hấp dẫn trong các môn khoa học xã hội khác, dựđoán rằng trao đổi thương mại song phương phụ thuộc vào quy mô của hai nền kinh tế và khoảngcách giữa chúng Mô hình lý thuyết cơ bản giữa hai nền kinh tế A và B được biểu diễn theo côngthức sau:

ln (Trao đổi thương mại hai chiều) = α + βln(GDP quốc gia A) + βln(GDP quốc gia B) ln(GDP quốc gia A) + βln(GDP quốc gia A) + βln(GDP quốc gia B) ln(GDP quốc gia B) βln(GDP quốc gia A) + βln(GDP quốc gia B) -ln(Khoảng cách) + ε

-Dựa trên nền tảng lý thuyết của Jan Tinbergen, nhiều nhà nghiên cứu đã bổ sung làm đầy

đủ hơn mô hình trọng lực với việc phát triển các yếu tố có thể tác động tới thương mại giữa haiquốc gia Nhiều yếu tố đã được đưa thêm vào mô hình như mức thu nhập bình quân theo đầungười (GDP per capita), chỉ số giá tiêu dùng, ngôn ngữ, thuế quan, quan hệ láng giềng (ADB,2010) Nhiều nghiên cứu về sau đã phát hiện ra thêm nhiều yếu tố có thể tác động đến thương mạigiữa hai quốc gia, như FDI, thậm chí cả yếu tố giảm phát (Devaluation) và một số các biến khácnhư cơ sở hạ tầng, trình độ lao động, các hiệp định thương mại quốc tế (các biến số này có thểđược biểu diễn dưới dạng các biến giả - dummy variable) v.v

2.1.2.Các khái niệm liên quan đến quan hệ thương mại quốc tế

2.1.2.1.Khái niệm về thương mại và thương mại quốc tế:

Có thể thấy thương mại quốc tế chính là việc thực thi thương mại giữa các chủ thể ở hai

hay nhiều quốc gia.

2.1.2.2.Phân loại thương mại quốc tế

Trong thương mại quốc tế có nhiều căn cứ khác nhau để phân loại, song căn cứ vào đốitượng mua bán giao dịch, có thể chia thành: thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ Sau này

có một số hàng hóa đặc biệt, là các sản phẩm điện tử, số hóa, nên hình thành thêm khái niệm vềthương mại điện tử Tuy nhiên, trong nội dung của Luận án chỉ đề cập đến thương mại hàng hóa

và thương mại dịch vụ

GATT không đưa ra khái niệm “thương mại dịch vụ” mà chỉ trình thương mại dịch vụ theo

4 phương thức cung cấp, tùy thuộc vào sự hiện diện trên lãnh thổ của nhà cung cấp và khách hàngtrong thời gian tiến hành giao dịch, theo đó, bao gồm:

Trang 14

+ Cung cấp qua biên giới – thương mại xuyên biên giới (phương thức 1)

+ Tiêu dùng ngoài lãnh thổ (phương thức 2)+ Hiện diện thương mại (phương thức 3)+ Hiện diện thể nhân (phương thức 4)Trong Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) thương mại dịch vụcũng được định nghĩa giống như định nghĩa của GATS

2.1.2.3.Khái quát về quan hệ thương mại quốc tế và các Hiệp định thương mại tự do

*Quan hệ thương mại quốc tế: thực chất là mối quan hệ thương mại giữa một quốc gia với

phần còn lại của thế giới dựa trên cơ sở công bằng, đôi bên cùng có lợi Các quan hệ thương mạiquốc tế có thể hình thành trên cơ sở quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia hoặc giữa nhiều quốc gia,hoặc giữa một quốc gia với một khu vực

*Hiệp định thương mại tự do: FTA – Free Trade Agreement- là các thỏa ước giữa hai hay

nhiều quốc gia Theo đó, các nước sẽ tiến hành cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuếquan theo một lộ trình cam kết, nhằm mục đích thành lập một khu vực mậu dịch tự do, cho phép

di chuyển tự do dòng hàng, vốn, lao động giữa các nước thành viên Việc ký kết các FTA sẽ làmgiảm các rào cản thương mại giúp các ngành công nghiệp tiếp cận thị trường mới, tăng cường tiếpcận và số lượng người mà họ có thể bán sản phẩm của mình; đồng thời mang lại lợi ích cho ngườitiêu dùng

*Đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa các quốc gia:

Về mặt lý luận, chưa có nghiên cứu nào đề cập rõ ràng về khái niệm đẩy mạnh quan hệthương mại Gandolfo (1986) cho rằng thúc đẩy là cách tăng xuất khẩu cả về giá trị tuyệt đối vàtương đối so với nhập khẩu Đẩy mạnh quan hệ có thể được đo lường bằng nhiều yếu tố khácnhau như: gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu song phương giữa hai quốc gia theo thời gian, hoặcgia tăng tỷ trọng thương mại song phương trong tổng cơ cấu thương mại của mỗi quốc gia; hoặcgia tăng chủng loại mặt hàng/dịch vụ trong cơ cấu thương mại hai chiều

2.2.Căn cứ hình thành và tác động đến mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia

2.2.1.Cơ sở hình thành quan hệ thương mại quốc tế

*Quan hệ đối ngoại

Rõ ràng, việc thiết lập quan hệ đối ngoại sẽ là nền tảng cho phép tạo lập các mối quan hệ vềthương mại quốc tế giữa hai quốc gia Sự ràng buộc giữa hai nhà nước ở trên cả hai mặt chính trị

và kinh tế, vì vậy chính sách về đối ngoại sẽ thường đi song song với các chính sách về kinh tế

*Lợi thế của mỗi quốc gia

Có thể thấy hầu hết các quốc gia khi tham gia vào thị trường quốc tế đều dựa trên cơ sở cáclợi thế của mình Như đã được giải thích trong các lý thuyết về thương mại quốc tế, phần lớn cácquốc gia sẽ tăng cường xuất khẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế và nhập khẩu những mặthàng trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa có hiệu quả

*Các nguyên tắc thực thi thương mại quốc tế

Dựa trên cơ sở các nguyên tắc công bằng, không phân biệt đối xử và đôi bên cùng có lợi,các mối quan hệ thương mại quốc tế được phát triển trên nhiều cấp độ khác nhau Các hiệp địnhthương mại song phương và đa phương thường dựa trên các nguyên tắc chủ yếu như: Nguyên tắctối huệ quốc (MFN – Most Favoured Nation), Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT – NationTreatment)

2.2.2.Các yếu tố tác động đến quan hệ thương mại giữa hai quốc gia

Các yếu tố này vừa xuất phát từ cả hai phía, tạo nên lực đẩy và lực hút, vừa là các nhân tốhình thành, nhưng cũng đồng thời là các nhân tố tác động đến mối quan hệ thương mại giữa haiquốc gia

Các yếu tố này bao gồm cả các yếu tố tác động đến quan hệ thương mại hàng hóa và thương

mại dịch vụ giữa hai quốc gia, trong đó, các yếu tố chủ yếu bao gồm: (i) Phát triển kinh tế; (ii) Chính sách thương mại; (iii) Hoạt động đầu tư quốc tế; (iv) Cơ sở hạ tầng; (v) Cơ cấu sản phẩm hàng hóa, dịch vụ; (vi) Tỷ giá hối đoái.

2.3.Khái quát về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)

2.3.1.Cơ sở ra đời

Từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1992, hai nước Hàn Quốc và Việt Nam đãphát triển quan hệ hợp tác vượt bậc trên mọi lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội

Ngày đăng: 27/07/2021, 15:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w