Output file ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ************************* TRƯƠNG THỊ THU HÀ TÍNH CHỦ QUAN TRONG CÁC PHÁT NGÔN TIẾNG VIỆT CÓ CHỨA CÁC PHƯƠNG TIỆN CHỈ THỜI[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*************************
TRƯƠNG THỊ THU HÀ
TÍNH CHỦ QUAN TRONG CÁC PHÁT NGÔN TIẾNG VIỆT
CÓ CHỨA CÁC PHƯƠNG TIỆN CHỈ THỜI, THỂ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ
Mã số: 50408 Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Văn Hiệp
Hà Nội 2003
Trang 21.1 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học thế giới về tình thái 17 1.2 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về tình thái 25
2.1 Khái niệm tính chủ quan của phát ngôn, với tư cách là một phương diện của phạm trù tình thái
34
2.2 Các phương tiện đánh dấu tính chủ quan của phát ngôn 37
Trang 33 Cơ sở để nhận biết tính chủ quan trong các phát ngôn tiếng Việt
có chứa các phương tiện chỉ thời, thể
73
5 Tiền giả định và hàm ý của các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt
80
5.1 Tiền giả định của các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt 81
5.2 Hàm ý của các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt 84 5.2.1 Hàm ý về tính hiện thực của sự tình 84
Trang 4từ này trong quá trình giao tiếp cũng như trong quá trình tư duy của người Việt Tuy nhiên, vai trò, vị trí cũng như đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ này trong tiếng Việt, trước đây, dưới góc độ của ngôn ngữ học cấu trúc được xây dựng chủ yếu trên các ngôn ngữ Ấn-Âu, chưa được nhìn nhận một cách thấu đáo, xác đáng, với nhiều định kiến và phiến diện
Chẳng hạn xét các phát ngôn sau:
1) Nó đã đi Hà Nội
2) Nó sẽ đi Hà Nội
3) Nó lại đi Hà Nội
Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống, các câu trên là đồng nhất về cấu trúc và gần như là đồng nhất về từ vựng Chúng chỉ khác biệt rất ít ở một số trợ từ (đã/ sẽ/ lại) mà những trợ từ này, theo quan điểm truyền thống, là các từ trống nghĩa (mots vides, empty words) nên rất ít được quan tâm nghiên cứu Với cái nhìn như vậy người ta không thể thấy được sự khác biệt giữa một câu nói ở dạng tiềm năng (nội dung mệnh đề) với một câu nói hiện thực trong giao tiếp (phát ngôn) Cả ba câu trên ở dạng tiềm năng cùng miêu tả một sự tình là “nó đi Hà Nội”, nhưng trong
Trang 5thực tế giao tiếp, (1) có thể được hiểu như là “nó đi Hà Nội” và tôi - người nói - có cơ sở, có bằng chứng để cam kết về điều đó; (2) có thể được hiểu như là “nó đi Hà Nội” và tôi không có hoặc có rất ít cơ sở, bằng chứng về việc đó, ở đây việc “nó đi Hà Nội” chỉ là một đoán định của tôi và (3) có thể được hiểu như là cái việc “nó đi Hà Nội” nằm ngoài
sự mong chờ, dự tính của tôi Cái làm nên sự khác nhau này giữa các phát ngôn chính là sự khác biệt về các trợ từ Cùng một nội dung mệnh đề nhưng đi kèm với những trợ từ khác nhau sẽ có những nội dung ngữ nghĩa rất khác nhau
1.1.2 Như chúng ta đã biết, trong các ngôn ngữ Ấn-Âu như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, v.v sự biểu đạt các ý nghĩa về thời, về thể của sự tình trong phát ngôn là bắt buộc Các ngôn ngữ này là các ngôn
ngữ có phạm trù thời và phạm trù thể Các ý nghĩa về thời gian gắn với sự
chỉ xuất (các ý nghĩa về thời) hay các ý nghĩa về sự kéo dài hay không kéo dài, hoàn thành hay không hoàn thành, kết thúc hay không kết thúc, v.v (các ý nghĩa về thể) của sự tình bị buộc phải diễn đạt ngay cả khi không cần thiết Chẳng hạn xét phát ngôn tiếng Anh sau:
I went to Hanoi yesterday (Tôi đã đi Hà Nội hôm qua)
Mặc dù đã có biểu thức thời gian “yesterday” (hôm qua) chỉ rõ thời điểm xảy ra sự tình được nêu trong phát ngôn nhưng ý nghĩa thời gian quá khứ của thời điểm này vẫn phải được nhắc lại trong vị từ vị ngữ Vị từ
“went” (đi) trong phát ngôn trên là dạng thức thời quá khứ của vị từ “go” (đi) cho biết sự tình xảy ra trong quá khứ và không có gì liên quan đến hiện tại
Tương tự như vậy, trong tiếng Pháp, ý nghĩa thời gian cũng được ngữ pháp hoá và bị buộc phải biểu đạt trong phát ngôn Ví dụ:
Je suis allé(e) à Hanoi hier (Tôi đã đi Hà Nội hôm qua)
Trong phát ngôn trên, vị từ “aller” (đi) bị buộc phải diễn đạt ở dạng
thức passé composé cho biết sự tình do nó biểu thị xảy ra và kết thúc
Trang 6trong quá khứ mặc dù trong phát ngôn này cũng đã có biểu thức thời gian
“hier” (hôm qua) chỉ rõ thời điểm xảy ra sự tình Trong phát ngôn này,
dạng thức passé composé của vị từ “aller” vừa diễn đạt ý nghĩa thời quá
khứ vừa diễn đạt ý nghĩa thể hoàn thành
1.1.3 Trong khi đó, thực tế tiếng Việt lại không như vậy
Với tư cách là một ngôn ngữ tự nhiên, tiếng Việt, cũng như các ngôn ngữ tự nhiên khác, có đủ các phương tiện để biểu đạt các ý nghĩa mà các ngôn ngữ khác có thể biểu đạt Nhưng, không giống như các ngôn ngữ khác, nhất là các ngôn ngữ Ấn-Âu, tiếng Việt không bị buộc phải diễn đạt các ý nghĩa về thời gian khi không cần thiết Điều này có nghĩa là các ý nghĩa về thời gian không được ngữ pháp hoá trong tiếng Việt
Trước đây do ảnh hưởng của truyền thống ngôn ngữ Ấn-Âu, một
số nhà ngữ pháp tiếng Việt cho rằng tiếng Việt có ba thời là thời hiện tại, thời quá khứ và thời tương lai và các thời này được đánh dấu bằng ba hư
từ là “đang”, “đã”, “sẽ” Trong đó “đang” đánh dấu thời hiện tại, “đã” đánh dấu thời quá khứ và “sẽ” đánh dấu thời tương lai (Dẫn theo [20, 1])
Thực tế là trong một số trường hợp, các hư từ “đã”, “đang”, “sẽ” có thể biểu đạt các ý nghĩa có liên quan đến thời quá khứ, thời hiện tại hay thời tương lai Chẳng hạn xét các phát ngôn sau:
Trang 7Nhưng trong các trường hợp sau thì rõ ràng là “đã” không chỉ thời quá khứ, “đang” không chỉ thời hiện tại và “sẽ” không chỉ thời tương lai Hãy xét các phát ngôn sau:
1) Ngày mai tôi đã đi rồi
2) Ngày mai giờ này tôi đang học bài
3) Nếu trời không mưa tôi sẽ đi đá bóng
Trong các phát ngôn trên, “đã”, “đang”, “sẽ” không biểu thị các ý nghĩa về thời gian Trong phát ngôn (1), thời điểm xảy ra sự tình không phải là thời điểm quá khứ Tương tự, trong phát ngôn (2), thời điểm xảy
ra sự tình cũng không phải là thời điểm hiện tại Trong phát ngôn (3), thời điểm xảy ra sự tình không xác định vì sự tình nêu trong phát ngôn chỉ là một giả thiết
Đặc biệt trong các trường hợp sau thì ý nghĩa về thời của các hư từ này lại rất mờ nhạt Hãy xét các phát ngôn sau:
1) Hôm qua, nó đã đi Hà Nội
2) Hôm nay, nó đang đi Hà Nội
3) Ngày mai, nó sẽ đi Hà Nội
Trong các phát ngôn trên các ý nghĩa về thời gian quá khứ, thời gian hiện tại và thời gian tương lai đã được làm rõ nhờ các biểu thức thời gian: “hôm qua” chỉ một điểm thời gian trong quá khứ, “hôm nay” chỉ thời gian hiện tại và “ngày mai” chỉ một điểm thời gian trong tương lai, vì vậy về nguyên tắc các ý nghĩa đó không cần được nhắc lại một lần nữa bởi các phương tiện chỉ thời, thể Theo chúng tôi, lúc này, sự có mặt của các hư từ này trong phát ngôn không còn là để giữ vai trò biểu đạt các ý nghĩa về thời, thể của vị từ nữa Chúng chuyển sang biểu đạt một ý nghĩa khác, một ý nghĩa mà trong khuôn khổ của ngôn ngữ học truyền thống lấy các ngôn ngữ Ấn-Âu làm trung tâm cũng như trong khuôn khổ hạn hẹp của ngôn ngữ học cấu trúc, hình thức không quan tâm đến vai trò của chủ thể tạo lời, đã không được nhận thức một cách rõ ràng
Trang 8Các phát ngôn trên nếu đặt trong một phạm vi rộng lớn hơn, phạm
vi tính chủ quan của phát ngôn, thì vai trò, vị trí, đặc điểm ngữ nghĩa của các hư từ trên sẽ được giải thích một cách thoả đáng Trong phạm vi tính chủ quan tạo lời, đặc trưng ngữ nghĩa bao quát nhất của các hư từ trên không phải là nhằm biểu đạt các ý nghĩa về thời, thể mà (chủ yếu) là biểu đạt các ý nghĩa tình thái tức là biểu đạt thái độ, quan điểm, nhận thức, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra
Chẳng hạn khi phát ra phát ngôn: “Hôm qua, nó đã đi Hà Nội”, cái
mà người nói hướng tới, cái mà người nói hàm ý không phải là sự định vị
sự tình “nó đi Hà Nội” được nêu trong phát ngôn trên một cái trục thời gian tuyến tính nào đó mà là sự nhấn mạnh của người nói (người viết và nói rộng ra là tác nhân tạo lời) về tính hiện thực của điều được nói ra
Tương tự như vậy, khi phát ra phát ngôn: “Ngày mai, nó sẽ đi Hà Nội.”,
người nói không nhằm định vị sự tình trên trục thời gian tuyến tính mà muốn nói với người nghe rằng đó là sự tình mà “tôi”-người nói- phỏng đoán, nó có thể xảy ra mà cũng có thể không xảy ra Ở đây người nói không cam kết, không bảo đảm hoàn toàn về tính chân thực của sự tình nêu trong phát ngôn
Tóm lại từ trên ta có thể thấy, các hư từ như “đã”, “đang”, “sẽ”,
“lại”, “vẫn”,… mà ta vẫn thường gọi là các phương tiện chỉ thời, thể khi
đi kèm với vị từ không chỉ bổ sung các ý nghĩa về thời, thể của vị từ nêu trong phát ngôn mà còn biểu đạt quan niệm, thái độ, nhận thức, đánh giá chủ quan của người nói đối với sự tình được nêu trong phát ngôn Mà điều quan trọng là, chính điều này, trong nhiều trường hợp, mới là thông tin quan trọng mà người nói muốn cung cấp, truyền đạt, gửi gắm đến người nghe Chẳng hạn trong phát ngôn “Nó đã đi Hà Nội”, không phải các thông tin về nội dung sự tình là tất cả những điều mà người nói muốn truyền đạt đến người nghe (bởi các thông tin này có thể người nghe đã biết) mà có khi chính thái độ xác nhận, cam kết, đánh giá về tính chân
Trang 9thực của nội dung sự tình đi cùng với nội dung mệnh đề đó mới thực sự là những thông tin quan trọng, chủ yếu nhất mà người nói muốn truyền đạt, gửi gắm đến người nghe Sự xác nhận này có thể bác bỏ một nhận định sai lầm nào đó từ phía người nghe hoặc từ bất cứ phía nào khác và do vậy
có tác dụng hiệu chỉnh, củng cố niềm tin của người nghe vào nội dung sự tình và xa hơn là duy trì và phát triển giao tiếp Với phát ngôn này người nói cam kết nội dung sự tình là hoàn toàn chân thực, người nghe hoàn toàn có thể tin tưởng vào điều đó Như vậy, đến đây ta thấy rằng việc làm
rõ các hàm ý chủ quan của người nói khi nói đặc biệt là các hàm ý chủ quan trong các phát ngôn có chứa các phương tiện chỉ thời, thể nêu trên là điều rất cần thiết đối với ngôn ngữ học nói chung cũng như đối với ngữ nghĩa học nói riêng Riêng đối với tiếng Việt điều này càng có ý nghĩa
Có hiểu hết được vai trò, tác dụng cũng như các loại ý nghĩa mà các hư từ thời, thể có thể biểu đạt, chúng ta mới có thể phát huy tối đa cái chức năng là công cụ tư duy và giao tiếp của tiếng Việt Đó là lí do tại sao
chúng tôi lại chọn đề tài: Tính chủ quan trong các phát ngôn tiếng Việt
có chứa các phương tiện chỉ thời, thể
1.2 Ý NGHĨA THỰC TIỄN:
Luận văn là sự tiếp tục của những nghiên cứu theo hướng ngữ pháp chức năng trong tiếng Việt Lần đầu tiên, các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt được miêu tả một cách hệ thống với các đặc trưng ngữ nghĩa của chúng trong một khung miêu tả thích hợp: trong phạm vi của tính chủ quan tạo lời gắn liền với các ý nghĩa tình thái Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là cơ sở quan trọng góp phần xây đựng các sách giáo trình, các sách giáo khoa về ngữ pháp tiếng Việt cho mọi người nói chung
và cho các học viên nước ngoài (chủ yếu là các học viên quen thuộc nhiều với các ngôn ngữ Ấn-Âu, các ngôn ngữ có phạm trù thời và phạm trù thể, nên gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận với các hư từ thường được coi là các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt) nói riêng Ngoài ra thông qua
Trang 10việc miêu tả các đặc trưng ngữ nghĩa của các hư từ chỉ thời, thể trong tiếng Việt, đặc biệt việc tìm hiểu vai trò của chúng trong việc hình thành đích ngôn trung của phát ngôn, tức là hiện thực hoá dụng ý của người phát ngôn khi phát ngôn, luận văn cũng góp phần làm rõ một số phương diện thuộc cơ chế hoạt động của tiếng Việt nói chung và của các hư từ chỉ thời, thể đó nói riêng
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này là các hư từ khi đi kèm với vị từ có khả năng biểu đạt các ý nghĩa về thời, thể cho vị
từ đó như: đã, đang, sẽ, vừa, mới, vừa mới, từng, chưa, còn, mãi, hoài,
v.v Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là các phát ngôn có chứa các hư từ
kể trên Các phát ngôn này được rút ra từ các tác phẩm văn học hiện đại
Việt Nam như Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ, Trúng số độc đắc, Vỡ đê, Cơm
thầy cơm cô,… của Vũ Trọng Phụng; Bỉ vỏ của Nguyên Hồng; các truyện
ngắn của Nam Cao; Bên kia bờ ảo vọng, Quãng đời đánh mất của Dương Thu Hương; Ba lần và một lần của Chu Lai; các tác phẩm được
giải nhất văn chương qua các thời kì; v.v
Trang 113 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Từ tình hình thực tế và trong khuôn khổ có hạn của luận văn, trong luận văn này chúng tôi tự đề ra cho mình những nhiệm vụ chủ yếu sau:
1> Nghiên cứu lí luận về tính tình thái
2> Nghiên cứu lí luận về tính chủ quan của phát ngôn
3> Xác lập danh sách các phương tiện đánh dấu tính chủ quan của phát ngôn
4> Điểm qua tình hình nghiên cứu các vấn đề về thời, thể trong tiếng Việt
5> Xác lập danh sách các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt 6> Xác định cơ sở để nhận biết tính chủ quan trong các phát ngôn tiếng Việt có chứa các phương tiện chỉ thời, thể
7> Phân tích mối quan hệ qua lại giữa tính chủ quan và tính khách quan trong phát ngôn
8> Phân tích các ý nghĩa khách quan của các phương tiện chỉ thời, thể tiếng Việt
9> Phân tích các ý nghĩa đánh giá chủ quan gắn với các phương tiện chỉ thời, thể
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Việc nghiên cứu tính chủ quan của phát ngôn không nằm ngoài phạm vi ngữ nghĩa, ngữ dụng nên bên cạnh việc áp dụng những phương pháp nghiên cứu chung cho mọi ngành khoa học như phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp phân tích, thống kê, v.v., chúng tôi tiến hành áp dụng một loạt các phương pháp phân tích ngữ nghĩa, ngữ dụng như: phân tích ngữ cảnh, mở rộng, thu hẹp ngữ cảnh, so sánh đối chiếu, thay thế, kết hợp, khúc giải, v.v trong việc phân tích ngữ nghĩa của các đối tượng nghiên cứu từ đó tìm ra đặc trưng về ngữ nghĩa cũng như
cơ chế hoạt động của đối tượng
Cụ thể chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu như sau:
Trang 121> Thu thập, ghi chép các phát ngôn có chứa các phương tiện chỉ
thời, thể trong các tác phẩm văn học Việt Nam điển hình như Giông tố,
Số đỏ, Cơm thầy cơm cô, Trúng số độc đắc,… của Vũ Trọng Phụng; Dì Hảo, Chí Phèo, Ở hiền,… của Nam Cao; Bên kia bờ ảo vọng, Quãng đời đánh mất của Dương Thu Hương; Ba lần và một lần của Chu Lai;
5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Luận văn của chúng tôi, ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, gồm có ba chương sau:
1> Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương này tập trung nghiên cứu các vấn đề lí luận về tính tình thái của phát ngôn, một vấn đề quan trọng thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Bên cạnh đó là những vấn đề về tính chủ quan của phát ngôn với tư cách là một phương diện thuộc phạm trù tình thái cùng với các vấn đề có liên quan Trong chương này chúng tôi cố gắng xác lập một danh sách tương đối đầy đủ các phương tiện đánh dấu tính chủ quan của các phát ngôn trong tiếng Việt
Trang 132> Chương 2: Đặc trưng ngữ nghĩa của các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt
Chương này tập trung nghiên cứu các đặc điểm ngữ nghĩa nói chung của các hư từ có thể biểu đạt các ý nghĩa có liên quan đến thời, thể trong tiếng Việt (thường được ngữ pháp truyền thống gọi là các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt) trong quá trình truyền đạt các thông tin khách quan (thuộc nội dung miêu tả) cũng như truyền đạt các thông tin chủ quan (thuộc nội dung tình thái) Chương này tập trung phân tích các ý nghĩa đặc thù mang tính khách quan của các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt Ngoài ra chúng tôi còn đề cập đến những cơ sở để nhận biết tính chủ quan trong các phát ngôn có chứa các phương tiện chỉ thời, thể cũng như mối quan hệ, tác động qua lại giữa các ý nghĩa khách quan
và các ý nghĩa chủ quan Và tất nhiên, để có cơ sở cho những phân tích về sau, trước khi đi vào phân tích các đặc trưng ngữ nghĩa của các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt chúng tôi có điểm qua vài nét về vấn đề thời, thể trong tiếng Việt Trong phần này chúng tôi cố gắng đưa ra một danh sách tương đối đầy đủ các hư từ có thể biểu đạt các ý nghĩa có liên quan đến phạm trù thời và phạm trù thể trong tiếng Việt
3> Chương 3: Phân tích các hàm ý đánh giá mang tính chủ quan của các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt
Chương này tập trung phân tích những hàm ý đánh giá mang tính chủ quan của người nói đối với những điều được nói ra Qua khảo sát, chúng tôi thấy các phương tiện chỉ thời, thể trong tiếng Việt thường biểu đạt sự đánh giá của người nói về những vấn đề sau:
- đánh giá về tầm quan trọng của nội dung sự tình;
- đánh giá về tính bất thường, nằm ngoài sự dự tính chờ đợi của nội dung sự tình;
- đánh giá về tính tích cực/ tiêu cực của nội dung sự tình;
- đánh giá về lượng
Trang 156 CÁC QUY ƯỚC:
Ví dụ 1: [DTH, BKBAV, 92] = [tên tác giả, tác phẩm, trang trích dẫn cứ liệu]
Trong đó, tên tác giả, tác phẩm đã được kí hiệu trong phần Nguồn
tư liệu trích dẫn (Xem trang 131)
Ví dụ 2: [20, 9] = [thứ tự nguồn tài liệu tham khảo, trang trích dẫn] Trong đó thứ tự nguồn tài liệu tham khảo đã được sắp xếp trong phần Tài liệu tham khảo (Xem trang 127)
Ví dụ 3:
- dấu (*) đặt trước phát ngôn: phát ngôn bất thường
- dấu (?!) trước phát ngôn: phát ngôn có thể có nghĩa trong một số ngữ cảnh nào đó do những nhân tố dụng pháp nhưng trong những ngữ cảnh đó, nghĩa của phát ngôn phải được hiểu lại
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 KHÁI NIỆM TÌNH THÁI:
1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ NGÔN NGỮ HỌC TRÊN THẾ GIỚI VỀ TÌNH THÁI:
1.1.1 Tình thái khách quan:
Trong mấy chục năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của Ngữ pháp chức năng, của lí thuyết hành vi ngôn ngữ, vấn đề tình thái được các nhà Ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm nghiên cứu Nhưng thực ra, vấn đề tình thái (modality, modalité hay modus) đã được các nhà Logic học quan tâm, nghiên cứu từ rất xa xưa Có thể nói Aristote là nhà Logic học đầu tiên quan tâm đến tình thái Trong các công trình về Logic học như “De l’interprétation” (Về sự giải thích) [mục 12-13] bàn về sự phân loại mệnh
đề hay cuốn “Premiers analytiques” (Những phân tích đầu tiên) [mục 13; 8-22], ông đã đề cập đến vấn đề tình thái [7, 94]
3-Trong phạm vi của mình, khi xác định tính đúng/ sai hay giá trị chân/ ngụy của mệnh đề, Logic học đã quan tâm đến tình thái của mệnh
đề ở các phương diện sau:
- Nội dung mệnh đề là hiện thực hay phi hiện thực;
- Nội dung mệnh đề là tất yếu hay không tất yếu;
- Nội dung mệnh đề là có khả năng xảy ra hay không có khả năng xảy ra
Theo quan điểm như vậy, các mệnh đề, tuỳ theo mối liên hệ giữa chủ từ và vị từ xét trong mối quan hệ giữa mệnh đề với thực tế, được quy
về một trong ba nhóm sau:
- Nhóm các mệnh đề hiện thực: Các mệnh đề hiện thực phản ánh sự xác nhận đối tượng có hay không có đặc trưng do vị từ nêu ra
Trang 17- Nhóm các mệnh đề tất yếu: Các mệnh đề tất yếu phản ánh những nội dung nhận thức mà đặc trưng do vị từ biểu thị có ở đối tượng trong mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện
- Nhóm các mệnh đề khả năng: Các mệnh đề khả năng phản ánh xác suất đối tượng có hay không có đặc trưng nêu ở vị từ
Bảng màu tình thái trong Lôgic học rất đơn giản và đặc biệt là hoàn toàn loại trừ vai trò của người nói Người ta gọi đây là tình thái khách quan (tình thái của Logic học) trong sự đối lập với tình thái chủ quan (tình thái của Ngôn ngữ học)
Chẳng hạn, xét các phát ngôn sau:
1) Nó đã đi Hà Nội
2) Nó lại đi Hà Nội
3) Nó phải đi Hà Nội
Tình thái chủ quan (tình thái của ngôn ngữ) là một trong những vấn
đề rất quan trọng nhưng cũng rất phức tạp của Ngôn ngữ học hiện đại Có thể nói từ trước đến nay, không có khái niệm ngôn ngữ học nào lại phức tạp, gây nhiều tranh cãi như khái niệm tình thái Dường như là có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về tình thái thì có bấy nhiêu quan điểm về tình
Trang 18thái Đánh giá về tính chất phức tạp của tình thái, V.Z Panfilov đã phải
phát biểu: “không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tính tình thái” (Dẫn theo [45, 215]) Mặc dù đều xác
nhận tình thái là một trong hai thành phần cơ bản trong cấu trúc ngữ nghĩa của câu nhưng mỗi tác giả lại hiểu khái niệm tình thái theo một cách khác nhau Cách hiểu của V.N Bondarenko về khái niệm tình thái không giống như cách hiểu của M.V Liapon lại càng không giống cách hiểu của J Lyons hay của J Bybee
V.N Bondarenko cho rằng: “Tính tình thái là phạm trù ngôn ngữ chỉ ra đặc điểm của các mối quan hệ khách quan (tình thái khách quan) được phản ánh trong nội dung của câu và chỉ ra mức độ của tính xác thực về nội dung của chính câu đó theo quan niệm của người nói (tình thái chủ quan)” (Dẫn theo [51, 48])
M.V Liapon thì cho: “Tính tình thái là một phạm trù chức năng ngữ nghĩa thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn đối với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau của điều được thông báo” (Dẫn theo [51, 48])
Trong khi đó, J Lyons lại cho rằng tình thái: “là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà mệnh đề
- Các ý nghĩa tình thái trong ngôn ngữ rất phong phú và đa dạng
Nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi các đối lập phổ quát như các đối lập hiện thực/ phi hiện thực; tất yếu/ không tất yếu; có khả năng/ không có
Trang 19khả năng như Logic học mà là một quá trình nhận thức liên tục bao gồm nhiều khâu, nhiều bước chuyển tiếp từ cực này đến cực kia của sự đối lập,
từ chắc chắn đến không thể, từ bắt buộc, cấm đoán đến cho phép và miễn trừ,…
- Các ý nghĩa tình thái chủ quan không phân biệt nhau một cách rõ ràng như các ý nghĩa tình thái khách quan mà giao thoa, đan xen, chồng chéo, lồng ghép vào nhau và bổ sung cho nhau tạo thành nhiều tầng nhiều bậc ngữ nghĩa khác nhau thuộc nhiều phạm trù khác nhau nên việc khái quát các ý nghĩa đó thành một phạm trù phổ quát không phải là một việc
dễ dàng
- Trong quá trình nghiên cứu, do mục đích nhu cầu của mình, các tác giả nghiên cứu tình thái trong những phạm vi khác nhau nên khó có thể tránh khỏi sự không đồng nhất về quan điểm
Qua trên ta thấy quan điểm của các tác giả về tình thái không thống nhất hoàn toàn với nhau nhưng điều đó không có nghĩa là không thể tìm thấy một nét chung nào đó trong quan điểm của các tác giả về khái niệm này Nhìn chung, các quan điểm của các tác giả có thể quy về hai khuynh hướng chính sau:
1.1.2.1 Khuynh hướng hiểu tình thái theo nghĩa hẹp:
Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này là Charles Bally, nhà Ngôn ngữ học người Pháp, một trong những người có công lớn nhất trong việc mở đường cho việc nghiên cứu về tính tình thái của ngôn ngữ một cách có hệ thống Theo ông, cấu trúc ngữ nghĩa của một phát ngôn bao giờ cũng gồm hai thành phần: tình thái (modus) và nội dung mệnh đề (dictum)
Trang 20Phát ngôn = tình thái + nội dung mệnh đề
(Sentence = modus + dictum)
Trong đó, nội dung mệnh đề (dictum) là những chất liệu tạo nên phát ngôn, miêu tả sự tình của thế giới hiện thực và được coi là chưa có
sự tham gia của người nói (tức là không có tính chủ quan) Và, tình thái (modus) là quan điểm, thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá, của người nói Nội dung mệnh đề là bộ phận biểu hiện một nội dung sự tình ở dạng tiềm năng nào đó gắn với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn ngữ Còn tình thái, gắn với bình diện tâm lí, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói (tức những nhân tố thuộc chủ quan của người nói) đối với điều được nói ra, xét trong mối quan hệ với thực tế, với người nghe và với hoàn cảnh giao tiếp Tình thái như vậy, giữ vai trò quan trọng trong việc thực tại hoá một nội dung
sự tình còn ở dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thực, tức là một phát ngôn trong hoạt động hành chức của nó, một phát ngôn mà trong đó người nói cho biết hành động, trạng thái do vị từ biểu thị là hiện thực hay
là khả năng, là có thể hay là không thể, là đáng tin cậy hay không đáng tin cậy, là quan trọng cần lưu tâm chú ý hay là không quan trọng không đáng lưu tâm chú ý, v.v tóm lại là người nói cho biết nội dung sự tình nêu trong phát ngôn theo quan điểm, theo cách nhìn nhận, đánh giá chủ quan của mình thì như thế nào, ra làm sao, v.v Tình thái cùng với nội dung mệnh đề tác động qua lại tạo nên ngữ nghĩa chung của cả phát ngôn Một phát ngôn không thể không có nội dung mệnh đề cũng như không thể không có tình thái Chẳng hạn, xét các phát ngôn đã nêu ở trên, ta thấy cả năm phát ngôn đều có cùng một nội dung mệnh đề là “nó đi Hà Nội” nhưng quan điểm, thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với nội dung mệnh đề đó trong mỗi phát ngôn là không như nhau Với phát
ngôn “Nó đã đi Hà Nội”, người nói biểu thị sự cam kết, xác nhận nội
dung mệnh đề là chân thực, là đáng tin cậy và người nói có đầy đủ cơ sở,
Trang 21bằng chứng cho điều đó Với phát ngôn “Nó lại đi Hà Nội”, người nói
không chỉ hàm ý rằng sự tình nêu trong phát ngôn là chân thực, là đáng tin cậy mà còn hàm ý rằng sự tình đó nằm ngoài sự dự tính, chờ đợi, nằm
ngoài sự mong muốn của người nói Với phát ngôn “Nó phải đi Hà Nội”,
người nói trình bày quan điểm, thái độ về sự tình dựa trên tiêu chuẩn sự ràng buộc cho rằng sự tình nêu trong phát ngôn là một điều bắt buộc (khách quan hoặc chủ quan) và do đó có thể còn kéo theo hàm ý rằng đó
là điều đáng tiếc, một điều nằm ngoài sự mong muốn, chờ đợi của người
nói Với phát ngôn “Nó sắp đi Hà Nội” và “Có lẽ nó đi Hà Nội”, người
nói không bày tỏ sự cam kết, bảo đảm về tính chân thực của sự tình nêu trong phát ngôn Ở đây người nói không khẳng định cũng không bác bỏ tính hiện thực của nội dung mệnh đề Sự tình nêu trong các phát ngôn trên chỉ là sự đoán định của người nói Nó có thể xảy ra như thế mà cũng có thể không xảy ra như thế
Tình thái, theo cách hiểu hẹp như trên, bao gồm hai phạm trù: tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa
- Tình thái nhận thức (Epistemic Modality) hay còn gọi là tình thái
độ tin cậy, tình thái độ chân thực: Người nói biểu thị sự cam kết về mức
độ chân thực của nội dung mệnh đề
Trang 22- Tình thái đạo nghĩa (Deontic Modality) hay còn gọi là tình thái ràng buộc: Người nói nêu sự đánh giá của mình về tính chất đạo lí, tính chất nghĩa vụ đối với điều được nêu trong câu
Cùng theo khuynh hướng trên của Ch.Bally còn có một số các nhà ngôn ngữ học khác như J Lyons, F.R Palmer
Quan điểm của J Lyons chúng tôi đã dẫn ở trên Ở đây chúng tôi chỉ bổ sung thêm quan điểm của tác giả về vấn đề nội dung các ý nghĩa tình thái Theo ông có ba loại ý nghĩa tình thái sau:
- Tình thái tất yếu và khả năng: bắt nguồn từ sự phân chia của các nhà logic
- Tình thái nhận thức: liên quan đến tính thực tế, tính hiện thực
- Tình thái nghĩa vụ: liên quan đến những kiểu câu mệnh lệnh (Dẫn theo [51, 49])
Còn F.R Palmer cũng cho rằng “tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói ra” (Dẫn theo [45, 216]) Ông chủ trương phân biệt trong câu “những yếu
tố biểu thị tình thái với những yếu tố biểu thị mệnh đề” tức là phân biệt tình thái và nội dung mệnh đề (Dẫn theo [45, 216])
1.1.2.2 Khuynh hướng hiểu tình thái theo nghĩa rộng:
Cùng với sự phát triển của lí thuyết hành vi ngôn ngữ, khái niệm tình thái cũng được hiểu theo một nghĩa rộng hơn Từ chỗ chỉ bao gồm những quan điểm, thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với điều được nói trong câu, khái niệm tình thái được mở rộng đến tối đa Hiểu theo nghĩa rộng nhất, tình thái là “tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề” (J Bybee) (Dẫn theo [52, 385]) Điều này có nghĩa là tình thái, theo nghĩa rộng nhất, bao gồm tất cả các phương diện nội dung gắn với sự thực tại hoá câu, biến các nội dung mệnh đề ở dạng tiềm năng thành các phát ngôn hiện thực trong giao tiếp
và trong tư duy Hiểu về tình thái rộng như vậy nên khi đi vào phân tích
Trang 23những nội dung cụ thể của tình thái, quan điểm của các tác giả có những sai biệt đáng kể Chẳng hạn, V.N Bondarenco và một số lớn các nhà nghiên cứu tình thái chỉ công nhận hai nhóm ý nghĩa sau là những ý nghĩa tình thái:
- Tính khả năng, tính thực tế và tính cần yếu Nhóm ý nghĩa này là
cơ sở cho tình thái khách quan
- Sự nghi ngờ, tính không chắc chắn (giả định khả năng) và tính dứt khoát Nhóm ý nghĩa này là cơ sở cho tình thái chủ quan (Dẫn theo [51, 49])
Còn E.M Volt lại cho rằng “sự đánh giá có thể coi như một trong những kiểu tình thái trùm lên trên nội dung được miêu tả của sự biểu thị ngôn ngữ” (Dẫn theo [51, 49]) Ngoài ra còn có những kiểu ý nghĩa tình thái khác như: “tình thái cần yếu, tình thái mong muốn (nguyện vọng), tình thái yêu cầu, tình thái khuyên nhủ, tình thái ngăn cấm và cảnh cáo trước, tình thái răn đe” (Dẫn theo [51, 49])
Những tác giả như J.R Searle cho rằng vấn đề tình thái, theo nghĩa rộng nhất, nên được nghiên cứu trong khung lí thuyết hành vi ngôn ngữ (theory of speech) (Dẫn theo [45, 217])
Có thể thấy, tình thái, theo cách hiểu rộng, bao gồm nhiều kiểu ý nghĩa, nhiều phạm trù khác nhau nhưng tựu trung lại có những nhóm chính sau:
1> Các ý nghĩa liên quan đến sự phân biệt giữa các loại câu: câu trần thuật, câu hỏi và câu cầu khiến
2> Các ý nghĩa thể hiện quan điểm, thái độ, sự đánh giá, lập trường hay cảm xúc của người nói đối với điều nói ra như: người nói đánh giá về mức độ tin cậy, quan trọng của sự tình, xem nó là điều mong muốn hay không mong muốn, là điều bình thường hay là điều không bình thường, nằm trong sự dự tính hay nằm ngoài sự chờ đợi, có khả năng xảy ra hay không có khả năng xảy ra, v.v
Trang 243> Những ý nghĩa liên quan đến sự nhận định của người nói về giá trị chân nguỵ của điều được nêu trong phát ngôn: khẳng định hay phủ định sự tồn tại của sự tình
4> Những đặc trưng liên quan đến sự diễn tiến của sự tình (kéo dài/ không kéo dài, bắt đầu/ kết thúc, v.v), liên quan đến khung vị từ và mối
quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong câu và vị từ (các ý nghĩa thời, thể hay các ý nghĩa được thể hiện bằng vị từ tình thái)
5> Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác của phát ngôn và hành động phát ngôn gắn với ngữ cảnh, theo quan điểm, đánh giá của người nói Ví dụ, đặc tính siêu ngôn ngữ, hỏi lại, sự đánh giá của người nói về mức độ hiểu biết của người nghe, thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điểm, ý kiến khác, v.v
1.2 QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ NGÔN NGỮ HỌC VIỆT NAM VỀ TÌNH THÁI:
Ở Việt Nam, vấn đề tình thái cũng đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều tác giả ở nhiều góc độ khác nhau Hoàng Phê là người đầu tiên đã vận dụng lôgic tình thái để nghiên cứu một số tác tử ngôn ngữ như tác tử “trừ phi” trong cấu trúc “P trừ phi Q” Nguyễn Đức Dân cũng
là người rất tích cực áp dụng logic tình thái vào nghiên cứu tiếng Việt Bên cạnh đó là một loạt các tác giả khác như Hoàng Trọng Phiến, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ, Phạm Việt Hùng, Nguyễn Ngọc Trâm, Cao Xuân Hạo, v.v
Hoàng Trọng Phiến là một trong những người đầu tiên có ý kiến về tình thái Tình thái, theo ông, là “phạm trù ngữ pháp của câu Ở trong dạng tiềm năng nó có mặt trong tất cả các kiểu câu Điều kiện này thể hiện rõ ở chỗ câu có giá trị thời sự Nó có tác dụng thông báo một điều gì mới mẻ Qua câu người nhận hiểu rõ người nói có thái độ như thế nào đối với hiện thực, người nói trình bày hiện thực với sự đánh giá của mình
Trang 25(đánh giá đúng hay sai, tin hay ngờ, ước đoán hay đã tồn tại thực, khuyên bảo hay ra lệnh…” [32, 30]
Đỗ Hữu Châu khi bàn về ngữ nghĩa của câu cũng đã đề cập đến vấn
đề tình thái Theo ông “tình thái sẽ bao gồm toàn bộ những ý nghĩa thuộc phạm vi dụng học và sẽ tập hợp lại thành thông điệp bộc lộ kèm với lõi P của câu” [5, 16] Cách hiểu về tình thái như vậy quá phức tạp nên để cho
dễ hiểu ông chủ trương phân biệt các ý nghĩa tình thái thành tình thái nội câu (intraphrastique) và tình thái phát ngôn (modalité d’énonciation) Trong đó, tình thái nội câu (intraphrastique) bao gồm những ý nghĩa tình thái được chứa đựng trong nội bộ kết cấu của câu và tình thái phát ngôn (modalité d’énonciation) bao gồm những ý nghĩa tình thái bao trùm toàn
bộ câu [5, 16]
Hoàng Tuệ, trong một bài viết chuyên về tình thái, cho rằng: “tình thái là thái độ của người nói được biểu thị đối với sự việc hay trạng thái diễn đạt trong câu” [49, 3] Quan điểm này của Hoàng Tuệ cũng giống như quan điểm của Ch Bally, nghĩa là coi tình thái là bộ phận biểu đạt thái độ của người nói đối với sự tình nêu trong phát ngôn và cùng với nội dung mệnh đề làm nên ngữ nghĩa của cả phát ngôn Nguyễn Ngọc Trâm cũng đi theo hướng quan điểm này Theo tác giả, tình thái (tình thái chủ quan) là “thái độ của người nói đối với sự việc, sự trạng được nói đến trong câu” [47, 51], [46, 19]
Khác với tất cả các tác giả nêu trên, Cao Xuân Hạo chủ trương coi tình thái là “tất cả những ý nghĩa gì được truyền đạt trong câu mà không thuộc ngôn liệu” [18, 520] Trong đó đáng chú ý nhất là những ý nghĩa liên quan đến:
1> tính hiện thực hay không hiện thực của sự tình (tình thái [± hiện thực])
2> tính tất yếu hay không tất yếu của sự tình (tình thái [± tất yếu])
Trang 263> tính khả năng hay bất khả năng của sự tình (tình thái [± khả năng])
4> thái độ của người nói đối với nội dung của điều được nói ra, trong đó có cách đánh giá chủ quan về sự tình được biểu hiện [18, 520-521]
Xuất phát từ quan điểm trên, ông chủ trương phân biệt, trong tiếng Việt, hai loại tình thái: tình thái của hành động phát ngôn (modalité d'énonciation) và tình thái của lời phát ngôn (modalité d'énoncé) Tình thái của hành động phát ngôn phân biệt các lời nói về phương diện mục tiêu và tác dụng trong giao tế, đó là sự phân biệt giữa các loại câu trần thuật, hỏi, cầu khiến vốn được ngữ pháp hoá trong hầu hết các thứ tiếng
và đã được ngữ pháp truyền thống miêu tả và ông cho rằng tình thái của hành động phát ngôn thuộc vào lĩnh vực dụng pháp chứ không phải thuộc vào lĩnh vực nghĩa học Tình thái của lời phát ngôn thuộc nội dung được truyền đạt hay được yêu cầu truyền đạt (trong câu trần thuật hay câu hỏi)
Nó có liên quan đến thái độ của người nói đối với điều mình nói ra, hoặc đến quan hệ giữa sở đề và sở thuyết của mệnh đề Và như vậy nó “là một phần quan trọng của bình diện nghĩa học” [19, 50-51]
Lời phát ngôn nào cũng chứa đựng tình thái Chúng có thể được đánh dấu hoặc không đánh dấu (trung hoà) Tình thái có đánh dấu (trong câu trần thuật), theo ông, gồm có: tình thái của câu và tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân
Tình thái của câu nói (modalité de la phrase) phản ánh thái độ của người nói đối với điều mình nói ra, cách người nói đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, giới hạn của tính hiện thực (trong thời gian chẳng
hạn- phạm trù thì), mức độ của tính xác thực, của tính tất yếu (khách quan
hay đạo lí), tính khả năng (vật chất hay tinh thần), tính chất đáng mong muốn hay đáng tiếc, v.v của điều được thông báo [19, 51] Theo ông, ý
Trang 27nghĩa tình thái của câu (ý nghĩa lập trường) bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
1> Nhận định của người nói về giá trị chân ngụy của điều được truyền đạt trong câu (khẳng định, phủ nhận, ngờ vực, nêu rõ giới hạn và điều kiện của tính chân lí)
2> Về tính khả năng hay tính tất yếu của điều đó (có thể hay không thể có, tất nhiên hay không tất nhiên, mức độ cao hay thấp của tính khả năng hay tính tất yếu)
3> Cách đánh giá của người nói đối với sự tình được truyền đạt (đáng mừng hay đáng tiếc, đáng hi vọng hay đáng e ngại, v.v., nên có hay không nên có, v.v.)
4> Sự giới thiệu của người nói về tính chất của câu nói (tính thành thật, tính đơn giản, tính áng chừng, tính chính xác, v.v.)
5> Mối liên hệ giữa câu nói với tình huống đối thoại hay với ngôn cảnh và nhiều nội dung khác thuộc các lĩnh vực của logic hoặc siêu ngôn ngữ [19, 175]
Tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân (modalité de la prédication) phản ánh những dạng thức (kéo dài/không kéo dài, bắt đầu/kết thúc, v.v nói chung là những dạng thức thường được gọi là đặc trưng về thể) của hành động, quá trình, trạng thái hay tính chất do phần thuyết biểu thị Nếu
vị ngữ của câu có chủ thể thì tình thái phản ánh mối quan hệ của chủ thể (tham tố thứ nhất) đối với tính hiện thực, tính tất yếu, tính khả năng của hành động, quá trình, trạng thái hay tính chất do vị ngữ hạt nhân của phần thuyết biểu đạt (chẳng hạn, có ý muốn, có ý định làm, có đủ can đảm hay tàn nhẫn để làm, mức độ của trạng thái, tính chất được chủ thể mang trong bản thân, v.v.) [19, 51]
Bên cạnh việc phân biệt các ý nghĩa tình thái, Cao Xuân Hạo còn
đề cập và phân tích một số các phương tiện biểu đạt tình thái tiêu biểu trong tiếng Việt Theo ông, tình thái của câu có thể được biểu thị bằng
Trang 28những khởi ngữ như có lẽ, tất nhiên,…; bằng những cấu trúc chủ vị
(Đề-Thuyết) có “tôi” làm chủ thể của một vị từ có nghĩa “nhận thức”, bằng những hình thái của vị từ, bằng những vị từ tình thái (verbes modaux) hay bằng những trợ từ tình thái (particules modales) Trong đó tác giả đặc biệt
đề cao vai trò của các vị từ tình thái (verbes modaux) như có, có thể,
phải, muốn, định, toan, suýt, trót, bắt đầu, đang, đã, không, chưa, cũng, vẫn, thôi trong việc biểu thị (đánh dấu) tình thái của vị ngữ hạt nhân
Theo ông, những vị từ này khác với các vị từ khác ở chỗ đối tượng của nó
là một sự tình (một quá trình hay một trạng thái) do vị từ làm bổ ngữ cho
nó biểu thị chứ không phải là một vật do danh ngữ biểu thị Hơn nữa, các
vị từ tình thái bên cạnh nghĩa trực tiếp (hiển lộ) thường chứa đựng những tiền giả định (presuppositions) và những hàm nghĩa (hàm ý) (implications) đặc thù “Tiền giả định của vị từ tình thái thường có liên quan đến tính thực hữu hay phi thực của vị từ bổ ngữ trong khoảng thời gian đã qua so với cái trục thời gian do vị từ tình thái đánh dấu, còn hàm nghĩa (hàm ý) của nó có liên quan với thời gian sau [19, 53]
Minh hoạ cho nhận định trên, tác giả đã phân tích tiền giả định và hàm nghĩa (hàm ý) của ba vị từ tình thái: bèn, (quyết) định và toan
Theo ông cả ba vị từ tình thái này đều có tiền giả định là hành động
do vị từ bổ ngữ biểu thị chưa có (tiền giả định phi thực) Nhưng “bèn” lại bao hàm cái ý là sau trục thời gian hành động kia được thực hiện (hàm nghĩa (hàm ý) thực hữu), trong khi đó “toan” lại bao hàm cái ý là hành động ấy sẽ không được thực hiện (hàm nghĩa (hàm ý) phi thực) còn
“(quyết) định” lại không có hàm nghĩa về tính thực hữu (hàm nghĩa trung hoà (vô hàm)) (Xem [19, 53]) Cho nên theo tác giả câu (1a), (2a), (3a)
và (3b) trong những câu sau là những câu chấp nhận được nhưng câu (1b)
và (2b) lại là những câu không chấp nhận được
1a) Chàng bèn đâm chết viên tướng giặc; nhát gươm của chàng
xuyên suốt ngực hắn
Trang 291b) *Chàng bèn đâm chết viên tướng giặc, nhưng nghĩ thế nào lại
3a) Chàng quyết định đâm chết viên tướng giặc, nhưng nghĩ thế
nào lại thôi
3b) Chàng quyết định đâm chết viên tướng giặc; nhát gươm của
chàng xuyên suốt ngực hắn
Ngoài ra tác giả còn nhấn mạnh tiền giả định và hàm nghĩa (hàm ý) của vị từ tình thái cũng như của các từ khác thuộc lĩnh vực của nghĩa học (hiểu theo nghĩa của ngôn ngữ học truyền thống) chứ không phải thuộc lĩnh vực dụng pháp
Theo ông, ở trong câu các từ ngữ đều có thể có những hàm ý (tiền giả định) tuỳ theo ngữ cảnh và tình huống nói năng Nhưng có những từ mang sẵn một hàm ý (và tiền giả định) nào đó thường xuyên không lệ thuộc vào văn cảnh và tình huống nói năng và chính những hàm ý và tiền giả định này giữ vai trò quan trọng trong cơ chế hoạt động của chúng Chẳng hạn, như trên đã dẫn, “bèn” có hàm ý thực hữu nên câu (1b) là bất
ổn Cũng như vậy, “toan” có hàm ý phi thực nên câu (2b) là bất ổn Trong khi đó, tính trung hoà (hay tính vô hàm) của “quyết định” làm cho cả câu (3a) và câu (3b) hoàn toàn bình thường
Coi các vị từ tình thái là những phương tiện biểu đạt tình thái của vị ngữ hạt nhân phổ biến nhất, Cao Xuân Hạo đặc biệt đi sâu nghiên cứu hàm ý và tiền giả định của các vị từ tình thái
Về mặt hàm ý, theo ông, các vị từ tình thái thường hàm ý về:
1> tính hiện thực của sự tình:
Trang 30Cao Xuân Hạo cho rằng, trong số các vị từ tình thái, “có những vị
từ tình thái không bao hàm cái ý nói cái hành động hay cái quá trình được biểu thị bằng vị từ bổ ngữ có diễn ra hay không (vị từ tình thái vô hàm – non-factive); có những vị từ tình thái bao hàm cái ý nói rằng cái hành động hay cái quá trình ấy có diễn ra thật (vị từ tình thái hàm thực – factive); lại có những vị từ tình thái bao hàm cái ý nói rằng hành động hay cái quá trình đó không diễn ra (vị từ tình thái hàm hư – negafactive)” [18, 521]
Các vị từ tình thái vô hàm về tính hiện thực thông dụng có thể kể
là: phải, cần, muốn, buồn, thèm, định, tính, quyết (tâm), mong, ước, ao
ước, lo, sợ, ngại, e, v.v Các vị từ tình thái hàm thực thông dụng có thể kể
là: có, còn, bèn, càng, dám, đành, được, khắc, trót, mới, luôn, nỡ, đã,
đang, chỉ, cố, thử, nhớ, cứ, bắt đầu, tiếp tục, lại, cũng, cùng, vẫn, hay, luôn, mãi, từng, đều, v.v Các vị từ tình thái hàm hư thông dụng có thể kể
là: toan, suýt, quên, thôi, hết, ngừng [18, 521-524]
2> tính chủ ý của sự tình:
Cao Xuân Hạo cho rằng, trong số các vị từ tình thái, “có những vị
từ tình thái hàm ý rằng cái sự tình do vị từ bổ ngữ biểu hiện là một sự tình
có sự điều khiển (control) của một chủ thể - một hành động hay một tư thế: đó là một vị từ tình thái hàm chủ; lại có vị từ tình thái hàm ý rằng cái
sự tình ấy hiện hữu một cách tự nhiên hay diễn ra một cách tự phát chứ không do sự điều khiển của một chủ thể nào - một trạng thái hay một quá trình, một biến cố: đó là một vị từ tình thái hàm thụ (bao hàm ý nghĩa tự phát hay thụ động của sự tình) Lại có những vị từ tình thái không bao hàm ý nào trong hai ý trên đây: đó là những vị từ tình thái vô hàm (về tính [ Chủ ý]) [18, 528]
Các vị từ tình thái vô hàm về tính [ Chủ ý] thông dụng có thể kể
là: đã, đang, sẽ, liền, đều, bỗng, hay/ ít khi, năng, bớt, thêm, chóng/
chậm (lâu), sớm/ chậm, thèm, chịu, sợ, cứ, cũng, cùng, vẫn, bắt đầu,
Trang 31tiếp tục Các vị từ tình thái hàm chủ thông dụng có thể kể là: dám đành,
nỡ, trót, định, toan, tính, quyết, nhớ, thôi, ngừng, cố, gắng, thử, ra sức,
nỗ lực, tìm cách, vờ, nhịn, nín, tránh, kiêng Các vị từ tình thái hàm thụ
thông dụng có thể kể là: lỡ (nhỡ), buồn, suýt, hết, đỡ, tạnh, khỏi, hả, đã
(đã khát, đã giận, đã nư), nguôi [18, 528-532]
Như vậy, qua trên ta có thể thấy, tính vô hàm (về tính hiện thực và
về tính chủ ý), tính hàm thực, tính hàm hư, tính hàm chủ và tính hàm thụ
là một trong những thuộc tính của các vị từ tình thái Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là một vị từ tình thái nào đó luôn luôn có một thuộc tính nào đó trong mọi điều kiện Hàm ý của một số vị từ tình thái có thể thay đổi “tuỳ khi nó được dùng trong câu khẳng định hay câu phủ định” [18, 521] Chẳng hạn, vị từ tình thái “buồn” có tính vô hàm trong câu khẳng định nhưng lại có tính hàm hư trong câu phủ định
Về mặt tiền giả định, Cao Xuân Hạo cho rằng, “tiền giả định thường được coi là một nghĩa hàm ẩn bên cạnh hàm ý Tuy nhiên nếu vị
từ tình thái thường tác động vào cách hiểu nghĩa của vị từ bổ ngữ, chẳng hạn như một vị từ tình thái hàm hư cho biết rằng cái việc do vị từ bổ ngữ biểu hiện không diễn ra, thì tiền giả định của một vị từ tình thái có thể hoặc chỉ có ảnh hưởng đối với bản thân nó (nói cho cụ thể hơn- đối với khả năng dùng nó trong câu), hoặc có ảnh hưởng đến toàn bộ sự tình được biểu hiện trong câu” [18, 533] Hay nói một cách ngắn gọn hơn, tiền giả định của các vị từ tình thái “có ảnh hưởng đến thái độ ngữ pháp và cách
sử dụng nó trong câu và trong những tình huống phát ngôn khác nhau” [18, 534]
Tiền giả định hiển nhiên và tầm thường nhất có thể thấy rõ trong
những vị từ tình thái chỉ dùng cho người và động vật như muốn, buồn,
thèm, dám, chịu, nỡ, đành, nỡ, toan, trót, v.v là tiền giả định “là động
vật” Tiền giả định này cho phép khu biệt các vị từ tình thái trên với một
Trang 32loạt các vị từ tình thái không có cái tiền giả định trên như suýt, sắp, còn,
vẫn, cứ, đang, đã, chưa, sẽ, bắt đầu, tiếp tục, ngừng, lại, hết, v.v
Ngoài ra, Cao Xuân Hạo cho rằng khá nhiều vị từ tình thái được dùng vào việc diễn đạt những ý nghĩa có liên quan đến ý nghĩa “thể” (những ý nghĩa liên quan đến “sự tri giác một sự tình từ bên trong”) Có thể nói những gợi ý về các loại hàm ý tình thái trên đây là rất quan trọng
để hiểu tiếng Việt Về vấn đề này chúng tôi sẽ có dịp trở lại ở phần sau của luận văn
Tóm lại, trên đây là một số quan điểm chủ yếu của các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về tình thái Nói chung vấn đề tình thái của ngôn ngữ
tự nhiên với tư cách là “linh hồn của câu hay nói rộng ra là của văn bản” (Ch Bally), là một vấn đề rất phức tạp Nó bao hàm nhiều hiện tượng ngữ nghĩa-chức năng khác nhau, phản ánh nhiều mối quan hệ khác nhau giữa nội dung mệnh đề (nội dung thông báo) với thực tế, phản ánh nhiều quan điểm, thái độ, sự đánh giá,… vốn tự thân đã rất phức tạp trong thế giới nhận thức của con người của người nói đối với điều nêu trong phát ngôn xét trong mối quan hệ với người nghe và với hoàn cảnh giao tiếp Từ trên
ta chỉ có thể nói rằng đặc trưng bao quát nhất của tình thái chủ quan (tình thái của ngôn ngữ) là đặc biệt đề cao vai trò của người nói, người nghe và hoàn cảnh giao tiếp Nói đến tình thái của ngôn ngữ là nói đến việc xem xét ngôn ngữ trong mối quan hệ với người nói, với người nghe và với hoàn cảnh giao tiếp Hiểu theo một nghĩa rộng nhất, tình thái là tất cả những gì đi kèm với nội dung mệnh đề Chúng có thể được đánh dấu hoặc không được đánh dấu trên bề mặt tuyến tính của câu bằng các phương tiện ngữ pháp hay bằng các phương tiện từ vựng hay bằng trọng âm, ngữ điệu,… khi được người nói phát ngôn ra Dù hiểu theo cách nào thì tình thái cũng là một bộ phận trong cấu trúc ngữ nghĩa của phát ngôn và tình thái cùng với nội dung mệnh đề tạo nên ngữ nghĩa của cả phát ngôn Tình
Trang 33thái như vậy gắn với sự chủ quan tạo lời của người nói (người viết) và nói rộng ra là tác nhân tạo lời
Trang 342 TÍNH CHỦ QUAN CỦA PHÁT NGÔN:
2.1 KHÁI NIỆM TÍNH CHỦ QUAN CỦA PHÁT NGÔN, VỚI
TƯ CÁCH LÀ MỘT PHƯƠNG DIỆN CỦA PHẠM TRÙ TÌNH THÁI:
2.1.1 Như chúng tôi đã nói ở trên, câu bao giờ cũng gồm hai phần: tình thái và nội dung mệnh đề Trong đó, tình thái hiểu một cách đơn giản nhất đó là quan điểm, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra (tức là nội dung mệnh đề) Tình thái có vai trò biến nội dung mệnh đề ở dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thực (tức là một câu có một lực ngôn trung, một nội dung ngữ nghĩa nhất định) Do vậy có thể nói nói đến phát ngôn là nói đến tính chủ quan Một nội dung mệnh đề nếu thiếu tính chủ quan, thiếu tình cảm, ý kiến, thiếu những sự đánh giá của người nói thì không thể phản ánh được đầy đủ bản chất đầy sống động, đa dạng và phức tạp của thế giới hiện thực
2.1.2 Nhưng vấn đề về tính chủ quan của phát ngôn chỉ mới được nghiên cứu gần đây, khi ngữ pháp chức năng ra đời, quan tâm nhiều đến vấn đề ngữ nghĩa Quan niệm về tính chủ quan của phát ngôn đã được nhắc đến khá nhiều trong các công trình ngữ nghĩa học được viết bằng tiếng Anh Tuy nhiên cũng chưa có một quan niệm nào xác đáng về vấn
đề tính chủ quan Một số quan điểm, do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi quan điểm của ngữ nghĩa học hình thức, nên không tránh khỏi những sai sót cả về lí thuyết lẫn thực nghiệm trong cố gắng đưa ra một quan niệm khái quát về vấn đề tính chủ quan (Dẫn theo [23, 336-342]) Tính chủ quan, trong truyền thống thực nghiệm, hoặc được liên tưởng với vài loại tinh thần luận phi khoa học và không thể kiểm tra được hoặc được liên tưởng với thuyết duy vật khoa học thế kỉ XIX nên chỉ phiến diện một chiều Gần đây, trong công trình “Dẫn luận ngữ nghĩa” (Linguistic Semantics - An Introduction) của J Lyons, vấn đề tính chủ quan của phát ngôn mới được đề cập đến như là một phạm trù của ngữ nghĩa học Theo
Trang 35J Lyons, “tính chủ quan, như thuật ngữ được dùng ở đây, biểu thị cái đặc điểm (hoặc tập hợp các đặc điểm) hoặc là của chủ thể nhận thức (nghĩa là chủ thể tri nhận, tình cảm và cảm nhận) hoặc là chủ thể của hành động (tác thể)” (‘Subjectivity’, as the term is being used here,
denotes the property (or set of properties) of being either a subject of consciousness (i.e., of cognition, feeling and perception) or a subject of action (an agent) [23, 337]) Nó biểu thị đặc tính của sự tồn tại của cái
mà Descartes gọi là “thực thể tư duy” Nhưng đó là quan niệm tổng quát
về tính chủ quan Còn đối với các nhà ngôn ngữ học, cũng theo J Lyons, vấn đề mà các nhà ngôn ngữ học quan tâm chỉ giới hạn trong phạm vi tính chủ quan tạo lời (locutionary subjectivity) hay tính chủ quan của phát ngôn (the subjectivity of utterance)
Theo J Lyons, “tính chủ quan tạo lời, hay tính chủ quan của phát ngôn, đó là sự biểu hiện của chủ thể phát ngôn (người nói hoặc người viết, người phát ngôn) về mình trong chính cái hành động phát ngôn: nói một cách đơn giản tính chủ quan tạo lời là sự tự biểu hiện trong cách sử dụng ngôn ngữ” (Locutionary subjectivity that it is the
locutionary agent’s (the speaker’s or writer’s, the utterer’s) expression of himself or herself in the act of utterance: locutionary subjectivity is, quite simply, self-expression in the use of language [23, 337])
Điều này có nghĩa là khi thực hiện hành động phát ngôn một phát ngôn nào đó, người phát ngôn (tác nhân tạo lời) đồng thời thể hiện luôn quan điểm, thái độ, sự đánh giá của chính mình về nội dung sự tình được nêu trong phát ngôn đó Chẳng hạn, khi thực hiện hành động phát ngôn
một phát ngôn như “Nó đã đi Hà Nội”, người phát ngôn đồng thời bộc lộ
thái độ xác nhận sự tình “nó đi Hà Nội” nêu trong phát ngôn là đúng, là chân thực, người nghe có thể hoàn toàn tin tưởng vào nội dung thông báo
của nó Hay khi thực hiện hành động phát ngôn một phát ngôn như “Nó
vẫn đi chơi”, người phát ngôn bộc lộ quan điểm cho rằng đây là một sự
Trang 36tình bất thường, nằm ngoài sự dự tính, chờ đợi của mình Hay khi phát
ngôn ra một phát ngôn như “Ông sẽ giết cả nhà nhà mày”, người phát
ngôn bộc lộ sự đe doạ của mình đối với người đối thoại Nói một cách khác, một phát ngôn khi được hiện thực hoá bao giờ cũng kèm theo một thông tin đánh giá nào đó của chính người phát ngôn về sự tình được nêu trong phát ngôn Tính chủ quan của phát ngôn, theo cách hiểu như vậy, chính là nằm trong phạm trù tình thái, một trong hai bộ phận ngữ nghĩa trong cấu trúc ngữ nghĩa của phát ngôn hiểu theo nghĩa hẹp
2.1.3 Như vậy có thể nói, tính chủ quan là sự thể hiện cái “tôi” của người nói Nói đến tính chủ quan là nói đến người nói với tư cách là chủ thể nhận thức, lĩnh hội và chiếm lĩnh thế giới hiện thực Con người không miêu tả, phản ánh thế giới hiện thực một cách khách quan hoàn toàn mà miêu tả, phản ánh theo nhận thức chủ quan của chính mình Do vậy cùng một sự tình khách quan nhưng qua lăng kính chủ quan của những người nói khác nhau có thể trở nên rất khác nhau Chẳng hạn cùng một sự tình là
“Nó đi ngủ lúc chín giờ” nhưng có thể được những người nói khác nhau nhận thức một cách chủ quan rất khác nhau như sau:
Trang 371) Mới chín giờ mà nó đã đi ngủ
2) Mãi chín giờ nó mới đi ngủ
“Mới chín giờ mà nó đã đi ngủ” có nghĩa là “nó đi ngủ lúc chín
giờ” và theo tôi thì đi ngủ như thế là sớm
“Mãi chín giờ nó mới đi ngủ” lại có nghĩa là “nó đi ngủ lúc chín
giờ” và theo tôi thì như thế là muộn quá
Hay cùng một nội dung sự tình là “Nó ăn một bát cơm” có thể được nhận thức một cách chủ quan rất khác nhau như sau:
1) Nó ăn những một bát cơm
2) Nó ăn mỗi một bát cơm
“Nó ăn những một bát cơm” có nghĩa là “nó ăn một bát cơm” và theo tôi thì như thế là nhiều Nhưng “Nó ăn mỗi một bát cơm” lại có
nghĩa là “nó ăn một bát cơm” và theo tôi như thế là ít
Hơn nữa, với tư cách là chủ thể sáng tạo, con người không chỉ miêu
tả, phản ánh thế giới hiện thực theo nhận thức chủ quan của mình mà còn phản ánh cả cách nhận thức chủ quan đó của mình trong cách sử dụng ngôn ngữ Ngôn ngữ tự nhiên của chúng ta có đủ phương tiện để phản ánh tính chủ quan tạo lời của tác nhân tạo lời (bao gồm cả người nói và người viết và thường gọi chung là người nói)
2.2 CÁC PHƯƠNG TIỆN ĐÁNH DẤU TÍNH CHỦ QUAN CỦA PHÁT NGÔN:
Như đã nói tính chủ quan của phát ngôn thuộc về phạm trù ngữ nghĩa của phát ngôn Bảng màu các sắc thái chủ quan của phát ngôn rất phong phú và đa dạng Ngôn ngữ tự nhiên của chúng ta có vô số các phương tiện để biểu đạt các sắc thái đó Nhưng tựu trung lại có ba nhóm phương tiện chủ yếu sau: phương tiện ngữ âm, phương tiện ngữ pháp và phương tiện từ vựng
Trang 382.2.1 Các phương tiện ngữ âm: tức là dùng ngữ điệu và trọng âm
câu để thể hiện thái độ, tình cảm, quan điểm, cách đánh giá của mình đối với sự tình nêu trong phát ngôn
2.2.2 Các phương tiện ngữ pháp: bao gồm các dạng thức về thời,
thể, thức của vị từ và phương thức đảo trật tự từ Trong đó phương thức dùng các dạng thức về thời, thể, thức của vị từ nhằm biểu đạt các sắc thái tính chủ quan của phát ngôn đặc trưng cho các ngôn ngữ biến hình như các tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, Còn phương thức đảo trật tự từ thì đặc trưng cho các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt
1> Các dạng thức về thời, thể, thức, thái của vị từ tham gia vào việc biểu đạt tính chủ quan của phát ngôn:
Ví dụ:
1) J’habitais ici (Tôi đã ở đây)
2) J’ habite ici (Tôi (đang) ở đây)
3) J’ habiterai ici (Tôi sẽ ở đây)
4) J’ ai habité ici (Tôi đã từng ở đây)
5) Va à l’école! (Đi học đi!)
6) Si vous me donniez son addresse, j’irais tout de suite le trouver
(Nếu anh cho tôi địa chỉ của nó, tôi sẽ đi tìm nó ngay)
Trong các ngôn ngữ biến hình, các dạng thức thời khác nhau của vị
từ có thể góp phần biểu đạt các quan điểm, thái độ, sự đánh giá khác nhau của người phát ngôn đối với sự tình được nêu trong phát ngôn
Với phát ngôn (1), dạng thức thời quá khứ “habitais” của vị từ
“habiter” cho biết người phát ngôn xác nhận, khẳng định tính hiện thực của nội dung sự tình trong khung thời gian quá khứ nhưng lại phủ nhận tính hiện thực của nó trong khung thời gian hiện tại hay khung thời gian tương lai Có nghĩa là nội dung sự tình chỉ có tính hiện thực khi nằm trong khung thời gian quá khứ Trong khi đó, dạng thức thời hiện tại
“habite” trong phát ngôn (2) lại chỉ ra rằng người phát ngôn có thể xác
Trang 39nhận nội dung sự tình có tính hiện thực trong khung thời gian hiện tại hay
có thể xác nhận nó có tính hiện thực trong mọi khung thời gian Ở đây,
“J’habite ici” có thể được khúc giải thành “hiện nay tôi sống ở đây” hoặc
có thể khúc giải thành “từ sáu mươi năm nay tôi sống ở đây” hoặc cũng
có thể được khúc giải thành “từ giờ cho đến chết tôi sống ở đây” [20, 5]
Nếu dạng thức thời quá khứ hay hiện tại của vị từ góp phần biểu đạt thái độ xác nhận của người phát ngôn về một sự tình nào đó được coi
là hiện thực hay không hiện thực trong một khung thời gian nào đó thì dạng thức thời tương lai “habiterai” của vị từ “habiter” trong phát ngôn (3) lại có thể biểu đạt sự đoán định về một khả năng có thể xảy ra của sự tình được nêu trong phát ngôn
Dạng thức thể kinh nghiệm “ai habité” của vị từ “habiter” trong phát ngôn (4) biểu đạt thái độ xác nhận tính hiện thực của nội dung sự tình
Dạng thức trần thuật trong các phát ngôn (1), (2), (3), (4) biểu đạt thái độ xác nhận của người phát ngôn đối với nội dung sự tình
Dạng thức mệnh lệnh “va” của vị từ “aller” trong phát ngôn (5) biểu đạt thái độ của người phát ngôn mong muốn người đối thoại thực hiện hành động đã được chỉ ra bởi vị từ đó
Dạng thức điều kiện của các vị từ trong phát ngôn (6) biểu đạt sự đoán định của người phát ngôn về một khả năng có thể xảy ra với một điều kiện nào đó
Trang 40bày phát ngôn như là một sự xác nhận mang tính trung hoà về một sự tình được coi là hiện thực Còn trong phát ngôn (2), người phát ngôn tường thuật lại một sự tình đồng thời bày tỏ thái độ chê trách sự tình đó Ở đây theo quan điểm của người phát ngôn, sự tình “nó hút thuốc trở lại” là không tốt, là đáng chê trách
2.2.3 Các phương tiện từ vựng: đây là loại phương tiện được sử
dụng rộng rãi hơn cả và là loại phương tiện chủ yếu trong các ngôn ngữ đơn lập không biến hình như tiếng Việt
Trong tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập không biến hình điển hình, các ý nghĩa ngữ pháp chủ yếu được biểu đạt bằng các phương tiện từ vựng Số lượng các phương tiện từ vựng biểu đạt tính chủ quan của phát ngôn trong tiếng Việt rất phong phú và đa dạng, có thể kể ra mấy nhóm chính như sau:
1> Nhóm các vị từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề: biết, cho, e, lo, ngại, nghĩ, ngờ, sợ, tin, tiếc, tưởng,
3) Thầy e có phần nguy hiểm cho con
Không một tiếng vang - Vũ Trọng Phụng
4) Con nghĩ con không xứng đáng chút nào cả
Không một tiếng vang - Vũ Trọng Phụng
Trong các cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề nêu trên (các cấu trúc có chứa vị từ chỉ thái độ mệnh đề và chủ ngữ của mệnh đề ở ngôi thứ nhất số
ít hoặc số nhiều), thái độ của người nói được chỉ rõ bằng các vị từ thái độ mệnh đề