Output file ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ NHUNG KHẢO SÁT THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT TRONG SÁCH GIÁO KHOA TỪ LỚP 1 ĐẾN LỚP 12 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Hà[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
GS.TS Nguyễn Văn Khang
Hà Nội, năm 2008
Trang 3MỤC LỤC
TRANG
2 Lịch sử nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt 8
3 Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Phạm vi tư liệu và phương pháp nghiên cứu 10
1 Một số vấn đề về thành ngữ trong sách giáo khoa 27 1.1 Khái quát về tiếng Việt trong sách giáo khoa 27 1.2 Quan niệm về thành ngữ trong sách giáo khoa 29 1.2.1 Quan niệm về thành ngữ trong sách giáo khoa cũ 29 1.2.2 Quan niệm về thành ngữ trong sách giáo khoa mới 33 1.2.3 So sánh quan niệm về thành ngữ trong sách giáo khoa cũ
và mới
37
2 Sự xuất hiện của thành ngữ trong sách giáo khoa 41 2.1 Các dạng xuất hiện của thành ngữ trong sách giáo khoa 42 2.1.1 Thành ngữ xuất hiện trong các văn bản của sách giáo khoa 43 2.1.2 Thành ngữ xuất hiện dưới dạng làm ngữ liệu trong sách
giáo khoa
54
Trang 42.1.3 Các dạng bài tập về thành ngữ trong sách giáo khoa 63 2.1.4 Thành ngữ xuất hiện trong lời dẫn, bài viết của các tác
giả sách giáo khoa
2.3 Phân loại thành ngữ trong sách giáo khoa theo cấp học 77
3 Khảo sát các đặc điểm về cấu trúc và ý nghĩa của các thành ngữ trong sách giáo khoa
83
3.1 Đặc điểm về cấu trúc của các thành ngữ trong sách giáo khoa 83 3.2 Đặc điểm về ý nghĩa của các thành ngữ trong sách giáo khoa 88 3.3 Biến thể của thành ngữ trong sách giáo khoa 92
Chương 3 : Cách giải thích thành ngữ trong sách giáo khoa và đề xuất một số ý kiến về việc dạy học thành ngữ trong nhà trường phổ thông
97
1 Cách giải thích thành ngữ của sách giáo khoa 97 1.1 Số lƣợng các thành ngữ đƣợc giải thích trong sách giáo khoa 97 1.2 So sánh cách giải thích thành ngữ của sách giáo khoa với một
Trang 5Phụ lục : Danh sách các thành ngữ trong sách giáo khoa 139
Trang 6QUY ƢỚC VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các kí hiệu viết tắt nhƣ sau : SGK : Sách giáo khoa
TH : Tiểu học THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học Tiếng Việt trong nhà trường nói chung là vấn đề quan tâm không chỉ của ngành Giáo dục mà là của cả xã hội Như ta đã biết, tiếng Việt là tiếng phổ thông, là ngôn ngữ quốc gia, là ngôn ngữ giao tiếp của tất cả các dân tộc trên đất nước Việt Nam với nhau Như vậy, tiếng Việt có một vai trò cực kì quan trọng trong đời sống xã hội của đất nước “Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo
dục khác” [Luật Giáo dục, 2005, Điều 7] Do đó, Tiếng Việt là một môn học
bắt buộc đối với tất cả các em học sinh trong cả nước ở mọi cấp học Và môn học này không chỉ học ở một cấp nào mà các em phải học cho đến tận đại học Vai trò của môn học này có thể xem xét một cách cụ thể như sau : “Với
tư cách là một môn học, Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức ngôn ngữ học, hệ thống tiếng Việt, quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp Mặt khác, tiếng Việt là một công
cụ giao tiếp và tư duy, nên môn Tiếng Việt còn đảm nhận thêm một chức năng kép mà các môn học khác không có Đó là chức năng trang bị cho học sinh công cụ để giao tiếp : tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường.” [1, tr 7] Do có một vị trí quan trọng như vậy nên việc dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông cần phải được nghiên cứu một cách có
hệ thống và cần có nhiều sự quan tâm hơn nữa của các nhà khoa học cũng như của xã hội nói chung
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi muốn nghiên cứu đến một khía cạnh nhỏ của việc dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông Đó là việc dạy học thành ngữ trong trường phổ thông và biểu hiện cụ thể là việc khảo sát các thành ngữ trong SGK Tiếng Việt TH (từ lớp 1 đến lớp 5) và Ngữ văn THCS và THPT (từ lớp 6 đến lớp 12)
Sở dĩ chọn thành ngữ là đối tượng nghiên cứu của đề tài này là vì : – Thành ngữ trong mỗi ngôn ngữ có một vị trí rất đặc biệt Là một bộ phận quan trọng của từ vựng, thành ngữ là nơi thể hiện rất rõ các đặc trưng
văn hoá, dân tộc trong ngôn ngữ : “Nếu coi ngôn ngữ dân tộc là tinh thần của
Trang 8dân tộc thì cũng có thể nói thành ngữ (tục ngữ, ca dao, dân ca…) là các hình
thức biểu hiện khác nhau của bản sắc văn hoá dân tộc Trong thành ngữ, chúng ta có thể tìm thấy những đặc điểm riêng của tư duy dân tộc, quan điểm thẩm mĩ, đạo lí làm người, luật đối nhân xử thế, lối sống, cách nghĩ, cách cảm cũng như thái độ đối với cái thiện và cái ác, cái cao cả và cái thấp hèn.” [34,
tr 5] Về mặt văn hoá, thành ngữ chính là nơi thể hiện sâu sắc nhất vốn văn hoá của một dân tộc Cách nói năng, cách suy nghĩ, tư duy của một dân tộc biểu hiện rõ nhất trong vốn từ ngữ của họ mà đặc biệt là trong các thành ngữ Chính vì điều này mà khi nghiên cứu thành ngữ, tức là chúng ta cũng đã nghiên cứu được một phần rất lớn của ngôn ngữ Do đó, việc nhận diện đúng
và hiểu đúng thành ngữ là rất quan trọng đối với mọi người Đối với học sinh điều này càng quan trọng Giúp các em tiếp nhận đúng các thành ngữ tiếng Việt cũng như các đơn vị kiến thức khác về tiếng Việt là một trong những hoạt động nhằm giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt Vì vậy, sự xuất hiện của các thành ngữ trong SGK cũng không thể tuỳ tiện mà phải có một sự trình bày hợp lí và khoa học
– Thành ngữ tiếng Việt xuất hiện trong SGK khá nhiều : trước hết, thành ngữ được học với tư cách là một đơn vị kiến thức bắt buộc như từ ghép, từ láy,… của phân môn Tiếng Việt trong nhà trường ; thứ hai, thành ngữ xuất hiện rất nhiều trong các văn bản văn học được trích dẫn trong SGK Ngữ văn ; thứ ba, thành ngữ được các tác giả sử dụng làm ngữ liệu rất nhiều trong SGK với các dạng xuất hiện rất phong phú Ngoài ra, không chỉ trong SGK Ngữ văn,
mà trong SGK của các môn học khác như Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân,… cũng có thể có sự xuất hiện của thành ngữ Như vậy, thành ngữ là một đơn vị từ vựng quan trọng với học sinh phổ thông Và việc tìm hiểu xem các cách trình bày về thành ngữ trong SGK đã hợp lí hay chưa là một vấn đề cần thiết
– Một lí do nữa để chúng tôi tiến hành đề tài này là chúng tôi muốn tìm hiểu xem các thành ngữ xuất hiện trong SGK có bổ sung kiến thức nào mới cho học sinh hay không Việc đưa các thành ngữ vào SGK và việc giải thích các thành ngữ tiếng Việt trong SGK đã hợp lí hay chưa, và có phù hợp với mục tiêu dạy học tiếng Việt trong nhà trường hay không
Trang 9– Cuối cùng, từ những phân tích, nhận xét về các vấn đề thành ngữ trong SGK, chúng tôi muốn đưa ra một số ý kiến về việc dạy học thành ngữ trong SGK hiện nay, với mong muốn góp phần vào việc nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
Về thành ngữ trong tiếng Việt đã có rất nhiều công trình nghiên cứu dưới các dạng khác nhau Tuy nhiên, với những điều kiện khác nhau, mục đích khác nhau, thành ngữ được xem xét, luận giải theo các phương thức và mức độ khác nhau Các công trình về thành ngữ có thể phân chia thành một số dạng như sau :
– Nghiên cứu thành ngữ trong một cương vị nhất định (trong sự phân định với các đơn vị khác như tục ngữ, quán ngữ, từ ghép,…) Đi theo hướng này, thành ngữ được nghiên cứu hầu hết ở các công trình về từ vựng học, ngữ pháp học hoặc được tách riêng ra thành các bài nghiên cứu về vấn đề ranh giới giữa các đơn vị từ vựng Các công trình tiêu biểu có thể kể đến ở đây như các công trình của Nguyễn Văn Tu (1960, 1968, 1976) ; Đỗ Hữu Châu (1962,
1981, 1986) ; Nguyễn Kim Thản (1963) ; Nguyễn Thiện Giáp (1972, 1985) ;
Hồ Lê (1976),…
– Một số tác giả khác thì lại tách riêng một vài loại thành ngữ ra để nghiên cứu mặt cấu trúc – hình thái và đặc điểm ngữ nghĩa của chúng Các công trình có thể kể đến ở đây là của Trương Đông San (1974), Hoàng Văn Hành (1976) tập trung nghiên cứu thành ngữ so sánh và Bùi Khắc Việt (1981)
và các tác giả cuốn Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ (1994) tập trung miêu tả cả
thành ngữ đối lẫn thành ngữ so sánh
– Vấn đề được quan tâm nghiên cứu phong phú hơn cả là việc nghiên cứu các mặt riêng rẽ của thành ngữ tiếng Việt như nguồn gốc hình thành và phát triển thành ngữ, các vấn đề ngữ nghĩa của thành ngữ, các bình diện văn hoá của thành ngữ, biến thể của thành ngữ, phương pháp nghiên cứu thành ngữ,… Các công trình nghiên cứu theo hướng này có Nguyễn Đức Dân
Trang 10(1986) ; Phan Xuân Thành (1990, 1992, 1993), Vũ Quang Hào (1992) ; Nguyễn Như Ý (1993) ; Nguyễn Văn Khang (1994),…
– Gần đây, nổi lên xu hướng nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt trong việc
đối chiếu với các thành ngữ nước ngoài Ví dụ : Đối chiếu thành ngữ Nga –
Việt trên bình diện giao tiếp (Nguyễn Xuân Hoà, 1996) ; Ngữ nghĩa của những thành ngữ và tục ngữ có từ chỉ thành tố động vật trong tiếng Anh (trong sự so sánh với tiếng Việt) (Phan Văn Quế, 1996) ; Thành ngữ so sánh
có thành tố chỉ động vật tiếng Việt – Nga – Anh (Hoàng Công Minh Hùng,
2001) ; Đặc điểm của thành ngữ tiếng Nhật (trong sự liên hệ với thành ngữ
tiếng Việt) (Ngô Minh Thuỷ, 2006),…
Như vậy, có thể nói các công trình nghiên cứu về thành ngữ nói chung
và thành ngữ tiếng Việt nói chung rất phong phú và đã có thời gian nghiên cứu khá dài Tuy nhiên, việc nghiên cứu thành ngữ như một đối tượng dạy học trong nhà trường phổ thông thì ít được nghiên cứu, nhất là việc khảo sát, nghiên cứu sự xuất hiện của các thành ngữ trong SGK một cách hệ thống Chính vì vậy mà luận văn này của chúng tôi muốn hướng tới một vấn đề quan trọng, chưa được nghiên cứu, đó là việc khảo sát sự xuất hiện của các đơn vị thành ngữ trong SGK Ngữ văn nói chung và SGK Tiếng Việt nói riêng
để thấy được đặc điểm của việc dạy học thành ngữ tiếng Việt hiện nay trong nhà trường phổ thông
3 ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Mặc dù quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt chưa hoàn toàn thống nhất giữa các nhà khoa học nhưng vẫn có thể có những dấu hiệu đặc trưng để nhận ra chúng Do đó, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này
là những đơn vị được coi là thành ngữ (những cụm từ cố định có hình thức cấu tạo là cụm từ hoặc cụm chủ vị, tương đương với một từ hoặc một cụm từ,
có chức năng định danh và có đặc trưng cố định, ví von, bóng bẩy về ý nghĩa)
mà chúng tôi khảo sát được trong SGK
3.2 Mục đích nghiên cứu
Trang 11Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt trong nhà trường nói chung và việc giảng dạy thành ngữ tiếng Việt nói riêng Để đạt được mục đích ấy, chúng tôi sẽ tiến hành trong luận văn của mình các công việc như sau : khảo sát các bài dạy về
lí thuyết thành ngữ trong SGK ; tìm hiểu các dạng xuất hiện của thành ngữ trong SGK ; phân loại các thành ngữ này, khảo sát đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của chúng ; tìm hiểu cách giải thích ý nghĩa các thành ngữ này của các tác giả SGK và cuối cùng chúng tôi muốn xem xét việc trình bày các kiến thức về thành ngữ trong SGK đã phù hợp với thực tế giảng dạy đơn vị ngôn ngữ này trong nhà trường chưa và đưa ra một số ý kiến đề xuất về vấn đề dạy học thành ngữ trong SGK
3.3 Nhiệm vụ của luận văn
Nhiệm vụ mà chúng tôi đặt ra trong luận văn này là : – Tìm hiểu khái niệm thành ngữ tiếng Việt trong SGK
– Cung cấp danh mục các thành ngữ trong SGK và cách giải thích chúng của các tác giả SGK
– Đánh giá việc đưa các thành ngữ và cách giải thích chúng trong SGK – Đề xuất ý kiến về việc đưa các thành ngữ vào SGK phổ thông và việc giải thích chúng
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Thành ngữ có thể xuất hiện trong SGK của nhiều môn học như Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân,… Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi không có điều kiện khảo sát toàn bộ SGK của các môn học mà chỉ
có thể khảo sát sự xuất hiện thành ngữ trong SGK Tiếng Việt ở TH và SGK Ngữ văn ở THCS và THPT Do đó, phạm vi tư liệu của chúng tôi trong luận
văn này gồm : SGK Tiếng Việt TH chương trình mới (từ lớp 1 đến lớp 5) SGK Ngữ văn (THCS và THPT) chương trình mới từ lớp 6 đến lớp 12 Các
đối tượng thành ngữ trong các cuốn SGK này được chúng tôi tiến hành khảo sát trên phạm vi như sau : Chúng tôi khảo sát trên toàn bộ các cuốn SGK
Trang 12Tiếng Việt và Ngữ văn đã nêu ở trên Trong từng cuốn sách, ngoài việc khảo sát những văn bản có trong sách, chúng tôi còn khảo sát tất cả các mục và các nội dung khác để kiểm tra sự các dạng xuất hiện của thành ngữ trong SGK Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các tư liệu liên quan đến thành ngữ tiếng Việt như các từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, các từ điển giải thích thành ngữ,…
Có một điều cần lưu ý là do trong tiếng Việt còn chưa có sự thống nhất hoàn toàn về việc xác định một số đơn vị ngôn ngữ cố định là thành ngữ hay
không phải là thành ngữ nên chúng tôi đã chọn cuốn Từ điển thành ngữ Việt
Nam của Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành, NXB Văn
hoá – Thông tin, Hà Nội, 1994 làm cơ sở để xác định các đơn vị thành ngữ trong SGK, mặc dù có thể trong cuốn sách này còn một số đơn vị mà giới nghiên cứu Việt ngữ học chưa hoàn toàn thống nhất là thành ngữ hay tục ngữ
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :
– Phương pháp thống kê – Phương pháp phân tích, miêu tả – Phương pháp so sánh, đối chiếu
5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
– Về mặt lí luận : thông qua việc khảo sát các thành ngữ trong SGK, luận
văn muốn góp phần vào việc nghiên cứu các vấn đề về thành ngữ tiếng Việt trong SGK và việc dạy và học thành ngữ nói riêng, việc dạy và học từ vựng tiếng Việt nói chung trong SGK
– Về mặt thực tiễn : Thành ngữ là một bộ phận quan trọng của hệ thống
tiếng Việt, vì vậy việc khảo sát sự xuất hiện của thành ngữ trong SGK có tác dụng làm rõ thêm vai trò của thành ngữ trong tiếng Việt cũng như trong đời sống Kết quả khảo sát của luận văn có thể góp phần vào việc dạy học thành ngữ với tư cách là một đơn vị từ vựng tiếng Việt trong nhà trường nói riêng
và việc dạy học tiếng Việt trong nhà trường nói chung
Trang 136 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn của chúng tôi, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, gồm 3 chương
và 1 phần phụ lục như sau :
Chương 1 : Cơ sở lí thuyết về thành ngữ Chương 2 : Bức tranh chung về thành ngữ tiếng Việt trong SGK Chương 3 : Cách giải thích thành ngữ trong SGK và đề xuất một số ý kiến về vấn đề dạy học thành ngữ trong nhà trường phổ thông
Phụ lục : Danh sách các thành ngữ trong SGK
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ THÀNH NGỮ
1 QUAN NIỆM VỀ THÀNH NGỮ
Thành ngữ là gì ? Đây là một câu hỏi không dễ trả lời Trên thực tế, đã
có rất nhiều công trình giải đáp về vấn đề này và không phải là chúng ta đã có được một đáp án hoàn toàn giống nhau cho một câu hỏi tưởng như đơn giản Thành ngữ trong tiếng Việt là một đơn vị nằm trong mối quan hệ đa chiều, do
đó xác định được thành ngữ là một vấn đề tương đối phức tạp Để có thể có những lí giải hợp lí về thành ngữ, trước hết, chúng ta phải giải đáp được những vấn đề còn đang tồn tại trong tiếng Việt như :
– Mối quan hệ giữa thành ngữ và từ ghép
– Mối quan hệ giữa thành ngữ và các bộ phận khác của cụm từ cố định như : tục ngữ, quán ngữ,…
– Mối quan hệ giữa thành ngữ và cụm từ tự do
Giải đáp được những vấn đề này thì chúng ta sẽ nhận diện được thành ngữ tiếng Việt Chúng ta có thể xem qua một số định nghĩa về thành ngữ tiếng Việt của giới Việt ngữ học như sau :
– “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học.” [32, tr 185]
– “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm.” [12, tr 77]
– “Theo cách hiểu thông thường, thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố
định, bền vững về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thường ngày, đặc biệt là trong khẩu
ngữ.” [13, tr 25]
Trang 15– Thành ngữ là : “cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung, khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu.” [36]
– “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa Nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc/ và gợi cảm.” [6, tr 157]
Như vậy, từ các định nghĩa trên, chúng tôi nhận thấy, tuy chưa hoàn toàn thống nhất giữa các ý kiến, nhưng có một số đặc điểm chung có thể nhận ra ngay là : thành ngữ trước hết là một cụm từ cố định, có cấu trúc và ý nghĩa hoàn chỉnh ; nghĩa của thành ngữ có tính bóng bẩy, gợi cảm, hình tượng Tuy nhiên, đây chỉ là một số đặc điểm chung nhìn từ góc độ lí thuyết, nhưng khi đi vào thực tế, trong việc nhận diện, xếp loại các đơn vị thành ngữ thì các ý kiến lại rất khó thống nhất và còn rất nhiều nội dung phải xử lí Như trên đã nói, trong thực tế, để có thể dễ dàng nhận diện thành ngữ thì chúng ta phải phân biệt được thành ngữ với các đơn vị khác như từ ghép, tục ngữ, quán ngữ, cụm
từ tự do,… trên hai phương diện : về cấu trúc và về ý nghĩa
2 PHÂN BIỆT THÀNH NGỮ VỚI CÁC ĐƠN VỊ KHÁC
2.1 Thành ngữ và từ ghép
Thành ngữ và từ ghép đều là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh và cùng thuộc nội bộ cụm từ cố định Tuy giữa hai loại đơn vị này vẫn
có những tranh chấp nhất định Chẳng hạn, đối với cùng một loại đơn vị như :
trẻ măng, dẻo kẹo, đen thui, có tác giả xếp vào cụm từ cố định như Trương
Đông San (1974), Nguyễn Thiện Giáp (1985), có tác giả lại xếp vào từ như Nguyễn Văn Tu (1976), Đỗ Hữu Châu (1981) Tuy nhiên, dựa vào đặc điểm nội dung, hình thức và thành tố cấu tạo, các nhà nghiên cứu cũng đã vạch được một ranh giới đủ để phân biệt hai loại đơn vị trên
Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu xem thành ngữ là gì và từ ghép là gì, từ
đó mới có cơ sở để phân biệt hai loại đơn vị này Về thành ngữ, có rất nhiều định nghĩa như : “Cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của
Trang 16các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt trong câu” [36, tr 271]
Thành ngữ khác từ ghép ở phạm vi rộng hẹp và mức độ nông sâu trong nội dung ý nghĩa của chúng Từ ghép nêu khái niệm sự vật chung chung,
“thành ngữ không chỉ nêu lên khái niệm về sự vật, về hoạt động, về tính chất hoặc trạng thái, mà còn nói rõ thêm những sự vật và những hoạt động ấy như thế nào, hoặc những trạng thái ấy đến mức độ nào” [22], “từ ghép là tên gọi thuần tuý, còn thành ngữ là tên gọi gợi cảm của hiện tượng nào đó” [12],
“quan hệ nội bộ của thành ngữ phức tạp hơn ở từ ghép… có thể phân tích ra hai hoặc trên hai quan hệ ngữ pháp khác nhau” [20], hay “mối quan hệ ngữ pháp trong thành ngữ phức tạp hơn, nhiều bậc hơn, còn ở từ ghép mối quan hệ ngữ pháp đơn giản, ít bậc hơn” [22, tr 15] Mối quan hệ phức tạp nói trên có thể bị chi phối bởi tính chất định lượng về số lượng âm tiết trong mỗi đơn vị Theo thói quen tâm lí của người Việt, thành ngữ có thể là một cụm từ có ba
âm tiết trở lên còn từ ghép thường có hai âm tiết
Như vậy, vận dụng kết hợp các tiêu chí, nội dung ngữ nghĩa, hình thức kết cấu và tính phức tạp trong quan hệ ngữ pháp, các nhà nghiên cứu đã phân biệt được rõ hơn đường ranh giới giữa thành ngữ và từ ghép Với những đơn
vị được coi là thành ngữ rút gọn : đen như thui > đen thui (Nguyễn Thiện Giáp, 1985) hay thành ngữ so sánh dạng AB (vắng quan hệ từ như) (Trương
Đông San, 1974), (Phan Văn Quế, 1995) có lẽ cũng được xem là những đơn
vị thuộc phạm vi từ ghép, hay từ ẩn dụ được hình thành theo xu hướng chuyển hoá từ phạm vi thành ngữ sang, như quan niệm của các tác giả Nguyễn Văn Mệnh (1986) và Hoành Văn Hành (1976)
2.2 Thành ngữ với quán ngữ
Thành ngữ và quán ngữ : Hai loại này có mối quan hệ khá phức tạp Mặc
dù sự khác nhau giữa hai đơn vị này là hiển nhiên song nhiều khi rất khó phân biệt Bởi cả hai đều thuộc cụm từ cố định với một số đặc điểm gần nhau, chẳng hạn, về số lượng âm tiết, tính cố định trong kết cấu, tính thành ngữ, chức năng tạo câu,…
Trang 17Tuy nhiên, vẫn có một số đặc điểm cơ bản nhằm xác định hai đối tượng trên Theo những nghiên cứu của giới Việt ngữ học đó là các đặc điểm như : tính cố định về hình thái cấu trúc, tính hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa
Theo Trương Đông San, “cụm từ cố định là đơn vị cao nhất của ngôn ngữ, gồm hai thực từ trở nên, cố định về thành phần từ vị và về cấu trúc, đồng thời bền vững về ngữ nghĩa và tính chất tu từ, biểu cảm… Thành ngữ gồm những đơn vị mang nghĩa hình tượng chung, trong đó tất cả những từ vị tạo ra
nó đều mất nghĩa đen” [26] Như vậy, cũng có thể hiểu, nghĩa của thành ngữ
là bóng bẩy và biểu cảm, còn nghĩa của các cụm từ cố định khác, trong đó có quán ngữ là không có tính bóng bẩy và biểu cảm
Tác giả Nguyễn Văn Tu thì cho rằng : “quán ngữ là những cụm từ rất gần với cụm từ tự do nhưng tương đối ổn định về cấu trúc, được quen dùng
mà các từ tạo ra chúng còn giữ tính độc lập, có khi một từ trong đó có thể thay thế bằng một từ khác Nghĩa của cụm từ được thể hiện qua nghĩa đen hay nghĩa bóng của những từ, thành tố của chúng” [32, tr 182]
Trên thực tế, trong nhiều trường hợp, các đặc điểm được nêu trên đây chưa thoả mãn yêu cầu của một dấu hiệu đủ để phân biệt thành ngữ với quán ngữ Chẳng hạn, tính cố định, bền vững về hình thái và cấu trúc là đặc điểm quan trọng nhưng không chỉ của riêng thành ngữ Vì vậy, nếu chỉ dựa vào đặc điểm này cũng khó có thể vạch rõ ranh giới giữa thành ngữ với quán ngữ Ví
dụ, rất khó phân biệt tính cố định về hình thái, cấu trúc giữa các loại cấu trúc
như ba chìm bảy nổi, đánh bùn sang ao với những kết cấu như cực chẳng đã,
nói cho cùng, của đáng tội,…
Còn đặc điểm tính độc lập / không độc lập của một đơn vị ngôn ngữ vẫn
là vấn đề phức tạp trong ngôn ngữ học hiện nay Nói tính độc lập về nghĩa là nói khi chúng ở ngoài ngữ cảnh Còn ở trong ngữ cảnh thì dường như chúng chưa trở thành một tiêu chí khu biệt thành ngữ với quán ngữ Ví dụ, không thể
nói rằng các yếu tố cấu tạo nên cực chẳng đã có tính độc lập về nghĩa, còn các yếu tố cấu tạo nên một nắng hai sương là không có tính độc lập về nghĩa
Trang 18Như vậy, về mặt lí thuyết, các nhà ngôn ngữ học đã chỉ ra những tiêu chí
cụ thể nhằm phân định thành ngữ với quán ngữ Tuy nhiên, tính phức tạp của vấn đề đã dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất, thậm chí trái ngược nhau trong cách xử lí về cùng một hiện tượng Chẳng hạn, trong nhiều kết cấu, Nguyễn Văn Tu cho là quán ngữ thì hầu hết các tác giả đều coi là thành ngữ Ví dụ :
đầu voi đuôi chuột, được voi đòi tiên, giấu đầu hở đuôi, gối đất nằm sương ;
hoặc có những đơn vị Trương Đông San cho là quán ngữ thì phần lớn các nhà
Việt ngữ học cho là từ ghép, ví dụ : nhà trẻ, núi lửa, năm nhuận
Thực tế trên đây cho thấy, sự khác nhau giữa thành ngữ và quán ngữ không phải ở mức độ chặt – lỏng trong kết cấu hay mức độ bóng bẩy, biểu cảm về nghĩa của chúng Một hướng nghiên cứu khác có chú ý đến chức năng của thành ngữ và quán ngữ đã giải quyết vấn đề phức tạp này Đó là hướng nghiên cứu có ở các tác giả Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1985),
và nhiều nhà ngôn ngữ học khác như nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1991),…
Theo Đỗ Hữu Châu [3, tr 71 – 90], trong tiếng Việt có một loại đơn vị gọi là ngữ cố định Ngữ cố định khác từ ghép và khác cụm từ tự do Đó là các cụm từ những đã cố định hoá cho nên cũng có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội như từ Tác giả cho rằng, các ngữ cố định tương đương với từ về chức năng tạo câu, tương đương với cụm từ về mặt ngữ nghĩa, đồng thời cho rằng do sự cố định hoá, do tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều có tính thành ngữ Về sự phân loại ngữ cố định, theo quan điểm của
Đỗ Hữu Châu, có thể tách những ngữ trung gian với cụm từ tự do thành một loại gọi là quán ngữ, những trường hợp còn lại, tức là những trường hợp trung gian giữa từ phức và các ngữ cố định thực sự được gọi là thành ngữ Như vậy,
có thể tóm tắt về cách phân loại của Đỗ Hữu Châu bằng sơ đồ dưới đây :
Sơ đồ 1.1 Quan điểm của Đỗ Hữu Châu về thành ngữ và quán ngữ
Cụm từ
Cụm từ tự do Cụm từ cố định (ngữ cố định) Quán ngữ (trung gian với cụm từ tự do) Thành ngữ (trung gian với từ phức)
Trang 19Theo Nguyễn Thiện Giáp [12], trong tiếng Việt có một đơn vị gọi là ngữ, tương đương với từ Các đơn vị gọi là “ngữ” được chia ra làm 4 loại : 1) Ngữ định danh ; 2) Thành ngữ ; 3) Ngữ láy âm ; 4) Quán ngữ
Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa các loại đơn vị này như sau : “Ngữ định danh là những cụm từ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay khái niệm nào đó
của thực tế, bao gồm cả những từ thường được gọi là từ ghép như : xe đạp, xe
máy và những cụm từ thường được gọi là ngữ cố định như : máy hơi nước, phương nằm ngang” “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn
chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm” ; “Thành ngữ khác với ngữ định danh ở
cả mặt nội dung và cấu trúc cú pháp” ; “Về mặt nội dung, ngữ định danh là tên gọi thuần tuý của sự vật, còn thành ngữ là tên gọi gợi cảm của hiện tượng nào đó ; ý nghĩa của thành ngữ luôn có tính cụ thể, không có khả năng diễn đạt đồng thời quan hệ và chủng loại, không có cả diện chung lẫn diện riêng của ý nghĩa như ngữ định danh, và thành ngữ chỉ hình thành ở những phạm vi
mà sự phản ánh đòi hỏi cần có sự bình giá và biểu cảm Về mặt cấu trúc cú pháp, quan hệ tường thuật tường gặp ở thành ngữ (7%) nhưng hầu như không
gặp ở ngữ định danh” [12, tr 77] Ví dụ : Nói thánh nói tướng, ếch ngồi đáy
giếng, chuột sa chĩnh gạo “Ngữ láy âm là những đơn vị được hình thành do
sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có sự kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của
từ đã có Chúng vừa hài hoà về ngữ âm, vừa có sự gợi tả, ví dụ : tím tím, mơn
mởn, láu táu, lẻ tẻ Đây là đơn vị trung gian giữa ngữ định danh và thành
ngữ.” “Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản liên kết, đưa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó,
ví dụ : của đáng tội, nước non gì, nói khí vô phép Đây là đơn vị trung gian
giữa cụm từ tự do và cụm từ cố định”
Có thể tóm tắt quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp bằng sơ đồ sau :
Sơ đồ 1.2 Quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp về thành ngữ và quán ngữ
Cụm từ
Cụm từ tự do Cụm từ cố định (ngữ)
Trang 20Quán ngữ Ngữ định danh Ngữ láy âm Thành ngữ
Kết quả nghiên cứu theo hướng này cho thấy chính những đặc điểm về chức năng đã tạo nên sự khác biệt giữa thành ngữ và quán ngữ Cuối cùng, quán ngữ được xác định là đơn vị có chức năng đưa đẩy, rào đón, liên kết hoặc nhấn mạnh ý trong các loại ngôn bản khác nhau chứ không có chức năng định danh, gọi tên sự vật như ở thành ngữ
2.3 Thành ngữ với tục ngữ
Thành ngữ và tục ngữ đều là cụm từ cố định, có cấu trúc chặt chẽ, ổn định, có tính bóng bẩy, gợi tả trong nội dung ngữ nghĩa Chính những điểm tương đồng này đã làm cho đường ranh giới giữa chúng nhiều khi trở nên mơ
hồ, khó phân biệt Vấn đề này đã được đề cập đến trong các công trình của nhiều tác giả như Cù Đình Tú (1973), Nguyễn Thiện Giáp (1975), Nguyễn Văn
Tu (1976), Hoàng Văn Hành (1980), Nguyễn Đức Dân (1986), Nguyễn Văn Mệnh (1986), Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành (1993),…
Qua những cách nhìn, cách quan niệm về thành ngữ tiếng Việt của các nhà Việt ngữ học nói trên, có thể thấy, thành ngữ và tục ngữ khác nhau cơ bản
ở hai phương diện sau đây :
Về hình thức kết cấu, thành ngữ thuộc cụm từ (cấp độ dưới), còn tục ngữ
thuộc câu (cấp độ trên) Do đặc điểm này mà có những quan niệm cho rằng,
“thành ngữ chỉ làm bộ phận để tạo câu”, còn “tục ngữ có khả năng tạo thành câu, cũng có khi làm bộ phận để tạo câu” [33], hay “trong thành phần cấu tạo của một
số tục ngữ có sự hiện diện của thành ngữ Chẳng hạn “cơm hàng cháo chợ ai lỡ
ăn thì chết”, “chết sông chết suối, không ai chết đuối đọi đèn”” [22, tr 16]
Về nội dung ngữ nghĩa Hầu hết các tác giả đều thống nhất với ý kiến
cho rằng, thành ngữ có chức năng định danh, tức gọi tên sự vật và miêu tả khái niệm, còn tục ngữ có chức năng thông báo, phản ánh quy luật, nêu kinh nghiệm về sản xuất và đời sống xã hội
Trang 21Như vậy, với kết cấu một cụm từ, thành ngữ có chức năng định danh, còn với kết cấu một câu, tục ngữ có chức năng thông báo Tuy nhiên, sự phân biệt như trên chưa đủ để vạch rõ ranh giới giữa hai đối tượng đang xét Bởi, theo quan niệm hiện nay, cụm từ nói chung không chỉ có chức năng định danh, nếu không được tách khỏi văn bản, và câu không phải bao giờ cũng có khả năng biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh, nếu được tách ra khỏi hoàn cảnh tồn tại của chúng Mặt khác, nếu chỉ dựa vào hình thức tổ chức kết cấu thì cũng rất khó phân biệt đối với những thành ngữ có hình thức tương đương với một câu với
một kết cấu chủ – vị như chuột chạy cùng sào, trứng để đầu đẳng, hoặc những trường hợp bao gồm hai kết cấu chủ vị tương đương nhau như nước
mất nhà tan, rồng bay phượng múa,…
Do đó, cũng không nên đánh giá mức độ lớn hay bé hơn về mặt kết cấu của các thành ngữ, tục ngữ qua hiện tượng một thành ngữ có chứa một thành
ngữ khác, ví dụ xác như vờ xơ như nhộng
Nhờ vận dụng các tiêu chí về kết cấu, chức năng và nội dung ngữ nghĩa,
có thể phân biệt được phần lớn các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt Nhưng trên thực tế vẫn còn một số khác phải dựa vào những nhân tố khác ngoài ngôn ngữ mới phân định được Bởi vì, như đã biết, thành ngữ, tục ngữ còn được xem là đơn vị hai mặt, đơn vị ngôn ngữ – văn hoá Tuỳ hoàn cảnh, tuỳ mục đích giao tiếp, một đơn vị lúc này có thể được khai thác như một tục ngữ, nhưng khi khác
lại được khai thác như một thành ngữ Chẳng hạn, gió chiều nào che chiều ấy
xưa nay vẫn được coi là thành ngữ, nhưng trong văn cảnh : “Cũng là sự chấp
kinh phải tòng quyền, gió chiều nào che chiều ấy… cái nhẽ ở đời nó phải như
thế thì biết làm thế nào” (Bùi Huy Phồn, “Phất”) thì mặt tục ngữ của nó đã được khai thác Những đặc điểm về tính hai mặt của thành ngữ, tục ngữ như vừa nêu trên đã được Nguyễn Công Đức khai thác qua một số dẫn chứng minh hoạ sinh động, cùng những luận giải có sức thuyết phục [10, tr 32 – 33, 89 – 92]
2.4 Thành ngữ với cụm từ tự do
Trang 22Đây là hai đơn vị không cùng cấp độ : thành ngữ thuộc bình diện ngôn ngữ, cụm từ tự do thuộc bình diện lời nói và trên thực tế “xưa nay trên đường biên giới này chưa xảy ra hiện tượng tranh chấp nào đáng kể” [22] Tuy nhiên, xét kĩ nội dung nghĩa và hình thức kết cấu, chúng ta vẫn có thể thấy hai đơn vị trên có sự khác nhau khá rõ
Về hình thức kết cấu : thành ngữ phân biệt với cụm từ tự do ở tính phi cú
pháp trong quan hệ “tính phi cú pháp của thành ngữ được bộc lộ rõ nhất ở tính đối xứng của các thành tố” [12, tr 86], hay còn gọi là tính không bình thường
về cú pháp [13, tr 22]
Về nội dung nghĩa : là đơn vị có sẵn của ngôn ngữ, thành ngữ khác với
cụm từ tự do ở tính hoàn chỉnh về nghĩa Nghĩa của thành ngữ luôn tồn tại ngoài chuỗi lời nói nên tương đối ổn định Trái lại, cụm từ tự do được tạo ra trên lời nói, do đó nghĩa của nó chỉ là sự tổng hợp nhất thời nghĩa của các từ trong lời nói
Trong hai tiêu chí trên, tiêu chí hoàn chỉnh về nghĩa là điều kiện tiên quyết để phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do
2.5 Nhận xét
Từ những phân tích trên cho thấy, thành ngữ có những đặc điểm nổi bật như sau :
(1) Thành ngữ là những cụm từ, luôn tồn tại dưới dạng có sẵn
(2) Thành ngữ có nghĩa bóng bẩy, biểu cảm, là sự tổng hoà nghĩa của các thành tố cấu tạo nên nó (hoàn chỉnh về nghĩa)
(3) Thành ngữ có cấu trúc cố định, nói chung không thể tuỳ tiện thay đổi, thêm bớt hoặc tách rời cấu trúc Tuy nhiên, một số thành ngữ có biến thể trong quá trình sử dụng
Những đặc điểm trên đây là những dấu hiệu để phân biệt thành ngữ với các đơn vị xung quanh nó Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ học thường dựa vào hai tiêu chí cơ bản là hình thức và nghĩa để nhận diện thành ngữ Tuy nhiên, những đặc điểm riêng về truyền thống, thói quen ngôn ngữ, tâm lí,… của mỗi dân tộc cũng là một đặc điểm quan trọng trong việc nhận diện các thành ngữ
Trang 23Và trên đại thể, chúng tôi nhận thấy đối với tiếng Việt thì tiêu chí về nghĩa vẫn được coi là quan trọng nhất trong việc nhận diện thành ngữ
3 PHÂN LOẠI THÀNH NGỮ
Để tìm hiểu thành ngữ tiếng Việt, các nhà nghiên cứu cũng đã chú ý tới việc phân loại thành ngữ Với các góc nhìn khác nhau, kết quả phân loại của các tác giả cũng có những khác biệt nhất định
Về mặt chức năng, nhiều tác giả đã coi thành ngữ có chức năng tương tự như từ, cho nên đã dựa vào đặc điểm này để phân loại thành ngữ Hướng phân loại này có thể thấy ở các tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp,… Đỗ Hữu Châu cho rằng “các thành ngữ (có thành ngữ tính cao hay thấp) có thể phân thành những thành ngữ tương đương với từ sẵn có (hiển nhiên hay không hiển nhiên) và những thành ngữ không tương đương với từ” [3] Tác giả Nguyễn Thiện Giáp lại đặt thành ngữ trong tương quan với cách thức cấu
tạo từ ghép và phân thành ngữ thành các loại thành ngữ kết hợp và thành ngữ
hoà kết
Tác giả Cù Đình Tú thì dựa vào sự tương ứng giữa đặc trưng từ loại giữa thành ngữ và từ để phân chia các thành ngữ tiếng Việt Theo tác giả, thành ngữ tiếng Việt có thể phân loại như sau :
a) Thành ngữ biểu thị sự vật : con rồng cháu tiên, núi cao sông dài,
đường đi nước bước, trời yên biển lặng, sóng to gió lớn,…
b) Thành ngữ biểu thị tính chất : chân lấm tay bùn, đầu tắt mặt tối, gan
vàng dạ sắt, một nắng hai sương, chịu thương chịu khó, sức dài vai rộng, uống máu người không tanh,…
c) Thành ngữ biểu thị hành động : nước đổ lá khoai, ăn cơm mới nói
chuyện cũ, đứng núi này trông núi nọ, được voi đòi tiên,… [33]
Có những tác giả không đặt vấn đề phân loại thành ngữ, nhưng lại tách
ra một trong các loại thành ngữ làm đối tượng nghiên cứu, ví như Trương
Đông San (1974), Hoành Văn Hành (1976) tách riêng thành ngữ so sánh để
Trang 24luận giải ; trong khi đó, Bùi Khắc Việt (1981) và một số tác giả khác lại tách riêng thành ngữ đối để luận giải
Nhóm tác giả công trình Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ (Hoàng Văn Hành chủ biên) lại dựa vào hình thái biểu trưng hoá mà chia thành ngữ tiếng
Việt thành hai loại : thành ngữ so sánh hay thành ngữ phi đối xứng và thành
ngữ ẩn dụ hoá hay thành ngữ đối xứng Thành ngữ so sánh như : nóng như
lửa, câm như thóc, lạnh như tiền,… Thành ngữ ẩn dụ hoá như : mặt sứa gan lim, đầu voi đuôi chuột, mắt tròn mắt dẹt, cá mè một lứa,… Ngoài ra, nhóm
tác giả này cũng dựa vào cấu tạo của các thành ngữ tiếng Việt mà chia thành ngữ tiếng Việt thành 3 loại là thành ngữ so sánh, thành ngữ đối và thành ngữ thường Thành ngữ đối được cấu tạo theo quy tắc đối và điệp giữa các thành
tố, kiểu như : trên đe dưới búa, mẹ tròn con vuông, lừa thầy phản bạn,…
Thành ngữ so sánh được cấu tạo theo các biểu thị so sánh vốn có trong ngôn
ngữ, như : rách như xơ mướp, chậm như rùa, nóng như lửa,… Còn thành ngữ
thường là loại thành ngữ được “tạo thành nhờ phương thức ghép từ thông
thường, kiểu như : theo voi hít bã mía, vạch áo cho người xem lương, gió
chiều nào che chiều ấy, trăm voi không được bát nước xáo,… Rõ ràng, ở loại
thành ngữ này không sử dụng phép so sánh, cũng không dùng luật đối ứng để ghép nối các yếu tố, mà cố định hoá hay thành ngữ hoá một đoạn tác ngôn vốn được cấu tạo trên cơ sở luật kết hợp bình thường trong tiếng Việt.” [13,
tr 38] Và theo các tác giả, trong tiếng Việt thành ngữ đối là loại phổ biến nhất, chiếm 56 % tổng số thành ngữ có trong thực tế
Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ – Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến
trong công trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt lại khẳng định “có nhiều
cách phân loại thành ngữ Trước hết có thể dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung lẫn hình thức) để chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại : Thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ” [6, tr 157]
Tác giả Nguyễn Công Đức, trong công trình của mình (1994), xuất phát
từ cách nhìn thành ngữ như là một hình thể hình thái cấu trúc – ngữ nghĩa
Trang 25được cố định hoá từ các đơn vị trên từ như cụm từ tự do và câu, đã chia thành ngữ tiếng Việt thành 5 loại :
a) Thành ngữ có cấu trúc vốn là cấu trúc cú pháp được “từ vựng hoá” để trở thành thành ngữ Loại thành ngữ này đa phần là đoản ngữ, hoặc cũng có thể là các thành ngữ vốn là câu hoàn chỉnh
b) Loại thành ngữ có cấu trúc không bình thường về mặt cú pháp, ví như
loại kết hợp phi lôgíc về mặt trật tự các yếu tố trong thành ngữ như cao chạy
xa bay, mong như mong mẹ về chợ hoặc thành ngữ vắng mặt kết từ như quá
mù ra mưa, qua cầu rút ván, …
c) Loại thành ngữ có cấu trúc theo kiểu đan xen Đây là kiểu thành ngữ đan xen giữa các yếu tố trong hai tổ hợp song tiết để tạo nên sự không bình thường về mặt ngữ nghĩa ở bề mặt cấu trúc nhưng lại có ý nghĩa khái quát ở
bề sâu và chặt chẽ về cấu trúc : ăn sung mặc sướng, đầu trộm đuôi cướp,
d) Loại thành ngữ sử dụng các mô hình kết hợp cú pháp có sẵn Đây là loại thành ngữ được cấu tạo lặp lại các động từ để tách các tổ hợp song tiết, ví
dụ : có tài có tật, có tai có mắt, bóp mồm bóp miệng, chạy thầy chạy thợ,…
e) Loại thành ngữ sử dụng cấu trúc so sánh Đây là loại thành ngữ được
co là chiếm tỉ lệ nhiều nhất và đa dạng trong thành ngữ tiếng Việt
Các cách phân loại trên đây chủ yếu dựa vào các đặc điểm về hình thái, cấu trúc hay ngữ nghĩa của thành ngữ Còn một cách phân loại các thành ngữ trong tiếng Việt nữa là sự phân loại dựa vào nguồn gốc của thành ngữ (tức tiêu chí về con đường hình thành của thành ngữ) Theo tiêu chí này, các thành ngữ đang có trong tiếng Việt có thể phân làm hai loại : thành ngữ Việt và thành ngữ có nguồn gốc nước ngoài Trong tiếng Việt, thành ngữ được vay mượn nước ngoài chủ yếu là các thành ngữ gốc Hán Theo Nguyễn Thị Tân [26], hiện có 2710 đơn vị thành ngữ gốc Hán hoạt động trong tiếng Việt, so với các thành ngữ gốc ngoại khác thì thành ngữ gốc Hán chiếm tỉ lệ gần như tuyệt đối Vì thế, trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi cũng chưa có điều kiện tìm hiểu các thành ngữ gốc ngoại khác mà chỉ đi vào tìm hiểu một
số vấn đề về thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt Những thành ngữ gốc Hán
Trang 26khi mượn vào tiếng Việt, có thể được giữ nguyên hình thái – ngữ nghĩa, dịch từng chữ (một phần hoặc tất cả các yếu tố), dịch nghĩa chung của thành ngữ
có thay đổi trật tự các yếu tố cấu tạo Cách phân loại này được nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu về từ tiếng Việt của các tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp, Trương Chính, Lê Đình Khẩn,… Trong
công trình Thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt (2004), tác giả Nguyễn Thị
Tân đã trình bày rất chi tiết về quan niệm thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt của các nhà Việt ngữ học Từ ý kiến của các nhà Việt ngữ học, tác giả Nguyễn Thị Tân đã đưa ra được khái niệm về thành ngữ gốc Hán dùng trong luận án của mình, theo đó, thành ngữ gốc Hán được quan niệm như sau : – Là thành ngữ Việt có nguồn gốc Hán
– Nguồn gốc Hán thường để lại dấu vết trong thành ngữ Việt ở ba phương diện : ngữ âm, hình thái cấu trúc và ngữ nghĩa
Về mặt ngữ âm (âm đọc của các yếu tố trong thành ngữ), trên cơ sở này, thành ngữ gốc Hán có thể được phân làm ba loại như sau :
+ Tất cả các yếu tố đều có cách đọc Hán Việt, tức là đều là yếu tố Hán
Việt, ví dụ : mai danh ẩn tích, thần thông biến hoá, mã đáo thành công,…
+ Ngoài các yếu tố có cách đọc Hán Việt, còn có cả các yếu tố phi Hán
Việt, ví dụ : buôn Sở bán Tần, cửa Khổng sân Trình, tình sâu nghĩa nặng, trị
bệnh cứu người, trăm hình vạn trạng,…
+ Các thành tố đều là phi Hán Việt, ví dụ : chỉ non thề biển (sơn minh
thể hải), ếch ngồi đáy giếng (tỉnh để chi oa), ghi lòng tạc dạ (minh tâm khắc
cốt),…
Về hình thái cấu trúc, thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt có thể chia làm các loại như sau :
+ Giữ nguyên cấu trúc như trong đơn vị gốc của tiếng Hán, ví dụ : án
binh bất động, cải tà quy chính,…
+ Thay đổi cấu trúc của đơn vị gốc, ví dụ : túc trí đa mưu,…
+ Giữ nguyên các yếu tố trong đơn vị gốc, ví dụ : duy ngã độc tôn, tiến
thoái lưỡng nan, loạn thần tặc tử,…
Trang 27+ Thay đổi các yếu tố của đơn vị gốc, ví dụ : bán sống bán chết, bền gốc
sâu rễ, cùng bất đắc dĩ, thượng lộ bình an,…
Về nội dung ngữ nghĩa, phần lớn thành ngữ gốc Hán có nghĩa biểu trưng, đó là nghĩa tổng thể được khái quát từ nghĩa của các yếu tố cấu tạo Một số trường hợp khác nghĩa của tổ hợp được tạo thành từ nghĩa cụ thể, nghĩa mặt chữ của các yếu tố cấu tạo
Như vậy, vấn đề thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt là một vấn đề tương đối phức tạp và chưa phải đã có sự thống nhất hoàn toàn giữa các nhà nghiên cứu Ngay cả vấn đề tên gọi là thành ngữ gốc Hán hay thành ngữ Hán Việt trong tiếng Việt hiện nay vẫn chưa thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Việt ngữ học Việc nhận diện các thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt cũng là một vấn đề rất khó, không phải ai cũng có thể nhận diện được thành ngữ gốc Hán, nhất là với những thành ngữ đã được dịch hoàn toàn ra tiếng Việt
Trong khuôn khổ của luận văn này, vì mục đích nghiên cứu của chúng tôi
là xem xét những đơn vị thành ngữ xuất hiện trong SGK nên chúng tôi không phân chia thành ngữ thành thành ngữ gốc Hán và thành ngữ Việt mà chỉ phân chia thành thành ngữ Hán Việt và thành ngữ Việt Sở dĩ như vậy bởi vì :
– Khái niệm thành ngữ gốc Hán chưa được hoàn toàn thống nhất trong giới nghiên cứu Việt ngữ học Và đây là một khái niệm hết sức phức tạp, đòi hỏi những nghiên cứu công phu và không phải là mục đích hướng tới của luận văn này
– Với đối tượng nghiên cứu là những đơn vị thành ngữ xuất hiện trong SGK phổ thông, có những đặc điểm riêng chi phối cách nhìn của chúng tôi Trong SGK phổ thông, các tác giả không phân biệt thành ngữ gốc Hán và thành ngữ Việt, học sinh chỉ được học bài học về từ Hán Việt Do đó, đối với học sinh phổ thông, các em chỉ phân biệt được từ Hán Việt và từ Việt, chưa thể phân biệt được các thành ngữ có nguồn gốc Hán với các thành ngữ Việt (nhất là với các thành ngữ gốc Hán mà tất cả các yếu tố đã được dịch nghĩa ra tiếng Việt tương đương) Học sinh chỉ có thể phân biệt được những thành ngữ Hán Việt (có cách đọc Hán Việt) và các thành ngữ Việt
Trang 28Do vậy, trong luận văn này, với các thành ngữ thu thập được ở trong SGK, chúng tôi cũng phân loại trên cơ sở đó, để nghiên cứu sự xuất hiện của các thành ngữ Hán Việt và các thành ngữ Việt trong SGK và cách xử lí đối với các đơn vị này của các tác giả SGK là như thế nào và nếu có điều kiện, chúng tôi muốn nghiên cứu khả năng tiếp nhận hai loại thành ngữ này của học sinh Khái niệm thành ngữ Hán Việt trong luận văn này của chúng tôi được
quan niệm như sau : đó là những thành ngữ mượn từ tiếng Hán, có cách đọc
Hán Việt và được sử dụng trong tiếng Việt Còn thành ngữ Việt là những thành ngữ phi Hán Việt
Nhận xét
Những cách phân loại thành ngữ trên, từ góc nhìn này hay khác đều nhằm phục vụ cho mục đích luận giải thành ngữ của từng tác giả Trong luận văn này, về mặt hình thái – cấu trúc, chúng tôi đồng ý với cách chia thành ngữ tiếng Việt làm 3 loại :
a) Thành ngữ đối : một nắng hai sương, chân lấm tay bùn, nói có sách,
mách có chứng,…
b) Thành ngữ so sánh : ngang như cua, đẹp như tranh, như cá với nước,
như chó với mèo,…
c) Thành ngữ thường (không đối, không so sánh) : theo đóm ăn tàn, gửi
trứng cho ác, ngậm miệng ăn tiền, châu chấu đá xe, chó mặc váy lĩnh,…
Ngoài ra, chúng tôi cũng chấp nhận cách phân chia và thành ngữ tiếng Việt thành hai loại : thành ngữ Việt và thành ngữ Hán Việt
có thể xem thành ngữ là những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ
vựng, có chức năng định danh, tức gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một
Trang 29cách gợi tả và bóng bẩy Với những đặc điểm này, thành ngữ trở thành đơn vị
thường dùng và có hiệu năng trong giao tiếp Ngoài những đặc điểm của một đơn vị ngôn ngữ, thành ngữ còn có những dấu ấn của một đơn vị văn hoá, còn tiềm ẩn, trầm tích những đặc điểm văn hoá dân tộc Cho nên, cũng có thể xem, thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ – văn hoá Điều này thấy rất rõ ở thành ngữ tiếng Việt Trong thành ngữ tiếng Việt thấp thoáng những đặc điểm liên quan đến đời sống sinh hoạt nông nghiệp của người Việt Nam, cư dân
nông nghiệp lúa nước, ví dụ : cày sâu cuốc bẫm, chân lấm tay bùn, dầm mưa
dãi nắng, đồng chua nước mặn,… Trong thành ngữ tiếng Việt cũng ẩn hiện
những đặc điểm của lịch sử dân tộc như ở các thành ngữ con rồng cháu tiên,
con hồng cháu lạc, nợ như chúa Chổm, vắng như chùa bà đanh,… Đặc biệt,
trong thành ngữ còn hàm chứa những đặc điểm về quan niệm sống, lối tư duy
dân tộc như ở các thành ngữ lệnh ông không bằng cồng bà, già kén kẹn hom,
nồi da xáo thịt, rước voi giày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà,…
Từ những đặc điểm của thành ngữ nói trên, chúng tôi đi vào khảo sát cụ
thể SGK Tiếng Việt TH và Ngữ văn THCS và THPT để tìm hiểu bức tranh
chung về thành ngữ tiếng Việt trong SGK phổ thông
Trang 30Chương 2 BỨC TRANH CHUNG VỀ THÀNH NGỮ
TRONG SÁCH GIÁO KHOA
1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THÀNH NGỮ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
1.1 Khái quát về tiếng Việt trong sách giáo khoa
Trước khi tìm hiểu những vấn đề về thành ngữ trong SGK, chúng tôi muốn nói đến một số đặc điểm về các đơn vị kiến thức trong SGK nói chung
và vấn đề từ vựng, vấn đề kiến thức về tiếng Việt nói riêng Như chúng ta đã biết, SGK là tài liệu dùng để dạy học trong nhà trường từ TH cho tới THPT
Vì phục vụ đối tượng là học sinh phổ thông nên SGK phải có những yêu cầu như sau : tính khoa học, tính chính xác, tính sư phạm Những kiến thức trong SGK do đó cũng phải có những yêu cầu như thế Tuy nhiên, cái gọi là tính chính xác trong khoa học, nhất là khoa học xã hội không phải dễ gì thống nhất được Ví dụ, chỉ riêng với ngành ngôn ngữ học, thì hiện nay cái gọi là khái niệm “từ” trong tiếng Việt vẫn chưa thể có khái niệm thống nhất Vậy khi trình bày trong SGK, làm sao có thể trình bày một cách chính xác về khái niệm “từ” trong tiếng Việt cho học sinh Do vậy, tính chính xác ở đây cũng chỉ có thể hiểu một cách tương đối Nghĩa là, với những vấn đề phức tạp, còn
có nhiều quan niệm khác nhau, thì SGK chỉ có thể chọn một ý kiến, một quan niệm mà hiện được nhiều người chấp nhận hơn Cũng như vậy, khái niệm
“tính khoa học” trong SGK cũng phải được hiểu một cách tương đối Đối tượng của SGK là những em học sinh từ TH đến THPT Tức là từ những học sinh chưa biết gì đến những học sinh đã có một trình độ nhất định Do vậy, cách trình bày, ngôn ngữ để truyền thụ kiến thức trong mỗi cấp học, mỗi cuốn SGK cũng khác nhau Đa phần, những kiến thức đưa vào SGK là những kiến thức mới, các em học sinh còn chưa biết, do đó không thể dùng một thứ ngôn ngữ chuẩn khoa học để diễn đạt, không thể dùng quá nhiều thuật ngữ chuyên môn để trình bày vấn đề đó Do đó, ngôn ngữ trong SGK phải dễ hiểu và vì vậy có thể phần nào mất đi tính bác học của nó Thêm vào đó, chương trình
Trang 31cho học sinh các cấp học đều rất nặng, lượng kiến thức mà học sinh phải học rất nhiều mà thời gian thì có ít Vì vậy, không phải vấn đề nào cũng được nói
kĩ, nói nhiều Nhiều đơn vị kiến thức, học sinh mới chỉ được làm quen bằng cách giải thích một cách đơn giản các khái niệm Tuy nhiên, đây là những vấn
đề mà chúng ta thể nào giải quyết ngay được, nhất là trong ngày một ngày hai
Đối với bộ môn Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông cũng vậy Kiến thức cần phải dạy học thì nhiều mà thời gian thì ít Hơn nữa, hiện nay trong bản thân ngành ngôn ngữ học ở Việt Nam vẫn còn rất nhiều quan niệm chưa thống nhất về các vấn đề khác nhau của Việt ngữ học Ngay bản thân khái niệm thành ngữ tiếng Việt cũng chưa thể có được một khái niệm hoàn toàn thống nhất Do đó, để đảm bảo được tính chính xác, tính khoa học của mỗi đơn vị kiến thức trong SGK là rất khó cho người soạn sách Đối với những vấn đề khó, hiện còn nhiều tranh cãi, người viết SGK chỉ có thể viết theo lối trình bày, diễn giải, hoặc theo 1 ý kiến hiện được nhiều người trong xã hội chấp nhận hơn,…
Về vấn đề thành ngữ trong SGK nói riêng, hiện vẫn còn những khó khăn trong việc biên soạn Chẳng hạn, với những vấn đề như : phân loại thành ngữ, nguồn gốc của thành ngữ (thành ngữ gốc Hán hay thành ngữ Việt), các đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt hiện vẫn chưa có được những quan niệm thống nhất Hơn nữa, thành ngữ chỉ được học trong SGK với thời lượng
là 1 tiết (45 phút) về lí thuyết ở lớp 7 và 1 tiết thực hành chung với điển cố ở lớp 11 Thời gian quá ít như vậy làm sao có thể trình bày hết được các vấn đề
về thành ngữ, nhất là những vấn đề hiện còn tranh cãi Rồi đối với học sinh
TH, khi các em chưa biết nhận diện thành ngữ, chưa thể biết thành ngữ là gì, nhưng những văn bản mà các em được làm quen đã có các thành ngữ, thì những người soạn sách phải làm như thế nào để học sinh có thể tiếp nhận được những thành ngữ đó,…
Như vậy, có thể nói, vấn đề thành ngữ nói riêng, vấn đề về tiếng Việt nói chung trong SGK hiện còn rất nhiều điều để bàn, để xem xét Tuy nhiên, theo
Trang 32chúng tôi, đối với những vấn đề kiến thức trong SGK, chúng ta không thể nhìn nhận một cách phiến diện, một chiều Phải nhìn nhận nó trong những hoàn cảnh, yêu cầu nhất định, nhất là phải lấy cái tiêu chí quan trọng nhất, đó
là SGK, để đánh giá Không phải mọi việc đều có thể chỉ đơn giản là đúng hay sai Trên đây là những vấn đề mà chúng tôi đưa ra để có căn cứ khi nhìn nhận vào những vấn đề về tiếng Việt nói chung, về thành ngữ nói riêng trong SGK
1.2 Quan niệm về thành ngữ trong sách giáo khoa
Thành ngữ là một đơn vị kiến thức cơ bản trong bất cứ một ngôn ngữ nào
Do đó, trong SGK phổ thông học sinh được học thành ngữ thành một bài học riêng Khi xem xét quan niệm về thành ngữ trong SGK, chúng tôi không chỉ xem xét trong SGK mới (tức SGK hiện hành) mà còn tìm hiểu trong SGK cũ (SGK trước đây) để có cái nhìn bao quát về việc dạy học thành ngữ trong SGK nói chung Sau đây là những quan niệm về thành ngữ trong hai loại SGK nói trên
1.2.1 Quan niệm về thành ngữ trong sách giáo khoa cũ
Trong SGK cũ (tức sách Tiếng Việt, được biên soạn và học trong trường phổ thông từ năm 1991 – 2003), thành ngữ được trình bày trong SGK Tiếng
Việt 7 tập 2, do nhóm tác giả Phan Thiều – Nguyễn Kì Thục biên soạn, và
nhóm tác giả Diệp Quang Ban – Lê Xuân Thại – Phan Thiều chỉnh lí Trong cuốn sách này, có 2 bài về thành ngữ Bài thứ nhất về thành ngữ nói chung và bài thứ hai về thành ngữ Hán Việt, mỗi bài được dạy trong hai tiết Cấu trúc bài học được thiết kế như sau Mỗi bài gồm có 3 phần :
I – Tìm hiểu bài : giới thiệu những vấn đề chung có tính bao quát về nội dung cần dạy, đưa ngữ liệu có chứa thành ngữ để học sinh quan sát, nhận xét
và những câu hỏi gợi ý để học sinh tự tìm hiểu trên cơ sở quan sát ngữ liệu
II – Bài học : Nêu định nghĩa về thành ngữ, các đặc điểm của thành ngữ,…
III – Bài tập : Nêu các yêu cầu, bài tập (chủ yếu là nêu những đoạn trích
có chứa thành ngữ) để học sinh nhận diện thành ngữ và tập sử dụng nó trong thực tế
Trang 33Có thể nhận thấy lôgíc trình bày bài dạy học thành ngữ nói riêng và các
bài dạy về tiếng Việt nói chung trong SGK Tiếng Việt trước đây là hợp lí, phù
hợp với con đường của nhận thức : “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, sự nhận thức hiện thực khách quan” (Lê-nin)
Cụ thể, nhóm tác giả SGK Tiếng Việt 7, tập hai, quan niệm như sau về
thành ngữ :
“Thành ngữ là loại tổ hợp từ cố định có tính biểu cảm cao và thường có
tính hình tượng Nghĩa của thành ngữ hoặc có thể suy ra trực tiếp từ nghĩa đen (miêu tả) của các yếu tố cấu tạo, hoặc thông qua các phép chuyển nghĩa (so sánh, ẩn dụ, nói quá,…)
Tuỳ hoàn cảnh sử dụng, có thể thêm bớt, thay đổi một số yếu tố trong thành ngữ.” [Tiếng Việt 7, tập hai, NXB Giáo dục, 2000, tr 8]
Từ định nghĩa trên, có thể thấy một số đặc điểm cơ bản về thành ngữ là :
tổ hợp từ cố định, có tính biểu cảm cao và tính hình tượng, nghĩa có thể là nghĩa đen (nghĩa miêu tả) hoặc nghĩa bóng (được suy ra từ các phép chuyển nghĩa), có thể thêm bớt hoặc thay đổi một số yếu tố trong thành ngữ Về đặc
điểm tổ hợp từ cố định, các tác giả trong SGK Tiếng Việt 7, tập hai này có giải thích là : những cụm từ được dùng cố định (khó thay đổi) […] các từ trong
thành ngữ khó thay đổi hoặc thêm bớt [tr 7] So sánh với định nghĩa về thành
ngữ mà chúng tôi đã tìm hiểu ở chương 1 – Cơ sở lí thuyết về thành ngữ, của
luận văn này, chúng tôi nhận thấy việc giải thích đặc điểm cố định của thành
ngữ này là chưa rõ ràng (khó thay đổi là như thế nào), và chưa có sức thuyết
phục Bởi tính cố định của một thành ngữ không chỉ thể hiện ở đặc điểm các từ ngữ trong thành ngữ khó thêm bớt mà còn thể hiện ở các đặc điểm khác như sau :
– Tính cố định về cấu trúc của thành ngữ còn thể hiện ở sự cố định về
trật tự các thành tố cấu tạo nên thành ngữ Ví dụ : chúng ta thường nói con
ông cháu cha, cao chạy xa bay chứ không nói hoặc rất ít nói con cha cháu ông, cao bay xa chạy,…
Trang 34– Tính cố định của các thành ngữ không chỉ thể hiện ở hình thái – cấu
trúc của thành ngữ, tức là không chỉ thể hiện ở các từ cấu tạo nên thành ngữ
mà còn thể hiện ở sự ổn định ngữ nghĩa Nói nhƣ nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ – Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến là : “Cụm từ cố định […] có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định nhƣ từ.” [6, tr 153]
Nhƣ vậy, chúng tôi nhận thấy các tác giả SGK Tiếng Việt 7 đã không hề
đề cập đến tính cố định (ổn định) về ngữ nghĩa của các thành ngữ Hơn nữa, ngay sau khi cho rằng : các từ trong thành ngữ là khó thay đổi thì các tác giả
này lại khẳng định rằng : tính chất cố định đó chỉ là tương đối và thành ngữ
vẫn có thể có những biến đổi nhất định […] Trong khi vận dụng thành ngữ, tuỳ hoàn cảnh, người nói có thể thêm bớt, thay đổi những từ ngữ nhất định
[tr 7] Có thể thấy, bản thân quan niệm này của các tác giả đã có phần mâu thuẫn với nhau Những thay đổi này các tác giả gọi là những biến thể của thành ngữ Những biến thể này cũng tồn tại song song với các thành ngữ gốc
và sau một quá trình sử dụng lâu dài chúng cũng đƣợc coi nhƣ là những thành ngữ
Về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ, SGK Tiếng Việt 7, tập hai nhận
xét : Nghĩa của thành ngữ bắt nguồn trực tiếp từ nghĩa đen của các yếu tố cấu tạo nên nó, hoặc thông qua các phép chuyển nghĩa Về cơ bản, cách nói về nghĩa của thành ngữ nhƣ vậy là đúng, nhƣng chúng tôi nhận thấy cách nói này
là chƣa đủ Một đặc điểm quan trọng của thành ngữ là không chỉ cố định về hình thái – cấu trúc, mà còn cố định về ngữ nghĩa (nhƣ trên đã nói) Ngoài ra, một đặc điểm quan trọng khác về ngữ nghĩa của thành ngữ mà các tác giả này
chƣa nói đến đó là tính hoàn chỉnh Tính hoàn chỉnh về nghĩa của thành ngữ
đƣợc biểu hiện ở việc “nó biểu thị những khái niệm hoặc biểu tƣợng trọn vẹn
về các thuộc tính, quá trình hay sự vật Nói cách khác, thành ngữ là những đơn vị định danh của ngôn ngữ” [13, tr 27] Hơn nữa, việc cho rằng : nghĩa của thành ngữ có thể suy ra trực tiếp từ nghĩa đen (miêu tả) của các yếu tố cấu tạo, hoặc thông qua các phép chuyển nghĩa (ẩn dụ, so sánh, nói quá,…) theo chúng tôi là một cách nói chƣa rõ ràng Bởi vì nghĩa miêu tả của các thành
Trang 35ngữ là có nhưng số lượng này rất ít và không phải là bộ phận đặc trưng cho
các thành ngữ Và ngay cả ở những thành ngữ so sánh như trắng như tuyết,
đắt như tôm tươi,… thì cũng không hẳn nghĩa của các thành ngữ này chỉ đơn
giản là nghĩa đen của các yếu tố cấu tạo nên nó Cái đặc sắc của thành ngữ,
cái làm nên giá trị của thành ngữ chính là tính biểu trưng hoá, tính thành ngữ
Trong đó, tính thành ngữ được hiểu như là “Giả sử có một kết cấu X gồm có các yếu tố a, b, c… hợp thành X = a + b + c Nếu ý nghĩa của X mà không thể giải thích được bằng ý nghĩa của từng yếu tố a, b, c, thì người ta bảo kết cấu
X (hoặc tổ hợp X) có tính thành ngữ.” [6, tr 154] Nội dung của thành ngữ không hướng đến điều được nhắc đến trong nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên
chúng mà ngụ ý điều gì đó lại suy ra từ chúng Ví dụ, thành ngữ cá nằm trong
chậu không phải miêu tả con cá nằm trong cái chậu mà ngụ ý nói đến tình
trạng bị giam hãm, tù túng, không được sống tự do, phóng khoáng Đó là nghĩa bóng hay nghĩa biểu trưng được hình thành nhờ quá trình biểu trưng hoá Và nghĩa của các thành ngữ chủ yếu là qua quá trình này Tức là cái đặc
điểm quan trọng của ngữ nghĩa của thành ngữ là không giải thích bằng phép
cộng của nghĩa của các yếu tố tạo nên nó đã chưa được nói rõ trong quan
niệm của các tác giả SGK Tiếng Việt 7, tập hai này
Phần III – Bài tập, là phần luyện tập, các tác giả đưa ra các bài tập để học sinh kiểm tra những kiến thức vừa học Trong bài về thành ngữ này, các tác giả đưa ra 4 bài tập Bài tập 1 là bài tìm và giải thích thành ngữ trong các ngữ liệu cho sẵn Bài tập 2 yêu cầu học sinh tìm thành ngữ gốc và thành ngữ
đã bị biến đổi trong các ngữ liệu Bài tập 3 yêu cầu học sinh giải thích các thành ngữ cho sẵn và đặt câu với các thành ngữ đó Bài tập 4 yêu cầu học sinh giải thích nội dung của mỗi thành ngữ trong bài tập 3 được diễn đạt thông qua cách nào (miêu tả, so sánh, ẩn dụ, nói quá,…), tức là yêu cầu học sinh nắm được phương thức tạo nghĩa của thành ngữ Như vậy, có thể thấy với 4 bài tập này, các tác giả SGK đã có một sự kiểm tra khá toàn diện các kiến thức mà học sinh đã được học trong bài học Từ việc nhận diện thành ngữ đến việc giải thích nghĩa, tìm biến thể thành ngữ, đặt câu với các thành ngữ và giải
Trang 36thích phương thức chuyển nghĩa của thành ngữ Các ngữ liệu được các tác giả
chọn làm ví dụ cũng rất tiêu biểu Đó là những câu trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du hay những câu trong các tác phẩm văn học nổi tiếng của các tác giả như : Tô Hoài, Nguyễn Kiên, Nguyễn Công Hoan, Anh Đức,…
Ngoài bài học về thành ngữ nói chung, SGK cũ còn có riêng một bài về
thành ngữ Hán Việt Trong bài học Thành ngữ Hán Việt [SGK Tiếng Việt 7,
tập hai, tr 12 – 18], các tác giả khẳng định “Tiếng Việt có một kho tàng thành ngữ rất phong phú, trong đó có nhiều thành ngữ Hán Việt” Tức là, thành ngữ Hán Việt thuộc thành ngữ tiếng Việt, và theo các tác giả nó “được cấu tạo bằng các yếu tố Hán Việt theo nguyên tắc kết hợp từ của tiếng Hán” Về vấn
đề này, theo chúng tôi, cũng cần phải xem xét lại Cách nói của các tác giả
SGK cũ như thế thật sự đã hợp lí chưa ? Các thành ngữ này nên gọi là thành
ngữ Hán Việt hay là thành ngữ gốc Hán ? Và có phải người Việt tạo ra các
thành ngữ này trên cơ sở các từ vay mượn của tiếng Hán và các quy tắc kết hợp từ của tiếng Hán không hay thực chất đó là những thành ngữ mà chúng ta
đã vay mượn của tiếng Hán Theo chúng tôi, đây là những vấn đề cần phải làm rõ nhưng rất tiếc SGK cũ chưa giải quyết được điều này SGK cũ mới chỉ làm được một việc đó là đưa ra một số thành ngữ Hán Việt và giải thích các thành ngữ này cho học sinh Việc làm này có thể giúp các em biết thêm một
số thành ngữ Hán Việt nhưng để các em hiểu thật rõ ràng về thành ngữ Hán Việt thì SGK cũ chưa làm được điều này
1.2.2 Quan niệm về thành ngữ trong sách giáo khoa mới
SGK mới mà chúng tôi nói ở đây là SGK được biên soạn từ năm 2002 theo Chương trình THCS ban hành kèm theo Quyết định số 03/2002/QĐ-BGD & ĐT, ngày 24 tháng 1 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo Ở đây, chúng tôi cũng xin nói luôn một điểm khác biệt của SGK mới và SGK cũ là : nếu như ở SGK cũ, các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn được viết thành 3 cuốn sách riêng thì theo chương trình mới ba phân môn này được viết chung trong một cuốn sách có tên là Ngữ văn Việc thay đổi cấu trúc và tên gọi môn học ảnh hưởng không nhỏ đến cấu trúc SGK, tổ chức bài
Trang 37học cũng như nhiều mặt ảnh hưởng của nội dung và phương pháp học tập, giảng dạy Nếu như trước kia, các bài học về Tiếng Việt, Làm văn là những bài học riêng, có tiết học riêng thì trong SGK mới, mỗi bài học đơn vị của SGK sẽ bao gồm cả ba phần : Văn học, Tiếng Việt, Làm văn Do đó, cấu trúc của mỗi bài học trong phân môn Tiếng Việt cũng có thể sẽ khác với SGK cũ Bây giờ chúng tôi sẽ đi tìm hiểu cụ thể quan niệm về thành ngữ trong SGK mới này Lí thuyết về thành ngữ được dạy từ lớp 7
Bài học lí thuyết về thành ngữ trong SGK Ngữ văn 7, tập một được thiết
kế như gồm 3 phần như sau :
I – Thế nào là thành ngữ ? Phần này đưa ra ngữ liệu có chứa thành ngữ
để học sinh tìm hiểu và từ đó để học sinh nhận xét về cấu tạo của thành ngữ
và ý nghĩa của các thành ngữ Sau đó là mục Ghi nhớ nêu ra định nghĩa về
thành ngữ
II – Sử dụng thành ngữ : phần này cũng kết cấu tương tự như phần trên với việc đưa ra các ngữ liệu có chứa thành ngữ và để học sinh xác định vai trò
ngữ pháp của thành ngữ trong câu ; sau đó là mục Ghi nhớ là những nhận xét
của tác giả SGK về vai trò, tác dụng của thành ngữ
III – Luyện tập : Đưa ra các bài tập nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng nhận diện các thành ngữ trong ngữ liệu, tập giải thích các thành ngữ, sưu tầm thành ngữ,…
Quan niệm về thành ngữ của SGK mới cụ thể như sau :
“• Thành ngữ là loại cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa
hoàn chỉnh
• Nghĩa của thành ngữ có thể bắt nguồn trực tiếp từ nghĩa đen của các
từ tạo nên nó nhưng thường thông qua một số phép chuyển nghĩa như ẩn dụ,
so sánh,…” [Ngữ văn 7, tập một, NXB Giáo dục, 2005, tr 144]
Như vậy, có thể thấy, các tác giả SGK mới đã nêu những đặc điểm cơ bản của thành ngữ như : là loại cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh, về nghĩa của thành ngữ thì có thể bắt nguồn trực tiếp từ
Trang 38nghĩa đen nhưng thường thông qua một số phép chuyển nghĩa như ẩn dụ, so sánh,…
Về đặc điểm cấu tạo cố định của các thành ngữ, các tác giả SGK Ngữ
văn 7, tập một không hề giải thích là như thế nào Tuy nhiên, trong phần I –
Thế nào là thành ngữ, sau phần ngữ liệu đưa ra, các tác giả có đưa ra câu hỏi :
“Có thể thay một vài từ trong cụm từ này (lên thác xuống ghềnh) bằng những
từ khác được không ? Có thể chêm xen một vài từ khác vào cụm từ được không ? Có thể thay đổi vị trí của các từ trong cụm từ được không ?” Như vậy, các tác giả cũng đã hướng học sinh đến những đặc điểm cố định của thành ngữ như : không thể thay đổi các từ trong thành ngữ, không thể chêm xen các từ khác vào cụm từ được và không thể thay đổi vị trí của các từ trong thành ngữ được Nhưng xét về phần nêu định nghĩa thành ngữ, chúng ta vẫn
thấy cách quan niệm : thành ngữ là loại cụm từ có cấu tạo cố định là chưa
thoả đáng và chưa rõ ràng đối với học sinh Chúng tôi cũng nhận thấy là trong SGK Ngữ văn của các em học sinh từ lớp 6 đến lớp 7 (tức là trước khi các em
học đến bài thành ngữ), các em chưa hề được học về khái niệm gọi là cụm từ
có cấu tạo cố định (còn trước đó, trong SGK Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5 thì
khái niệm này càng không thể có) Do đó, chắc chắn việc SGK mới định
nghĩa thành ngữ là một loại cụm từ có cấu tạo cố định mà không giải thích cụ thể tính cố định ấy thể hiện như thế nào thì sẽ gây cho các em học sinh rất nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận khái niệm này Theo chúng tôi, các tác giả phải giải thích rõ ràng hơn nữa đặc điểm cố định của thành ngữ để học sinh hiểu rõ đây là một trong những đặc điểm quan trọng để nhận diện thành ngữ và các em có thể nhận diện được những biểu hiện của tính cố định của thành ngữ
Cũng trong phần I – Thế nào là thành ngữ, các tác giả SGK mới có đưa
ra một phần Chú ý cho các em học sinh : “Tuy thành ngữ có cấu tạo cố định nhưng một số ít thành ngữ vẫn có thể có những biến đổi nhất định Chẳng
hạn, thành ngữ đứng núi này trông núi nọ có thể có biến thể như đứng núi này
trông núi khác, đứng núi nọ trông núi kia,…” Điểm này cũng phù hợp với
Trang 39cách giải thích trong SGK cũ Tuy nhiên, cách nói của tác giả SGK mới có lẽ hợp lí hơn khi cho rằng : chỉ một số ít thành ngữ có thể có biến đổi Cách nói này có thể làm cho học sinh không cảm thấy mâu thuẫn giữa cái gọi là tính cố định của thành ngữ và những biến thể của thành ngữ
Về nghĩa của thành ngữ, các tác giả khẳng định điều đầu tiên, đó là : thành ngữ biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh Và các tác giả này cũng cho rằng nghĩa của thành ngữ có thể bắt nguồn trực tiếp từ nghĩa đen của các từ tạo nên
nó hoặc thông qua các phép chuyển nghĩa nhƣ ẩn dụ, so sánh,… So với quan niệm về thành ngữ của SGK cũ, chúng ta thấy SGK mới đã có một tiến bộ hơn đó là khẳng định nghĩa của thành ngữ có tính hoàn chỉnh Tuy nhiên, SGK mới cũng chƣa khẳng định đƣợc tính cố định của thành ngữ về mặt ngữ nghĩa của thành ngữ
Trong phần II – Sử dụng thành ngữ, SGK mới khẳng định :
“• Thành ngữ có thể làm chủ ngữ, vị ngữ trong câu hay làm phụ ngữ
trong cụm danh từ, cụm động từ,…
• Thành ngữ ngắn gọn, hàm súc, có tính hình tượng, có tính biểu cảm cao.”
Từ ghi nhớ trên, có thể thấy các chức năng cú pháp của thành ngữ, cũng nhƣ tác dụng, ý nghĩa của thành ngữ Vì là một cụm từ cố định nên thành ngữ cũng có chức năng ngữ pháp nhƣ một thực từ trong tiếng Việt, tức là nó có thể làm chủ ngữ, làm vị ngữ trong câu hay làm phụ ngữ trong các cụm danh
từ, động từ,…
Riêng đặc điểm tính biểu cảm, tính hình tƣợng, SGK mới không đƣa vào cùng với đặc điểm về nghĩa của thành ngữ mà tách ra thành một đặc điểm riêng trong phần nói về cách sử dụng thành ngữ Đây là một cách nhìn nhận mới, khác với cách nhìn nhận của một số tác giả khác Ví dụ, các tác giả Mai Ngọc Chừ – Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến đã coi tính gợi cảm, hình tƣợng là một đặc điểm về nghĩa của thành ngữ : “Nghĩa của chúng (thành ngữ) có tính hình tƣợng hoặc / và gợi cảm” [6, tr 157]
Trang 40Phần III – Luyện tập là phần đưa ra các bài tập để học sinh củng cố kiến thức vừa học, thực hành những tri thức về thành ngữ vừa học Phần này các tác giả đưa ra 4 bài tập với các dạng như sau : thứ nhất là tìm và giải thích nghĩa của các thành ngữ trong các ngữ liệu cho sẵn Một đặc điểm của SGK mới là tính tích hợp ba phân môn Văn học – Tiếng Việt – Tập làm văn, do đó, những ngữ liệu trong bài tập này chủ yếu được lấy từ các văn bản văn học mà
các em học sinh đã được học trong chương trình như Bánh chưng, bánh giầy,
Thạch Sanh, Truyện Kiều,… Đây là một ưu điểm bởi việc lấy các ngữ liệu từ
chính các văn bản đã được học làm cho học sinh có thể nắm sâu và chắc hơn bài học văn học cũng như thấy các vấn đề về thành ngữ gần gũi hơn Bài tập 2
là bài tập yêu cầu học sinh kể lại các truyền thuyết và ngụ ngôn tương ứng để
thấy được lai lịch của các thành ngữ như con rồng cháu tiên, ếch ngồi đáy
giếng, thầy bói xem voi Bài tập 3 là bài tập yêu cầu học sinh điền thêm yếu tố
còn thiếu vào những thành ngữ cho sẵn để được các thành ngữ trọn vẹn Với dạng bài tập này, các em học sinh có cơ hội được biết thêm nhiều thành ngữ và trên cơ sở tìm yếu tố còn thiếu đó các em có thể biết thêm về những đặc điểm của thành ngữ như tính chất đối,… Bài tập 4 là bài tập yêu cầu học sinh sưu tầm thêm những thành ngữ chưa được giới thiệu trong SGK và giải thích các thành ngữ ấy Bài tập này nhằm mục đích mở rộng kiến thức về thành ngữ cho học sinh Như vậy, với 4 dạng bài tập trên, SGK mới cơ bản đã đạt được những mục tiêu cơ bản như kiểm tra kiến thức của học sinh về thành ngữ, cho các em tìm hiểu nguồn gốc một số thành ngữ và sưu tầm thêm một số thành ngữ để tăng vốn hiểu biết của các em về thành ngữ Về cơ bản, các dạng bài tập này đạt yêu cầu
1.2.3 So sánh quan niệm về thành ngữ trong sách giáo khoa cũ và mới
Mục đích của chúng tôi khi tiến hành so sánh quan niệm về thành ngữ trong SGK cũ và mới là để thấy được sự thay đổi, vận động của quan niệm về thành ngữ của các tác giả SGK
Bảng 2.1 So sánh quan niệm về thành ngữ trong SGK cũ và SGK mới