ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TÔN VÂN TRANG SO SÁNH PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN Ý NGHĨA CỦA CÁC THÀNH NGỮ ANH – VIỆT SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ CHỈ CƠ THỂ CON NGƯỜI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TÔN VÂN TRANG
SO SÁNH PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN Ý NGHĨA CỦA CÁC THÀNH NGỮ ANH – VIỆT SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ CHỈ CƠ THỂ CON NGƯỜI (GIỚI HẠN Ở KHUÔN MẶT)
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ
Hà Nội - 2003
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TÔN VÂN TRANG
SO SÁNH PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN Ý NGHĨA CỦA CÁC THÀNH NGỮ ANH – VIỆT SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ CHỈ CƠ THỂ CON NGƯỜI (GIỚI
HẠN Ở KHUÔN MẶT)
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 50408 Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.,TS Trần Trí Dõi
Hà Nội - 2003
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Ý nghĩa của luận văn
6 Cấu trúc của luận văn
7 Cái mới của luận văn
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT PHỤC VỤ CHO LUẬN VĂN
1.1 Vài nét khái quát về phương pháp so sánh đối chiếu
1.2 Khái niệm về thuật ngữ so sánh đối chiếu
1.3 Phương pháp so sánh đối chiếu
1.4 So sánh phương thức thể hiện ý nghĩa của thành ngữ
1.5 Tiểu kết chương 1
CHƯƠNG 2: THÀNH NGỮ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ CHỈ CƠ THỂ CON NGƯỜI (GIỚI HẠN Ở KHUÔN MẶT) TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
2.1 Khái niệm cơ bản về thành ngữ
2.2 Vắn tắt vài nét về tình hình nghiên cứu thành ngữ trong Tiếng Anh
và Tiếng Việt
2.3 Xác định thành ngữ sử dụng các yếu tố chỉ cơ thể con người (giới
hạn ở khuôn mặt) (TNBPCTKM ) và tiêu chí phân loại TNBPCTKM 2.4 Phân loại TNBPCTKM
2.5 Tiểu kết chương 2
Trang 4CHƯƠNG 3: SO SÁNH ĐỐI CHIẾU THÀNH NGỮ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
3.1 Những nhận xét về sự phân bố của TNBPCTKM
3.2 Những nhận xét về cấu trúc của TNBPCTKM
3.3 Những nhận xét về ngữ nghĩa của TNBPCTKM
3.3.1 Mối liên hệ giữa ý nghĩa và hình ảnh của các TNBPCTKM trong
Tiếng Anh và Tiếng Việt
3.3.2 Tích cực hay không tích cực khi sử dụng các TNBPCTKM
3.3.3 Sử dụng các TNBPCTKM theo nghĩa trực tiếp hay gián tiếp của các
thành ngữ này
3.4 Tiểu kết chương 3
CHƯƠNG 4: MỘT VÀI SUY NGHĨ TRONG VIỆC SỬ DỤNG THÀNH NGỮ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ CHỈ CƠ THỂ CON NGƯỜI (GIỚI HẠN Ở KHUÔN MẶT) TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
4.1 Ứng dụng trong khi chuyển dịch thành ngữ từ Tiếng Việt sang Tiếng
Trang 5QUY ƯỚC TRÌNH BÀY VÀ VIẾT TẮT
A Quy ước trình bày ví dụ bằng hai thứ tiếng:
1 Các thành ngữ dẫn chứng đều được sắp xếp theo trật tự: tiếng Anh – tiếng Việt Phần trực dịch từng từ được để trong ngoặc kép sau dấu ngoặc đơn của các thành ngữ tiếng Anh Nghĩa của thành ngữ được để dưới dạng in nghiêng sau dấu gạch nối
Ví dụ: Get somebody’s nose out of joint (“cho mũi của ai ra khỏi khớp nối”) – khinh người như mẻ, khinh khỉnh như chĩnh mắm thối, khinh người như rác
2 Các ví dụ được trích dẫn trong luận văn được trình bày theo trật tự như sau: Tiếng Anh - Tiếng Việt
Các thành ngữ trong ngữ cảnh được gạch dưới
Ví dụ:
At last, Mr Smith came upon the rare stamp he had been seeking at an auction Since many other stamp collection would also be bidding for it, he realized that he would have to pay through the nose in order to have it
Cuối cùng thì ông Smith cũng nhìn thấy con tem hiếm ở cuộc bán đấu giá mà ông tốn bao công tìm kiếm Nhưng cũng có nhiều người sưu tầm muốn mua nên ông nhận thấy chắc mình sẽ phải mất tiền đống mới hi vọng mua được nó
B Quy ước viết tắt
Trong luận văn, chúng tôi viết tắt một số theo cách dùng lần đầu là đầy
đủ, từ lần dùng thứ hai trở đi là từ viết tắt Ví dụ: ngôn ngữ (NN), tiếng Anh (TA) Chúng tôi có viết tắt một số từ như sau:
TNBPCTKM: Thành ngữ bộ phận cơ thể con người (giới hạn ở khuôn mặt)
TNBPCTCN: Thành ngữ bộ phận cơ thể con người
BPCTCN: Bộ phận cơ thể con người
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Sơ đồ 2.1 Các đơn vị chỉ bộ phận cơ thể con người (giới hạn
ở khuôn mặt) tiếng Anh và tiếng Việt
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ TNBPCTKM
Bảng 2.1 Bảng thống kê TNBPCTKM
Sơ đồ 3.1 Sự phân bố TNBPCTKM
Sơ đồ 3.2 Sụ phân bố TNBPCTKM theo từng tiểu nhóm
Bảng 3.1 Cấu trúc của TNBPCTKM trong tiếng Anh và
tiếng Việt Bảng 3.2 Cấu trúc của TNBPCTKM trong tiếng Anh và
tiếng Việt (tiếp theo)
Sơ đồ 3.3 Cấu trúc TNBPCTKM ở tiếng Anh và tiếng Việt
Bảng 3.3 Phân loại TNBPCTKM trên mối liên hệ giữa ngữ
nghĩa và hình ảnh trong tiếng Anh và tiếng Việt
Bảng 3.4 Thống kê các trường hợp về mối liên hệ giữa hình
ảnh và ý nghĩa thành ngữ
Bảng 3.5 Bảng thống kê ý nghĩa của các thành ngữ có sử
dụng các bộ phận trên khuôn mặt con người Bảng 3.6 Bảng thống kê cách dùng TN trong tiếng Anh và
tiếng Việt Bảng 4.1 Cách chuyển dịch từ TV sang TA
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay, nhu cầu kiến thức ngôn ngữ (NN) nói chung và ngoại ngữ nói riêng trong xã hội hiện đại ngày càng cao do mở rộng giao lưu văn hoá, kinh
tế, xã hội của Việt Nam với nước ngoài, nhất là với các nước nói tiếng Anh (TA)
Để đáp ứng nhu cầu học, sử dụng và giảng dạy TA chuyên sâu, bên cạnh việc giảng dạy TA theo các trình độ khác nhau, việc hiểu và sử dụng các thành ngữ TA cũng rất là quan trọng Một người có trình độ ngoại ngữ tốt không chỉ có kiến thức về ngôn ngữ mình học, mà còn phải nắm vững cả NN của dân tộc mình, kiến thức về đất nước, phong tục tập quán sinh hoạt, kiến thức về văn hoá xã hội Thành ngữ (TN), tục ngữ của các thứ tiếng là nguồn tài liệu vô tận giúp ta tìm hiểu sâu sắc về đất nước, con người của NN mình nghiên cứu, học tập Do đó, luận văn này cố gắng tập trung nghiên cứu so sánh phương thức thể hiện ý nghĩa của các thành ngữ Anh – Việt sử dụng các yếu tố chỉ cơ thể con người (giới hạn ở khuôn mặt) (TNBPCTKM), nhằm giúp cho người sử dụng ngoại ngữ hiệu quả hơn
Hiện nay đã có những nghiên cứu so sánh đối chiếu TN, nhưng những nghiên cứu về so sánh phương thức thể hiện ý nghĩa của các thành ngữ Anh – Việt sử dụng các yếu tố chỉ cơ thể con người (giới hạn ở khuôn mặt) thì chưa
có Có thể nói đây là một luận văn đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này một cách tương đối có hệ thống trên nền của hai ngôn ngữ Anh và Việt Việc chọn
đề tài nghiên cứu so sánh phương thức thể hiện ý nghĩa của các thành ngữ Anh – Việt sử dụng các yếu tố chỉ cơ thể con người (giới hạn ở khuôn mặt) xuất phát từ nhu cầu thực tiễn học tập và giảng dạy ở các trường đại học chuyên ngữ
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trang 9Mục đích của luận văn là mô tả sự giống nhau và khác biệt của TNBPCTKM trong các thứ tiếng Anh và tiếng Việt trên các bình diện ngữ nghĩa, cấu trúc, phong cách
Từ đó, luận văn phải thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản như sau:
- Khảo sát và đối chiếu TNBPCTKM Anh, Việt trong ngữ cảnh
- Đưa ra các tiêu chí phân loại, các nhận xét khách quan về phương thức sử dụng TNBPCTKM trong Tiếng Anh và Tiếng Việt để có thể làm rõ đặc trưng dân tộc về tư duy của người Anh và người Việt trong phạm vi sử dụng TNBPCTKM
- Đưa ra các chỉ dẫn trong sử dụng TN các thứ tiếng
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là TNBPCTKM của tiếng Anh và tiếng Việt và phương thức thể hiện ý nghĩa của các TNBPCTKM của Tiếng Anh và tiếng Việt Đây là những TN thông dụng trong cuộc sống hàng ngày của Anh hoặc Bắc Mỹ, được dùng phổ biến trong các sách học TA viết cho người nước ngoài, trong từ điển TN tiếng Anh và tiếng Việt
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào TNBPCTKM trong các thứ tiếng Anh và tiếng Việt Về tư liệu khảo sát luận văn chỉ giới hạn tài liệu nghiên cứu trong phạm vi những TN được coi là thông dụng (theo COBUILD CORPUS và theo khảo sát kiến thức TN của người bản ngữ), hoặc những thành ngữ có thể gây hiểu sai nghĩa đối với người Việt học tiếng Anh Tất cả những TN có chú giải “cổ” (trong từ điển), hoặc chưa gặp (trong khảo sát) đều không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này, mặc dù có thể được
đề cập khi cần thiết
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chính được áp dụng trong luận văn này là phương pháp đối chiếu và phương pháp miêu tả
Phương pháp so sánh đối chiếu:
Trang 10TN TA là những đơn vị TN của ngôn ngữ nguồn (NNN) Tiếng Việt là
TN của ngôn ngữ đích (NNĐ)
Đối chiếu là phương pháp nghiên cứu dựa trên sự so sánh hai hay nhiều ngôn ngữ để “phát hiện ra những nét giống nhau về cấu trúc, chức năng và hoạt động của các phương tiện ngôn ngữ được nghiên cứu” [26;48], đồng thời cũng chú ý cả cái khác nhau, xác định, nhận diện chúng
Phương pháp miêu tả
Miêu tả trong ngôn ngữ học là phương pháp nghiên cứu một hay nhiều ngôn ngữ ở một giai đoạn phát triển nhất định, chủ yếu tập trung vào phân tích ngữ pháp “Phương pháp miêu tả nhìn nhận ngôn ngữ như một hệ thống cấu trúc” [5;68] Nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này là đối chiếu phương thức thể hiện ý nghĩa của hai ngôn ngữ Để đối chiếu được, trước hết chúng tôi tiến hành miêu tả một cách đầy đủ và phân tích một cách chi tiết các TNBPCTKM trong tiếng Anh và tiếng Việt Những miêu tả và phân tích này dựa trên cơ sở lý thuyết của ngữ pháp hiện đại Chúng sẽ làm cơ
sở cho chúng tôi so sánh tìm ra những sự giống nhau và khác nhau về nhóm
từ này trong hai ngôn ngữ, sau đó tiến hành khảo sát một số TN cụ thể
Mục đích cuối cùng của luận văn là tìm ra những đặc điểm tương đồng và
dị biệt của TN Tiếng Anh và tiếng Việt và đưa ra những chỉ dẫn ngôn ngữ học, đất nước và văn hoá đối với những người sử dụng các thứ tiếng trên
5 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn sẽ đóng góp một phần cho việc giảng dạy và học tập ngoại ngữ ở các trường đại học chuyên ngữ
Mặc dù nghiên cứu so sánh đối chiếu về thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt gần đây đã được quan tâm, và đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về TN, song cho đến nay chưa có nghiên cứu so sánh phương thức thể hiện ý nghĩa của TNBPCTKM trong tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 11Thông qua việc xác định nét tương đồng và dị biệt giữa hai TNBPCTKM ở tiếng Anh và tiếng Việt, luận văn này có thể đóng góp một phần cho việc giảng dạy và học tập ở các trường đại học chuyên ngữ có hiệu quả hơn, và đóng góp một phần không nhỏ trong việc tìm hiểu văn hoá, đất nước, con người của hai ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh thông qua việc nghiên cứu TNBPCTKM
Như vậy, luận văn có ý nghĩa thực tế thực sự Kết quả nghiên cứu cũng như ngữ liệu của luận văn có thể được áp dụng cho quá trình giảng dạy trong các trường chuyên ngữ hoặc được sử dụng như tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy và dịch thuật TN
6 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 100 trang chính Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1 Một số tiền đề lý thuyết phục vụ cho luận văn;
Chương 2 Thành ngữ sử dụng các yếu tố chỉ cơ thể con người (giới hạn ở
khuôn mặt) trong tiếng Anh và tiếng Việt;
Chương 3 So sánh đối chiếu TNBPCTKM của tiếng Anh và tiếng Việt Chương 4 Một vài suy nghĩ trong việc sử dụng TNBPCTKM trong tiếng
Anh và tiếng Việt
7 Cái mới của luận văn
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu mảng TNBPCTKM từ góc độ ngữ nghĩa và phương thức thể hiện, qua đó tìm cách nhận dạng TN trên cơ sở đặc điểm văn hoá và tư duy dân tộc của mỗi cộng đồng người bản ngữ
Trang 12CHƯƠNG 1: MỘT SỐ TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT PHỤC VỤ CHO LUẬN
VĂN
1.1 Vài nét khái quát về phương pháp so sánh đối chiếu
Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ học đối chiếu, với tư cách là một
phân ngành của ngôn ngữ học, có những tiền đề lý luận của nó
Đã từ lâu, con người hướng sự chú ý của mình không chỉ giới hạn ở những ngôn ngữ riêng lẻ, mà đồng thời một lúc vài ngôn ngữ Chính điều đó đã dẫn đến việc xuất hiện nhiều trào lưu, nhiều khuynh hướng nghiên cứu so sánh
Khá quen thuộc với lịch sử ngôn ngữ học là: ngôn ngữ học so sánh – lịch sử,
ngôn ngữ học khu vực và loại hình học Song việc phân chia ngôn ngữ học
đối chiếu (contrastive linguistics) thành một phân ngành độc lập thì mãi tới gần đây mới có và còn không ít những vấn đề tranh luận
Ngôn ngữ học đối chiếu hình thành trong trào lưu nghiên cứu so sánh nói chung Nó bao quát một lúc nhiều ngôn ngữ bất luận ngôn ngữ đó cùng hay khác loại hình và ngữ hệ Song phải nói rằng, nghiên cứu đối chiếu hình thành một cách trực tiếp trong tiến trình tìm tòi của con người để nắm ngoại ngữ một cách nhanh chóng, tốt hơn Chính các yêu cầu của việc học và dạy ngoại ngữ là một nhân tố quan trọng dẫn đến sự hình thành phân ngành khoa học
này Nhà ngôn ngữ học Pháp Di Pietơrô đã viết trong cuốn “Cấu trúc ngôn
ngữ qua đối chiếu” rằng: “Ngôn ngữ học đối chiếu ra đời từ kinh nghiệm dạy
tiếng Mỗi người học và dạy ngoại ngữ dễ dàng nhận ra một điều là trong nhiều trường hợp tiếng mẹ đẻ đã cản trở không nhỏ việc hiểu và nắm thuần thục ngoại ngữ Vì vậy, việc tích luỹ những tri thức và kinh nghiệm sẽ giúp ta khắc phục một cách có hiệu quả khó khăn này” [12; 41]
L.V Secha cũng cho rằng nghiên cứu đối chiếu không chỉ giúp cho việc học và dạy ngoại ngữ tốt hơn mà còn giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn tiếng mẹ
đẻ, vì “việc nghiên cứu đó giúp chúng ta thâm nhập vào thực chất của các quá trình ngôn ngữ cũng như hiểu sâu hơn các quy luật điều khiển các quá trình
Trang 13này” [24; 26] Không còn nghi ngờ gì nữa chúng ta có thể đồng ý với nhận định rằng: “Mặc dầu nghiên cứu đối chiếu viện dẫn cái lý do chủ yếu ở sự cần thiết cho giáo học pháp ngoại ngữ với sự phát hiện những khác nhau cơ bản giữa ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ của người học, chúng ta không thể không tính đến tầm quan trọng của việc phân tích đối chiếu như một phương thức đánh giá các định đề cũng như những đòi hỏi của chính lý luận ngôn ngữ học” [41,76]
1.2 Khái niệm về thuật ngữ so sánh đối chiếu
Lịch sử phát triển của những tri thức khoa học bao giờ cũng là một quá trình liên tục và có tính kế thừa Nội dung của các thuật ngữ nghiên cứu đối chiếu cũng được xác định trong quá trình phát triển biện chứng lịch sử đó Ở đây, trước hết cần nói đến mối quan hệ tương ứng trong cách dùng các thuật
ngữ: ngôn ngữ học so sánh, ngôn ngữ học đối chiếu
Trong nghĩa thường dùng, hai từ so sánh và đối chiếu không khác nhau nhiều về ý nghĩa “So sánh” là xem xét để tìm ra những điểm giống, tương tự, hoặc khác biệt nhau về số lượng, kích thước, phẩm chất, còn “Đối chiếu” là
so sánh hai sự vật có liên quan chặt chẽ với nhau Đối chiếu nguyên bản với
bản dịch (Từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên)
Như đã thấy, không hẳn định nghĩa trên đây là hoàn toàn chính xác, nhưng chúng đã cho ta ý niệm về nội dung nghĩa các từ đang nói đến Nếu đưa nội dung này vào cách hiểu nội dung các kết hợp thuật ngữ “ngôn ngữ học so sánh”, “ngôn ngữ học đối chiếu” là hoàn toàn không chính xác Cách hiểu nội dung thuật ngữ cần chính xác và có tính quy định hơn cách hiểu thông thường
Trong ngôn ngữ học, các thuật ngữ tiếng Việt: ngôn ngữ học so sánh tương ứng với tiếng Anh Comparative linguistics Đó là thuật ngữ để chỉ một phân
ngành của ngôn ngữ học và cái nội dung từ “so sánh” được hiểu một cách rất xác định Việc xem xét kỹ những tài liệu ngôn ngữ học cho thấy một số nhà
Trang 14ngôn ngữ có ý thức phân biệt Ngôn ngữ học so sánh trong nghĩa rộng với
ngôn ngữ học so sánh – lịch sử
Trong trường hợp thứ nhất thuật ngữ “so sánh” dường như chủ yếu chỉ nhấn mạnh cách tư duy, về việc sử dụng so sánh như một phương pháp chung của tư duy; và vì vậy, người ta cũng có thể nói: so sánh – lịch sử, so sánh loại hình, so sánh đối chiếu v v
Song trường hợp thứ hai, thuật ngữ so sánh được dùng với nội dung khái niệm ngôn ngữ học so sánh – lịch sử Đây cũng là cách dùng có tính chất rút gọn
Thuật ngữ đối chiếu, đối sánh thường được dùng để chỉ phương pháp
hoặc phân ngành nghiên cứu lấy đối tượng chủ yếu là hai hay nhiều ngôn ngữ Mục đích của nghiên cứu là làm sáng tỏ những nét giống nhau và khác nhau hoặc chỉ làm sáng tỏ những nét khác nhau mà thôi Nguyên tắc nghiên cứu chủ yếu là nguyên tắc đồng đại
Trong các tài liệu bằng tiếng Anh, lúc đầu người ta dùng phổ biến thuật
ngữ so sánh (comparative) để chỉ ngôn ngữ học so sánh trong nghĩa rộng và
nghĩa hẹp của từ này Dần dần về sau thuật ngữ so sánh cũng dùng để chỉ cả nội dung đối chiếu
Trong ngôn ngữ học Anh, những thuật ngữ truyền thống được dùng tương đối lâu dài Chẳng hạn, trong các công trình của Haliday, Mackinton, Tơrêvưn và một số tác giả khác, cho mãi đến 1964, vẫn dùng thuật ngữ so sánh – comparative Và ngay cả Elic mãi đến 1966 vẫn dùng thuật ngữ comparative với nghĩa đối chiếu Cho đến gần đây thuật ngữ “ngôn ngữ học đối chiếu” – contrastive linguistics mới được dùng với nghĩa của nó một cách phổ biến tức là chỉ một phân ngành nghiên cứu riêng – nghiên cứu đối chiếu
Trong phần lớn tài liệu viết bằng các tiếng châu Âu cho thấy có sự
chuyển dần phân biệt so sánh đối chiếu và ngôn ngữ học so sánh lịch sử với
Trang 15ngôn ngữ học đối chiếu Việc dùng phân biệt đối chiếu và tương phản thì
không thật sự thể hiện rõ ràng
Trong thực tiễn nghiên cứu, hàng loạt các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ, việc phân tách ra cái giống nhau và khác nhau trong đối chiếu là rất khó Nó được thực hiện một cách đồng thời Xác định cái khác nhau phải biết cái giống nhau cùng tồn tại giữa các sự vật Song bao giờ cái khác nhau cũng dễ nhận thấy hơn Vấn đề là ổn định hướng mục đích của các công trình nghiên cứu Tìm cái chung hay cái riêng, cái phổ quát hay loại biệt, nhằm mục đích
lý luận hay thực tiễn và cả phạm vi ứng dụng nào? Trả lời các câu hỏi đó là ở
các công trình cụ thể, của các nhà nghiên cứu cụ thể Nói chung, nghiên cứu
đối chiếu giúp ta xác định cái giống nhau và khác nhau của các ngôn ngữ về mặt cấu trúc, hoạt động và sự phát triển của chúng
1.3 Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp đối chiếu hay phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu có một hệ thống nguyên tắc, thủ pháp nghiên cứu riêng Nó khác với phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh – lịch sử Nhưng đồng thời, phương pháp nghiên cứu này có kế thừa và sử dụng nhiều yếu tố, thủ pháp của nghiên cứu miêu tả và so sánh – lịch sử Chính điều này tạo ra đặc điểm riêng, lợi thế
và triển vọng của phương pháp nghiên cứu đối chiếu
Trước hết chúng ta hãy xem xét một số đặc điểm chủ yếu của phương
pháp đối chiếu
1 Xác lập cơ sở đối chiếu: Xác lập cơ sở đối chiếu là xác định đối tượng
nghiên cứu cụ thể, định rõ đặc điểm đối tượng và định hướng các hoạt động, các bước nghiên cứu nhất định
Cơ sở đối chiếu là những giống nhau và khác nhau hay những tương đồng
và loại biệt của phạm vi đối tượng được khảo sát Thông thường các ngôn ngữ, các hiện tượng càng giống nhau thì càng có nhiều điểm chung, dấu hiệu
Trang 16chung Nếu như hai hay một số ngôn ngữ, hiện tượng càng khác nhau thì những điểm khác, dấu hiệu khác càng nhiều
Cơ sở đối chiếu của phương pháp đối chiếu không chỉ khác với phương pháp so sánh – lịch sử (đều là so sánh ngoài – giữa các ngôn ngữ với nhau)
mà còn phân biệt đối chiếu và đối lập Trong ý nghĩa phương pháp đối chiếu
là dùng cho đối chiếu các hiện tượng, phạm trù của các ngôn ngữ khác nhau
để tìm giống và khác nhau; trong trường hợp chỉ có khác nhau thì có thể hiểu
là tương phản Còn đối lập dùng cho sự đối chiếu các hiện tượng trong cùng
một ngôn ngữ Trong nghĩa riêng, đối lập là khác nhau ở hai cực trong một
phạm vi, như: danh từ và động từ, chủ ngữ và vị ngữ, nguyên âm và phụ âm,
thể hoàn thành và không hoàn thành
Đối chiếu phân biệt ngôn ngữ - lời nói trong biểu hiện hiện tượng không đối lập chúng, vì có hiện tượng chuyển hoá chức năng Ở đối chiếu người ta không thừa nhận các cặp ngang nhau mà thừa nhận các cặp đối chiếu có giống
và khác nhau mà thường giống nhau hoàn toàn là rất hiếm thấy
2 Phạm vi đối chiếu: Trong xác định phạm vi thường được phân giới theo các
nguyên tắc sau:
Phân biệt đối chiếu ngôn ngữ và đối chiếu dấu hiệu Đối chiếu ngôn ngữ
quy định phạm vi nghiên cứu là các ngôn ngữ khác nhau Đó là cách đối chiếu
tổng thể, đại quan hoặc bao quát chung Việc chọn ngôn ngữ đối chiếu cũng
có hai khả năng chính 1) Lấy một ngôn ngữ làm cơ sở chỉ đạo, ngôn ngữ này
là ngôn ngữ đối tượng cần phân tích, làm sáng tỏ Ngôn ngữ (hay các ngôn ngữ) còn lại sẽ là phương tiện, là điều kiện cho phép làm sáng tỏ đặc điểm của ngôn ngữ đối tượng Ngôn ngữ đối tượng cần được tập trung làm sáng tỏ
có thể hoặc là chỉ có ý nghĩa cho nó, hoặc là có thể có đại diện cho một số ngôn ngữ khác Nó là cá thể riêng biệt và cũng có thể là cái mẫu, là tiêu điểm chú ý của việc nghiên cứu xét về nhiều mặt Chẳng hạn trong quá khứ ở phương tây tiếng Latinh đã làm tiêu điểm, là cơ sở để đối chiếu với tiếng
Trang 17Pháp, tiếng Đức, các tiếng Slavơ 2) Khả năng thứ hai là cả hai hay các ngôn ngữ đối chiếu đều được chú ý như nhau Trường hợp như thế gọi là phân tích
đối chiếu song ngữ
Trong phân tích đối chiếu song song, phạm vi các vấn đề đối chiếu là ở cả hai ngôn ngữ Nó được chú ý đồng đều về tất cả các mặt ở ngôn ngữ đưa vào nghiên cứu Khả năng này được vận dụng để tìm cái chung và riêng ở các ngôn ngữ được nhiều nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các phổ quát và ứng dụng thực tiễn trong phiên dịch Thường những phân tích như thế được tiến hành đối với các ngôn ngữ cùng loại hình, các ngôn ngữ có cùng hoặc gần gũi về ngữ hệ Ví dụ: những nghiên cứu đối chiếu song song tiếng Bun-ga-ri và tiếng Ba-lan, tiếng Nga và tiếng Bun-ga-ri v v
Phạm vi nghiên cứu đối chiếu dấu hiệu là phạm vi tất yếu phải có đối với
mọi sự nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu đối chiếu dấu hiệu thường được tiến hành trên các bình diện chính yếu sau đây:
Đối chiếu phạm trù nhằm vào việc làm sáng tỏ đặc điểm thể hiện các phạm
trù ở ngôn ngữ được nghiên cứu như phạm trù: thời, thế, xác định, không xác định; phạm trù số, giống, cách, đa nghĩa, đồng âm, trái nghĩa, đồng nghĩa
Đối chiếu cấu trúc, hệ thống nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm, cấu tạo, những
đặc điểm giống, khác, đặc trưng của các hệ thống lớn, hệ thống con được nghiên cứu như hệ thống âm vị, hình vị, hệ thống từ loại, hệ thống câu đơn, câu phức v.v
Đối chiếu chức năng và hoạt động nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm hoạt
động, hành chức của các hiện tượng, phạm trù ngôn ngữ
Đối chiếu phong cách nhằm làm sáng tỏ hoạt động của các phong cách chức
năng, những nét chung và riêng của các thể hiện phong cách chức năng ở ngôn ngữ được đối chiếu
Trang 18 Đối chiếu lịch sử – phát triển có quan hệ với nghiên cứu lịch đại Phạm vi
đối chiếu này nhằm làm sáng tỏ các quy luật phát triển và các quá trình biến đổi xảy ra trong nội bộ các ngôn ngữ được nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu vừa liên quan chặt chẽ với nghiên cứu so sánh – lịch sử, vừa quan hệ với loại hình học lịch đại
Một số phương thức đối chiếu chủ yếu Để thực hiện nghiên cứu đối chiếu
các ngôn ngữ người ta thường sử dụng một số phương thức chủ yếu sau đây: Phương thức đồng nhất/ khu biệt cấu trúc, đồng nhất/ khu biệt chức năng, đồng nhất/ khu biệt hoạt động, đồng nhất/ khu biệt phong cách, đồng nhất/ khu biệt phát triển và đồng nhất/ khu biệt xã hội – lịch sử ngôn ngữ
Phương thức đồng nhất/ khu biệt cấu trúc thừa nhận rằng ngôn ngữ là một
cấu tạo có tính cấu trúc – hệ thống Khi đối chiếu hai hay nhiều ngôn ngữ nhất thiết phải đối chiếu các yếu tố, các đơn vị, các cấp độ, các mặt cấu tạo nên cái
tổ chức cấu trúc – hệ thống đó Chẳng hạn đối chiếu ngữ âm - âm vị, mặt hình thái học v.v Khi thực hiện phân tích đối chiếu thường bắt đầu đồng thời hai khâu kế tiếp nhau Phân tích đối lập (đối chiếu trong) các đơn vị, các hiện tượng ở cả hai ngôn ngữ theo một quan điểm lý luận thống nhất và sau đó thực hiện đối chiếu trên cơ sở các kết quả đạt được (đối chiếu đối lập ngoài – giữa các ngôn ngữ) Cũng có thể tổng hợp các bước phân tích đối chiếu cấu
trúc theo công thức: đối lập (phân tích) - đối chiếu
Phương thức đối chiếu chức năng thực hiện xác định mặt giống, khác nhau
về chức năng của các hiện tượng; sự kiện ở các ngôn ngữ Trong tiếng Việt, Nga, Bun-ga-ri, Đức có trọng âm từ Nhưng chức năng của trọng âm trong tiếng Nga, tiếng Bun-ga-ri giống nhau nhiều hơn Ví dụ trọng âm có chức năng biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa sắc thái tu từ – biểu cảm v.v Cùng một hiện tượng mà khả năng hoàn thành chức năng, phạm vi hoạt động không giống nhau Điều đó cũng có thể áp dụng cho dấu
hiệu khu biệt âm vị dài, ngắn trong tiếng Anh và tiếng Việt Sự đối lập a (dài/
Trang 19ngắn) i (dài/ngắn) trong tiếng Anh có ý nghĩa âm vị học, còn trong tiếng Việt
thì lại không có giá trị ấy
Phương thức đồng nhất/ khu biệt hoạt động góp phần xác định sự thông
dụng, tính phổ biến hay hạn chế của các hiện tượng, sự kiện ngôn ngữ đều có trong các ngôn ngữ đối chiếu Phương thức này chỉ rõ các hiện tượng ngôn ngữ xét về mặt phương diện nào đó là giống nhau (đều có) trong các ngôn ngữ, nhưng ở ngôn ngữ này được sử dụng phổ biến, hoạt động mạnh còn ở ngôn ngữ khác thì ngược lại Chẳng hạn trong địa hạt từ vựng – ngữ nghĩa, tiếng Bun-ga-ri, tiếng Việt đều có một số từ vay mượn từ tiếng Ấn - Âu (Pháp, Latinh ) song số lượng từ mượn tiếng Pháp, Latinh trong tiếng Bun-ga-ri khá nhiều, còn từ tiếng Nga cổ trong tiếng Bun-ga-ri không thể gọi là vay mượn vì chúng có vốn từ gốc Slavơ cổ chung
Phương thức đồng nhất/ khu biệt phong cách nhằm làm sáng tỏ những đặc
điểm thể hiện, vận dụng phong cách chức năng ở mỗi ngôn ngữ Phương thức này có thể tiến hành qua nhiều giới hạn: cùng một phong cách thể loại như thi
ca, báo chí, chính luận, tiểu thuyết, khoa học kỹ thuật v.v hoặc cùng một phương tiện tu từ biểu cảm như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ v.v Phức tạp hơn cả
là đối chiếu hai hệ thống phương tiện thông tin văn bản và các thể loại văn phong thuộc về các thời kỳ xã hội lịch sử văn hoá khác nhau Trong trường hợp này, đối chiếu phong cách không giới hạn ở tiêu chuẩn ngôn ngữ tín hiệu
mà cả ngôn ngữ - tâm lý, ngôn ngữ - xã hội, tâm lý học – xã hội Phạm vi đối chiếu của phương thức này có quan hệ với phương thức đồng nhất xã hội – lịch sử
Phương thức đồng nhất/ khu biệt phát triển dùng để xác định đặc điểm và
chiều hướng phát triển của các ngôn ngữ Phương thức này giả định rằng: mỗi ngôn ngữ, xét về bình diện động, luôn luôn có thay đổi, phát triển Sự phát triển ngôn ngữ thể hiện ở các thay đổi cấu trúc nội bộ, phạm vi hoạt động,
Trang 20chức năng của nó trong quan hệ với những điều kiện, hoàn cảnh xã hội ở diện tiến trình
Phương thức đồng nhất/ khu biệt xã hội, lịch sử quy định, xem xét các
hiện tượng ngôn ngữ, không chỉ trong quan hệ với xã hội – lịch sử mà chủ yếu là bình diện xã hội lịch sử trong vận dụng, sử dụng một hiện tượng này khác của hệ thống ngôn ngữ Cùng những từ chỉ màu sắc: đỏ, vàng, trắng và các hiện tượng, tượng trưng không giống nhau đối với các xã hội – ngôn ngữ, dân tộc – ngôn ngữ khác nhau Phương thức đồng nhất xã hội lịch sử trong vận dụng ngôn ngữ sẽ cho chúng ta biết cái chung, cái riêng Chính nhờ xác định được những đặc trưng đó mà cho phép chúng ta không chỉ xác định được
loại hình phong cách chức năng mà cả loại hình giao tiếp – văn hoá ngôn ngữ, giúp chúng ta hiểu ngôn ngữ qua lăng kính văn hoá và ngược lại văn hoá
qua hiện thực ngôn ngữ
1.4.So sánh phương thức thể hiện ý nghĩa của thành ngữ
Ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ rất biện chứng Từ lâu các nhà ngôn ngữ học và văn hoá học đã nhìn thấy và nghiên cứu mối quan hệ này Mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ được thể hiện trong tất cả các cấp độ của ngôn ngữ Đặc biệt, thành ngữ là một trong những lĩnh vực thể hiện rất rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
Để góp phần làm sáng tỏ thêm mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ
trong thành ngữ, chúng tôi sẽ phân tích hình ảnh mắt và mặt trong thành ngữ
Việt – Anh để làm ví dụ
Khảo sát thành ngữ tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy đa số thành ngữ mắt và
mặt trong tiếng Việt tập trung miêu tả vẻ bề ngoài của con người (cổ cong mặt lệnh, đầu trâu mặt ngựa, mặt ủ mày chau, mặt sứa gan lim, con mắt là mặt đồng cân, da ngà mắt phượng, mắt cú da lươn, mắt sắc như dao cau )
Không chỉ sử dụng mắt và mặt để miêu tả vẻ bề ngoài, người Việt còn dùng
mắt và mặt để miêu tả tâm sinh lý của con người (đỏ như mắt cá chày, ham
Trang 21lợi trước mắt quên hoạ sau lưng, chướng tai gai mắt, tay bắt mặt mừng, tắm khi nào vuốt mặt khi ấy, ngoảnh mặt làm ngơ )
Mắt trong tiếng Việt, ngoài chức năng miêu tả chức năng thị giác, mắt còn
được sử dụng miêu tả đánh giá con người, thái độ của con người (ví dụ: coi
đời bằng nửa con mắt, khuất mắt cho qua, sáng con mắt chặt đầu gối, nhắm mắt bước qua )
Tương tự như thành ngữ tiếng Việt, mắt (eye) trong tiếng Anh cũng được
sử dụng khá nhiều trong số lượng TNBPCTKM Song, khác với thành ngữ
tiếng Việt, các TN TA có từ chỉ mắt chỉ tập trung miêu tả các hoạt động liên quan tới chức năng thị giác của đôi mắt (ví dụ: cast an eye over something -
đặt mắt vào cái gì - nhìn lướt qua, keep one’s eye peeled for something – xem
xét một cách cẩn thận, tinh mắt, catch somebody’s eye – bắt mắt ) TN TA
cũng có miêu tả thái độ của con người, nhưng số lượng không đáng kể (ví dụ:
do something in the eye – xúc phạm hoặc làm nhục ai, find favour in somebody’s eye – giành được thiện cảm của ai ) TN TA khác với TN TV là
hầu như không miêu tả tâm sinh lý con người
Mặt (face) trong các TN TA thường dùng để miêu tả quan điểm, thái độ
(ví dụ: laugh in somebody’s face – cười vào mặt ai, coi thường người khác,
cut off one’s nose to spite one’s face – cắt mũi để trả đũa mặt – làm một hành
động dại dột, uống dấm để đỡ khát, set face against somebody – nhất quyết chống lại ai ) Thành ngữ có từ chỉ mặt trong tiếng Anh hầu như không miêu
tả vẻ bề ngoài cũng như đánh giá con người như ở các thành ngữ tiếng Việt Chúng tôi đồng ý kiến với Bùi Khắc Việt về sự khác nhau giữa tính biểu
trưng và tính hình ảnh Bùi Khắc Việt cho rằng: “Khái niệm biểu trưng rộng
hơn khái niệm tính hình ảnh Do sự vật hoặc tính hình ảnh có một số phẩm chất nào đó chung với điều nó biểu trưng gợi cho ta một ý niệm về nội dung biểu hiện Mối quan hệ giữa sự vật hoặc hình ảnh với ý nghĩa biểu trưng trong nhiều trường hợp có tính chất ước lệ” [27] Xét trong thành ngữ tiếng
Trang 22Việt thì thành tố chỉ mắt và mặt biểu trưng cho con người Do đó, thành ngữ
tiếng Việt đều bị chi phối bởi sắc thái nghĩa là con người, nên tập trung vào miêu tả vẻ bề ngoài của con người, hoặc đánh giá tính cách của con người
Trong tiếng Anh, do người Anh nhìn hình ảnh mắt và mặt có khác nên tính biểu trưng trong thành ngữ cũng khác Trước tiên, mắt bao giờ cũng được
người Anh coi là “cửa sổ tâm hồn”, nên các thành ngữ cũng bị chi phối bởi
sắc thái nghĩa như vậy, các thành ngữ có từ chỉ mắt tập trung miêu tả các hoạt động liên quan tới chức năng thị giác của đôi mắt Mặt được người Anh coi
đơn thuần chỉ là một bộ phận cơ thể con người, vì vậy nghĩa biểu trưng của
mặt trong tiếng Anh cũng khác với mặt trong các thành ngữ tiếng Việt, nó
không còn mang nghĩa biểu trưng là con người để mô tả vẻ bề ngoài, đánh giá
tính cách của con người nữa, mà mặt được sử dụng theo đúng ý nghĩa chức
năng của khuôn mặt
Qua so sánh thành tố mắt và mặt trong tiếng Việt và tiếng Anh, chúng ta
thấy sự khác biệt văn hoá rất lớn giữa hai nền văn hoá này, trong khi sự tương đồng là rất nhỏ Điều này lý giải sự khác nhau trong ngữ nghĩa và cũng như
Trong chương này, chúng tôi cũng trình bày khái niệm về thuật ngữ so sánh đối chiếu Cho tới nay vẫn còn có nhiều tranh cãi về thuật ngữ so sánh
Trang 23đối chiếu Song khái niệm được sử dụng nhiều là: “nghiên cứu đối chiếu giúp
ta xác định được cái giống nhau và khác nhau của ngôn ngữ về mặt cấu trúc, hoạt động và sự phát triển của chúng.”
Trong chương này, chúng tôi cũng trình bày phương pháp so sánh đối chiếu và có đưa ra một số ví dụ so sánh đối chiếu thành ngữ có những từ chỉ
mắt và mặt trong tiếng Việt và tiếng Anh theo phương pháp so sánh đối chiếu
Trang 24CHƯƠNG 2: THÀNH NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CON NGƯỜI (GIỚI HẠN
Ở KHUÔN MẶT) TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
2.1 Khái niệm cơ bản về thành ngữ
Trước hết, về vị trí, TN thuộc bộ môn từ vựng học với các đối tượng nghiên cứu là chính các đơn vị TN Về cấu trúc, TN có diện mạo giống như cụm từ nhưng là cụm từ đặc biệt Là cụm từ bởi vì TN phải bao gồm ít nhất là hai từ trở lên Là cụm từ đặc biệt bởi TN có tổ chức cấu trúc nghiêm ngặt, thường không được tự do thêm bớt hoặc thay đổi trật tự từ trong kết cấu TN
có những đặc tính như có tính cố định cao, có tính biểu trưng, có nghĩa tổng thể, và thường được dùng như những đơn vị có sẵn trong NN, cả trong NN hội thoại thường nhật hoặc NN hội thoại của các nhân vật trong các tác phẩm văn học, đồng thời có tính biểu cảm cao
Có hàng trăm các định nghĩa khác nhau về TN ở các thứ tiếng khác nhau trên thế giới Tuy nhiên, đã là TN thì phải thoả mãn hầu hết các tiêu chí dưới đây:
1 Những TN thực sự là những TN có nghĩa tổng thể hoặc gần như tổng thể mang tính biểu trưng, nghĩa là, các từ thành phần có mối liên hệ nghĩa gần như hoà quyện vào nhau và làm mất đi những nét nghĩa riêng của từng từ nếu chúng đứng độc lập trong bối cảnh khác;
2 Những TN được coi là TN thực sự có thể có một cấu trúc chệch khỏi mô hình cấu trúc bình thường trong NN Nhưng không phải tất cả những kết cấu
2.2 Vài nét về tình hình nghiên cứu TN trong tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 25Có thể nói, TN TA đã được nghiên cứu khá hệ thống với các cách tiếp cận khác nhau, phong phú và đa dạng Đặc biệt, các nhà nghiên cứu TN TA
đã phát triển hướng đi của mình là nghiên cứu TN từ góc độ NN học chức năng, khác hẳn với lối đi truyền thống của các nhà nghiên cứu TN TV
Cũng như các thứ tiếng khác, TN TA được các nhà nghiên cứu quan tâm với ý kiến khác nhau về khái niệm, cấu trúc, và phân loại Nhìn chung các
TN TA có cấu trúc thành phần cố định bao gồm có ít nhất là hai từ trở lên với cấu trúc có thể là một cụm từ hoặc một câu Trong Anh ngữ có một số tác giả như Hockett (1958), Katz và Postal (1963) cho rằng TN cũng chỉ có thể bao gồm một từ và khó được đại đa số chấp nhận Hockett (1958) cho rằng ngữ cảnh là điều kiện tiên quyết để xác định một TN thực sự là một TN hay không, mặc dù ông không để ý tới một thực tế là TN cũng có thể là những tổ hợp từ có khả năng kết hợp cố định (fixed collocation)
Trên thực tế, đại đa số các tác giả (Wood, 1986; Cowie et al 1975, 1983; Long et al., 1979; Smith, 1925; Malkiel, 1959; Weinreich, 1969; Makkai, 1972; Fernando và Flavell, 1981; Strassler, 1982; Pawley và Syder, 1983; Pawley, 1986) cho rằng TN là một biểu ngữ đa từ (multiword expression) với những đặc điểm ngữ pháp khác hẳn với các cụm từ tự do khác
đó là tính TN, hay còn gọi là tính thống nhất về nghĩa (semantic unity) và tính
cố định hoặc tương đối cố định của các từ thành phần Nói cách khác một tập hợp từ càng có ít khả năng thay đổi một trong các từ thành phần bao nhiêu, tập hợp từ đó càng có nhiều khả năng là TN bấy nhiêu Một số những đặc điểm khác nhau nữa là biểu ngữ đa từ có số lượng từ hạn chế, trong khi đó, cụm từ tự do có số lượng mở rộng không hạn định Tuy nhiên, trong bao nhiêu trường hợp, TN có thể hiểu theo hai cách cả nghĩa bóng và nghĩa đen
Ví dụ one in the eye (“một trong mắt” (nghĩa đen) và “thất bại ê chề” (nghĩa thành ngữ;); play it by ear (“chơi nó bằng tai” (nghĩa đen) và “tuỳ cơ ứng
biến” (nghĩa bóng) Những TN như thế này được Makkai (1972) gọi là những
Trang 26TN giải mã (decoding idioms), nghĩa là có tính mơ hồ, dễ gây hiểu sai Những
loại khác Makkai gọi là mã hoá (encoding) Ví dụ music to one’s ear (“âm nhạc đối với tai ai” – thông tin làm cho ai đó dễ chịu); walls have ears (“bức
tường có tai” – tai vách mạch rừng)
Như đã thấy, nếu như Hockett chỉ có một tiêu chí duy nhất như đã đề cập ở đầu mục để xác định TN thì Makkai (1972) lại dùng một loạt các tiêu chí như tổ hợp hình thái, tính nhạy cảm của một TN với việc lí giải theo nghĩa đen, tính mơ hồ, tính không thể dự đoán nghĩa và cấu thành TN Fernando và Flavell (1981) lại sử dụng phương pháp phân tích nghĩa và cấu trúc để phân biệt TN, nói cách khác, nghĩa TN giống như một kết hợp hoá học, ví dụ như
có nguyên tử ôxi và nguyên tử hydro (thể khí) kết hợp với nhau để tạo thành một chất khác hẳn là nước (thể lỏng) Còn Kunin (1984) lại coi nghĩa là chuẩn mực cơ bản để nhận dạng TN Theo ông, TN là một cụm từ cố định có nghĩa tổng thể khác hoàn toàn với nghĩa của từng thành phần tạo nên TN đó
Về đặc điểm của TN TA, Antrushina (1985), Palmer (1981), Baker (1994) và một số tác giả khác nhận xét rằng một trong những đặc điểm quan trọng để có thể phân biệt TN với các cụm từ tự do là cấu trúc không đổi của
TN Cụ thể là, thứ nhất, TN hạn chế khả năng thay đổi các từ trong thành
phần của TN Ví dụ, the eye of the storm (mắt bão) Không thể thay storm bằng những từ đồng nghĩa khác như hurricane, hay tornado; thứ hai, TN hạn chế khả năng thêm từ vào thành phần TN Ví dụ, không thể thêm từ big (“to”), hay straight (“thẳng”) vào TN by a nose (“sát cạnh mũi”); và thứ ba,
TN không cho phép thay đổi hình thái ngữ pháp của mình Ví dụ: from head
to foot, mà không thay được thành phần from head to feet Thực ra trước đó,
Seidle và McMordie (1978) cũng đã tổng kết các đặc điểm của cấu trúc TN
TA, đó là tính bất quy tắc và phi lôgic ngữ pháp trong tổ chức TN (I am good
friends with him – “tôi là những người bạn tốt với nó”); tính mơ hồ về nghĩa
mặc dù hình thức ngữ pháp hợp lí (to have a bee in one’s bonnet; to be
Trang 27obsessed by an idea – “bị một ý tưởng ám ảnh”); hoặc tính mơ hồ về nghĩa và
tính phi quy tắc về ngữ pháp (to go through thick and thin – “đi qua dày và
mỏng”)
Về việc phân loại TN, có những quan điểm và cách chia khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau Glucksburg (1993) căn cứ vào tiêu chí nghĩa chia TN TA ra làm hai loại mô hình chính Mô hình thứ nhất (ví dụ những TN
dạng kick the bucket, by and large v.v ) gọi là “the direct look-up model”
(mô hình nhận dạng TN trực tiếp) – có ý nghĩa là không có mối quan hệ rõ ràng nào giữa các thành phần và ý nghĩa của TN; ý nghĩa của TN được đúc rút từ tổng thể cả TN đó và vì thế mà ý nghĩa của TN phần nhiều mang tính
võ đoán; và mô hình thứ hai (ví dụ carrying coals to Newcastle) là mô hình
thống nhất (the compositional model), ý nghĩa TN được đúc rút ra từ tổng hợp
cả nghĩa đen và nội dung minh họa và ít nhiều có mối liên hệ ẩn dụ với ý nghĩa của TN
Căn cứ vào khả năng kết hợp từ và đặc điểm ý nghĩa của TN, Carter (1987: 63-4) chia TN TA thành ba loại như 1 TN hạn định kết hợp từ
(collocational restriction) Ví dụ, run a business; harbour doubt/ grudges/
uncertainty/ suspicion; 2 TN có cấu trúc ngữ pháp từ vựng
(lexicogrammatical structure): break somebody’s heart); smell a rat, the more
the merrier; 3 TN với các cấp độ nghĩa mờ nhạt khác nhau: long time no see,
a fat salary); a watched pot never boils; kick the bucket
Mức độ biến thiên của từ vựng trong TN cũng khác nhau Cụ thể hơn, Carter (1987) còn xác định 12 loại kết hợp của TN với các biến thể khác nhau
có nghĩa đen, nghĩa bóng spill the beans (làm vãi đậu - để lộ bí mật); smell a
rat (ngửi thấy một con chuột cống – có điều gì đó không ổn đang xảy ra); say
no more; you’re telling me; on the one hand; on the other hand v v ; nothing loath; fancy free; be that as it may; upside-down; inside-out v.v
Trang 28Cacciari (1993) và Glucksburg (1991), căn cứ vào mức độ phân tích nghĩa tổng hợp của TN dựa vào các yếu tố thành phần, chia TN TA thành 3 loại chính là 1 Loại AO (analyzable opaque idioms) – TN có thể phân tích nghĩa nhưng mờ nhạt – là những TN có vẻ như không có mối liên hệ rõ ràng giữa nghĩa TN và những yếu tố thành phần nhưng người ta vẫn có thể suy
diễn được nghĩa TN và cách sử dụng Ví dụ: to kick the bucket (“đá chiếc xô”) – chết, ngỏm, toi đời, về chầu ông vải, đi ngủ với giun, trở về với cát bụt; 2
Loại AT (analyzable transparent) – TN có thể phân tích được nghĩa một cách
rõ ràng – là những TN mà có mối liên hệ rõ ràng giữa nghĩa TN và nghĩa
thành phần Ví dụ: break the ice (“phá vỡ băng”) Trong đó break có nghĩa
TN là “thay đổi trạng thái, tình cảm” và ice có nghĩa là “những căng thẳng xã
hội”; to bring home the bacon (“mang về nhà thịt hun khói”) – “chăm lo, nuôi
dưỡng gia đình”, và loại 3 Loại M (quasi – metaphorical idioms) – TN giả ẩn
dụ – là những TN mà hình ảnh của các yếu tố thành phần cùng nhau tạo nên
nghĩa TN Ví dụ: carry coals to Newcastle (“chở than về Newcastle”) - đại
loại như người Việt nói: chở củi về rừng, hãy cũng có thể tạo nên những câu tương tự: mang nhãn lồng về Hưng Yên, mang vải đi Lục Ngạn
Fernando (1996) dựa vào lý thuyết ngữ pháp chức năng của Halliday (1985) chia TN TA ra làm hai nhóm chính: 1 TN ý niệm và 2 TN liên cá
nhân TN ý niệm (ideational) hoặc chỉ rõ ý nghĩa của nội dung thông báo,
những hiện tượng kinh nghiệm bao gồm cả cảm giác, ảnh hưởng và đánh giá; hoặc xác định bản chất của thông báo (ví dụ, cụ thể hay không cụ thể) Ví dụ:
tear down, spill the beans, wear different hats, give somebody an inch and he’ll take a smile; turning point, out of the mouth of babes; have blood on one’s hands; be in Queer Street; a back seat driver; a man about town, a scarlet woman, a fat cat v.v TN liên cá nhân (interpersonal idioms) là những
TN thực hiện hoặc một chức năng tương hỗ; hoặc xác định đặc điểm của thông báo Khi thực hiện chức năng liên cá nhân TN thường có vai trò khởi
Trang 29xướng, duy trì hoặc kết thúc trao đổi thông báo Do vậy, chúng thường được liên tưởng tới những vấn đề giao tiếp xã giao, lịch sự thông thường hoặc chúng có chức năng làm mẫu cho những lề thói của giao tiếp xã hội hoặc trong một chừng mực nào đó có thể chứng minh cho nguyên tắc cộng tác của Grice về sự chân thành, về khái niệm giá trị, về lối nói biểu thị sự ngắn gọn,
cô đọng có khả năng khắc họa được bản chất của thông báo
Liên quan tới chiến lược giao tiếp, TN có thể thực hiện những chức năng chào hỏi, chức năng chỉ thị, chức năng thỏa thuận, chức năng thăm dò
và lấy ý kiến; chức năng phản bác Về chức năng đánh giá thông báo, TN có thể mô tả giá trị thông tin, sự chân thành, yêu cầu ngắn gọn, thể hiện sự thông báo không chắc chắn v.v
Như vậy, trong TA nhiều công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào chức năng của TN trong giao tiếp xã hội, TN được chấp nhận trong hoạt động thường ngày của NN và nó đã thực sự thoát khỏi vỏ bọc tĩnh tại của các tập hợp từ trong từ điển Việc nghiên cứu TN từ góc độ chức năng đã thực sự đóng góp cho lý thuyết NN nói chung và ngành NN học ứng dụng nói riêng
Trong Tiếng Việt, TN luôn được các nhà nghiên cứu NN, văn học dân gian, văn hoá, nhân chủng học, dân tộc học, xã hội học v.v quan tâm Tuy nhiên, việc nghiên cứu TN TV cho tới nay vẫn chưa thống nhất và còn có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề định nghĩa, phân loại, chức năng của các đơn vị TN Có rất nhiều những nghiên cứu so sánh đối chiếu
TN các thứ tiếng với TN TV của các tác giả nhiều kinh nghiệm nghiên cứu
TN chuyên sâu (Trương Đông San, Nguyễn Đức Tồn v.v ), cũng như các tác giả trẻ nghiên cứu TN ứng dụng cho giảng dạy ngoại ngữ (Phùng Trọng Toản, Phạm T.B.N, v.v ) Tuy vậy, việc giới hạn, số lượng, thành phần của TN TV hiện còn chưa giải quyết triệt để và thống nhất
Năm 1943, Dương Quảng Hàm lần đầu tiên đặt vấn đề phân biệt ranh giới (mặc dù chưa thật rõ rệt) giữa TN và tục ngữ Theo quan điểm của nhà
Trang 30nghiên cứu, tục ngữ được xem xét như một hiện tượng nhận thức xã hội, TN được coi là các hiện tượng NN Sau này, vấn đề về phân định TN, tục ngữ còn được đề cập tới trong các nghiên cứu của Vũ Ngọc Phan (1956, 1971), Nguyễn Văn Tu (1968), Hồ Lê (1976), Nguyễn Văn Mệnh (1972), Cù Đình
Tú (1973), Chu Xuân Diên (1977) và một số tác giả khác
Song song với việc phân biệt ranh giới TN, các nhà NN học Việt Nam còn đề cập đến những vấn đề khác của TN như khái niệm, phân loại v.v Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu liên quan tới cấu trúc nội tại của TN
Về phân loại TN, Nguyễn Thiện Giáp (1998) căn cứ vào cơ chế cấu tạo TN chia TN TV thành hai loại chính Đó là 1 TN hợp kết: ý nghĩa của chúng có thể phân tích thành những yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của từng bộ
phận tạo thành Ví dụ: đỏ như mắt cá chày, anh hùng rơm và 2 TN hoà kết:
nghĩa của TN được hình thành trên cơ sở của một ẩn dụ toàn bộ Nói cách khác, ý nghĩa của TN không thể phân tích thành các yếu tố nghĩa tương ứng
với ý nghĩa của các bộ phận tạo thành Ví dụ: ngứa tai gai mắt, mặt sứa gan
Về khái niệm TN mặc dù rất đa dạng nhưng nhìn chung TN được xác định
là những biểu ngữ đa từ có cấu trúc cố định hoặc tương đối cố định, thường
có nghĩa hình tượng, nghĩa TN thống nhất, TN có tính biểu cảm cao và
thường được sử dụng như những đơn vị có sẵn trong giao tiếp
Trang 31 Việc xác định nghĩa TN phải dựa vào ngữ cảnh dùng NN, có tính đến mối
quan hệ giữa các đối tác giao tiếp, môi trường giao tiếp và cách thức giao tiếp
Các xu hướng nghiên cứu ở TA và TV thể hiện ở các lĩnh vực sau:
- Phân biệt ranh giới TN với tục ngữ, cụm từ tự do, biểu ngữ đa từ v.v
- Đưa ra tiêu chí và phân loại TN từ các góc độ khác nhau: cấu trúc, khả năng
kết hợp, số lượng từ trong TN chức năng, TN trong giao tiếp
- Nghiên cứu TN ở mức độ chuyên sâu trong phạm vi TN của từng NN từ góc
độ ngữ nghĩa, cấu trúc, cội nguồn TN
- Nghiên cứu TN song song hoặc đa ngữ với phương pháp chủ yếu là so sánh, đối chiếu nhằm tìm ra những dị biệt và tương đồng của TN trong các thứ tiếng khác nhau Từ đó, rút ra những chỉ dẫn cho người học cũng như người nghiên cứu về đặc trưng văn hoá dân tộc thông qua TN hay đưa ra những chỉ dẫn
trong giảng dạy tiếng nói chung, giảng dạy dịch nói riêng
Nhìn chung, cả hai NN đều được quan tâm nhiều tới mảng TN Mặc dù,
so với các lĩnh vực nghiên cứu khác, số lượng các nghiên cứu về so sánh đối chiếu thành ngữ, tục ngữ không nhiều, song ở nước ta cũng đã có một số nghiên cứu có tính hệ thống về so sánh, đối chiếu thành ngữ, tục ngữ trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt, ví dụ như luận án PTS ĐHQG HN của Nguyễn Văn Mười (1996): “Ngôn ngữ tục ngữ với việc phản ánh các yếu tố văn hoá
và nhân sinh quan (Trên cứ liệu tục ngữ Việt - Anh)” và luận án TS ĐHQG
HN của Trần Thị Lan (2002): “So sánh đối chiếu phương thức dịch thành ngữ nhận xét đánh giá con người trong tiếng Anh, Nga và Việt” Hai luận án vừa nêu trên đều nghiên cứu về thành ngữ, đều sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ nguồn, và tiếng Việt là ngôn ngữ đích để so sánh Trong luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu về phương thức thể hiện ý nghĩa của thành ngữ Anh-Việt
sử dụng các yếu tố chỉ cơ thể con người (giới hạn ở khuôn mặt), mà từ trước tới nay chưa có một công trình nghiên cứu mang tính hệ thống về vấn đề này Chúng tôi đã tiến hành một số khảo sát trắc nghiệm và dựa trên kinh nghiệm
Trang 32giảng dạy tiếng Anh ở các trường Đại học chuyên ngữ và nhận thấy rằng việc hiểu đúng và chuyển dịch đúng các TNBPCTKM là một vấn đề rất đáng quan tâm, và vẫn còn có những sai phạm không đáng có Hiểu đúng và sử dụng thành ngữ một cách chính xác có nghĩa là phải có một kiến thức nền về văn hoá Sự khác biệt giữa hai nền văn hoá thể hiện rất rõ nét ở thành ngữ của hai dân tộc này Trong luận văn này, đối tượng so sánh là hai ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt về mặt địa lý và loại hình Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập
ở Nam Á, còn tiếng Anh là ngôn ngữ hoà kết ở Châu Âu Sự khác biệt về mặt địa lý và loại hình như vậy quy định những điểm giống nhau và khác nhau của hai thứ tiếng Chúng xuất hiện đồng thời trong hầu hết các bình diện ngôn ngữ và thể hiện rất rõ nét ở thành ngữ nói chung và TNBPCTKM nói riêng Trong khuôn khổ một luận văn Cao học, chúng tôi muốn đóng góp một phần
nhỏ vào việc nghiên cứu thành ngữ ở tiếng Anh và tiếng Việt
2.3 Xác định TNBPCTKM và tiêu chí phân loại TNBPCTKM
TNBPCTKM Tiếng Anh:
1 An eye for an eye (“một mắt cho một mắt”) - ăn miếng trả miếng
2 Be all eyes (“toàn mắt”) – nhìn chăm chú, nhìn hút hồn, dán mắt vào
3 Have an eye for something (“có mắt cho cái gì”) – sành sỏi về cái gì, nhạy
bén về cái gì
4 In the eye of somebody (“trong con mắt của ai”) – theo ý kiến đánh giá của
ai
5 One’s face falls (“mặt rơi xuống”) – mặt xịu xuống, mất tinh thần, như
bánh đa nhúng nước, tiu ngỉu như mèo lành cụt đuôi
6 On the face of it (“trên mặt của nó”) – xét theo bề ngoài
7 Have a face to do something (“có mặt để làm cái gì”) – mặt dạn mày dày,
to gan lớn mật
8 Keep one’s mouth shut (“giữ miệng đóng”) – không tiết lộ bí mật, câm như
hến, ngậm miệng ăn tiền
Trang 339 By a nose (“cạnh bên mũi”) – sát nút, chỉ cách một lề rất nhỏ, nước đến
chân mới nhảy
10 Get up one’s nose (“đánh thức mũi ai”) – làm cho ai bực tức, làm cho ai
nóng mũi, tức nổ đom đóm mắt
11 Turn one’s nose up at something (“hếch mũi lên với cái gì”) – vênh mặt,
vênh váo như bố vợ phải đấm
12 Go in one ear and out the other (“đi vào một tai và ra tai kia”) – vào tai
này ra tai kia, không chú ý, nước đổ đầu vịt, nước đổ lá khoai
13 Be all ears (“toàn tai”) – chăm chú lắng nghe, giỏng tai lên
14 One’s lips are sealed (“môi của ai bị gắn xi”) – không hoặc không được
bàn cãi hoặc tiết lộ cái gì; ngậm miệng, câm như hến
15 Turn the other cheek (“giơ má kia ra”) – nhận một đòn đánh mạnh mà
không đánh lại
16 Keep one’s chin up (“giữ cằm cao”) – vẫn vui vẻ trong khó khăn; không
nản chí, trơ như đá, vững như đồng
TNBPCTKM tiếng Việt:
1 Có máu mặt – có đời sống sung túc, khá giả hơn người khác
2 Đeo mo vào mặt – bị nhục nhã, bị chê cười không biết trốn vào đâu
3 Đầu trâu mặt ngựa – bọn côn đồ hung ác như quỹ dữ
4 Đầu tắt mặt tối – làm lụng khó nhọc, vất vả không lúc nào rảnh rỗi
5 Mặt xanh nanh vàng – bị đói lâu ngày
6 Bắt ruồi không đủ miệng cóc – làm ăn khó khăn
7 Cơm bưng tận miệng, nước rót tận mồm - được chăm sóc, hầu hạ chu đáo,
đối xử tử tế
8 Dại mồm dại miệng – nói năng vụng về, thiếu suy nghĩ làm hại đến mình
9 Đấm mồm đấm miệng - đút lót, hối lộ, dùng vật chất để mua chuộc hòng
che dấu, ngăn ngừa sự phát giác tội lỗi
10 Có trầu chẳng để môi thâm – có điều kiện không ai tội gì phải chịu khổ
Trang 3411 Đầu môi chót lưỡi – chỉ thấy trong lời nói mà không thấy trong việc làm,
không thực chất
12 Hộc máu mồm máu mũi – nặng nhọc, vất vả
13 Không kịp mở mắt – rất nhiều công việc phải làm, rất bận
14 Không nhắm được mắt - ôm hận trọn đời, chết mà còn đau khổ vì chưa
thực hiện được nguyện vọng hoặc làm điều gì trái với lương tâm
15 Có con mắt mà không có con ngươi – không phân biệt được hay, dở, tốt,
xấu
16 Bằng nửa con mắt – bất cần, ngạo mạn, coi thường tất cả
17 Đầu áp má kề – vợ chồng đầm ấm, âu yếm, yêu thương nhau
18.Đầu cua tai nheo - đầu đuôi , sự việc với những tình tiết lộn xộn
19 Để ngoài tai – coi như không nghe thấy, không thèm để ý
20 Đầu mày cuối mắt – liếc nhìn nhau, thể hiện tình cảm quyến luyến một
cách kín đáo
Từ các ví dụ trên chúng ta thấy, TNBPCTKM phải là những TN có ít
nhất một từ chỉ bộ phận khuôn mặt như mặt, mũi, miệng, mắt, trán, cằm, má,
tai
Dưới đây là tiêu chí cơ bản giúp xác định TNBPCTKM
Trước hết, TNBPCTKM phải là một TN theo nghĩa đã được xác định trong chương 2, nghĩa là phải 1/ có một cấu trúc cố định hoặc tương đối cố định; 2/ có nghĩa bóng hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn; 3/ có nghĩa không thể và không bao giờ có thể là tổng cộng nghĩa của các từ thành phần của thành ngữ; 4/ có thể và thường phải sử dụng toàn bộ đơn vị TN trong quá trình giao tiếp như một đơn vị từ vựng có sẵn và thường đóng vai trò định danh như một danh từ, tính từ, động từ v.v
Thứ hai, TNBPCTKM phải có ít nhất một từ chỉ bộ phận cơ thể con người nhưng chỉ giới hạn trên khuôn mặt
2.4 Phân loại TNBPCTKM
Trang 35Căn cứ vào những tiêu chí xác định TNBPCTKM như trên, chúng tôi
đã chọn lựa được các đơn vị TNBPCTKM trong hai thứ tiếng với tổng số mỗi loại là Anh: 237, Việt: 246 Chúng tôi sẽ phân loại TNBPCTKM theo hai tiêu chí: phân loại theo quan hệ logic – ngữ nghĩa và phân loại theo cấu trúc của TNBPCTKM
2.4.1 Phân loại theo quan hệ logic – ngữ nghĩa
Quan hệ logic giữa các đối tượng được gọi tên trong thực tế khách quan
và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ có một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên ý nghĩa biểu niệm của từ Trong các quan hệ ngữ nghĩa [12; 125-239] thì quan hệ cấp loại có tác dụng nhiều nhất trong việc phân lập các từ thành những trường từ vựng – ngữ nghĩa
Trong mỗi ngôn ngữ đều có khoảng trên dưới 300 tên gọi các bộ phận
cơ thể con người, chúng lập thành một trường từ vựng – ngữ nghĩa riêng gọi
là trường bộ phận cơ thể người Tính chất quan trọng của trường từ vựng – ngữ nghĩa loại này là thể hiện ở chỗ đa số các tên gọi trong trường đều thuộc vốn từ vựng cơ bản của một ngôn ngữ, chúng là lớp từ thuần bản ngữ nhất, ít
bị pha tạp bởi các quá trình ngôn ngữ, đóng vai trò là hạt nhân của hệ thống từ vựng Trong trường từ bộ phận cơ thể người, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người giới hạn ở khuôn mặt cũng chiếm một vị trí tương đối quan trọng Đối với nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể con người (BPCTCN) (giới hạn ở khuôn mặt) trong tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi áp dụng lý thuyết về cả hai quan hệ ngữ nghĩa là quan hệ cấp loại phân loại – loại và quan hệ cấp loại phân loại toàn bộ – bộ phận để phân định, tập hợp các từ
Một vấn đề mà chúng tôi cần nói thêm là cách trình bày bảng phân loại Bảng phân loại của chúng tôi được trình bày theo cách phân loại toàn thể – bộ phận, thể hiện toàn cảnh giữa cái toàn thể với cái bộ phận theo trật tự cấp loại
từ bậc một đến bậc ba, tức là đi từ tên gọi chỉ toàn bộ đến các tên gọi chỉ bộ phận tận cùng, nhỏ nhất của sự phân chia: các cấp loại được đánh số theo bậc
Trang 361, 2 và 3 Từ bậc một sau khi được phân thành những từ bậc hai đồng cấp chúng tôi lần lượt trình bày sự phân chia bộ phận của mỗi từ sao cho hết các
từ dưới cấp của từ này theo tuyến trục dọc của nó Làm như vậy sẽ giúp cho nhận thức được quan hệ và những đặc thù ngữ nghĩa nhất định của tên gọi các BPCTCN tiếng Anh và tiếng Việt Trong bảng phân loại này, mỗi từ ở bậc hai trở đi cho đến các từ tiếp giáp với bậc phân chia cuối cùng theo tuyến trục dọc của từ ấy có thể cùng với các từ dưới cấp lập thành một miền của trường tên gọi BPCTCN
Biểu đồ sau đây sẽ tóm lược cách trình bày trong bảng phân chia của chúng tôi
Bậc 2: Các yếu tố của khuôn mặt
Bậc 3: Các yếu tố của bộ phận khuôn mặt
Sơ đồ 2.1 Các đơn vị chỉ bộ phận cơ thể con người (giới hạn ở khuôn
mặt)
tiếng Anh và tiếng Việt
(Phân loại theo quan hệ logic – ngữ nghĩa)
S ơ đồ 2.1
Trang 37TNBPCTKM tiếng Anh và tiếng Việt như dưới đây Nhóm 1 là những TN có
từ chỉ mặt; nhóm 2 là nhóm những TN có những từ chỉ bộ phận trên khuôn mặt; nhóm 3 là nhóm TN có những từ chỉ bộ phận của bộ phận trên khuôn mặt
Trang 38TN có từ chỉ mặt
TN có từ chỉ bộ phận của khuôn mặt
TN có từ chỉ Mũi
TN có từ chỉ Mắt
TN có từ chỉ Miệng
TN có từ chỉ Má
TN có từ chỉ Lông mày
TN có từ chỉ Lông Mi
TN có từ chỉ Môi
Sơ đồ 2.2
Trang 39Bảng thống kê các thành ngữ có từ chỉ bộ cơ thể con người (giới hạn ở
Trong 10 bộ phận nêu trên thì có 5 bộ phận có tần số xuất hiện cao nhất
là: mắt, mặt, miệng, mũi, tai Điều đó cho thấy ở cả hai quốc gia, người dân
bản địa cũng đánh giá 5 bộ phận cơ thể trên là quan trọng nhất trong khuôn
mặt Tuy nhiên, mắt trong tiếng Anh có tần số xuất hiện nhiều hơn so với tiếng Việt (Anh: 86, Việt: 57), miệng tiếng Việt có tần số xuất hiện cao hơn
rất nhiều so với tiếng Anh (Anh: 18, Việt: 76) Do đó có thể thấy rõ một điều rằng, văn hoá của hai nước đã ảnh hưởng tới việc sử dụng các từ sử dụng bộ
Trang 40phận cơ thể con người vào thành ngữ Người phương Tây nói chung, người Anh nói riêng thường coi trọng đôi mắt, coi đôi mắt là bộ phận quan trọng nhất trên khuôn mặt, là “cửa sổ tâm hồn”, “đôi mắt” chính là con người, từ đôi mắt có thể nhận biết được tính cách con người Do đó hình ảnh “đôi mắt” được người Anh gán cho một nghĩa biểu trưng để phản ánh con người Còn người Việt do ảnh hưởng của văn hoá phương Đông, đặc biệt là ảnh hưởng
của văn hoá Trung Quốc, đánh giá miệng là một bộ phận tương đối quan trọng, đánh giá con người, sự vật, hiện tượng hay dùng miệng để dùng làm hình ảnh so sánh Miệng được sử dụng mang nghĩa biểu trưng khá rộng rãi
2.4.2 Phân loại theo cấu trúc của TNBPCTKM
Cấu trúc của TN trước hết phải là cụm từ bao gồm ít nhất là từ hai từ trở nên Thứ hai, đó không phải là những tổ hợp từ tự do, do đó không thể phân tích chúng thành từng đơn vị độc lập bởi trong từng trường hợp như vậy, một TN sẽ không còn là TN nữa Thứ ba, kiểu loại TN sẽ được xác định trên
cơ sở của loại từ nòng cốt trong TN đó: danh từ, tính từ v.v Theo đó, những
TN có từ nòng cốt là danh từ sẽ được gọi là TN có cấu trúc của đoản ngữ
danh từ (a naked eye, da ngà mắt phượng) Những TN có từ chủ chốt là động
từ sẽ được gọi là TN có cấu trúc của đoản ngữ động từ (close one’s eyes to
something, đánh gẫy gối tối mặt)
Trong số các TNBPCTKM có thể thấy các loại có cấu trúc của đoản
ngữ (danh từ: the evil eye, an eye for an eye, the eye of the storm, a long face,
an ear for something, da chì mặt bủng, mắt trắng dã môi thâm sì), tính từ
(easy on the ear, wet behind the ears, plain as the nose on one’s face, dại
mồm dại miệng, bận chúi mắt chúi mũi), động từ (fly in the face of something, have the face to do something, shoot one’s mouth off, follow one’s nose, keep one’s ears open), giới từ (with a flea in one’s ear, with half an ear, in one’s mind’s eye, in the public eye, on the face of it, in the face of something, down
in the mouth), mệnh đề (đơn, đủ thành phần) (butter wouldn’t melt in