1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Kịch Bản Văn Học, Lý Thuyết Hội Thoại, Lý Luận Ngôn Ngữ, Nguyễn, Huy Tưởng,.Pdf

142 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Một Số Kịch Bản Văn Học Của Nguyễn Huy Tưởng Và Nguyễn Huy Thiệp Theo Cách Nhìn Của Lí Thuyết Hội Thoại
Tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Huy Tưởng
Người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Thiện Giáp
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lí luận Ngôn Ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1) Lí do chọn đề tài (6)
  • 3) Đối tượng nghiên cứu (7)
  • 4) Mục đích nghiên cứu (8)
  • 5) Đóng góp của luận văn (8)
  • 6) Phương pháp nghiên cứu (9)
  • Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung (9)
    • 1.1 Kịch bản văn học là một thể loại diễn ngôn (11)
    • 1.2 Đặc trưng của kịch bản văn học (14)
      • 1.2.1 Xung đột kịch (14)
      • 1.2.2 Hành động và cốt truyện kịch (14)
      • 1.2.3 Nhân vật kịch (15)
      • 1.2.4 Ngôn ngữ kịch (15)
    • 1.3 Lí thuyết hội thoại và hội thoại sân khấu (9)
      • 1.3.1 Quan niệm về hội thoại và và các văn bản hội thoại (0)
      • 1.3.2 Cấu trúc hội thoại (18)
    • 1.4 Ngôn cảnh trong kịch bản văn học (9)
    • 1.5 Kịch bản văn học theo cách nhìn của lí thuyết hội thoại (9)
    • 1.6 Giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Huy Tưởng và các kịch bản văn học (24)
    • 1.7 Tiểu kết (9)
  • Chương 2: Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp (9)
    • 2.1 Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp (9)
    • 2.2 Các dạng ngôn ngữ kịch trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp28 (9)
      • 2.2.1 Đối thoại (33)
      • 2.2.2 Độc thoại (36)
      • 2.3.2 Tính chất các cặp thoại (43)
    • 2.4 Cơ chế tạo ra hàm ý hội thoại trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp (9)
      • 2.4.1 Cơ chế thứ nhất: Sự vi phạm quy tắc chiếu vật và chỉ xuất (45)
      • 2.4.2 Cơ chế thứ hai: Các hành động ngôn từ gián tiếp (0)
      • 2.4.3 Cơ chế thứ ba: Sự vi phạm các quy tắc hội thoại (0)
      • 2.4.5 Nhận xét về hàm ý hội thoại trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp (67)
    • 2.5 Lịch sự và giao tiếp (10)
      • 2.5.1 Lịch sự và nguyên tắc lịch sự (68)
    • A- Chiến lược lịch sự và sự thể hiện chiến lược lịch sự trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp (71)
    • B- Một số mô hình câu biểu thị cầu khiến và biểu thị sự khen trong các kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp (77)
      • 2.5.2 Vai giao tiếp và quan hệ giao tiếp (85)
    • A- Quan hệ và vai giao tiếp (85)
    • B- Chiến lược “Xưng khiêm hô tôn” (87)
      • 2.6 Tiểu kết (10)
  • Chương 3: Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng (10)
    • 3.1 Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng (10)
    • 3.2 Các dạng ngôn ngữ kịch trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng (10)
      • 3.2.1 Đối thoại (99)
      • 3.2.2 Độc thoại (102)
    • 3.3 Cấu trúc các cặp thoại trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng105 (105)
      • 3.3.1 Cấu trúc nội tại của cặp thoại (105)
      • 3.3.2 Tính chất các cặp thoại (106)
      • 3.4.3 Cơ chế thứ ba: Sự vi phạm các quy tắc lập luận (115)
      • 3.4.4 Cơ chế thứ tư: Sự vi phạm các quy tắc hội thoại (117)
      • 3.4.5 Nhận xét (124)
    • 3.5 Lịch sự và giao tiếp (10)
      • 3.5.1 Lịch sự trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng (125)
      • 3.5.2 Quan hệ giao tiếp và vai giao tiếp (132)
    • 3.6 Tiểu kết (10)
  • Kết luận (137)

Nội dung

Output file Đại học quốc gia Hà Nội Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn KHOA NGÔN NGữ    NGUYỄN THANH NGA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KỊCH BẢN VĂN HỌC CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG VÀ NGUYỄN HUY THIỆP THEO CÁC[.]

Mục đích nghiên cứu

Bài viết này nhằm mục đích nghiên cứu sâu về các kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Huy Tưởng Đồng thời, nó cũng khám phá các vấn đề lý thuyết hội thoại và cách áp dụng những vấn đề này vào việc phân tích các tác phẩm kịch bản của hai tác giả.

Việc làm rõ sự khác biệt trong cách sử dụng ngôn từ nhằm thể hiện ý đồ của tác giả là một nhiệm vụ quan trọng trong luận văn So sánh sự tương đồng và khác biệt giữa các tác giả về lý thuyết hội thoại trong các kịch bản văn học sẽ giúp chúng ta nhận diện những nét “bản sắc” và “dấu ấn” riêng của từng nhà viết kịch Qua đó, công việc này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về đặc trưng phong cách viết của từng tác giả mà còn làm nổi bật sự đa dạng trong nghệ thuật kịch.

Đóng góp của luận văn

Luận văn này sẽ phân tích các vấn đề hội thoại trong kịch bản văn học, đồng thời cung cấp kiến thức và hiểu biết về kịch bản của hai tác giả cụ thể, cũng như các lý luận hội thoại trong lĩnh vực kịch nói chung.

Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Huy Thiệp thu hút sự quan tâm lớn từ cả giới chuyên môn và công chúng Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về các tác phẩm này, nhưng chưa có tài liệu nào phân tích sâu sắc dưới góc độ lí thuyết hội thoại Luận văn này sẽ cung cấp kiến thức chuyên ngành ngôn ngữ cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này.

Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các thủ pháp thống kê, phân tích, cải biến, so sánh và tổng hợp

Thủ pháp chêm xen cũng đƣợc sử dụng trong một phạm vi nào đó của luận văn

7) Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, trong phần nội dung luận văn sẽ bao gồm 3 chương với các đề mục sau:

Một số vấn đề lí luận chung

Kịch bản văn học là một thể loại diễn ngôn

Theo từ điển thuật ngữ văn học, thuật ngữ kịch đƣợc dùng theo hai cấp độ:

Kịch là một trong ba thể loại cơ bản của văn học, bên cạnh tự sự và trữ tình Nó không chỉ thuộc về sân khấu mà còn là một hình thức văn học, phục vụ cho cả việc diễn xuất và đọc Do đó, kịch bản được coi là khía cạnh văn học quan trọng của kịch.

Thể loại kịch, hay còn gọi là chính kịch, là một loại hình văn học sân khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch Thuật ngữ "dram" được sử dụng để chỉ thể loại này trong nghệ thuật biểu diễn.

Trong luận văn này, thuật ngữ kịch đƣợc sử dụng ở cấp độ thứ nhất, tức là cấp độ loại hình

Kịch bao gồm hai phần chính: kịch bản và trình diễn Kịch bản, hay còn gọi là kịch bản văn học, được viết bởi kịch tác gia, trong khi trình diễn là quá trình mà đạo diễn chuyển thể kịch bản thành một ngôn ngữ nghệ thuật phức tạp để thể hiện trên sân khấu Để hiểu rõ đặc trưng của kịch bản văn học, cần có cách tiếp cận phù hợp, vì nếu tách rời kịch bản khỏi sân khấu và mục đích trình diễn, sẽ khó nắm bắt được những đặc điểm của loại hình văn bản nghệ thuật này.

Kịch nói Việt Nam ra đời muộn nhất trong các bộ môn sân khấu, chỉ xuất hiện vào đầu thế kỷ XX do bối cảnh lịch sử đặc biệt Ban đầu, nó nhằm truyền bá văn hóa “mẫu quốc” của Pháp qua tạp chí Đông Dương do Nguyễn Văn Vĩnh chủ trì, với các kịch bản của Molie được dịch sang tiếng Việt Việc trình diễn các tác phẩm sân khấu dịch tại Hà Nội đã tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới trí thức thời bấy giờ, khiến nhiều người mong muốn phát triển sân khấu.

Việt Nam có khả năng biểu diễn các vở hài kịch theo phong cách phương Tây, mang lại lợi ích cho phong tục tập quán của đất nước Bối cảnh này đã thúc đẩy một phong trào sáng tác kịch nói vào đầu thế kỷ, với sự góp mặt của những tên tuổi nổi bật như Vũ Đình Long, Vi Huyền Đắc, Tô Giang và Trần Tuấn.

Vi Huyền Đắc là một trong những tác giả nổi bật của thời kỳ đó, được đánh giá cao với các tác phẩm tiêu biểu như Uyên ƣơng (1927), Mộng Hồ Điệp (1928), Ông Kí Cóp và Kim Tiền Các tác giả khác như Khải, Hồ Trọng Hiến, Nguyễn Phú Kim, Đoàn Phú Tứ và Tương Huyền cũng góp mặt trong bối cảnh văn học phong phú này.

Trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, kịch nói đã phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu đáng kể về quy mô và chất lượng vở diễn Nhiều tác giả tiêu biểu như Nguyễn Huy Tưởng, Trúc Đường, Nguyễn Đình Thi, Ngô Y Linh và Đào Hồng Cẩm đã góp phần quan trọng vào sự phát triển này.

Mặc dù kịch nói đã tồn tại gần một thế kỷ tại Việt Nam, nhưng nghiên cứu về kịch nói và ngôn ngữ liên quan vẫn còn hạn chế, thiếu những phân tích cụ thể và sâu sắc.

Kịch bản văn học cần được nghiên cứu như một thể loại diễn ngôn, bên cạnh thơ và tiểu thuyết Việc tìm hiểu kịch bản không chỉ tập trung vào cấu trúc mà còn phải xem xét các khía cạnh khác một cách cụ thể và tỉ mỉ.

Trước khi khám phá cấu trúc thông thường của một kịch bản văn học, chúng ta cần xem xét lý thuyết phong cách chức năng để hiểu cách mà kịch bản văn học được nhìn nhận.

Một số thể loại kịch nổi bật với đặc trưng chính là tính đối thoại, không chỉ để đọc mà còn để diễn viên trình diễn Văn bản kịch mang nhiều đặc điểm của khẩu ngữ tự nhiên, phản ánh quá trình chuyển hóa giữa các phong cách chức năng Đối thoại trong phong cách nghệ thuật được xây dựng trực tiếp từ các cuộc đối thoại trong khẩu ngữ tự nhiên.

Cách thể hiện đối thoại của từng tác giả có sự khác biệt, nhằm loại bỏ những chi tiết thừa để đảm bảo tính trong sáng của ngôn ngữ nghệ thuật Trong thể loại kịch, đối thoại là yếu tố cơ bản, kết hợp với bối cảnh và tình huống nhân vật, tạo ra một ngôn ngữ "tiền đề" không cần lặp lại Cú pháp trong ngôn ngữ kịch mang tính tỉnh lược cao, dễ hiểu và chấp nhận Mỗi nhân vật đều chứa đựng thông tin riêng, và câu nói của họ nằm trong thế tỉnh lược bề mặt, trong khi người nghe tiếp nhận đầy đủ cấu trúc sâu Sự không lặp lại các tiền giả định trong giao tiếp giữa nhân vật và khán giả được thực hiện một cách triệt để.

Trong kịch, người kể chuyện hiếm khi xuất hiện, mà chủ yếu là đối thoại giữa các nhân vật Ngôn ngữ kịch được xây dựng dựa trên lời thoại, mang tính nghệ thuật và gần gũi với khẩu ngữ Ngôn ngữ này kết hợp với các hành động khác, tác động trực tiếp đến người nghe, tùy thuộc vào phản ứng ngay lập tức của họ đối với từng ý và lời nói.

Kịch bản văn học thường có cấu trúc chương hồi cảnh lớp, được sắp xếp từ lớn đến nhỏ Tuy nhiên, không phải tất cả các kịch bản đều chứa đủ bốn yếu tố này; một số chỉ có hồi và cảnh, trong khi những cái khác có hồi, cảnh và lớp Sự lựa chọn này phụ thuộc vào cách xây dựng của từng tác giả Dù vậy, các yếu tố chương hồi cảnh lớp vẫn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện tính thống nhất của tư tưởng chủ đề Mặc dù chúng có tính độc lập tương đối, mỗi hồi, chương hay lớp trong kịch bản đều mang những chủ đề riêng, độc lập nhưng vẫn phục vụ cho đề tài chung của tác phẩm.

Lí thuyết hội thoại và hội thoại sân khấu

và các kịch bản văn học 1.7 Tiểu kết

Chương 2: Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp

2.1 Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp 2.2 Các dạng ngôn ngữ kịch trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp 2.3 Cấu trúc các cặp thoại

2.4 Cơ chế tạo ra hàm ý hội thoại trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp

Ngôn cảnh trong kịch bản văn học

và các kịch bản văn học 1.7 Tiểu kết

Chương 2: Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp

2.1 Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp 2.2 Các dạng ngôn ngữ kịch trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp 2.3 Cấu trúc các cặp thoại

2.4 Cơ chế tạo ra hàm ý hội thoại trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp

Kịch bản văn học theo cách nhìn của lí thuyết hội thoại

và các kịch bản văn học 1.7 Tiểu kết

Chương 2: Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp

2.1 Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp 2.2 Các dạng ngôn ngữ kịch trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp 2.3 Cấu trúc các cặp thoại

2.4 Cơ chế tạo ra hàm ý hội thoại trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp

2.5 Lịch sự và giao tiếp 2.6 Tiểu kết

Chương 3: Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng

3.1 Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng 3.2 Các dạng ngôn ngữ kịch trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng

3.3 Cấu trúc cặp thoại 3.4 Cơ chế tạo ra hàm ý hội thoại trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng

3.5 Lịch sự và giao tiếp 3.6 Tiểu kết

Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung

1.1 Kịch bản văn học là một thể loại diễn ngôn

Theo từ điển thuật ngữ văn học, thuật ngữ kịch đƣợc dùng theo hai cấp độ:

Kịch là một trong ba thể loại cơ bản của văn học, bên cạnh tự sự và trữ tình Nó không chỉ thuộc về sân khấu mà còn là một phần của văn học, phục vụ cho cả việc diễn xuất và đọc Do đó, kịch bản được coi là khía cạnh văn học quan trọng của kịch.

Thể loại kịch, hay còn gọi là chính kịch, là một loại hình văn học sân khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch Thuật ngữ "dram" được sử dụng để chỉ thể loại này trong nghệ thuật biểu diễn.

Trong luận văn này, thuật ngữ kịch đƣợc sử dụng ở cấp độ thứ nhất, tức là cấp độ loại hình

Kịch bao gồm hai phần chính: kịch bản và trình diễn Kịch bản, hay còn gọi là kịch bản văn học, được viết bởi kịch tác gia, trong khi trình diễn là quá trình mà đạo diễn chuyển thể kịch bản thành một ngôn ngữ nghệ thuật phức tạp để thể hiện trên sân khấu Để hiểu rõ đặc trưng của kịch bản văn học, cần có cách tiếp cận phù hợp, vì nếu tách rời kịch bản khỏi sân khấu và mục đích trình diễn, sẽ khó nắm bắt được những đặc điểm của loại hình văn bản nghệ thuật này.

Kịch nói Việt Nam ra đời muộn nhất trong các bộ môn sân khấu, chỉ xuất hiện vào đầu thế kỷ XX do bối cảnh lịch sử đặc biệt Ban đầu, nó nhằm truyền bá văn hóa "mẫu quốc" của Pháp qua tạp chí Đông Dương do Nguyễn Văn Vĩnh chủ trì, với các kịch bản của Molie được dịch sang tiếng Việt Việc trình diễn các tác phẩm sân khấu dịch tại Hà Nội đã tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới trí thức thời bấy giờ, khiến nhiều người mong muốn phát triển sân khấu.

Việt Nam có khả năng biểu diễn các vở hài kịch theo phong cách phương Tây, mang lại lợi ích cho phong tục tập quán của đất nước Bối cảnh này đã thúc đẩy một phong trào sáng tác kịch nói vào đầu thế kỷ, với sự góp mặt của những tên tuổi nổi bật như Vũ Đình Long, Vi Huyền Đắc, Tô Giang và Trần Tuấn.

Vi Huyền Đắc là một trong những tác giả nổi bật của thời kỳ đó, được đánh giá cao với các tác phẩm tiêu biểu như Uyên ƣơng (1927), Mộng Hồ Điệp (1928), Ông Kí Cóp và Kim Tiền Các tác giả khác như Khải, Hồ Trọng Hiến, Nguyễn Phú Kim, Đoàn Phú Tứ và Tương Huyền cũng góp mặt trong bối cảnh văn học phong phú này.

Trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, kịch nói đã phát triển mạnh mẽ, đạt nhiều thành tựu đáng kể về quy mô và chất lượng vở diễn Nhiều tác giả tiêu biểu như Nguyễn Huy Tưởng, Trúc Đường, Nguyễn Đình Thi, Ngô Y Linh và Đào Hồng Cẩm đã góp phần quan trọng vào sự phát triển này.

Mặc dù kịch nói đã tồn tại gần một thế kỷ tại Việt Nam, nhưng nghiên cứu về kịch nói và ngôn ngữ liên quan vẫn còn hạn chế, thiếu những phân tích cụ thể và sâu sắc.

Kịch bản văn học cần được nghiên cứu như một thể loại diễn ngôn, bên cạnh thơ và tiểu thuyết Việc tìm hiểu kịch bản không chỉ tập trung vào cấu trúc mà còn ở nhiều khía cạnh khác, đòi hỏi sự xem xét cụ thể và tỉ mỉ.

Trước khi khám phá cấu trúc thông thường của một kịch bản văn học, chúng ta cần xem xét lý thuyết phong cách chức năng và cách mà nó nhìn nhận kịch bản văn học.

Một số thể loại kịch nổi bật với đặc trưng chính là tính đối thoại, không chỉ để đọc mà còn để diễn viên trình diễn Văn bản kịch mang nhiều đặc điểm của khẩu ngữ tự nhiên, phản ánh quá trình chuyển hóa giữa các phong cách chức năng Đối thoại trong phong cách nghệ thuật được xây dựng trực tiếp từ các cuộc đối thoại trong khẩu ngữ tự nhiên.

Cách thể hiện đối thoại của từng tác giả có sự khác biệt, nhằm loại bỏ những chi tiết thừa để đảm bảo tính trong sáng của ngôn ngữ nghệ thuật Trong thể loại kịch, đối thoại là yếu tố cơ bản, kết hợp với bối cảnh và tình huống nhân vật, tạo ra một ngôn ngữ "tiền đề" không cần lặp lại Cú pháp trong ngôn ngữ kịch mang tính tỉnh lược cao, dễ hiểu và chấp nhận Mỗi nhân vật đều chứa đựng thông tin riêng, và câu nói của họ nằm trong bối cảnh tỉnh lược, giúp người nghe tiếp nhận cấu trúc sâu mà không cần lặp lại các giả định trong giao tiếp.

Trong kịch, người kể chuyện hiếm khi xuất hiện, mà chủ yếu là đối thoại giữa các nhân vật Ngôn ngữ kịch được xây dựng dựa trên lời thoại, mang tính nghệ thuật và gần gũi với khẩu ngữ Ngôn ngữ này kết hợp với các hành động khác, tác động trực tiếp đến người nghe, tùy thuộc vào phản ứng ngay lập tức của họ đối với từng ý và từng lời.

Kịch bản văn học thường có cấu trúc chương hồi cảnh lớp, sắp xếp từ lớn đến nhỏ, nhưng không phải tất cả đều chứa đủ bốn yếu tố này Một số vở kịch chỉ có hồi và cảnh, trong khi những vở khác có hồi, cảnh và lớp, tùy thuộc vào cách xây dựng của từng tác giả Dù vậy, các yếu tố này vẫn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện tính thống nhất của tư tưởng chủ đề Mặc dù mỗi hồi, chương hay lớp trong kịch bản có thể có chủ đề riêng, độc lập, nhưng chúng vẫn phục vụ cho đề tài chung của toàn bộ kịch bản.

1.2 Đặc trưng của kịch bản văn học

Kịch bản văn học không nên bị nhầm lẫn với nghệ thuật sân khấu nói chung, vì nó được xem là một trong ba thể loại chính của văn học Mặc dù kịch bản văn học chủ yếu bao gồm đối thoại, nhưng đối thoại chỉ là một trong những đặc điểm hình thức của nó, không phải là yếu tố duy nhất.

Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp

Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp

2.4 Cơ chế tạo ra hàm ý hội thoại trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp

Lịch sự và giao tiếp

Chương 3: Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng

3.1 Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng 3.2 Các dạng ngôn ngữ kịch trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng

3.3 Cấu trúc cặp thoại 3.4 Cơ chế tạo ra hàm ý hội thoại trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng

3.5 Lịch sự và giao tiếp 3.6 Tiểu kết

Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung

1.1 Kịch bản văn học là một thể loại diễn ngôn

Theo từ điển thuật ngữ văn học, thuật ngữ kịch đƣợc dùng theo hai cấp độ:

Kịch là một trong ba thể loại cơ bản của văn học, bên cạnh tự sự và trữ tình Nó không chỉ thuộc về sân khấu mà còn mang tính chất văn học, phục vụ cho cả việc diễn xuất lẫn việc đọc Do đó, kịch bản được xem là khía cạnh văn học quan trọng của kịch.

Thể loại kịch, hay còn gọi là chính kịch, là một loại hình văn học sân khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch Thuật ngữ "dram" được sử dụng để chỉ thể loại này trong nghệ thuật biểu diễn.

Trong luận văn này, thuật ngữ kịch đƣợc sử dụng ở cấp độ thứ nhất, tức là cấp độ loại hình

Kịch bao gồm hai phần chính: kịch bản và trình diễn Kịch bản, hay còn gọi là kịch bản văn học, được viết bởi kịch tác gia, trong khi trình diễn là quá trình mà đạo diễn chuyển thể kịch bản thành một ngôn ngữ nghệ thuật phức tạp để thể hiện trên sân khấu Để hiểu rõ đặc trưng của kịch bản văn học, cần có cách tiếp cận phù hợp, vì nếu tách rời kịch bản khỏi sân khấu và mục đích trình diễn, sẽ khó nắm bắt được những đặc điểm của loại hình văn bản nghệ thuật này.

Kịch nói Việt Nam ra đời muộn nhất trong các bộ môn sân khấu, chỉ xuất hiện vào đầu thế kỷ XX do bối cảnh lịch sử đặc biệt Ban đầu, nó nhằm truyền bá văn hóa “mẫu quốc” của Pháp qua tạp chí Đông Dương do Nguyễn Văn Vĩnh chủ trì, với các kịch bản của Molie được dịch sang tiếng Việt Việc trình diễn các tác phẩm sân khấu dịch tại Hà Nội đã tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới trí thức thời bấy giờ, khiến nhiều người mong muốn phát triển sân khấu.

Việt Nam có khả năng biểu diễn các vở hài kịch theo phong cách phương Tây, mang lại lợi ích cho phong tục tập quán của đất nước Bối cảnh này đã thúc đẩy một phong trào sáng tác kịch nói vào đầu thế kỷ, với sự góp mặt của những tên tuổi nổi bật như Vũ Đình Long, Vi Huyền Đắc, Tô Giang và Trần Tuấn.

Khải, Hồ Trọng Hiến, Nguyễn Phú Kim, Đoàn Phú Tứ, và Tương Huyền là những tác giả nổi bật, trong đó Vi Huyền Đắc được đánh giá cao với các tác phẩm tiêu biểu như Uyên ƣơng (1927), Mộng Hồ Điệp (1928), Ông Kí Cóp, và Kim Tiền.

Trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, kịch nói đã phát triển mạnh mẽ, đạt nhiều thành tựu đáng kể về quy mô và chất lượng vở diễn Nhiều tác giả tiêu biểu như Nguyễn Huy Tưởng, Trúc Đường, Nguyễn Đình Thi, Ngô Y Linh và Đào Hồng Cẩm đã góp phần quan trọng vào sự phát triển này.

Mặc dù kịch nói đã tồn tại gần một thế kỷ tại Việt Nam, nhưng nghiên cứu về kịch nói và ngôn ngữ liên quan vẫn còn hạn chế, thiếu những công trình nghiên cứu cụ thể và sâu sắc.

Kịch bản văn học cần được nghiên cứu như một thể loại diễn ngôn, bên cạnh thơ và tiểu thuyết Việc tìm hiểu kịch bản không chỉ tập trung vào cấu trúc mà còn ở nhiều khía cạnh khác, đòi hỏi sự xem xét cụ thể và tỉ mỉ.

Trước khi khám phá cấu trúc thông thường của một kịch bản văn học, chúng ta cần xem xét lý thuyết phong cách chức năng và cách mà nó nhìn nhận kịch bản văn học.

Một số thể loại kịch nổi bật với đặc trưng chính là tính đối thoại, không chỉ để đọc mà còn để diễn viên trình diễn Văn bản kịch mang nhiều đặc điểm của khẩu ngữ tự nhiên, phản ánh quá trình chuyển hóa giữa các phong cách chức năng Đối thoại trong phong cách nghệ thuật được xây dựng trực tiếp từ các cuộc đối thoại trong khẩu ngữ tự nhiên.

Các tác giả thể hiện đối thoại một cách khác nhau, loại bỏ những chi tiết thừa để đảm bảo tính trong sáng của ngôn ngữ nghệ thuật Trong thể loại kịch, đối thoại là yếu tố cơ bản, kết hợp với bối cảnh và tình huống nhân vật, tạo ra một ngôn ngữ "tiền đề" không cần lặp lại Cú pháp trong ngôn ngữ kịch là tinh gọn nhưng dễ hiểu, với mỗi nhân vật mang thông tin riêng trong diễn biến của vở kịch Những câu nói của nhân vật đều nằm trong bề mặt tỉnh lược, nhưng người nghe vẫn tiếp nhận đầy đủ cấu trúc sâu Sự không lặp lại các tiền giả định trong giao tiếp giữa nhân vật và khán giả được thực hiện một cách triệt để.

Trong kịch, người kể chuyện hiếm khi xuất hiện, mà chủ yếu là đối thoại giữa các nhân vật Ngôn ngữ kịch được xây dựng dựa trên lời thoại, mang tính nghệ thuật và gần gũi với khẩu ngữ Ngôn ngữ này kết hợp với các hành động khác, tác động trực tiếp đến người nghe và phụ thuộc vào phản ứng ngay lập tức của họ đối với từng ý và lời nói.

Kịch bản văn học thường có cấu trúc chương hồi cảnh lớp, được sắp xếp từ lớn đến nhỏ Tuy nhiên, không phải tất cả các kịch bản đều chứa đủ bốn yếu tố này; một số chỉ có hồi và cảnh, trong khi những cái khác có hồi, cảnh và lớp Sự lựa chọn này phụ thuộc vào cách xây dựng của từng tác giả Dù vậy, các yếu tố chương hồi cảnh lớp vẫn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện tính thống nhất của tư tưởng chủ đề Mặc dù chúng có tính độc lập tương đối, mỗi hồi, chương hay lớp trong kịch bản đều mang những chủ đề riêng, độc lập nhưng vẫn phục vụ cho đề tài chung của tác phẩm.

1.2 Đặc trưng của kịch bản văn học

Kịch bản văn học không nên bị nhầm lẫn với nghệ thuật sân khấu nói chung, vì nó được coi là một trong ba loại chính của văn học Mặc dù kịch bản văn học chủ yếu bao gồm đối thoại, nhưng đối thoại chỉ là một trong những đặc điểm hình thức của nó, không phải là yếu tố duy nhất.

Chiến lược lịch sự và sự thể hiện chiến lược lịch sự trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp

A- Chiến lược lịch sự và sự thể hiện chiến lược lịch sự trong kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp

Lịch sự là cách thể hiện nhằm giảm thiểu những hành vi có thể gây tổn hại đến thể diện của người khác, đồng thời đáp ứng nhu cầu thể diện của cả người nghe và bản thân Nó có thể được xem như một chiến lược giao tiếp, trong đó chiến lược lịch sự là phương pháp không gây đe dọa đến thể diện của đối phương.

Các chiến lƣợc của lịch sự (xếp theo thứ tự từ mạnh đến yếu):

- Hành vi không làm đe doạ thể diện Đây là chiến lƣợc có tầm hiệu chỉnh mạnh nhất, vì người nói từ bỏ hành vi đe doạ thể diện

Hành vi đe doạ thể diện một cách không công khai là một chiến lược có hiệu chỉnh cao, trong đó sự mơ hồ trong lời nói có thể dẫn đến việc người nghe hiểu theo nhiều cách khác nhau.

- Lịch sự tiêu cực: dùng trong hoàn cảnh đe doạ thể diện tương đối lớn

- Lịch sự tích cực: dùng trong hoàn cảnh đe doạ thể diện tương đối nhỏ

Tuy nhiên, điều mà lịch sự tích cực đáp ứng đƣợc chính là thể diện tích cực của người nghe

Hành vi đe doạ thể diện công khai thường xảy ra trong những tình huống không có sự đe doạ thể diện rõ ràng hoặc khi có lý do nào đó có thể chấp nhận được.

Hành vi đe doạ thể diện liên quan đến khái niệm thể diện và lịch sự trong tương tác Lịch sự được định nghĩa là những phương thức thể hiện sự thừa nhận và tôn trọng thể diện của người đối thoại Nó bao gồm bất kỳ cách thức nào nhằm lưu ý đến tình cảm và thể diện của nhau trong hội thoại, bất kể khoảng cách xã hội giữa người nói và người nghe.

Trong giao tiếp bằng lời và không bằng lời, chúng ta cần thực hiện những hành động ngôn từ nhất định Nhiều hành vi ngôn ngữ có thể gây tổn hại đến thể diện Một số hành vi có thể đe dọa đến thể diện của người khác.

Hành vi ngôn ngữ như khuyên nhủ, dặn dò, hay chỉ vẽ quá mức có thể đe dọa thể diện tiêu cực của người tiếp nhận Những câu hỏi tò mò vào đời tư không đúng lúc khiến người khác phải ngừng suy nghĩ và công việc để trả lời Ngoài ra, những lời gợi ý không ai nhờ, lối chen ngang, ngắt lời, hay nói leo cũng góp phần làm tổn hại đến thể diện của người khác.

Đoài cho rằng, nếu đến 30 tuổi mà chưa kết hôn thì không nên lấy vợ nữa, và nếu 40 tuổi mà chưa có chức vụ thì không nên theo đuổi Anh cũng nhấn mạnh rằng việc kết hôn ở tuổi 38 là một quyết định mạo hiểm.

Tuổi của chị Sinh, tôi nói thật nhé, chỉ lấy thằng Khiêm nhà này là phải

(Quỷ ở với người - Nguyễn Huy Thiệp)

Hoàng Diệu: Tôi bắt đầu cảm thấy kính trọng và thậm chí thích bạn Bạn ơi, đồng chí của tôi! Bạn thực sự là một nhà cách mạng lão thành Cuộc sống đang mở ra trước mắt bạn với nhiều hy vọng.

Dũng cảm lên và hãy rời đi mà không cần chào hỏi hay từ biệt ai Không có kỉ niệm sâu sắc nào ở đây để phải nói lời tạm biệt.

(Nhà tiên tri - Nguyễn Huy Thiệp)

Lời khuyên của nhân vật Đoài và Hoàng Diệu thể hiện hành vi đe dọa thể diện tiêu cực đối với nhân vật Cấn và Kính Những lời nói này không chỉ mang tính chất khuyên nhủ mà còn phản ánh sự áp lực mà người tiếp nhận phải đối mặt.

+ Hành vi đe doạ thể diện tích cực của người tiếp nhận như phê bình, chê bai, thậm chí là chửi bới, chế giễu…

Hoàng Diệu: Hãy tỉnh táo! Xuất thân từ một người nông dân, nhờ vợ mà có được địa vị và danh vọng ngày nay, vậy mà vẫn ca thán Mày lấy vợ không phải vì tình yêu, mà vì danh vọng "Gieo nhân nào gặt quả ấy", nếu không có tình yêu chân chính, sao có thể đòi hỏi vợ chung thủy?

(Nhà tiên tri - Nguyễn Huy Thiệp)

Lời thoại của nhân vật Hoàng Diệu thể hiện hành vi đe dọa thể diện tích cực của nhân vật Kính Câu nói này không chỉ mang tính chê bai mà còn có thể được xem là sự chế giễu đối tượng tiếp nhận.

Khi người nói đưa ra những nhận định như “mày xuất thân từ một thằng nhà quê chân trắng” hay “mày có tình yêu chân chính đâu mà mày đòi hỏi vợ mày chung thuỷ?”, điều này thể hiện sự phê phán và đánh giá thấp về xuất thân và tình cảm của người khác Những câu nói này không chỉ gây tổn thương mà còn phản ánh sự thiếu hiểu biết về giá trị của tình yêu và sự chung thuỷ trong mối quan hệ.

* Lịch sự tích cực và lịch sự tiêu cực

Lịch sự tích cực là một chiến lược giao tiếp hiệu quả, tập trung vào việc tìm kiếm những điểm tương đồng giữa bản thân và người nghe Điều này giúp thỏa mãn thể diện tích cực của đối phương, tạo ra một môi trường giao tiếp thân thiện và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp.

Trong kịch bản văn học của tác giả Nguyễn Huy Thiệp các chiến lƣợc lịch sự tích cực này cũng đƣợc sử dụng Đó là các chiến lƣợc:

./ Khoa trương niềm hứng thú, sự tán đồng, đồng tình của bản thân với người nghe

Linh: Tớ đã đi khắp nơi nhƣng chƣa thấy ở đâu có một thƣ viện gia đình nhƣ ở nhà này Thích thật!

(Nhà tiên tri - Nguyễn Huy Thiệp)

./ Tiến đến sự nhất trí

Thiếu tướng khẳng định rằng tình yêu dành cho Nguyễn Thái Học vẫn sống mãi trong mỗi người Tình yêu là vĩnh cửu, không bao giờ có thể mất đi Hãy nhìn lên bầu trời, sao mà xanh tươi đến vậy!

Trung uý: Vâng Bầu trời xanh quá!

(Còn lại tình yêu - Nguyễn Huy Thiệp)

./ Tránh sự không nhất trí

Một số mô hình câu biểu thị cầu khiến và biểu thị sự khen trong các kịch bản văn học của Nguyễn Huy Thiệp

Trong tiếng Việt, các mô hình câu cầu khiến và biểu thị sự khen rất phong phú và đa dạng Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về các mô hình này, nhưng ứng dụng trong kịch bản văn học, đặc biệt là trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, vẫn còn hạn chế Bài viết này sẽ khám phá các mô hình câu biểu thị cầu khiến và sự khen trong đối thoại kịch bản.

* Mô hình câu biểu thị cầu khiến

Trong kịch bản văn học, đối thoại thường phản ánh gần gũi với cuộc sống hàng ngày Việc biểu thị “cầu khiến” trong hội thoại tiếng Việt rất đa dạng, thể hiện qua sự kết hợp giữa các từ và cụm từ cầu khiến cùng với từ cảm.

- Các câu hỏi thăm dò nhƣ “đƣợc không”, “đƣợc chứ”, “có thể đƣợc không”, “đƣợc không ạ”, “đƣợc chứ ạ”, “có thể đƣợc không ạ”, “có phải hay không?…

Khi yêu nhau, tình cảm giữa hai người thường rất trong sáng và không vụ lợi, thể hiện qua sự hy sinh và chăm sóc lẫn nhau.

(Cái chết đƣợc che đậy - Nguyễn Huy Thiệp)

Ví dụ khác Ông Kiệm: Bạch thầy… Con xuống chợ có đƣợc không?

(Hoa sen nở ngày 29 tháng 4 - Nguyễn Huy Thiệp)

- Các câu cầu khiến có chứa các từ nhƣ “xin”, “mời”, “phiền”, làm phiền”,

“cảm phiền”, “làm phiền, làm ơn”…

Cô gái: Thƣa bà, bà làm ơn bảo cho em biết, em có thể hỏi ai để cúng cho nhà chùa 10 nghìn đồng?

Xuân Lan: Có gì mà phải cám ơn… Em đừng xƣng hô với tôi là bà…

Buồn cười lắm… Chẳng lẽ tôi già đến thế sao?

Cô gái: Ô không!… Tại là vì em lần đầu đi chùa…

(Cái chết đƣợc che đậy - Nguyễn Huy Thiệp)

Bảo: Chị Xuân Lan ạ, nếu chị cho tôi uống cà phê thì xin chị cho ngọt đường vào…

(Cái chết đƣợc che đậy - Nguyễn Huy Thiệp)

Ngầm chỉ có thể hiểu là một hình thức hàm ý trong hội thoại Ví dụ điển hình là câu hỏi của ông Nhân: "Hoà thượng! Mặt trời mọc ở đâu vậy?"

Sư Huệ: Mô Phật! Khách muốn tham vấn công án Thiền chăng? Ông Nhân: Không, ta muốn xác định vị trí của ta, của hoà thƣợng

(Hoa sen nở ngày 29 tháng 4 - Nguyễn Huy Thiệp)

Mô hình hỏi, mệnh lệnh và cầu khiến là những cách diễn đạt phổ biến trong văn học Cách hỏi thường được sử dụng để tạo sự tương tác và khơi gợi cảm xúc, như trong câu hỏi của nhân vật Ông Kiệm: "Chắc cháu phải yêu cậu ấy ghê lắm phải không?"

(Hoa sen nở ngày 29 tháng 4 - Nguyễn Huy Thiệp) Mô hình câu mệnh lệnh

Khải: Gọi cho tao thằng Tảo vào đây

(Còn lại tình yêu - Nguyễn Huy Thiệp)

Mô hình câu cầu khiến nói chung

Bà Trinh: Thƣa quan lớn, chúng em nghe nói quan lớn đã bắt đƣợc

Nguyễn Thái Học, chúng em rất mừng Chúng em muốn đến xem mặt Nguyễn

Mô hình câu biểu thị cầu khiến trong tiếng Việt mang đậm đặc trưng văn hóa dân tộc Ngôn ngữ Việt thường phản ánh những nét văn hóa riêng biệt, ví dụ như việc chào hỏi bằng câu hỏi như “bác đi đâu đấy ạ” hay “anh ăn cơm chưa”, điều này khác biệt với phong cách giao tiếp của người phương Tây Sự khác nhau này thể hiện rõ nét trong cách sử dụng câu cầu khiến trong tiếng Việt.

Tiếng Việt có đặc điểm riêng so với các ngôn ngữ khác, đặc biệt trong việc sử dụng câu cầu khiến Người Việt thường không chỉ đơn thuần sử dụng ngôn ngữ cầu khiến mà thường kèm theo lời giải thích để làm rõ ý nghĩa.

Bà Trinh đang trò chuyện với Khải về mong muốn được gặp mặt.

Nguyễn Thái Học, nhân vật trong kịch bản văn học "Còn lại tình yêu" của Nguyễn Huy Thiệp, đã thu hút sự chú ý của mọi người với những hành động chống đối mạnh mẽ Nhiều người tò mò muốn biết thực sự Nguyễn Thái Học là ai, và lý do gì khiến anh dám đứng lên chống lại.

Học ném bom xi măng chết 100 lính lê dương mới bị bắt.”

Trong cuộc đối thoại giữa cô gái và Xuân Lan, cô gái bày tỏ sự bỡ ngỡ khi lần đầu tiên đi chùa và lý do cô hỏi về cách đóng góp tiền công đức.

Khi sử dụng câu cầu khiến, người Việt thường không chỉ dùng ngôn ngữ cầu khiến mà còn kèm theo lời giải thích Điều này thể hiện một trong những nét văn hóa dân tộc đặc trưng của người Việt.

* Mô hình câu biểu thị sự khen và tiếp nhận lời khen

Giao tiếp trong văn hóa người Việt liên quan đến việc khen ngợi và cách tiếp nhận lời khen, thể hiện sự lịch sự Khi nhận được lời khen, người nhận cần có phản ứng phù hợp, có thể là bằng lời nói, cử chỉ phi ngôn ngữ, hoặc kết hợp cả hai Phản ứng này phụ thuộc vào hoàn cảnh và các nhân vật tham gia trong cuộc giao tiếp.

Trong phần này, chúng tôi sẽ giới hạn việc trình bày một số câu thể hiện sự khen ngợi và cách tiếp nhận lời khen, được tìm thấy trong các tác phẩm văn học.

Nguyễn Huy Thiệp đã có nhiều khoá luận tốt nghiệp và luận văn chuyên sâu nghiên cứu về mô hình câu thể hiện sự khen ngợi và cách thức tiếp nhận lời khen trong tiếng Việt.

Dưới đây là các mô hình biểu thị câu khen, trong đó mô hình sử dụng câu cảm thán để thể hiện lời khen Những mô hình câu khen phổ biến thường gặp trong các kịch bản văn học bao gồm các kiểu câu như:

Lão Kiền: Họp gia đình à? Cũng hay! Kể từ khi mẹ chúng mày mất, mười một năm rồi, thật chẳng có khi nào chúng mày ở nhà cả năm đứa?

Lão Kiền: Hay thật! Cái nghề cạo đầu ngoáy tai của mày, nhục thì nhục nhƣng hái ra tiền

(Quỷ ở với người - Nguyễn Huy Thiệp)

Thư kí: Thật lãng mạn! Câu chuyện cảm động quá!

(Còn lại tình yêu - Nguyễn Huy Thiệp)

Dật Công: Hay lắm! Ông Nguyễn Thái Học đã làm cho tất cả các tiểu thƣ

Minh: Không! Cháu sẽ hỏi ông ấy về đời tƣ

Bảo Tâm: Rất thú vị!

(Còn lại tình yêu - Nguyễn Huy Thiệp)

Mụ Dầu: Con Thuý quê ở Nga Sơn, Thanh Hoá…

Phàn Khoái: Đƣợc! Tốt lắm! Gái Thanh Hoá “chiến” lắm! Em Thuý này đáng là trung phong của quán Xuân Hồng đấy bà chị ạ!

(Xuân Hồng - Nguyễn Huy Thiệp) Đây là những mô hình câu biểu thị sự khen thường bằng một câu cảm thán nhƣ “hay thật!” “thật…”

Mô hình câu dùng những từ chỉ mức độ biểu thị sự khen

Ngoài ra trong các kịch bản văn học còn gặp những mô hình câu khen kèm theo các từ chỉ mức độ nhƣ lắm, quá, cực, tuyệt…

Ví dụ: Đoài: Chị Sinh thế nào?

Cấn: Cô ấy thì khoẻ lắm, 25 tuổi… Đoài: Tính tình thế nào?

Cấn: Cái ấy thì tuyệt vời Khéo lắm Mà thông minh lắm

(Quỷ ở với người - Nguyễn Huy Thiệp)

Thiếu tướng: Tốt rồi… Vấn đề ở chỗ chúng ta đã moi đƣợc từ miệng lão già những thông tin tuyệt vời…

Trung uý: Những tư tưởng rõ ràng rất tiến bộ!

Dật Công: Bác có cô con gái xinh đẹp quá

Hoàng Trọng Phu: Cám ơn ông, ông đối đáp giỏi lắm

(Còn lại tình yêu - Nguyễn Huy Thiệp)

Cô gái: Ôi chao… Chị 40, em cứ tưởng chị mới có 30 Chị trẻ thật đấy

Quan hệ và vai giao tiếp

Quan hệ liên cá nhân có ảnh hưởng lớn đến hội thoại, đặc biệt là trong những cuộc gặp gỡ lần đầu Trong những tình huống này, các bên thường phải thương lượng để tìm hiểu về nhau, xác định vị trí của mỗi người trên trục dọc và trục ngang Qua các phương thức giao tiếp khác nhau, họ dần dần khám phá lí lịch của nhau, từ đó làm thay đổi mức độ sôi nổi và chiều hướng của cuộc hội thoại dựa trên sự hiểu biết về "lí lịch".

Trong kịch bản văn học, bên cạnh việc giới thiệu trang trí và âm nhạc, phần giới thiệu nhân vật đóng vai trò quan trọng Tác giả có thể đề cập đến nhân vật trong phần giới thiệu chung hoặc để nhân vật tự giới thiệu và khám phá lý lịch của nhau trong kịch bản Những nhân vật này có thể là bạn cũ, người thân, hoặc đồng nghiệp, tạo nên sự gắn kết và chiều sâu cho câu chuyện.

Hãy xét đoạn mở đầu của một kịch bản văn học sau:

“Màn mở Nhà Bảo Trinh, một gia đình trí thức khá giả ở Hà Nội

Nội thất đẹp Bảo Trinh cầm phất trần phủi bụi

Bảo Trinh: Ngôi nhà yêu quý của tôi, nơi chứa đựng bao kỷ niệm đẹp Sau ba mươi hai năm gắn bó, ngôi nhà xinh đẹp này luôn là chốn trở về thân thương của tôi.

Ngôi nhà thích thế, thích vô cùng Dù có thế nào ta cũng không rồ bỏ mày…

Ngôi nhà này chính là thiên đường của ta, chính là hạnh phúc của ta! Là tổ ấm của ta!

Bảo Trinh: Ai thế nhỉ? Ai lại đến giờ này?

Mở cửa, Linh xách va li vào

Bảo Trinh: Ối giời! Linh! Cứ tưởng ai! Vào đây con ranh con… Mày đi đâu đến mấy năm nay mới lại nhà tao thế này!

Linh (ngắm nghía): Chà! Thay đổi ghê!

Linh đặt va li xuống, thái độ đàng hoàng

Bảo Trinh: Ngồi xuống đây! Ngồi xuống đây! Nào, con ranh con… Đi đâu mà chục năm nay mới lại nhà tao thế này?

Linh: Đi đâu? Đi nước ngoài… Thế mày không biết tao đi học ở Hung-ga- ri những sáu năm à?

Bảo Trinh: Thật bất ngờ! Tôi cứ nghĩ rằng sau khi tốt nghiệp, bạn đã đến Lâm Đồng, kết hôn, sinh con và trở thành anh hùng chiến sĩ thi đua trong ngành cà phê.

Linh: Sao lại cà phê? Cao su chứ!

Bảo Trinh: Ừ, cao su… Tao xin lỗi Hồi ấy hình nhƣ mày vào nông trường gì ở Lâm Đồng phải không?

Linh: Không phải Lâm Đồng mà là Tây Ninh Mày không nhớ gì sao? Trời ơi, mày quên cả tao rồi…

Bảo Trinh: Thôi đi! Thôi đi! Mày vẫn giữ cái tật mau nước mắt! Sao mày bắt tao nhớ nhiều thứ thế…

Linh (nước mắt lưng tròng, cười như mếu) thừa nhận: "Ừ, tao thật dớ dẩn Tại sao lại bắt mày phải nhớ những điều này chứ? Mày chỉ là chị em, không phải ruột thịt Chúng ta chỉ là những người dưng nước lã."

Bảo Trinh: Là bạn, hiểu chƣa? Con ranh con… tao với mày là bạn rất thân…”

Đoạn đối thoại mở đầu cho một kịch bản văn học, thể hiện mối quan hệ giữa hai nhân vật là bạn bè cũ lâu ngày gặp lại Họ đã từng học cùng nhau, có thể là ở đại học, điều này được khẳng định trong phần sau của đoạn đối thoại.

Trong đối thoại, quan hệ giữa hai nhân vật được thể hiện rõ qua cách họ trò chuyện và hỏi han nhau Sự ngỡ ngàng khi nhìn thấy nhau cho thấy họ đã lâu không gặp, điều này làm nổi bật mối liên hệ đặc biệt giữa họ.

Hơn nữa dựa vào cách xƣng hô “tao, mày” và những kỉ niệm cũ cũng nhƣ những

“hiểu biết” về nhau, người đọc có thể nhận định được rằng họ là một đôi bạn lâu ngày mới gặp

Quan hệ trong đối thoại có thể được nhận diện qua những dấu hiệu như cách xưng hô, cách đặt câu hỏi, và cách giao tiếp, đặc biệt là thông tin hiểu biết lẫn nhau.

Kịch bản văn học của Nguyễn Huy Tưởng

Ngày đăng: 30/06/2023, 08:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, H., 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
2. Gillian Brown, George Yule, Phân tích diễn ngôn (Trần Thuần dịch), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, H., 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn
Tác giả: Gillian Brown, George Yule
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2002
3. Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, H., 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1999
4. Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ dụng học, Tập 1, NXB Đại học Sƣ Phạm, H., 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ Phạm
Năm: 2003
5. Đỗ Hữu Châu, Đại cương Ngôn ngữ học, Tập 2: Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, H., 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Ngôn ngữ học, Tập 2: Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
6. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở Ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, H., 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
7. Nguyễn Đức Dân, Logích và tiếng Việt, NXB Giáo dục, H., 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logích và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
8. Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, H., 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
9. Hữu Đạt, Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, H., 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2001
10. Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, H., 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2004
11. Nguyễn Thiện Giáp, Giáo trình ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, H., 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2008
12. Nguyễn Thiện Giáp, Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, H., 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2006
13. Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, H., 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
14. Mark Halliday, Dẫn luận ngữ pháp chức năng (Hoàng Văn Vân dịch), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, H., 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngữ pháp chức năng
Tác giả: Mark Halliday
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2004
15. Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, NXB Khoa học xã hội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1991
16. Cao Xuân Hạo, Mấy vấn đề về Ngữ âm - Ngữ pháp - Ngữ nghĩa, NXB Khoa học xã hội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về Ngữ âm - Ngữ pháp - Ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2006
17. Nguyễn Hoà, Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề về lí luận và phương pháp, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, H., 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề về lí luận và phương pháp
Tác giả: Nguyễn Hoà
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2003
18. Nguyễn Hoà, Phân tích diễn ngôn phê phán: Một số vấn đề về lí luận và phương pháp, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, H., 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn phê phán: Một số vấn đề về lí luận và phương pháp
Tác giả: Nguyễn Hoà
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2005
19. Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản, NXB Khoa học xã hội, H., 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1999
20. Đinh Trọng Lạc, Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w