1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bg y hoc co truyen 2017 phan 2 5458

257 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Y Học Cổ Truyền - Thuốc Chữa Ho Trừ Đàm
Trường học Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học cổ truyền
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 257
Dung lượng 13,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài tác dụng tại phế, thuốc hóa đàm còn được dùng trong các bệnh phong đàm, hôn mê, trúng phong, kinh giản.. Thuốc hóa đàm tính vị không giống nhau, tùy theo tính chất chia làm hai loạ

Trang 1

THUỐC CHỮA HO TRỪ ĐÀM, BÌNH CAN TỨC PHONG, AN THẦN, CỐ SÁP, KHU TRÙNG, THUỐC TRỊ VỀ KHÍ – HUYẾT – THUỐC BỔ

MỤC TIÊU:

1 Trình bày được cơ sở phân loại, tính chất chung của các vị thuốc chữa ho trừ đàm

2 Trình bày đúng tên Việt Nam, tên khoa học, họ thực vật, bộ phận dùng của các cây thuốc chữa ho trừ đàm

3 Liệt kê được tính vị quy kinh, công năng, chủ trị của các vị thuốc chữa ho trừ đàm

THUỐC CHỮA HO TRỪ ĐÀM I/ Đại cương

1.Định nghĩa

Thuốc hóa đàm dùng trị các bệnh do đàm trọc gây ra

Đông y quan niệm đàm là chất dịch nhớt và dính được tạo ra trong quá trình hoạt động của lục phủ ngũ tạng Chất dịch đó ngưng đọng lại mà thành đàm Đàm không những ở phế mà còn xuất hiện ở tạng phủ Nếu đàm ở phế thì sinh đàm rãi, gây bệnh cho đường hô hấp, nếu ở tỳ vị thì gây bệnh cho tỳ vị, làm ăn uống không tiêu, tích trệ

2 Phân loại

2.1 Thuốc hóa đàm

Thuốc hóa đàm dùng khi đàm ẩm đình trệ, phạm vào phế khí, khiến phế khí bị trở ngại, gây ho Thuốc có tác dụng làm loãng đàm, trừ đàm Ngoài tác dụng tại phế, thuốc hóa đàm còn được dùng trong các bệnh phong đàm, hôn mê, trúng phong, kinh giản YHCT cho rằng đàm gây tắc các khiếu, nên thuốc hóa đàm có tác dụng thông khiếu

Thuốc hóa đàm tính vị không giống nhau, tùy theo tính chất chia làm hai loại: + Thuốc ôn hóa đàm hàn: có vị cay, tính ấm, nóng, bản chất khô táo, dùng với chứng đàm hàn, đàm thấp do tỳ vị dương hư không vận hóa được thủy thấp, ứ lại thành đàm, chất đàm lỏng, trong dễ khạc ra, tay chân lạnh, đại tiện lỏng Hàn đàm ứ lại ở phế gây ho, ứ lại trong kinh lạc, cơ nhục gây đau nhức ê ẩm

+ Thuốc thanh hóa đàm nhiệt: có tính hàn, lương, dùng trị chứng đàm hóa thấp nhiệt, uất kết gây ra ho, nôn ói ra đàm đặc vàng, có mùi hôi hoặc các chứng điên giản do đàm ngưng trệ

2.2 Thuốc chỉ khái bình suyễn

Thuốc chỉ khái bình suyễn có tác dụng cắt hoặc giảm cơn ho, khó thở

Nguyên nhân gây ho có nhiều, nhưng phần lớn đều thuộc phế, vì vậy trị ho phải lấy phế làm chính Ho và đàm có quan hệ mật thiết với nhau, thuốc trị ho có tác dụng trừ

Trang 2

đàm, thuốc trừ đàm có tác dụng làm giảm ho Thuốc chỉ khái có tác dụng thanh phế, nhuận phế, giáng khí nghịch ở phế, đồng thời cũng có tác dụng hóa đàm

Thuốc chỉ khái dùng cắt cơn ho do nhiều nguyên nhân: đàm ẩm, nhiệt tà, phong tà phạm phế khiến cho khí trở ngại gây ra ho Thuốc còn có tác dụng trừ hen suyễn, trừ đàm

Do nguyên nhân gây ho có tính chất hàn nhiệt khác nhau, nên thuốc chỉ khái bình suyễn cũng được chia làm hai loại:

+ Thuốc ôn phế chỉ khái: có tính ôn dùng trị ho do hàn Sử dụng khi nguyên nhân gây ho là ngoại cảm phong hàn (kèm ngạt mũi), hoặc do nội thương (thường gặp ở người già, dương khí suy kém, ho nhiều khi trời lạnh Dùng thuốc nhóm này khi bệnh nhân ho

ra đàm lỏng, mặt hơi phù, sợ gió, rêu lưỡi trắng trơn, đàm lỏng

+ Thuốc thanh phế chỉ khái: có tính hàn lương dùng trị ho do nhiệt Nhiệt tà làm tổn thương phế khí, đàm dính, hoặc ho khan, miệng khát, mặt đỏ, có sốt, khó thở, rêu lưỡi vàng, đại tiện táo bón hay gặp trong các bệnh viêm họng, viêm phế quản cấp hoặc các bệnh điên giản, kinh phong có đàm ngưng trệ

3 Chý ý khi sử dụng

Người dương hư không dùng thuốc thanh nhiệt hóa đàm

Người âm hư không dùng thuốc ôn hóa đàm hàn, vì thuốc này có tính khô táo, dễ gây mất tân dịch

Các thuốc chỉ khái hay gây cảm giác chán ăn cho bệnh nhân nên chỉ sử dụng khi cần thiết

Các thuốc chỉ khái là nhóm thuốc điều trị triệu chứng, nên khi sử dụng tùy theo nguyên nhân gây ho mà cần phối hợp như:

+ Thuốc phát tán phong hàn, phát tán phong nhiệt trong trường hợp ho do ngoại cảm

+ Thuốc bổ âm khi ho do nội thương âm hư, phế táo

+ Thuốc kiện tỳ khi ho do đàm thấp

Các thuốc chỉ khái loại hạt (Hạnh nhân, La bạc tử, Tô tử ) nên giã nhỏ trước khi sắc, loại thuốc có nhiều lông mịn (Tỳ bà diệp) cần phải bọc túi vải khi sắc

II/ Các vị thuốc tiêu biểu

1 Thuốc ôn hóa đàm hàn

1.1 BÁN HẠ (Rhizoma Pinelliae Ternatae)

Bán hạ là thân rễ phơi hay sấy khô của nhiều loại Bán hạ khác nhau đều thuộc họ Ráy

Cây Bán hạ Trung quốc mọc khắp nước Trung quốc từ Bắc chí Nam, nhiều nhất dọc các tỉnh dọc lưu vực sông Trường giang như Tứ xuyên, Hồ bắc, Giang tô

Cây Bán hạ Việt nam cũng mọc khắp nơi trong nước

Trang 3

Cây Bán hạ đào nhổ về, bỏ vỏ ngoài và rễ con, rửa sạch, phơi khô là Bán hạ sống (sinh Bán hạ), Bán hạ sống có độc phải bào chế mới dùng

Các cách bào chế:

Bán hạ sống ngâm nước cho đến khi cắn chỉ có vị hơi tê cay rồi bỏ vào chỏ nấu với gừng tươi và Bạch phàn cho đến nước trong lấy ra phơi chỗ râm (âm can) cho khô cắt lát gọi là Khương Bán hạ Cứ 1 kg Bán hạ cho thêm 50g phèn chua và 300g gừng tươi giã nhỏ, thêm nước vào cho ngập, ngâm trong 24 giờ lấy ra rửa sạch, đồ cho chín thái mỏng Lại tẩm nước gừng (cứ 1kg Bán hạ thêm 150g gừng tươi giã nát thêm ít nước), vắt lấy nước cho Bán hạ vào ngâm 1 đêm, lấy ra sao vàng để dùng Nếu sinh Bán hạ sau khi ngâm như Khương Bán hạ, cho vào nước sắc Cam thảo và Thạch Khôi trộn đều, ngâm cho đến khi không còn ruột trắng, phơi khô chỗ râm (âm can) gọi là Pháp Bán hạ

Lấy sinh Bán hạ ngâm cho đến khi cho vào miệng không thấy tê cay nữa, phơi khô (âm can) rồi nấu với Bạch phàn, cắt lát phơi khô là Thanh Bán hạ

Lấy Pháp Bán hạ tẩm Trúc lịch âm can gọi là Trúc lịch Bán hạ

Lấy Bán hạ sống đã ngâm và phơi khô tán thành bột mịn trộn với nước gừng và bột

mì cho đều để lên men chế thành Bán hạ khúc

Tính vị quy kinh (TVQK): Bán hạ vị cay ấm có độc, qui kinh Tỳ Vị Phế

Thành phần h a học (TPHH): Nicotine, aspartic acid, glutamic acid, arginine, sitosterol, cholesterol

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thành phần độc của Bán hạ khó hòa tan trong nước, còn thành phần có tác dụng cầm nôn và giảm ho có thể hòa tan vào nước nóng Thành phần có độc không bị phá hủy bởi nước gừng đơn độc mà bị Bạch phàn làm hết độc

Bán hạ chế thành hoàn và nước sắc Bán hạ có tác dụng cầm nôn Cao lỏng Bán hạ, bột Bán hạ (đã được chế với nhiệt độ cao) cũng có tác dụng cầm nôn Nhưng Bán hạ sống ngược lại có tác dụng gây nôn

Nước sắc Bán hạ cho mèo được gây ho nhân tạo uống có tác dụng giảm ho nhưng kém codein Thuốc cũng có tác dụng giảm ho nếu chích tĩnh mạch Chế phẩm của Bán hạ cho thỏ uống làm giảm bớt tiết nước bọt do pilocarpine Chế phẩm của thuốc cho chuột

Trang 4

cống được gây bụi phổi (pneumosilicosis) uống, kết quả phân tích tế bào chứng minh thuốc có tác dụng làm chậm quá trình bệnh, cho thuốc càng sớm càng có kết quả tốt Bán hạ có tác dụng giải độc (antidotal) đối với nhiễm độc strychnine và acetylcholin

Công năng chủ trị (CNCT):

Trị ho trong chứng cảm phong hàn:

Nhị trần thang (Hòa tễ cục phương): Chế Bán hạ, Phục linh, Trần bì đều 10g, Cam thảo 3g, sắc nước uống

Trị chứng rối loạn tiêu hóa: bụng đầy tức, sôi bụng, nôn tiêu chảy

Bán hạ tả tâm thang (Thương hàn luận): Bán hạ chế 10g, Can khương 5g, Hoàng cầm 10g, Hoàng liên 3g, Đảng sâm 10g, Chích thảo 3g, Đại táo 3 quả sắc uống

Liều dùng (LD):

nhưng cũng có học giả lúc cần dùng đến 60g

+ Thanh Bán hạ: bớt táo cay chuyên hóa thấp đàm nên dùng cho bệnh nhân cơ thể

Bán hạ phản Ô đầu, không nên dùng chung

thuốc, có thể dùng 1 - 2% tannic acid rửa bao tử, cho uống lòng trắng trứng gà, giấm loãng hoặc nước chè (trà) đậm Cũng có thể dùng giấm loãng 30 - 60ml gia ít nước gừng uống hoặc ngậm nuốt từ từ Cũng có thể dùng gừng tươi gia đường sắc uống Kết hợp các phương pháp cấp cứu triệu chứng

Trang 5

Bán hạ

1.2 CÁT CÁNH (Radix Platycodi Grandiflori)

Cát cánh còn có tên là Khổ cát cánh, Bạch cát cánh, Ngọc cát cánh là rễ khô của cây Cát Thuộc họ Hoa Chuông

Cây Cát cánh mọc nhiều ở các tỉnh An huy, Giang tô và Sơn đông của Trung quốc Cây trồng bằng hạt đang được di thực vào nước ta Sau khi đào rễ về rửa sạch, bỏ tua rễ,

bỏ vỏ ngoài hoặc không bỏ vỏ phơi khô, tẩm nước cắt lát dùng Chích Cát cánh là Cát cánh chế mật sao vàng

TVQK: Cát cánh vị đắng cay, tính bình qui kinh Phế

TPHH: Polygalain acid, stigmasterol, betulin, platycodonin, platycogenic acid, A,B,C glucose

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Saponin Cát cánh kích thích niêm mạc bao tử gây phản xạ niêm mạc khí quản tiết dịch nên long đàm Trên thực nghiệm cho chó và mèo đã gây mê uống nước sắc Cát cánh,

sự tiết dịch tăng rõ rệt, chứng minh tác dụng long đờm (expectarant) của thuốc

Saponin Cát cánh có tác dụng kháng viêm và an thần, giảm đau giải nhiệt, chống lóet bao tử, có tác dụng ức chế miễn dịch

Saponin Cát cánh có tác dụng tán huyết mạnh so với saponin Viễn chí, mạnh gấp 2 lần, nhưng khi dùng đường uống, thuốc bị dịch vị thủy phân không còn tác dụng tán huyết nên thuốc không được dùng chích

CNCT:

Trị phế ung (ápxe phổi):

Cát cánh thang: (Cát cánh bắt đầu 60g, giảm dần đến 20g, Cam thảo từ 30g giảm đến 10g), tùy chứng gia giảm

Cát cánh 120g, Hồng đằng 500g, Ý dĩ nhân 24g, Ngư tinh thảo 500g, Tử hoa địa đinh 24g, chế thành tictura 450ml Mỗi lần uống 10ml, ngày 3 lần

Cát cánh 3g, Bạch mao căn 30g, Ngư tinh thảo 6g, Sinh Cam thảo 3g, Ý dĩ nhân 15g, Đông qua nhân 20g, Bối mẫu 6g, Ngân hoa đằng 10g, sắc uống

Trị ho nhiều đàm đặc:

Cát cánh 6g, Tỳ bà diệp 10g, Tang diệp 10g, Cam thảo 3g, sắc uống, trị nhiệt khái

Trang 6

Cát cánh 6g, Hạnh nhân, Tử tô đều 10g, Bạc hà 3g, sắc uống Uống liên tục 2 - 4 ngày Trị hàn đàm lỏng

Trị đau tức ngực do chấn thương lâu ngày:

Cát cánh 10g, Mộc hương 5g, Trần bì, Hương phụ đều 10g, Đương qui 15g, sắc nước uống

LD: Liều: 3 - 9g Chích Cát cánh nhuận phế hóa đàm tốt hơn

Trường hợp ho lâu ngày âm hư hoặc ho ra máu không nên dùng hoặc dùng liều ít

Cát cánh

1.3 BẠCH GIỚI TỬ (Semen sinapis Albae)

Bạch giới tử là hạt phơi hay sấy khô lấy ở quả chín của cây Cải canh (cải dưa, cây rau cải, giới tử) Thuộc họ Cải

Cây Rau cải được trồng ở nước ta để lấy rau ăn làm dưa nhưng chưa lấy hạt làm thuốc hoặc ép dầu, cho nên ta còn phải nhập của Trung quốc

Hạt lấy ở những quả chín phơi hay sấy khô phải ở nhiệt độ thấp dưới 50 độ C để bảo vệ các men có tác dụng gọi là Bạch giới tử sống Cho hạt Bạch giới tử sống vào chảo sao vàng có mùi thơm gọi là Sao Bạch giới tử, lúc làm thuốc giã vụn để dùng

TVQK: Bạch giới tử vị cay tính ôn, qui kinh phế

TPHH: Sinalbin, sinapine, myrosin,

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Bạch giới tử có tác dụng: ôn phế trừ đàm, lợi khí tán kết thông lạc chỉ thống

Trang 7

Chủ trị các chứng: hàn đàm ủng phế, đàm ẩm khí nghịch, đàm thấp kinh lạc, âm thư lưu chú, loa lịch đàm hạch

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Men Myroxin thủy phân sinh ra dầu giới tử kích thích nhẹ niêm mạc bao tử gây phản xạ tăng tiết dịch khí quản mà có tác dụng hóa đàm

Có tác dụng kích thích tại chỗ ở da làm cho da đỏ sung huyết, nặng hơn gây phỏng nóng rát

Dung dịch nước 1:3 có tác dụng ức chế nấm ngoài da

CNCT:

Trị ho suyễn khó thở, đàm nhiều loãng:

Tam tử dưỡng thân thang (Hàn thi Y thông): Bạch giới tử 3g, Tô tử, La bạc tử đều 10g sắc uống

Trị đau các khớp do đàm trệ:

Bạch giới tử tán: Mộc miết tử 3g, Bạch giới tử, Một dược, Quế tăm, Mộc hương đều 10g, tán bột mịn làm thuốc tán, mỗi lần uống 3g, ngày 2 lần, uống với rượu ấm càng tốt

Trị lao hạch lâm ba:

Bạch giới tử, Hành củ lượng bằng nhau Bạch giới tử tán bột trộn với Hành giã nát đắp ngày 1 lần cho đến khi lành

Trị nhọt sưng tấy (giai đoạn mới mắc chưa vỡ): Bạch giới tử tán bột trộn giấm đắp

LD: Liều: 3 - 10g sắc uống, cho vào thuốc hoàn tán Dùng ngoài lượng vừa đủ, trộn dấm đắp

Chú ý:

+ Thuốc tính cay tán, thận trọng đối với các bệnh nhân âm hư hỏa vượng

+ Thuốc không nên sắc lâu vì giảm tác dụng

+ Không nên dùng lượng nhiều vì dễ gây tiêu chảy Vì thuốc tiếp xúc với nước sinh ra Hydroxyt lưu huỳnh kích thích ruột làm tăng nhu động ruột

+ Thuốc đắp ngoài gây bỏng nên không dùng cho người dị ứng ngoài da

Trang 8

Bạch giới tử

1.4 TẠO GIÁC (Fructus Gledisiae Sinensis)

Tạo giác tức là quả Bồ kết còn gọi là Tạo giáp, Chư nha tạo là quả khô của cây Bồ kết Thuộc họ Vang Cây Bồ kết mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở các tỉnh miền Bắc nước ta Riêng đảo Cát bà Hải phòng hằng năm sản xuất tới 40 tấn Bồ kết Bồ kết cũng mọc nhiều ở các tỉnh phía nam Trung quốc và các tỉnh khác như Hoa Bắc, Hoa đông, Trung nam, Tứ xuyên, Quí châu

Thường vào mùa thu quả chín hái về rửa sạch phơi khô Lúc dùng đập vụn, dùng sống hoặc sao cháy Cây Bồ kết còn cung cấp 2 vị thuốc khác là:

+ Gai Bồ kết là gai hái ở thân cây thái mỏng phơi hay sấy khô

+ Hạt Bồ kết lấy trong quả chín đã khô

TVQK: Tạo giác vị cay tính ôn, có độc, qui kinh phế và đại tràng

TPHH: Saponin triterpenoid

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Tạo giác có tác dụng trừ đàm, khai khiếu, tán kết tiêu thũng

Chủ trị các chứng: hung trung đàm thịnh, khái nghịch thương khí, trúng phong hàm răng nghiến chặt, động kinh đàm nghịch, cấm khẩu, ung thư sang thũng (ung nhọt sưng lở)

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Gleditschia saponin kích thích niêm mạc bao tử gây phản xạ tăng tiết đường hô hấp mà có tác dụng hóa đàm

Thuốc cho uống, thành phần saponin không chỉ kích thích niêm mạc bao tử mà sau

10 phút gây nôn, tiêu chảy làm loét niêm mạc bao tử gây nhiễm độc

Trang 9

Tạo giác trong ống nghiệm có tác dụng ức chế trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn lị, trực khuẩn mủ xanh, phẩy khuẩn tả cùng các loại vi khuẩn gây bệnh đường ruột Gram âm

và một số nấm ngoài da Thuốc còn diệt trùng roi âm đạo

Saponin Tạo giác có tác dụng tán huyết mạnh và kích thích niêm mạc tại chỗ Nếu uống quá liều nhiễm độc gây nên các triệu chứng tức đầy mõm ức, rát bỏng, buồn nôn, nôn, bứt rứt, tiêu chảy, chân tay nhức tê mỏi Đối với trung khu thần kinh lúc đầu gây hưng phấn sau ức chế, nặng có thể dẫn đến tê liệt trung khu hô hấp mà tử vong Cấp cứu theo các nguyên tắc chung và điều trị triệu chứng

CNCT:

Hóa đàm:

Dùng cả quả Bồ kết (vỏ và nhân) sấy khô tán bột, mật ong luyện viên nặng 0,2g, ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 - 3 viên; không dùng cho người yếu ho ra máu

Trị viêm tuyến vú sau sanh:

Tạo giác tán bột trộn với cồn 75% hoặc rượu trắng, dùng 1 lớp gạc bọc thuốc thành gói nhỏ nhét vào lỗ mũi cùng bên đau, 12 giờ sau lấy ra

Trị trẻ em lười ăn:

Cho Tạo giác vào chảo, trước to lửa sao nhỏ lửa để sao tồn tính, tán bột mịn cho vào lọ để dùng, mỗi lần uống 1g, ngày 2 lần, trộn với đường uống Thường từ 3 - 10 ngày, trung bình 5 ngày có hiệu nghiệm

Trị trúng phong cấm khẩu, hàm răng nghiến chặt:

Thông quan tán (Đan khê tâm pháp phụ dư): Tạo giác, Tế tân lượng bằng nhau Các vị tán bột mịn trộn đều lúc dùng thổi vào mũi Trị Hysteri, động kinh thuộc chứng bế, đàm quyết

liều cao vì dễ gây nôn và tiêu chảy

Trang 10

Bồ kết

1.5 THIÊN NAM TINH (Rhizoma Arisaematis)

Bộ phận dùng: củ Có củ cái chung quanh củ non; củ tròn ngoài xám đen, trong sắc trắng Thường lấy củ cái to bằng quả trứng gà làm nam tinh và củ con bé hơn là Bán hạ

Họ Ráy

Là củ chóc chuột chia làm 3 phần, phần lớn ở giữa, hai phần bên như 2 cánh xoè

ra Chóc chuột thường có ở khắp nơi nên trồng trọt và thu hái dễ hơn cây Chóc ri

TVQK: vị cay, đắng, ngứa, tính ẩm, có độc Vào kinh Phế, Can và Tỳ

TDDL: giáng khí, tiêu đờm thấp Nói chung giống như Bán hạ nhưng mạnh hơn

CNCT: trị ho, chỉ ẩu thổ thương hàn, trị bạch đái, bạch trọc (nước tiểu đục như sữa, như

Trang 11

Thiên nam tinh

2 Thuốc thanh hóa nhiệt đàm

2.1 THIÊN MÔN ĐÔNG ( Tuber Asparagi Cochin Chinensis)

Thiên môn đông còn có tên là Thiên đông, Minh thiên đông, Dây tóc tiên, là rễ phơi khô của cây Thiên môn đông Thuộc họ Hành tỏi

Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước ta, nhiều nhất là các vùng Cao bằng, Lạng sơn, Thanh hóa, Bắc thái, Hà nam ninh

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Nước sắc Thiên đông có tác dụng ức chế liên cầu khuẩn A và B, phế cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn bạch hầu

Có tác dụng ức chế Sarcoma-180 và tế bào bạch cầu ở chuột nhắt

Thuốc có tác dụng giảm ho, lợi tiểu, thông tiện, cường tráng

Trị chứng suy nhược cơ thể sau khi mắc bệnh nhiễm, sốt lâu ngày, dùng:

Cao Tam tài: Nhân sâm 4 - 8g, Thiên môn đông 10 - 20g, Thục địa 10 - 20g, sắc uống

Trị táo bón do âm huyết hư sinh táo bón, thường gặp ở người cao tuổi, cơ thể suy nhược hoặc sau khi mắc bệnh nhiễm sốt lâu ngày tân dịch bị tổn thương, dùng bài:

Trang 12

Thiên đông, Sinh địa, mỗi thứ 16g, Đương qui, Huyền sâm, Ma nhân mỗi thứ 12g, sắc uống

Lở mồm lâu năm: dùng bài:

Thiên môn, Mạch môn đều bỏ lỏi, Huyền sâm lượng bằng nhau, tán nhỏ, luyện mật viên bằng hạt táo, mỗi lần ngậm 1 viên

Ho đờm thổ huyết, hơi thở ngắn: dùng bài:

Thiên môn, Mạch môn, Ngũ vị tử, sắc thành cao luyện với mật uống, mỗi ngày uống 4 - 5g

LD: Liều 8 - 20g, dùng cho thuốc thang hoặc cao đơn hoàn tán

Cần thận trọng dùng thuốc với trường hợp tiêu chảy do hư hàn và ho do ngoại cảm phong hàn

Thiên môn

2.2 MẠCH MÔN ĐÔNG ( Tuber Ophiopogonis)

Còn có tên là Thốn đông, Đại mạch đông, cây Lan tiên là rễ, củ phơi hay sấy khô của cây Mạch môn đông Thuộc họ Hành tỏi

TVQK:Vị ngọt, hơi đắng, hơi hàn, qui kinh Tỳ, Vị, Tâm

TPHH: Ophiopogonin, ruscogennin, - sitostorol, stigmastrol

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Mạch môn có tác dụng nhuận phế, dưỡng âm, ích vị, sinh tân, thanh tâm trừ phiền, nhuận tràng

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thuốc có tác dụng tăng huyết lượng động mạch vành, bảo vệ bệnh thiếu máu cơ tim, cải thiện lực co bóp cơ tim và chống rối loạn nhịp tim, trên thực nghiệm, thuốc còn

có tác dụng an thần

Trang 13

Trên thực nghiệm, tiêm bắp cho thỏ nước sắc Mạch môn: làm tăng đường huyết, nhưng cũng có báo cáo nói hạ đường huyết

Thuốc có tác dụng ức chế mạnh tụ cầu trắng, trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn thương hàn

Mạch vị Đại hoàng hoàn ( Bát tiên trường thọ hoàn): 8 - 10g x 2 lần/ngày

Trị bệnh nhiễm thời kỳ hồi phục, đại tiện táo bón, hư nhiệt, phiền khát: gia Sinh địa,

Huyền sâm dùng bài:

Dưỡng chính thang: Mạch môn 12g, Ngọc trúc 20g, Hà thủ ô 16g, Đương qui 12g, Thục địa 16g, Sinh địa 12g, Hoài sơn 16g, Phục linh 8g, Nữ trinh tử 12g, Thiên hoa phấn 8g, Bạch thược 8g, Chích thảo 4g, sắc uống

Trị suy tim có chứng hư thoát ra mồ hôi nhiều, mạch nhanh huyết áp hạ : phối hợp

Nhân sâm, Ngũ vị tử, dùng bài:

Sinh mạch tán ( Nội ngoại thương biện hoặc luận): Mạch môn 16g, Nhân sâm hoặc Đảng sâm ( lượng gấp đôi) 8g, Ngũ vị tử 6g, sắc uống, để bổ khí âm

Trường hợp ra mồ hôi nhiều, bứt rứt khó chịu, dùng bài :Mạch môn 20g, Hoàng kỳ 8g, Đương qui 8g, Ngũ vị tử 4g, Chích thảo 4g, sắc uống

Trị táo bón do âm hư: dùng bài:

Tăng dịch thang: Mạch môn đông 20g, Sinh địa 20g, Huyền sâm 12g, sắc uống

LD: Liều thường dùng: 8 - 30g, dùng cho thuốc thang hoặc cao đơn hoàn tán, dùng cường tim liều cao hơn

Thận trọng lúc dùng thuốc cho bệnh nhân tiêu chảy

Mạch môn

Trang 14

2.3 QUA LÂU (Fructus Trichosanthis)

Qua lâu nguyên có tên là Qua lâu thực, còn gọi là Dược qua, là quả chín phơi hay sấy khô của cây Qua lâu

Nhân của quả chín gọi là Qua lâu nhân, vỏ quả gọi là Qua lâu bì, dùng cả nhân và

bì gọi là Toàn qua lâu Cây Qua lâu còn cho vị thuốc Thiên hoa phấn tức rễ Qua lâu

Cây Qua lâu ở nước ta mới phát hiện có mọc ở Cao bằng Các vị Qua lâu làm thuốc phần lớn nhập của Trung quốc

TVQK: Qua lâu vị ngọt tính hàn, qui kinh Phế, Vị, Đại tràng

TPHH: Quả Qua lâu có saponin, triterponoid, acid hữu cơ, resin, chất đường, sắc tố và dầu béo

Qua lâu nhân có dầu béo, trong đó có nhiều loại cholesterol

Qua lâu bì có nhiều loại amino acid và chất giống alkaloid

Trong rễ Qua lâu (Thiên hoa phấn) có rất nhiều tinh bột

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Qua lâu bì có tác dụng: thanh phế hóa đàm, lợi khí khoang hung Chủ trị chứng ho

do phế nhiệt, chứng hung tý, kết hung (ngực đau đầy tức, do khí kết tụ, có khi là do khối u)

Qua lâu nhân có tác dụng: nhuận phế hóa đàm, nhuận tràng thông tiện Chủ trị các chứng táo bón do trường táo, nhũ ung, trường ung, ung thư thũng độc

Toàn qua lâu đều có tác dụng và điều trị các chứng như trên

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Triterpenoid saponin có tác dụng khu đàm

Qua lâu nhân có nhiều dầu béo nên có tác dụng gây xổ mạnh, Qua lâu bì tác dụng nhẹ, Qua lâu sương thì có tác dụng hòa hoãn hơn

Thuốc có tác dụng giãn động mạch vành rõ rệt, gia tăng lưu lượng máu của động mạch vành, chống thiếu oxy và hạ mỡ máu

Thuốc có tác dụng chống hoạt tính ung thư

CNCT:

Trị viêm phế quản thể đàm nhiệt; ngực đau do đàm vàng hoặc ápxe phổi:

Tiểu hãm hung thang (Thương hàn luận): Qua lâu thực 12g, Bán hạ 10g, Hoàng liên 4g, sắc uống

Toàn qua lâu, Ý dĩ nhân đều 15g, Cát cánh 10g, Kim ngân hoa 10g, Bồ công anh 12g, sắc uống Bài này trị ápxe phổi có kết hợp trụ sinh kết quả tốt

Trị viêm tuyến vú cấp: sưng nóng đỏ đau sốt

Trang 15

Toàn qua lâu, Kim ngân hoa, Bồ công anh đều 15g sắc uống kết hợp rút ngắn thời gian điều trị

Trị táo bón:

Qua lâu thực 15g, Cam thảo 3g, sắc uống, có thể hòa thêm ít mật ong

Trị da xạm: Thiên hoa phấn 16g giã nhỏ, thêm nước đun sôi để nguội lọc nước uống Trị trẻ em vàng da: Thiên hoa phấn giã nhỏ, cho nước đun sôi để nguội gạn nước uống

Có thể thêm mật ong cho dễ uống

Trị phụ nữ cho con bú ít sữa: Thiên hoa phấn đốt tồn tính tán nhỏ ngày uống 16 - 20g Trị viêm họng mất tiếng: Qua lâu bì, Bạch cương tằm, Cam thảo đều 10g, Gừng tươi 4g,

nước 500ml sắc còn 150ml chia 2 lần uống trong ngày

LD: Liều: Toàn qua lâu: 10 - 20g; Qua lâu bì: 6 - 12g; Qua lâu nhân: 10 - 15g

Chú ý: Qua lâu nhân có tác dụng nhuận tràng mạnh nên không dùng với người tỳ hư thường hay tiêu chảy

Thuốc phản Ô đầu

Qua lâu

2.4 BỐI MẪU (Bulbus Fritillariae)

Bối mẫu thường được chia làm 2 loại:

Xuyên Bối mẫu: là tép dò khô của cây Xuyên bối mẫu Cây Bối mẫu lá tím thẫm Bối mẫu Cam túc hoặc cây Bối mẫu, 3 loại trước hình dạng khác nhau nên gọi là Tùng bối hay Thanh bối, còn loại sau gọi là Lô bối Xuyên bối chủ yếu sản xuất ở các tỉnh Tứ xuyên, Tây tạng, Cam túc, Thanh hải, Vân nam

Triết bối mẫu: là tép dò khô của cây Triết bối mẫu Nguyên sinh ở huyện Tượng

sơn tỉnh Triết giang nên còn gọi là Tượng bối, nhưng hiện nay đã được chiết trồng tại

Trang 16

nhiều nơi như Hàng châu, Giang tô, An huy, Hồ nam Cho đến nay cây Bối mẫu chưa có

ở Việt nam

TVQK: Xuyên Bối mẫu vị đắng ngọt, tính hơi hàn Qui kinh Phế, Tâm

Triết Bối mẫu vị đắng hàn Qui kinh Phế, Tâm

Bối mẫu có tác dụng hóa đàm chỉ khái, thanh nhiệt tán kết

Chủ trị các chứng: phế hư cửu khái, ngoại cảm phong nhiệt hoặc đàm hỏa uất kết, loa lịch sang ung (lao hạch nhọt lở)

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Bối mẫu có tác dụng giảm ho khu đàm Xuyên bối còn có tác dụng hạ áp, chống co giật, hưng phấn tử cung cô lập (thỏ hoặc chuột cống) Tác dụng hạ áp chủ yếu là do friti Triết bối có tác dụng giảm ho, hạ áp, hưng phấn tử cung, giãn đồng tử, chất chiết xuất của Triết bối nồng độ thấp làm giãn cơ trơn khí quản, nồng độ cao thì gây co thắt (chủ yếu là chất peimine nhưng peimine không có tác dụng giảm ho)

Qua nghiên cứu thực nghiệm không chứng minh được Ô đầu phản Bối mẫu

CNCT:

Trị lao hạch (chứng loa lịch):

Tiêu loa hoàn: Huyền sâm 12g, Bối mẫu 10g, Mẫu lệ 15g, tán bột mịn trộn đều, luyện mật làm hoàn, mỗi lần uống 10g, ngày 2 lần, với nước sôi nguội

Trị viêm tuyến vú mới bắt đầu sưng tấy:

Bối mẫu, Thiên hoa phấn đều 10g, Bồ công anh 15g, Liên kiều, Đương qui, Lộc giác đều 10g, Thanh bì 6g, sắc nước uống Ngoài đắp Bồ công anh

Trị viêm phế quản kéo dài thể âm hư phế táo:

Nhị mẫu tán: Tri mẫu 10g, Xuyên Bối mẫu 8g (tán bột hòa uống) gia gừng tươi 3 lát sắc nước uống

Bối mẫu tán: Bối mẫu 10g, Hạnh nhân 6g, Mạch môn, Tử uyển đều 10g, Trần bì 6g, Cam thảo sống 4g, sắc nước uống

Bối mẫu 8g, Cát cánh 3g, Cam thảo 2g, nước 600ml sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày (Diệp quốc tuyền)

Ma hạnh thạch cam thang gia vị: Ma hoàng, Hạnh nhân đều 6 - 8g, Tiền hồ, Cát cánh đều 8 - 10g, Thạch cao sống 12 - 20g (sắc trước), Trần bì, Bối mẫu đều 6 - 8g, Cam

Trang 17

thảo 3g, Xuyên bối mẫu tán bột hòa thuốc, tất cả các vị sắc uống chia 3 lần trong ngày Trị trẻ em viêm phế quản, ho, khó thở, sốt

3 Thuốc ôn phế chỉ khái

3.1 HẠNH NHÂN (Semen Pruni Armeniacae)

Hạnh nhân tức là hạt khô của quả của cây Mơ, có nhiều loại có tên thực vật học khác nhau, như cây Sơn hạnh, Hạnh Đông bắc đều thuộc họ Hoa Hồng Hạnh nhân còn có tên là Ô mai, Hạnh, Khổ Hạnh nhân, Bắc Hạnh nhân, Quang Hạnh nhân

Cây Mơ mọc hoang và được trồng nhiều ở nước ta, nhiều nhất là các tỉnh Hà sơn bình (Mỹ đức), Hà nam ninh (huyện Kim bảng), Thanh hóa, Nghệ an, Hà tỉnh, Trung quốc, Armenia, Nhật bản cũng có cây Mơ

Trang 18

Hạnh nhân sương là dùng giấy thấm bọc ép cho lấy hết dầu

TVQK: Hạnh nhân vị đắng hơi ôn, có độc ít, qui kinh Phế, Đại tràng

TPHH: Nhân hạt mơ chứa: 35 - 40% chất dầu ( dầu Hạnh nhân), 3% amygdalin và men emunsin gồm 2 men amygdalase và prunase

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Hạnh nhân có tác dụng chỉ khái bình suyễn, nhuận tràng thông tiện

Chủ trị các chứng ho do phong hàn hoặc phong nhiệt, ho suyễn do phế nhiệt, táo bón do tràng táo

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Glucosid hạt mơ thủy phân cho cyanhydric acid có tác dụng ức chế nhẹ trung khu

hô hấp vì thế giảm ho suyễn

Benzaldehyde có thể ức chế chức năng tiêu hóa của pepsin, dầu hạnh nhân có tác dụng nhuận tràng

Thuốc có tác dụng ức chế lãi đũa, lãi móc câu, lãi kim, trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn

Độc tính: Sau khi ăn vào, chất amygadalin và amygdalase kết hợp sinh ra prunasin và mandelonitrile bị phá hủy trong ruột sinh ra benzaldehyde và hydrocyanic acid rất độc Triệu chứng nhiễm độc: chóng mặt, mệt lã, nôn, tiêu chảy, đau bụng, nóng rát vùng thượng vị, huyết áp tăng, thở nhanh, nghiêm trọng hơn thở nông chậm, hôn mê, cứng người, co giật, giãn đồng tử, huyết áp hạ, suy hô hấp tuần hoàn dẫn đến tử vong

Người lớn ăn 40 - 60 nhân, trẻ em10 - 20 nhân có thể gây nhiễm độc nghiêm trọng Uống Anhydric acid, liều gây chết là 0,06g ở người lớn

Thuốc được nấu lên và có cho đường giảm bớt độc Trường hợp quá liều có thể cho uống than hoạt hoặc sirô Trong dân gian dùng vỏ cây mơ hoặc vỏ của rễ làm chất giải độc

Hạnh tô tán (ôn bệnh điều biện) : Khổ hạnh nhân 6g, Tô diệp, Cát cánh, Chỉ xác, Quất bì, Pháp Bán hạ, Sinh khương đều 6g, Phục linh, Tiền hồ đều 10g, Đại táo 2 quả, sắc uống

Trang 19

Hạnh nhân tiễn: Hạnh nhân ngọt (Điềm hạnh nhân) 100g, nước gừng tươi 150g, Tang bì, Bối mẫu, Mộc thông đều 40g, Tử uyển, Ngũ vị tử đều 30g, sắc cô thêm mật ong thành cao, mỗi lần uống 1 thìa canh, ngày 2 lần Trị ho lâu ngày khàn giọng

LD: Liều: 3 - 10g, thuốc sắc nên cho sau

Sao Hạnh nhân trị ho không dùng trị táo bón

Hạnh nhân

3.2 KHOẢN ĐÔNG HOA (Flos Tussilagi Farfarae)

Khoản đông hoa là hoa phơi hay sấy khô của cây Khoản đông Thuộc họa Cúc Cây Khoản đông mọc ở các tỉnh Hà nam, Cam túc, Sơn tây và Tứ xuyên Trung quốc Nước ta chưa có cây này, còn nhập của Trung quốc

Vào tháng 12 mỗi năm hái hoa về rửa sạch phơi râm, để sống hoặc chích mật dùng

TVQK: Khoản đông hoa vị cay, tính ôn, qui kinh Phế

TPHH: Faradiol, rutin, hyperin, triterpenoid, saponin, taraxanthin, tanin Gần đây phát hiện 1 loại ancaloid

Trang 20

Thuốc sắc làm tăng tiết đường hô hấp, làm giảm ho rõ Còn có tác dụng hưng phấn trung khu thần kinh, hưng phấn hô hấp Thuốc có tác dụng hạ cơn suyễn trên súc vật thí nghiệm Trên mô hình cô lập súc vật thí nghiệm, liều nhỏ thuốc truyền dịch gây giãn phế quản, liều lớn ngược lại gây co thắt phế quản

Thuốc gây co thắt mạch, làm tăng huyết áp, gây tăng áp do hưng phấn trung khu vận mạch

CNCT:

Trị viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, lao phổi, âm hư ho khan:

Bách hoa hoàn: Khoản đông hoa, Bách hợp đều 120g tán bột mịn làm hoàn, mỗi lần 10g, ngày 3 lần

LD: Liều 5 - 10g

Chích Đông hoa dùng nhuận phế tốt

Khoản đông hoa

3.3 TỬ UYỂN (Radix Asteris Tatarici)

Tử uyển còn gọi là Thanh uyển, Dã ngưu bàng là thân rễ và rễ phơi hay sấy khô của cây Tử uyển Thuộc họ Hoa Cúc

Cây Tử uyển mọc nhiều ở các tỉnh Hà Bắc, An Huy, Đông Bắc, Hoa Bắc, Tây Bắc Trung quốc Cây Tử uyển Việt Nam thấy mọc ở miền Bắc Việt Nam như vùng Cao Bằng, Lạng Sơn nhưng chưa hoặc ít được khai thác, ta còn phải nhập của Trung quốc

đốt và bùn cát, phơi khô Các miếng Tử uyển cho mật và ít nước trộn đều cho lửa nhỏ sao cho đến khi không dính tay là được

TVQK: Tử uyển vị đắng ngọt hơi ôn, qui kinh phế

TPHH: Lachnophyllol acetate, aleic acid, aromatic acid

TDDL:

Trang 21

Theo Y học cổ truyền:

Tử uyển có tác dụng hóa đàm khí chỉ khái

Chủ trị các chứng ho do phong hàn, do phế nhiệt, ho do phế hư lao

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thuốc có Sponin cho thỏ uống làm tăng chất tiết khí quản vì thế có tác dụng hóa đàm

Nước sắc Tử uyển cho mèo uống không làm giảm ho nhưng chiết xuất chất ceton

Tử uyển trên thực nghiệm có tác dụng giảm ho

Có tác dụng ức chế các loại trực khuẩn đại tràng, lị Shigella sonnei, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn mủ xanh, Pseudomonas aeruginosa, phẩy khuẩn thổ tả

Trong thuốc có chiết xuất được thành phần có tác dụng kháng tế bào ung thư Saponin Tử uyển có tác dụng tán huyết mạnh, không nên chích tĩnh mạch

CNCT:

Trị ho do cảm mạo, viêm đường hô hấp trên:

Chỉ thấu tán ( Y học tâm ngộ): Tử uyển, Bách bộ, Bạch tiền đều 10g, Cát cánh, Kinh giới đều 6g, Trần bì 5g, Cam thảo 3g sắc uống

Trị lao phổi do phế âm hư, ho đàm có máu:

Tử uyển thang ( y phương tập giải): Tử uyển, Tri mẫu, A giao (hòa uống), Đảng sâm, Phục linh đều 10g, Xuyên bối mẫu (tán bột hòa uống), Cát cánh đều 6g, Trần bì 5g, Cam thảo 3g sắc uống

Trang 22

Cây Bách bộ mọc hoang khắp nơi ở nước ta, nhiều ở các tỉnh Hà Sơn Bình, Bắc Thái v.v Mùa thu đông đào củ về rửa sạch phơi hay sấy khô Tùy cách bào chế mà có tên Phò Bách bộ, Chích Bách bộ, Chưng Bách bộ

TVQK: Bách bộ vị ngọt đắng, tính bình qui kinh Phế

TPHH: Stemonine, stemonidine, Isostemonidine, paipunine, sinostemonine

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Bách bộ có tác dụng nhuận phế chỉ khái, diệt rận, sát trùng

Chủ trị các chứng: thương phong khái thấu, bách nhật khái (ho gà), phế lao, giun kim, chấy rận, chàm lở

Kết quả nghiên cưu dược lý hiện đại:

Bách bộ có tác dụng làm giảm hưng phấn trung khu hô hấp của động vật, làm giảm

ho do ức chế phản xạ ho, còn chống histamin gây co giật tác dụng như aminophyllin nhưng hòa hoãn hơn và kéo dài

Thuốc có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn lao ở người, phế cầu khuẩn, trực khuẩn lị, thương hàn, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn đại tràng, virus cúm và nấm ngoài

da

Dịch cồn hoặc nước ngâm kiệt của thuốc có tác dụng sát trùng đối với ấu trùng ruồi, muỗi, rận chấy, sâu quần áo, rệp

CNCT:

Trị lao phổi: dùng Bách bộ 20g, Hoàng cầm, Đơn bì, Đào nhân đều 10g, sắc đặc còn

60ml, ngày 1 thang, 1 liệu trình 3 tháng, biện chứng gia giảm

Trị ho gà: dùng Sirô Ho gà (1ml tương đương 1,5g thuốc sống), mỗi lần uống 15 ml,

ngày 3 lần

Trị các loại ho (bao gồm ho do viêm họng, viêm phế quản, ho lao, ho gà.)

Bách bộ 12g, Kinh giới 10g, Bạch tiền, Cát cánh đều 10g sắc nước uống, trị ho ngoại cảm

Trị chấy rận, ngứa do viêm da dị ứng, mề đay:

Bách bộ 100g, cồn 500ml, ngâm trong 24giờ, bôi vào chỗ ngứa có chấy rận (đầu, người, âm hộ)

Bách bộ cắt lát mỏng xát vào vùng ngứa mỗi ngày nhiều lần trị ngứa dị ứng, viêm

da, mề đay, chàm lở, muỗi cắn

Trang 23

Bách bộ 15g, Bằng sa, Hùng hoàng đều 6g, Khổ sâm 10g, sắc nước rửa trị mề đay

LD:

Liều: 5 - 10g, dùng ngoài lượng vừa đủ Mật chích Bách bộ tác dụng tốt để nhuận phế chỉ khái, dùng trị ho lâu ngày, ho do phế táo, ho lao, trẻ em ho gà

Bách bộ chưng tính hòa hoãn ít nê trệ có thể dùng cho tất cả các chứng ho

Thuốc có tác dụng hoạt trường vị nên tỳ vị hư yếu, tiêu chảy không nên dùng

Bách bộ

4 Thuốc thanh phế chỉ khái

4.1 TANG BẠCH BÌ (Cortex Mori Albae Radicis)

Tang bạch bì là vỏ rễ phơi hay sấy khô của cây Dâu tằm Thuộc họ Dâu tằm Cây Dâu tằm được trồng khắp nước ta để nuôi tằm và làm thuốc

Chế biến: Đào lấy rễ dâu cạo bỏ rễ thô nâu bên ngoài bóc lấy vỏ trắng rửa sạch phơi hay sấy khô làm thuốc Tang bạch bì tẩm mật sao là Tang bạch bì xé nhỏ tẩm mật sao lửa nhỏ (văn hỏa) cho đến khi khô không dính tay là được, có tác dụng nhuận phế

TVQK: Tang bạch bì vị ngọt tính hàn, qui kinh Phế

TPHH: Theo sách Đỗ tất Lợi trong rễ dâu có: acid hữu cơ, tanin, pectin và beta-amyrin, rất ít tinh dầu

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Tang bạch bì có tác dụng: tả phế bình suyễn, lợi tiểu tiêu phù Trị chứng ho suyễn

do phế nhiệt, mắt mặt sưng phù, thủy thũng thực chứng

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thuốc có tác dụng giảm ho nhẹ, lợi niệu và gây tiêu chảy

Thuốc sắc và chiết xuất của thuốc trong nhiều loại dung môi khác nhau đều có tác dụng hạ áp

Trang 24

Thuốc có tác dụng an thần, giảm đau, hạ nhiệt và chống co giật nhẹ

Thuốc sắc có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn lị Flexner và nấm tóc Thuốc chiết xuất nước nóng có tác dụng ức chế (in vitro) chủng JTC-

28 tế bào ung thư tử cung khoảng 70%

CNCT:

Trị ung thư thực quản và bao tử:

Dùng Tang bạch bì tươi không bỏ vỏ ngoài 30g gia giấm ăn 100g, nấu 1 giờ uống

hết 1 hoặc nhiều lần, nếu chua cho đường

Trị ho do nhiệt đàm:

Tả bạch tán (Tiểu nhi dược chứng trực quyết): Tang bạch bì 12g, Đại cốt bì 12g, Cam thảo 4g sắc uống

Trị viêm phế quản mạn tính: Tang bạch bì, Tỳ bà diệp đều 10g, sắc uống

Trị viêm cầu thận cấp phù nhẹ: Ngũ bì ẩm gồm: Tang bì, Trần bì, Sinh khương bì, Đại

phúc bì đều 6 - 10g, Phục linh bì 12g sắc uống

LD: Liều: 10 - 15g

Chích Tang bì nhuận phế

Tang bạch bì

4.2 HẠT CỦ CẢI (Semen Raphani Sativi)

Hạt củ cải có tên thuốc là La bạc tử hay Lai phục tử, là hạt của cây Cải củ Thuộc

họ Cải phơi hay sấy khô

Khắp đất nước ta đều trồng được cải củ lấy củ và lá làm thức ăn, hạt già phơi hay sấy khô làm thuốc (dùng sống hoặc sao lên có mùi thơm)

TVQK: Hạt củ cải vị cay ngọt, tính bình, qui kinh Tỳ, Vị, Phế

TPHH:Erucid acid, oleic acid, linolenic acid, linoleic acid, glycerol sinapate, raphanin,

alkaloid, hợp chất phenol

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Trang 25

La bạc tử có tác dụng: tiêu thực trừ trướng đầy, giáng khí hóa đàm Chủ trị các chứng: thực tích, khí trệ ở trung tiêu, đàm suyễn khái thấu (ho suyễn có đờm)

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Nước chiết xuất của thuốc có tác dụng hạ áp từ từ mà rõ rệt và kéo dài

Bài thuốc " Cốt chất tăng sinh hoàn" (Thục địa, Kê huyết đằng, Nhục thung dung, Dâm dương hoắc, Cốt toái bổ, La bạc tử) có tác dụng kháng viêm rõ, trong bài thuốc thành phần kháng viêm là: Thục địa, Nhục thung dung, La bạc tử Bài thuốc có tác dụng hưng phấn hệ tuyến yên, vỏ thượng thận; đó là cơ sở của tác dụng kháng viêm

CNCT:

Trị chứng táo bón người cao tuổi:

La bạc tử cho lửa nhỏ sao vàng, 30 - 40g uống với nước ấm, ngày 2 - 3 lần

Trị bệnh cao huyết áp:

Lấy La bạc tử sắc nước cô đặc nấu cao chế thành viên, mỗi lần uống 5 viên (tương đương 30g thuốc sống) ngày uống 3 lần trị trong 1 tháng, đã dùng cho cao huyết áp giai đoạn 1

Trị viêm phế quản mạn tính, ho khó thở nhiều đờm:

La bạc tử (sao), Tô tử (sao) đều 10g sắc uống

La bạc tử (sao), Hạnh nhân đều 10g, Sinh Cam thảo 6g, sắc nước uống Trị viêm phế quản mạn tính ho nhiều đờm

Bài Tam tử dưỡng thân thang (Hàn thị y thông): La bạc tử (sao) 10g, Tô tử (sao) 10g, Bạch giới tử (sao) 3g, Tất cả tán nhỏ cho vào túi vải thêm 500ml nước sắc còn 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày (đơn thuốc của Diệp Quất Tuyền)

Trị rối loạn tiêu hóa, thực tích, bụng đầy, mồm hôi, tiêu bón, mót rặn:

La bạc tử (bột) 10g, Tỏi 1 củ (giã lấy nước) hãm nước sôi uống nóng Trị đi tiêu mót rặn

La bạc tử (sao) 10g, Chỉ xác 6g, Tiêu thần khúc 12g, sắc nước uống bụng đầy táo bón

Ngoài ra còn dùng La bạc tử phối hợp với Tiểu hồi hương, Đại hoàng sắc uống Trị tắt ruột đơn thuần Củ cải phơi hay sấy khô 10 - 15g mỗi ngày, lá củ cải khô 10 - 15g/ ngày sắc uống, trị phù, thông tiểu tiện

Trang 26

Hạt củ cải

4.3 TIỀN HỔ (Radix Peucedani)

Tiền hồ còn có tên là Nham phong, Tín tiền hồ, Qui nam, Tử hoa tiền hồ, Thổ đương qui, Sạ hương thái, là rễ phơi hay sấy khô của cây Tiền hồ Thuộc loại Hoa tán

Tiền hồ mọc ở các tỉnh Triết Giang, Hồ Nam, An Huy (loại hoa trắng); ở Giang Tây, Triết Giang (loại hoa tím) Ở nước ta mới phát hiện có Tiền hồ gọi là Qui nam ở Đồng Đăng (Lạng Sơn)

Ở Trung quốc thường người ta đào rễ cây Tiền hồ vào mùa đông hay mùa xuân, rửa sạch bỏ rễ con phơi hay sấy khô làm thuốc hoặc luyện mật sao (lửa nhỏ cho đến khi dính tay) gọi là Chích Tiền hồ

Tiền hồ hoa trắng, người Trung Quốc quen gọi là Nham Phong Tiền hồ mọc ở Tứ xuyên gọi là Tín Tiền hồ

TVQK: Tiền hồ vị đắng cay tính hơi hàn, qui kinh phế

TPHH: Theo sách của Đỗ tất Lợi trong Tiền hồ có: chất glucosid, tinh dầu, tanin, spongosterola

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Tiền hồ có tác dụng: giáng khí trừ đàm, tuyên tán phong nhiệt Chủ trị các chứng đàm trọc ủng tắc ở phế gây nên chứng ho suyễn, ngoại cảm phong nhiệt

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thuốc có tác dụng hóa đàm tốt nhưng chưa thấy tác dụng giảm ho

Bạch hoa tiền hồ tố C có tác dụng tăng lưu lượng máu của động mạch vành và các học giả cho là một loại thuốc giãn động mạch vành có chọn lọc, thuốc còn có tác dụng ức chế ngưng tập tiểu cầu ở người

Thuốc có tác dụng kháng virus cúm và hoạt tính của nấm Có tác dụng an thần

CNCT:

Trang 27

Trị viêm phế quản thể nhiệt: ho đàm nhiều màu vàng, tức ngực khó thở

Tiền hồ tán (Chứng trị chuẩn thằng): Tiền hồ 10g, Tang bì 10g, Bối mẫu 6g, Mạch môn 10g, Hạnh nhân 10g, Cam thảo 3g, Gừng tươi 3 lát, sắc uống

Trị viêm đường hô hấp trên (viêm họng, viêm amidale ) thể phong nhiệt:

Tiền hồ, Bạc hà, Cát cánh đều 6g, Ngưu bàng tử, Hạnh nhân đều 10g, sắc uống Tiền hồ, Kinh giới, Bạch chỉ đều 10g sắc uống trị cảm mạo đau đầu Ngoài ra có người dùng Tiền hồ tươi giã đắp, trị nhọt đang sưng

LD: Liều: 6 - 10g, chích mật Tiền hồ giảm bớt tính hàn mà tác dụng nhuận phế tốt

Dùng trong trường hợp ho lâu ngày, ho khan đàm ít

Tiền hồ

4.4 TÔ TỬ (Fructus Perillae Frutescentis)

Tô tử là hạt của cây Tía tô Thuộc họ Hoa môi

Cây Tía tô được trồng khắp nơi ở nước ta để lấy lá ăn, làm rau sống và làm thuốc Đến mùa thu quả chín hái về rửa sạch bỏ tạp chất phơi khô Làm thuốc dùng Tô tử sống hoặc sao Tô tử, chích Tô tử

TVQK: Tô tử vị cay tính ôn, qui kinh Phế, Đại tràng

TPHH: Hạt Tía tô có dầu lỏng 45 - 50% (gọi là dầu Tô tử), vitamin B1, amino acid TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Tô tử có tác dụng chỉ khái bình suyễn, lợi tiểu tiêu phù

Chủ trị các chứng đàm diên thịnh, khí nghịch ho suyễn, trường táo tiện bí (tiêu bón

do đại trường táo)

Kết quả nghiên cưú dược lý hiện đại:

Chưa thấy có tài liệu nào ghi nhận gì

CNCT:

Trang 28

Trị ho kéo dài khó khỏi do viêm họng, viêm phế quản mạn, hen phế quản:

Tô tử giáng khí thang (Hòa tễ cục phương): Tô tử, Trần bì, Tiền hồ, Chế Bán hạ, Hậu phác đều 6 - 9g, Đương qui 12g, Nhục quế 3g, Chích thảo 3g, Gừng tươi 3 lát, sắc uống

Trị lãi đũa: dùng hạt Tô tử giã nhỏ nhai uống, liều mỗi lần:

Trang 29

Theo đông y, thuốc này được chia làm 3 loại: bình can tức phong, thuốc an thần, thuốc phương hương khai khiếu Khi sử dụng, tùy theo chứng trạng mà phối hợp với nhau hoặc phối hợp với thuốc khác để phát huy tác dụng điều trị

2.1 Thuốc bình can tức phong

Nguyên nhân gây chứng can phong quá nhiều:

+ Nếu nhiệt cực sinh phong, sẽ gây sốt cao co giật

+ Nếu thận âm hư không nuôi dưỡng được can âm, làm can dương vượng, gây nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt

+ Nếu huyết hư, dẫn đến can huyết hư, không nuôi dưỡng được cân mạch, làm tay chân run, co giật

Nhóm thuốc có tác dụng bình can, tiềm dương, tức phong (làm hết phong), chỉ kinh (ngừng kinh giản), dùng thích hợp với chứng can dương cường thịnh, can phong nội động

Trong điều trị cần chú ý phân biệt với chứng ngoại phong, kết hợp với hàn và nhiệt thành chứng phong hàn và phong nhiệt

2.2 Thuốc an thần

Là những thuốc có tác dụng dưỡng tâm an thần, bình can, tiềm dương Dùng trong các trường hợp âm hư, huyết hư, tỳ hư, không nuôi dưỡng được tâm, nên tâm không tàn thần, hoặc âm hư không nuôi dưỡng được can âm, can dương vượng lên, khiến thần chí không ổn định

Thuốc an thần dùng thích hợp với những bệnh tim nhịp loạn, mất ngủ, cuồng phiền, bệnh thường do chức năng thần kinh, chức năng tạng tâm mất thăng bằng Trong khi dùng thuốc tùy theo tình hình cụ thể mà phối hợp với các thuốc khác cho ổn định

+ Nếu tâm hỏa cuồng thịnh thì phối hợp với thuốc tả hỏa

+ Nếu đàm nhiều thì phối hợp với thuốc hóa đàm

+ Âm hư huyết thiếu thì phối hợp với thuốc bổ huyết

Các vị thuốc an thần có khuynh hướng trầm giáng, trấn nghịch nên còn gọi là thuốc trấn kinh hay thuốc trọng trấn an thần

Tùy theo cường độ tác dụng, có thể chia thuốc an thần thành hai loại:

+ Dưỡng tâm an thần: thường là những thảo mộc có thể chất nhẹ, tác dụng dưỡng tâm, bổ can huyết, tạo giấc ngủ sinh lý, dùng cho chứng hư

+ Trọng trấn an thần: thường là các loại khoáng vật hoặc thực vật có tỷ trọng nặng, tác dụng tiết giáng, trấn tĩnh, dùng cho chứng thực

2.3 Thuốc phương hương khai khiếu

Thuốc phương hương khai khiếu có tác dụng tỉnh thần, thuốc thường có mùi thơm,

vị cay, tác dụng phát tán, trừ đàm, làm thông các giác quan, thông các khiếu trên cơ thể, dùng thích hợp với các chứng trúng phong, điên giản dẫn đến hôn mê, thần chí cấm khẩu,

Trang 30

toàn thân bất tỉnh Thuốc tác dụng theo các cơ chế trừ đàm thanh phế để khai thông hô hấp, đồng thời trấn tâm (điều hòa nhịp tim) để khôi phục lại tuần hoàn khí huyết

3 Tác dụng chung

Thuốc bình can tức phong dùng trị các chứng:

+ Nhức đầu hoa mắt, chóng mặt, hỏa bốc do can dương vượng, âm hư không nuôi dưỡng được can âm sinh ra, hay gặp trong các bệnh Tăng huyế áp, Suy nhược thần kinh, rối loạn tiền mãn kinh

+ Co giật do sốt cao, sản giật, động kinh vì tân dịch giảm sút, huyết hư

+ Đau nhức khớp, đau dây thần kinh

Thuốc dưỡng tâm an thần có tác dụng dưỡng tâm huyết và can huyết, hồi phục chức năng tâm tàn thần, can định chí, dùng trị các chứng mất ngủ, hồi hợp, vật vã, hoảng

sợ, ra mồi hôi trộm

4 Chú ý khi sử dụng

Tùy theo nguyên nhân gây nên chứng can phong mà phối hợp thuốc: nếu sốt cao

co giật phối hợp với thuốc bổ huyết; nếu âm hư khiến can dương xung thịnh, phối hợp với thuốc bổ âm

Thuốc bình can tức phong có tính vị khác nhau, tùy theo tính chất hàn nhiệt của nguyên nhân gây can phong, triệu chứng của bệnh mà sử dụng thuốc cho phù hợp

Trong trường hợp mất ngủ, tùy theo nguyên nhân mà cần phối hợp với các thuốc trị nguyên nhân: nếu có sốt cao, cần phối hợp với thuốc thanh nhiệt tả hỏa, lương huyết; nếu do can phong nội động, phong vượt lên gây nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt, thì thêm thuốc bình can tức phong; nếu do âm hư, huyết hư, tỳ hư, không nuôi dưỡng được tâm huyết thì thêm thuốc tư âm, bổ huyết, kiện tỳ

Các thuốc có nguồn gốc khoáng vật không nên dùng lâu, khi dùng cần giã nhỏ và sắc lâu

Thần chí hôn mê có thể gặp trong bế chứng (thực) và trong cả thoát chưng (hư), cần chú ý phân biệt khi sử dụng thuốc để điều trị Thuốc phương hương khai khiếu không dùng với thoát chứng, hư chứng

Biểu hiện hôn mê của thoát chứng: đột quỵ, miệng há, tay xòe, khí sắc thất thần, hơi thở yếu, mạch vô lực, đại tiểu tiện không tự chủ, ra mồ hôi nhiều

Cần phân biệt bế chứng theo hàn nhiệt: nếu là nhiệt bế cần phối hợp thuốc phương hương khai khiếu với thuốc thanh nhiệt; nếu là hàn bế, cần thêm thuốc khu hàn

Thuốc phương hương khai khiếu hầu hết điều có mùi thơm, hoạt chất dễ bay hơi ở nhiệt độ cao, nên thường sử dụng dạng thuốc hoàn, tán, không sắc chung với các thuốc khác (trừ Thạch xương bồ)

5 Cấm kỵ

Trang 31

Những người âm hư, huyết hư cần thận trọng khi dùng thuốc bình can tức phong

có tính ôn, nhiệt, vì thuốc gây táo, làm mất thêm tân dịch

Thuốc phương hương khai khiếu có tính ấm, phát tán, dễ tổn thương đến nguyên khí do đó không nên dùng lâu

II/ Các vị thuốc tiêu biểu

1 Thuốc bình can tức phong

1.1 CÂU ĐẰNG (Ramulus Uncariae Cum Uncis)

Câu đằng là thân có gai móc câu của cây Câu đằng, phơi hay sấy khô Thuộc họ Cà phê

Ở nước ta, cây Câu đằng mọc hoang nhiều ở vùng thượng du Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, chưa được trồng

TVQK: Vị ngọt hơi hàn, qui kinh Can, Tâm bào

TPHH: Corynoxeine, Isocorynoxeine, corynantheine, nicotinic acid, hirsutine, hirsuteine TDDL:

Tác dụng hạ áp: các loại chế phẩm và chiết xuất của Câu đằng đều có tác dụng hạ

áp hòa hoãn và kéo dài Thành phần chủ yếu có tác dụng hạ áp là chất kiềm Câu đằng Nguyên lý hạ áp chủ yếu là thuốc trực tiếp tác dụng và phản xạ tác dụng ức chế trung khu thần kinh vận mạch và chẹn nút thần kinh giao cảm, làm giãn mạch ngoại vi nên lực cản giảm và hạ áp Nếu đun sôi quá 20 phút tác dụng hạ áp giảm cho nên không nên đun lâu

Tác dụng an thần: nước sắc Câu đằng và chiết xuất cồn thuốc trên súc vật thực nghiệm đều có tác dụng an thần rõ nhưng không gây ngủ Cao ngâm rượu của thuốc có tác dụng chống co giật trên chuột Hà lan thực nghiệm

Câu đằng còn có tác dụng ức chế cơ trơn của ruột, làm dịu cơn co thắt cơ trơn của phế quản

CNCT:

Trị huyết áp cao do can dương thịnh:

Câu đằng 12g, Kim ngân hoa 10g, Bạc hà 6g, Cúc hoa 10g, Địa long 10g, nước sắc uống

Câu đằng, Cúc hoa đều 10g, Thạch cao 20g, Mạch môn 10g, Trần bì 10g, Cam thảo 3g sắc uống

Câu đằng, Tang diệp, Cúc hoa đều 10g, Hạ khô thảo 16g, sắc nước uống

Huyền sâm, Bạch truật, Câu đằng (cho sau) đều 15g, Hoài ngưu tất 12g, Đơn bì 10g, sắc uống

Trị co giật do phong nhiệt, trẻ em sốt cao co giật:

Câu đằng ẩm tử (Tiểu nhi dược chứng trực quyết): Câu đằng 12g, Quảng tê giác (sừng trâu) bột 10g, Thiên ma 10g, Toàn yết 5g, Mộc hương 3g, Cam thảo 3g sắc uống

Trang 32

Câu đằng 10g, Thiên ma 6g, Cúc hoa 8g, Bạc hà 6g, Thuyền thoái 2g, Kinh giới 6g, sắc uống trị trẻ em lên sởi sốt cao

Trị trẻ em uốn ván sốt:

Câu đằng 15g, Tang diệp 15g, Hoàng cầm 10g, Đởm nam tinh 6g, Thạch cao 60 - 100g, Thuyền thoái 30g, Toàn yết, Bạch phụ tử mỗi thứ 10g, Ngô công 2 con, sắc nước uống ngày 1 thang

Câu đằng

1.2 BẠCH CƯƠNG TÀM (Bombyx Botryticatus)

Bạch cương tàm còn gọi là Cương tàm, Cương trùng, Thiên trùng Thuộc họ Tằm

bị bệnh do vi khuẩn làm chết cứng sắc trắng như vôi Ở nước ta có nhiều nơi nuôi tằm Người ta lấy những con tằm tự nhiên bị bệnh chết cho vào vôi sấy khô là được

TVQK: Bạch cương tàm vị mặn cay tính bình Qui kinh Can, Phế

TPHH: Phân tích chung thì trong Bạch cương tàm có chừng: 67,44% chất protid; 4,38% chất béo; 6,34% tro và 11,34% độ ẩm

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Bạch cương tàm có tác dụng: tức phong chỉ kinh (chống co giật), khu phong chỉ thống (giảm đau), giải độc tán kết

Trang 33

Chủ trị các chứng: đàm nhiệt kinh phong, động kinh co giật, trúng phong liệt mặt, đau đầu mắt đỏ, cổ họng sưng đau, phong trùng nha thống (đau răng), đàm hạch loa lịch (lao hạch lâm ba), đinh nhọt đơn độc

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thuốc có tác dụng gây ngủ đối với chuột nhắt và thỏ nhà, thuốc cho uống làm giảm tỷ lệ chết của chuột bạch do strychnin gây co giật

Con nhộng tằm có tác dụng chống co giật do strychnin mạnh hơn là Cương tàm vì thành phần ammonium oxalate ở con nhộng tằm nhiều hơn cho nên thành phần chống co giật chủ yếu là ammonium oxalate

Thực tiển lâm sàng chứng minh con tằm nhộng có tác dụng hạ sốt, chỉ khái hóa đàm, an thần, chống co giật tiêu sưng và điều tiết thần kinh, có tác dụng tham gia chuyển hóa mỡ, hiệu quả trị bệnh gần giống Bạch cương tàm nên có thể thay thế được

CNCT:

Trị chứng phong nhiệt đau đầu co giật:

Gia vị Tang cúc ẩm: Cương tàm 6g, Tang diệp 10g, Cúc hoa, Câu đằng, Hoàng cầm đều 10g, sắc uống Chu sa 1g hòa nước thuốc uống

Bạch cương tàm tán: Cương tàm 6g, Toàn phúc hoa 8g, Mộc tặc thảo 6g, Tế tân 3g, Tang diệp, Kinh giới đều 12g, Cam thảo 4g sắc uống, hoặc tán bột mịn; mỗi lần 6 - 10g, ngày uống 2 - 3 lần

Trị viêm hầu họng sưng đau, mất tiếng:

Bạch cương tàm 6g, Khương hoạt 10g, Xạ hương 0,01 - 0,03g tán bột trộn với nước gừng uống

Trị mặt đen sạm:

Bạch cương tàm tán mịn hòa với nước bôi vào chỗ sạm

Trị đau nửa đầu (thiên đầu thống):

Cương tàm tán nhỏ hòa với nước chè uống Có khi uống cùng với nước lạnh

Trang 34

Bạch cương tàm

1.3 THIÊN MA(Rhizoma Gastrodiea Elatae)

Thiên ma còn gọi là Minh thiên ma, Xích tiễn, Định phong thảo là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Thiên ma Họ Lan

TVQK: Thiên ma vị ngọt tính bình, qui kinh Can

TPHH: Gastrodin, gastrodioside, vannillyl, alcohol, vanillin, alkaloid, vitamin A

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Thuốc có tác dụng tức phong chỉ kinh, bình can tiềm dương

Chủ trị các chứng: kinh phong co giật, phá thương phong (uốn ván), can dương thượng kháng đau đầu chóng mặt

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thiên ma có tác dụng an thần chống co giật

Thuốc có tác dụng làm giảm đau, tác dụng giảm đau của loại mọc hoang mạnh hơn loại trồng Thuốc chích Thiên ma và loại do nhân tạo cũng có tác dụng giảm đau Thuốc còn có tác dụng kháng viêm

Thiên ma làm tăng cường lưu lượng máu ở tim và não, làm giảm lực cản của mạch máu, làm dãn mạch ngoại vi, có tác dụng hạ áp, làm chậm nhịp tim, nâng cao sức chịu đựng thiếu oxy của động vật thí nghiệm

Polysaccharide của Thiên ma có hoạt tính miễn dịch

CNCT:

Trị đau đầu hoa mắt chóng mặt:

Thiên ma hoàn: Thiên ma 15g, Xuyên khung 5g, chế thành hoàn, mỗi lần uống 3 - 6g, ngày 3 lần

Trị đau khớp, chân tay tê dại:

Ngưu tất 10g, Thiên ma 10g, Toàn yết 3g, Nhũ hương 5g, tán bột mịn hồ làm hoàn hoặc sắc uống

Trang 35

Thiên ma hoàn: Thiên ma, Đỗ trọng, Ngưu tất, Tỳ giải, Phụ tử, Đương qui, Sinh địa đều 10g, Huyền sâm 12g, tán bột mịn luyện mật làm hoàn Ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g Trị đau khớp do phong hàn thấp

LD:

Liều thường dùng: 3 - 10g Tán bột uống 1 - 1,5g/lần

Thiên ma là loại thuốc quí trên thị trường nên có nhiều loại giả, lúc mua cần chú ý: Thiên ma loại chất đặc bóng, hơi trong là thứ tốt (cho nên gọi là Minh Thiên ma) Chú ý nhận mặt thuốc thật thường là: chất cứng đặc, một đầu có nha bào khô màu đỏ nâu, một đầu có rốn tròn thành sẹo, trên mặt có vân là thật Đông ma nặng không có tâm rỗng, cắt ngang trong suốt Xuân ma phần nhiều chất nhẹ, cắt ngang tối xạm tâm rỗng, nên chất lượng kém hơn

Thiên ma

1.4 TOÀN YẾT (Buthus Martensi)

Toàn yết là con Bọ cạp còn gọi là Toàn trung, Yết vĩ, Yết tử dùng toàn con sấy hoặc phơi khô làm thuốc

Ở nước ta có nhiều loại Bọ cạp nhưng ít ai khai thác nên vẫn phải nhập Bọ cạp của nước ngoài

TVQK: Bọ cạp vị cay tính bình có độc, qui kinh Can

TPHH: Katsutoxin, trimethylamin, taurocholic acid, betain, palmitic acid, strearic acid, cholesterol, lecithinum và các muối ammonium khác

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Bọ cạp có tác dụng: tức phong chỉ kinh, giải độc tán kết, thông lạc chỉ thống (giảm đau)

Trang 36

Chủ trị các chứng: cấp mạn kinh phong, liệt mặt do trúng phong, chứng phá thương phong (uốn ván), sang lở nhọt độc, lao hạch, đau đầu, phong thấp tý thống

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thuốc có tác dụng chống co giật, yếu hơn Ngô công

Thuốc có tác dụng hạ áp lâu dài Nhiều học giả cho rằng chế phẩm Toàn yết ảnh hưởng đến chức năng vận mạch của trung khu thần kinh, làm giãn mạch, trực tiếp ức chế hoạt động của tim và làm giảm tác dụng tăng áp của adrenalin

Thuốc có tác dụng an thần giảm đau

CNCT:

Trị chứng trúng phong bán thân bất toại, kinh phong co giật ở trẻ em:

Toàn yết (bỏ đầu chân) 3g, Địa long (rửa sạch sao vàng) 3g, Cam thảo 2g, tất cả tán bột mịn trộn đều, chia 5 - 6 lần uống trong ngày với nước nóng

Toàn yết 3g, Ngô công 4,5g, Câu đằng 12g, Cương tàm 6g, Chu sa 3g, Xạ hương 10mg tán bột trộn đều Uống 3g/lần x 2 - 3 lần mỗi ngày

Toàn yết 1 con (có thể dùng đến 3 con), Cương tàm 10g, Địa long 6g sắc uống Trị kinh phong trẻ em

Trị viêm khớp mạn tính: thuốc có tác dụng thông lạc chỉ thống

Toàn yết 3g, Xạ hương 60mg, tán bột mịn trộn đều, mỗi lần uống 1,5g với rượu

ấm Có thể dùng độc vị Toàn yết mỗi lần 1 - 1,5g với rượu

Toàn yết Nhũ hương tán: Chế Xuyên ô đầu 10g, Toàn yết 3g, Xuyên sơn giáp 6g, Nhũ hương 5g, Thương truật 10g, làm thuốc tán Uống 6g/lần Có thể dùng thuốc thang hoặc thuốc đắp ngoài

Cấp cứu ngộ độc Toàn yết:

Huyền minh phấn 20g uống, tăng bài tiết chất độc

Kim ngân hoa 30g, Bán biên liên 10g, Thổ phục linh 15g, Đậu xanh 15g, Cam thảo 10g, sắc chia làm 2 lần uống

Trang 37

Atropin 0,5mg chích dưới da

Lactate calcium 0,3 - 0,6g, ngày 3 lần uống

Truyền dịch, điều trị triệu chứng

Toàn yết

1.5 NGÔ CÔNG (Scolopendra Subspinipes)

Ngô công còn có tên là con Rết, Thiên long, Bách túc trùng, Bách cước, dùng toàn thân phơi hay sấy khô

Con Rết sống hoang khắp nơi ở nước ta, tìm thấy nhiều ở dưới các khúc gỗ mục, hòn đá, mái nhà mục nát Ở Trung Quốc và Triều Tiên người ta nuôi rết để dùng làm thuốc và xuất khẩu Chọn những con to béo chân đỏ nâu là tốt

TVQK: Vị cay tính ấm có độc, qui kinh Can

TPHH: Toàn con Rết có 2 loại nọc độc như nọc độc ong tức giống histamin và chất

protid tán huyết Ngoài ra còn có delta-hydroxylysine taurin, acid amin, dầu mỡ,

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thuốc có tác dụng chống co giật: Ngô công và Toàn yết cùng dùng với liều lượng bằng nhau có tác dụng chống cơn co giật do strychnin trên chuột thực nghiệm

Thuốc có tác dụng ức chế với mức độ khác nhau đối với trực khuẩn lao và nấm ngoài da

Thuốc có tác dụng kháng hoạt tính ung thư

Trang 38

Có tác dụng tiêu sưng độc

CNCT:

Trị trẻ em co giật, uốn ván, động kinh, liệt dây thần kinh mặt: dùng các bài:

Ngô công, Toàn yết, Chu sa lượng bằng nhau tán bột mịn, mỗi lần uống 0,5 - 1,5g với nước ấm Trị trẻ em quấy khóc, chân tay co giật

Ngô công tán: Ngô công, Chế Nam tinh, Phòng phong, Bong bóng cá lượng bằng nhau tán bột mịn, mỗi lần uống 2 - 4g với rượu trị uốn ván

Khương hoạt, Xuyên khung, Đại hoàng, Bán hạ, Phòng phong, Chế Xuyên ô, Cương tàm, Chế Nam tinh, Bạch chỉ đều 10g, Ngô công 3 con, Xác ve 10g, Bạch phụ tử 12g, Toàn yết 10g, Thiên ma 10g, Cam thảo 10g, mỗi thang sắc còn 600ml Ngoài ra Hổ phách, Chu sa mỗi thứ 3g tán bột mịn chia làm 3 bao Mỗi lần uống nước sắc còn 200ml, một bao thuốc bột, cách 6 - 8giờ uống một lần Trị uốn ván

LD: Liều 1 - 3g dạng bột uống, mỗi lần 0,6 - 1g

Chú ý: thuốc có độc, trẻ em thiếu máu, phụ nữ có thai, cơ thể suy nhược không dùng

Thuốc có gây tán huyết, choáng dị ứng, lượng nhỏ hưng phấn cơ tim, lượng lớn gây liệt cơ tim, ức chế trung khu hô hấp

Triệu chứng nhiễm độc: nôn, buồn nôn, đau bụng tiêu chảy, mỏi toàn thân mạch chậm, hồi hộp, khó thở, thân nhiệt, huyết áp hạ, hôn mê

Trang 39

Ngô công

2 Thuốc dưỡng tâm an thần

2.1 TOAN TÁO NHÂN (Semen Ziziphi Spinosae)

Toan táo nhân là nhân phơi hay sấy khô của quả táo chua Thuộc họ táo ta

Cây Táo được trồng khắp nơi ở nước ta để lấy quả ăn Táo nhân thường được sao làm thuốc

TVQK: Táo nhân vị ngọt tính bình Qui kinh Tâm, Can

TPHH: Betulin, betulic acid, ebelin lactone, một số saponin khác, vitamin C và nhiều loại vitamin khác Trong lá táo có rutin và quexetin

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Nhân Táo chua có tác dụng dưỡng tâm an thần, liễm hãn Chủ trị các chứng huyết

hư tâm phiền, mất ngủ, ra mồ hôi (tự hãn và đạo hãn)

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thực nghiệm chứng minh Táo nhân sống và sao đều có tác dụng an thần gây ngủ, thành phần có tác dụng là saponin Táo nhân

Thuốc có tác dụng giảm đau và hạ nhiệt Có tác dụng đối kháng với chứng cuồng

do Morphin

Thành phần hòa tan trong nước của Táo nhân có tác dụng hưng phấn tử cung, phụ

nữ có thai cần thận trọng lúc dùng

Thuốc có tác dụng hạ áp và chống loạn nhịp tim

Trên thực nghiệm súc vật, Táo nhân phối hợp dùng với Ngũ vị tử có tác dụng chống choáng do bỏng và giảm phù nề vùng bỏng

CNCT:

Trị chứng suy nhược thần kinh: váng đầu, hoa mắt, mất ngủ, ra nhiều mồ hôi, bức rứt

hồi hộp, thuốc có tác dụng dưỡng tâm, an thần dùng:

Trang 40

Toan táo nhân thang: Sao Táo nhân 15 - 20g, Tri mẫu, Bạch linh đều 12g, Xuyên khung, Cam thảo đều 6 - 8g, sắc uống

Sao Táo nhân 16g, Chích Viễn chí, Xương bồ đều 8g, Đảng sâm, Phục linh đều 12g, Cam thảo 4g, sắc nước uống Trị hay quên, mộng nhiều, ăn ít, mệt mỏi

Trị chứng âm hư ra mồ hôi trộm:

Sao Táo nhân 20g, Đảng sâm, Phục linh đều 12g tán bột, uống với nước cơm hoặc sắc uống

Sao Táo nhân, Can địa hoàng đều 20g, Gạo tấm 40g, sắc uống trị bệnh lao phổi, mất ngủ, sốt đêm ra mồ hôi trộm

Toan táo nhân

2.2 BÁ TỬ NHÂN (Semen Biotae Orientalis)

Bá tử nhân là nhân quả của cây Trắc bá Thuộc họ Trắc bá Vào đầu mùa đông quả chín thu hái về giã bỏ vỏ lấy nhân phơi khô Khi dùng để nguyên hoặc ép bỏ dầu Cây Trắc bá diệp được trồng khắp nơi ở nước ta để làm cây cảnh và làm thuốc

TVQK: Bá tử nhân vị ngọt tính bình, qui kinh Tâm, Thận, Đại trường

TPHH: Bá tử nhân có nhiều chất béo và ít tinh dầu Trong tinh dầu có 1-borneol bomyl acetat, camphor, sesquiterpen alcol, còn có chứa saponosid

TDDL:

Theo Y học cổ truyền:

Bá tử nhân có tác dụng an thần dưỡng khí, nhuận tràng thông tiện

Ngày đăng: 28/06/2023, 21:56