1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bg duoc hoc co truyen 2020 phan 2 2294

69 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 5: Thuốc Cổ Truyền Mục Tiêu
Trường học Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học cổ truyền
Thể loại Chương
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 508,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Tóm lại: Các thuốc có tính ôn nhiệt có tác dụng giải cảm hàn, phát hãn, thông kinh mạch, hoạt huyết, giảm đau, hồi dương cứu nghịch… - Những vị thuốc có tính bình thực tế chúng có tác

Trang 1

Chương 5:

THUỐC CỔ TRUYỀN MỤC TIÊU

Sau khi học xong sinh viên phải:

1 Trình bày được định nghĩa thuốc cổ truyền và thành phần cấu tạo nên phương thuốc, phân tích được phương thuốc

2 Trình bày được tứ khí, ngũ vị và mối quan hệ giữa tính và vị

3 Trình bày được khuynh hướng tác dụng của thuốc (thăng, giáng, phù, trầm)

4 Trình bày được sự qui kinh và các trường hợp tương tác thuốc y học cổ truyền

Ngoài định nghĩa trên cần thiết một số khái niệm có liên quan sau:

- Cổ phương: Là thuốc được sử dụng đúng như sách vở cổ (cũ) đã ghi về số vị, lượng từng vị, cách chế, cách dùng, liều dùng, chỉ định

- Cổ phương gia giảm: Là thuốc có cấu trúc khác với cổ phương về số vị, lượng từng

vị, cách chế, cách dùng, liều dùng theo biện chứng của thầy thuốc, trong đó cổ phương vẫn là cơ bản

- Thuốc gia truyền: Là những bài thuốc trị một chứng bệnh nhất định có hiệu quả và nổi tiếng một vùng, một địa phương, được sản xuất lưu truyền lâu đời trong gia đình

- Tân phương (thuốc cổ truyền mới): Là thuốc có cấu trúc khác hoàn toàn với cổ phương về số vị, lượng từng vị, cách chế, cách dùng, liều dùng, chỉ định

Trang 2

2 THÀNH PHẦN CẤU TẠO NÊN PHƯƠNG THUỐC

Phương thuốc y học cổ truyền được hình thành trong chế độ phong kiến Do đó cách gọi các thành phần trong phương thuốc cũng tuân theo qui ước về vị trí ngôi thứ của chế dộ phong kiến đó là: Quân, Thần, Tá, Sứ

2.3 Tá

Một hay nhiều vị thuốc cs tác dụng giải quyết một triệu chứng nào đó của bệnh Có thể

có nhiều nhóm tá, mỗi nhóm giải quyết một triệu chứng của bệnh

2.4 Sứ

Là vị thuốc có tác dụng dẫn thuốc vào kinh, hoặc giải quyết một triệu chứng phụ của bệnh, cũng có khi mang tính hòa hoãn sự mãnh liệt của phương thuốc

* Ví dụ:

Phương ma hoàng thang

Trong đó:

- Ma hoàng là Quân, có tác dụng chính trong phương, có công năng phát hãn giải biểu hàn, bình suyễn

- Quế chi là Thần, giúp cho ma hoàng phát hãn giải biểu

- Hạnh nhân là tá, giải quyết một triệu chứng phụ là ho đờm

- Cam thảo là sứ, vừa dẫn thuốc vào kinh, vừa giải quyết triệu chứng phụ là ho

Công năng: Giải biểu hàn, chỉ ho bình suyễn

Chủ trị: Dùng khi cảm mạo phong hàn có ho, đờm suyễn tức

Trang 3

3 TỨ KHÍ

Thuốc cổ truyền có tứ khí (bốn khí) đó là: Hàn, lương, ôn, nhiệt Tứ khí chỉ mức độ nóng lạnh khác nhau của vị thuốc Ngoài ra ở giữ mức độ hàn lương, on nhiệt có tính bình Như vậy tính của vị thuốc tồn tại một cách khách quan và có tính chất tương đối Tính của mỗi vị thuốc được quyết định thông qua tác dụng của chúng với những bệnh có tính đối lập

-Những vị thuốc có tính hàn (lạnh) hoặc lương (mát), trên thực tế có thể được dùng để điều trị những bệnh thuộc chứng nhiệt

Ví dụ:

Thạch cao có tính hàn vì có tác dụng với chứng sốt cao

Hoàng liên có tính hàn vì có tác dụng thanh tâm hỏa

Miết giáp có tính hàn vì có tác dụng trừ nhiệt do thể âm hư

Mạch môn có tính lương (mát) có tác dụng trừ ho do nhiệt

Kiêm tiền thảo có tính lương có tác dụng chữ bàng quang thấp nhiệt gây tiểu vàng, đỏ, buốt, dắt…

* Tóm lại: Các thuốc có tính hàn lương có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa, lương huyết,

giải độc, lợi tiểu

- Những vị thuốc có tính ôn (ấm), nhiệt (nóng), trên thực tế chúng được dùng để điều trị các bệnh thuộc chứng hàn

Ví dụ:

Quế nhục có tính nhiệt chữa hàn nhập lý

Phụ tử có tính nhiệt chữa thận hư hàn

Ma hoàng, tía tô, kinh giới có tính ôn chữa cảm mạo phong hàn

* Tóm lại: Các thuốc có tính ôn nhiệt có tác dụng giải cảm hàn, phát hãn, thông kinh

mạch, hoạt huyết, giảm đau, hồi dương cứu nghịch…

- Những vị thuốc có tính bình thực tế chúng có tác dụng lợi thấp, lợi tiểu, hạ khí, long đờm, bổ tỳ vị như: Hoài sơn, cam thảo, bạch cương tằm, tỳ giải, râu ngô

4 NGŨ VỊ

Mỗi dược lệu có thể có một hay nhiều vị Thuốc có vị đắng như hoàng cầm, hoàng bá, xuyên tâm liên… có thể có 2 vị vừa đắng lại vừa ngọt như địa cốt bì, thảo quyết minh

Trang 4

hay vừa đắng lại vừa cay như cát cánh, vừa cay lại vừa mặn như tạo giác, vừa cay vừa chua như ngư tinh thảo… cũng có khi có ba vị đắng, chua, mặn như tê giác Cá biệt có tới năm vị chua, cay, đắng, mặn, ngọt như ngũ vị tử… Theo quan niệm y học cổ truyền các vị của thuốc có tính chất, tác dụng là khác nhau

4.1 Vị cay (vị tân)

Có tính phát tán, giải biểu, phát hãn, hành huyết, giảm đau, khai khiếu Thường sử dụng các thuốc có vị cay trong các bệnh cảm mạo, đầy bụng, trướng bụng Nói chung các thuốc có vị cay được dùng để khử hàn, ôn trung, giảm đau

* ngoài năm vị nói trên thực tế còn có vị nhạt, chát

-Vị nhạt: Có tác dụng tăng tính thẩm thấp lợi thủy, lợi tiểu, thanh lọc, thanh nhiệt -Vị chát: Có tác dụng thu liễm, cố sáp như vị chua nhưng sát khuẩn, chống thối thì

mạnh hơn Ngoài ra vị chát còn có tác dụng kiện tỳ, sáp tinh

5 MỐI QUAN HỆ GIỮA TÍNH VÀ VỊ

Trên thực tế tính và vị có mối quan hệ hữu cơ với nhau Ví dụ như: Vị thuốc có tính hàn thường có vị đắng mặn… Thuốc có tính nhiệt thường có vị cay, thuốc có tính bình thường có

vị nhạt, chát… Khi nhận xét về vị của thuốc cần lưu ý với các vị thuốc có nhiều vị khác nhau, trường hợp này ta ưu tiên cho những vị có công năng rõ hơn lên trên

Ngoài ra ta cần chú ý một số quan hệ về tính và vị sau

5.1 Các vị thuốc có tính và vị giống nhau

Trang 5

Các thuốc có tính vị giống nhau thì có tác dụng giống nhau

Ma hoàng, hạnh nhân đều có tính ấm, nhưng ma hoàng có vị cay, tác dụng phát hãn, hạnh nhân có vị đắng, tác dụng hạ khí

Sơn thù du tính ấm, vị chua, tác dụng thu liễm Hoàng kì tính ấm, vị ngọt tác dụng bổ khí

5.3 Một số vị thuốc có vị giống nhau, tính khác nhau, tác dụng cũng khác nhau

Ví dụ:

Bạc hà vị cay, tính lương, tác dụng giải cảm nhiệt

Tô diệp vị cay, tính ôn, tác dụng giải cảm hàn

Sa nhân vị cay, tnhs ấm, tác dụng hành khí, giảm đau, kiện tỳ, hóa thấp

Phụ tử vị cay, tính nhiệt, tác dụng trợ dương, cứu nghịch

5.4 Những vị thuốc có tính và vị khác nhau có tác dụng khác nhau

Ví dụ:

Nhục quế vị cay, tính đại nhiệt, tác dụng ôn trung khử hàn

Hoàng liên vị đắng, tính hàn, tác dụng thanh nhiệt táo thấp

Ô mai vị chua, tính ấm, tác dụng thu liểm, chỉ ho, sinh tân, chỉ khát

5.5 Tính và vị của thuốc cũng thay đổi khi tiến hành chế biến theo các phương pháp chế của dược học cổ truyền và tác dụng của nó cũng thay đổi

Ví dụ:

Trang 6

Sinh địa vị đắng, tính hàn, tác dụng lương huyết Sau khi chế biến thành thục địa, tính trở nên ấm, vị ngọt, tác dụng bổ huyết

Đổ trọng vị ngọt, hơi cay sau khi trích muối có thêm vị mặn, tăng cường tác dụng bổ can thận…

6 KHUYNH HƯỚNG THĂNG, GIÁNG, PHÙ, TRẦM

Khuynh hướng thăng, giáng, phù, trầm chỉ 4 khuynh hướng tác dụng của thuốc cổ truyền, cầm nắm chắc khuynh hướng đó để phát huy hiệu quả sử dụng Khuynh hướng tác dụng của thuốc đa số các trường hợp là ngược chiều với bệnh mới đạt hiệu quả

6.1 Thăng

Khuynh hướng khí vị của thuốc hướng lên thượng tiêu Mục đích chữa các bệnh có khuynh hướng sa giáng Các vị thuốc chủ thăng thường có tính chất kiện tỳ ích, khí thăng dương khí như: Hoàng kỳ, đẳng sâm, thăng ma, sài hồ

6.2 Giáng

Khuynh hướng khí vị của thuốc hướng xuống hạ tiêu Mục dích chữa các bệnh có khuynh hướng đi lên thượng tiêu như hen suyễn khó thở, ho đờm, nôn mửa Các vị thuốc chủ giáng thường có tính chất hạ khí, giáng khí, bình suyễn như: Ma hoàng, hạnh nhân, cát cánh… (hạ phế, khí nghịch), thị đế, bán hạ, phục long can…(hạ vị khí nghịch)

6.3 Phù

Khuynh hướng khí vị của thuốc hướng ra bên ngoài (biểu) Mục đích chữa các bệnh có

xu hướng lấn sâu vào bên trong (lý) như cảm mạo phong hàn, phong nhiệt Các vị thuốc chủ phù thường có tính chất phát hãn, hát tán, giải biểu, hạ nhiệt như: Quế chi, phòng phong, tế tân, bạch chỉ…(tân ôn giải biểu), cát căn, cúc hoa, tang diệp, mạng

kinh tử… (tân lương giải biểu)

6.4 Trầm

Khuynh hướng khí vị của thuốc hướng đi vào bên trong (lý) Mục đích chữa các bệnh có

xu hướng ra ngoài (phù nổi ra ngoài biểu) như đạo hãn, tự hãn, phù thủng, mụn nhọt, ban chẩn, dị ứng, mẩn ngứa Các vị thuốc chủ trầm như: thuốc thẩm thấp lợi niệu (kim tiền thảo, sa tiền tử, tỳ giải…), thuốc tả hạ (đại hoàng, mang tiêu, trầm hương, tô mộc…) hoặc thuốc thanh nhiệt giải độc (liên kiều, bò công anh, kim ngân hoa, sài đất…)

Trang 7

* Tóm lại: Các thuốc có tính thăng phù có tác dụng phát hãn, thăng dương, tán hàn

Các thuốc có tính trầm giáng có tác dụng tiềm dương, giáng nghịch, thanh nhiệt, thẩm thấp, tả hạ, thu liễm Tuy nhiên các tác dụng nói trên không cố định mà có tính chất tương đối vì thông qua chế biến và phối ngũ các vị thuốc sẽ làm thay đổi hoặc giảm đi khuynh hướng vốn có của từng vị thuốc

Trog khi chế biến và sử dụng cũng cần chú ý: Các thuốc có tính thăng, phù không nên đun lâu và dùng lửa nhỏ (lửa văn), các thuốc có tính trầm, giáng thì có thể đun lâu và

7.2 Cơ sở của sự qui kinh

Dựa vào học thuyết ngũ hành, tạng tượng, kinh lạc, màu sắc, mùi vị và dựa vào thực tiễn lâm sàng từ đó biết được sự qui kinh của thuốc

Thuốc có màu xanh, vị chua qui vào hành mộc (tạng can, phù đởm), màu đỏ, vị đắng qui vào hành hỏa (tạng tâm, phủ tiểu tràng), màu vàng, vị ngọt qui vào hành thổ (tạng

tỳ, phủ vị), màu trắng, vị cay qui nạp vào hành kim (tạng phế, phủ đại tràng), màu đen,

vị mặn qui vào hành thủy (tạng thận, phủ bàng quang)

Sự qui kinh của thuốc mang tính chất tương đối Một số vị thuốc có tính, vị giống nhau nhưng sự qui kinh là khác nhau thì tác dụng cũng khác nhau như: Hoàng liên, hoàng

bá, hoàng cầm, chi tử đều có vị đắng, tính hàn; chúng đều có tác dụng là thanh nhiệt, nhưng hoàng liên qui vào kinh tâm có tác dụng thanh tâm; hoàng bá qui vào kinh thận

có tác dụng chữa thận hỏa, phế ung; chi tử qui vào kinh tam tiêu dùng trị tam tiêu hỏa Trong chế biến thuốc y học cổ truyền đã vận dụng sự qui kinh của thuốc để làm tăng tác dụng hoặc làm thay đổi tác dụng của thuốc nhằm đạt hiệu quả cao trong điều trị như: Đổ trọng, hương phụ, trạch tả… trích với muối ăn để tăng nạp thuốc vào kinh thần hay xương bồ tẩm với chu sa để tăng nạp thuốc vào kinh thần…

8.TƯƠNG TÁC THUỐC CỔ TRUYỀN

Thuốc cổ truyền có một số trường hợp tương tác sau:

Trang 8

8.1 Tương tu (tác dụng hiệp đồng)

Hai vị thuốc có tính, vị giống nhau khi phối hợp thì tác dụng điều trị tốt hơn như: Kim ngân phối hợp với liên kiều làm tăng tác dụng thanh nhiệt, giải độc khi trị bệnh mụn nhọt, lở ngứa, dị ứng Sinh địa kết hợp với huyền sâm tăng tác dụng lương huyết, chỉ huyết Hoàng liên dùng với liên tâm tăng tác dụng thanh tâm hỏa Đại hoàng dùng với

mang tiêu tăng tác dụng tả hạ…

8.2 Tương sử (tác dụng hiệp đồng của hai vị thuốc có tính vị khác nhau)

Hai vị thuốc có tính vị khác nhau, khi dùng chung tác dụng tăng lên như: Liên kiều vị đắng tính hàn, ngô thù du vị cay tính ấm khi dùng chung tác dụng cầm nôn tăng lên do chúng có khả năng hạn chế tiết nước bọt và dịch vị

8.3 Tương úy (ức chế độc tính của nhau)

Khi hai vị thuốc dùng chung, vị này ức chế độc tính của vị kia (nếu có) như: Sinh khương dùng chung với bán hạ, sinh khương làm mất tác dụng phụ gây kích ứng họng, buồn nôn, lợm giọng của bán hạ (bán hạ úy sinh khương) Nhân sâm úy ngũ linh chi, ô đầu úy tê giác, đinh hương úy uất kim,…

8.4 Tương ác (kiềm chế tính năng, tác dụng của nhau)

Khi hai vị thuốc dùng chung, vị này kiềm chế tính năng của vị kia như: Hoàng cầm dùng với sinh khương thì hoàng cầm sẽ kiềm chế tính ám của sinh khương (sinh khương vị cay, tính ấm; hoàng cầm vị đắng, tính hàn)…

8.5 Tương sát (tiêu trừ độc tính của nhau)

Khi phối hợp 2 vị thuốc với nhau, vị thuốc này có thể làm mất độc tính cảu vị thuốc kia như: Phòng phong trừ độc của thạch tín, đậu xanh trừ độc ba đậu Vì vậy, vận dụng tương sát để giải độc

8.6 Tương phản

Hai vị thuốc được gọi là tương phản khi dùng phối hợp sẽ gây ra phản ứng không tốt hay gây thêm độc tính cho cơ thể Ví dụ như: Ba đậu phản khiên ngưu; cam thảo phản cam toại; hải tảo, bạch cập phản bán hạ; bối mẫu, qua lâu nhân phản ô đầu; các loại sâm phản lệ lô…

Trang 9

Ngoài ra còn có đơn hành là khi dùng một vị thuốc cũng có thể phát huy được hiệu quả chữa bệnh như: Dùng riêng một vị nhân sâm (độc sâm thang) cũng có tác dụng bổ khí, nhất là khi cơ thể vô lực, thoát dương, mệt mỏi…

Một vị tam thất cũng có tác dụng chỉ huyết, bồi bổ cơ thể nhất là đối với phụ nữ

* Tóm lại: Khi tiến hành chế biến, phối hợp các vị thuốc trong một đơn thuốc cần lưu

ý các trường hợp tương tác nói trên, ta khai thác những tương tác có lợi cho sức khỏe

và tăng hiệu quả chữa bênh, đồng thời tránh các trường hợp tương phản, tương ác… để tránh các hậu quả không tốt và tác dụng kém khi dùng thuốc

B PHÂN LOẠI THUỐC CỔ TRUYỀN

Có nhiều phương pháp phân loại thuốc cổ truyền:

1 Phân loại theo tính chất (lấy độc tính làm trung tâm)

Phương pháp này dựa vào tính chất và tác dụng của thuốc để phân ra 3 loại:

- Thuốc thượng phẩm: Thuốc có tac dụng bổ dưỡng cơ thể là chính, không có độc tính

- Thuốc trung phẩm: Thuốc có tác dụng bổ dưỡng và chữa bệnh, có ít độc tính

- Thuốc hạ phẩm: Thuốc có tác dụng chữa bệnh nặng song có độc tính cao

2 Phân loại theo tính vị

Phương pháp này dựa vào tính vị thuốc để phân loại:

- Thuốc tân ôn giải biểu (thuốc giải biểu cay ấm)

- Thuốc tăng lương giải biểu (thuốc giải biểu cay mát)

- Thuốc ôn trung (thuốc làm ấm bên trong)

- Thuốc ôn bổ (thuốc bổ ấm)

3 Phân loại theo tác dụng chữa bệnh của y học cổ truyền

- Thuốc phát tán phong hàn

- Thuốc phát tán phong nhiệt

- Thuốc thanh nhiệt

- Thuốc trừ đờm, chỉ ho, bình suyễn

- Thuốc trấn kinh, an thần…

4 Phân loại dựa vào tính vị và tác dụng của thuốc

Trang 10

Đây là phương pháp phân loại phổ biến hiện nay Người ta dựa vào tính vị của thuốc đồng thời dựa vào tác dụng của chúng để phân ra nhiều loại:

- Thuốc khử hàn

- Thuốc thanh nhiệt

- Thuốc tân ôn giải biểu…

* Tóm lại: Có nhiều cách phân loại thuốc cổ truyền Song để tiện lợi cho việc học tập,

phân loại thuốc được tiến hành theo phương pháp 4 (kết hợp phương pháp 2 và 3)

CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ

* Trình bày các câu hỏi sau:

1 Hãy trình bày định nghĩa thuốc cổ truyền và thành phần cấu tạo nên phương thuốc cổ truyền ?

2 Tứ khí ngũ vị và mói quan hệ giữa tính và vị như thế nào ?

3 Nêu các khuynh hướng tác dụng của thuốc (thăng, giáng, phù, trầm) ?

4 Thế nào là qui kinh thuốc và các trường hợp tương tác thuocs y học cổ truyền ?

* Chọn câu đúng:

Câu 1: Trong thành phần của phương thuốc, quân là:

A Vị thuốc có tác dụng hỗ trợ để giải quyết triệu chứng chính, đồng thời cũng giải quyết một khía cạnh nào đó của bệnh

B Vị thuốc có tác dụng giải quyết một triệu chứng nào đó của bệnh

C Vị thuốc có tác dụng chính trong phương, có công năng chính, giải quyết triệu chứng chính của bệnh

D Vị thuốc có tác dụng dẫn thuốc vào kinh, hoặc giải quyết một trieeuj chứng phụ của bệnh

Câu 2: Trong thành phần của phương thuốc, sứ là:

A Vị thuốc có tác dụng hỗ trợ để giải quyết triệu chứng chính, đồng thời cũng giải quyết một khía cạnh nào đó của bệnh

B Vị thuốc có tác dụng giải quyết một triệu chứng nào đó của bệnh

C Vị thuốc có tác dụng chính trong phương, có công năng chính, giải quyết triệu chứng chính của bệnh

D Vị thuốc có tác đụngẫn thuốc vào kinh, hoặc giải quyết một triệu chứng phụ của bệnh

Trang 11

Câu 5: Về mối quan hệ giữa tính và vị của thuốc sau đây là đúng, ngoại trừ:

A Các thuốc có tính vị giống nhau thì có tác dụng giống nhau

B Những vị thuốc có tính và vị khác nhau có tác dụng khác nhau

C Một số vj thuốc cùng tính nhưng vị khác, tác dụng cũng khác nhau

D Những vị thuốc có vị giống nhau, tính khác nhau, tác dụng giống nhau

Câu 6: Khi mắc các bệnh có khuynh hướng sa giáng thì sử dụng thuốc có khuynh hướng:

Câu 7: Các bệnh như hen suyễn khó thở, ho đờm, nôn mửa Sử dụng thuốc có khí vị với khuynh hướng:

Câu 8: Về tương tác thuốc cổ truyền, tương úy nghĩa là:

A Hai vị thuốc có tính , vị giống nhau khi phối hợp thì tác dụng điều trị tốt hơn

B Hai vị thuốc có tính vị khác nhau, khi dùng chung tác dụng tăng lên

C Hai vị thuốc dùng chung, vị thuốc này có thể làm mất độc tính của vị thuốc kia

D Hai vị thuốc dùng chung, vị này ức chế độc tính của vị kia

Trang 12

Chương 6:

CHẾ BIẾN THUỐC THEO PHƯƠNG PHÁP CỔ TRUYỀN

MỤC TIÊU

1 Sau khi học xong sinh viên phải:

2 Trình bày được mục đích của việc chế biến thuốc theo phương pháp cổ truyền

3 Mô tả được các phương pháp chế biến thuốc cổ truyền

4 Trình bày được một số phụ liệu hay sử dụng trong chế biến thuốc cổ truyền

- Chế biến cổ truyền: Chế biến theo phương pháp khác nhau đã được ghi lại trong

y văn trên cơ sở lý luận y học cổ truyền (các học thuyết âm – dương, ngũ hành, kinh lạc,…) hoặc theo kinh nghiệm riêng của mỗi thầy thuốc Sản phẩm chế biến được coi

là thuốc, được sử dụng trực tiếp cho bệnh nhân hoặc bán thành phẩm để bào chế thành các dạng thuốc: cao, hoàn, bột,…

1 MỤC ĐÍCH VỀ CHẾ BIẾN THUỐC THEO PHƯƠNG PHÁP CỔ TRUYỀN

Trong những năm gần đây, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra tiêu chí mang tính tiêu chuẩn thuốc cổ truyền: an toàn, hiệu lực và hợp lý Tuy y học phương Đông chưa thành văn những tiêu chí này, nhưng qua hệ thống lý luận và giải pháp thực hiện thì chứng tỏ các thầy thuốc cổ truyền luôn quan tâm và thực hiện một cách nghiêm túc Mỗi vị thuốc có nhiều phương pháp chế khác nhau tùy thuộc vào mục đích trị bệnh và kinh nghiệm cảu thầy thuốc

Chế biến thuốc nhằm các mục đích sau:

1.1 Tạo ra tác dụng trị bệnh mới

Bản thân mỗi vị thuốc sống đều có những đặc trưng (tính, vị, quy kinh), tác dụng của riêng nó Qua chế biến, các vị thuốc sẽ bị thay đổi tính, vị, người ta thường chế với một số phụ liệu:

Trang 13

- Tăng tính ấm, giảm tính hàn của thuốc thì chế với dịch nước gừng, sa nhân, rượu

- Giảm tính nhiệt của vị thuốc thì chế với đồng tiện, dịch nước vo gạo

Một số vậy phẩm chỉ trở thành dược phẩm khi đã qua chế biến Các vị thuốc sao cháy đều có tác dụng cầm máu ( đen chỉ huyết)

Ví dụ - Sinh địa có vị đắng, ngọt, tính lương, tác dụng thanh nhiệt lương huyết

- Chế sinh địa thành thục địa có tính ôn, vị ngọt: tác dụng bổ âm, bổ huyết (do chưng với dịch nước gừng, sa nhân, rượu)

- Bồ hoàng sống có tác dụng hoạt huyết, bồ hoàng thán có tác dụng chỉ huyết

- Huyết dư (tóc người) không được coi là thuốc, huyết dư thán có tác dụng chỉ huyết

- Tăng tác dụng kiện tỳ, chế vị thuốc có màu vàng (sao vàng hoài sơn, ý dĩ, bạch truật…), vị ngọt (trích mật hoàng kỳ, bạch truật, đảng sâm…), mùi thơm (bạch ruật sao cám gạo, sao vàng)

- Tăng tác dụng dẫn thuốc vào thận, chế vị thuốc có màu đen (thán sao: bồ hoàng, hòe hoa, ngải diệp… tẩm dịch nước đậu đen: hà thủ ô đỏ…), vị mặn (trích muối: đỗ trọng, cẩu tích, trạch tả, phụ tử…)

- Tăng tác dụng dẫn thuốc vào can, đởm thì chế vị thuốc với phụ liệu vị chua (hương phụ trích giấm)

Trang 14

- Tăng tác dụng dẫn thuốc vào phế: chế vị thuốc với phụ liệu vị cay (trích gừng với bán hạ, đảng sâm)

- Tăng tác dụng dẫn thuốc vào tâm: chế vị thuốc với những phụ liệu có màu đỏ,

vị đắng

1.2.2 Hiệp đồng tác dụng vị thuốc với phụ liệu

Chế vị thuốc với phụ liệu có tác dụng trị bệnh tương tự để hợp đồng tác dụng của nhau

Ví dụ: Bán hạ trích dịch gừng tăng hiệu lực chống nôn

Bán hạ trích cam thảo, bồ kết: tăng hiệu lực chỉ ho, long đờm

Hoàng kì trích mật tăng tác dụng bổ phế, tỳ

Bạch truật chế sữa tăng tác dụng bổ

1.2.3 Chuyển hóa tác dụng theo chiều hướng tăng hiệu lực trị bệnh

Trong quá trình chế biến, nhiều yếu tố tham gia gây ảnh hưởng đến tác dụng của

vị thuốc như: Nhiệt độ, độ ẩm, độ pH, phụ liệu… Các yếu tố này có thể gây ra tác dụng thuận hoặc nghịch Qua thực tế, thầy thuốc đã chọn lựa phương pháp chế biến theo chiều hướng tăng hiệu lực trị bệnh

1.2.4 Tăng hàm lượng hoạt chất trong vị thuốc theo 2 cách

Chế biến sẽ làm giảm hoặc làm mất các thành phần hóa học (chất nhầy, pectin, lipid, protein…) cản trở sự khuếch tán các hoạt chất

Chế biến làm giảm độ bền cơ học vị thuốc, vì thế là tăng hiệu suất khuếch tán hoạt chất, tăng hiệu lực trị bệnh

Ví dụ: Vỏ các loại sò: mẫu lệ, cửu khổng, trân chân mẫu… nung, tôi trong giấm

Chế biến có thể làm tăng hàm lượng một số hoạt chất do làm giảm khối lượng vị thuốc (giảm độ ẩm)

1.3 Giảm tác dụng không mong muốn, tăng độ an toàn của vị thuốc

1.3.1 Giảm độc tính của thuốc

Các vị thuốc được ghi là do có độc thì đều được chế biến để làm giảm độ độc Khái niệm độc theo y học cổ truyền chia thành 2 loại:

Trang 15

- Những vị thuốc độc có thể gây nguy hiểm cho người dùng như: Gây ngộ độc, thậm chí gây tử vong Những vị thuốc này thường được xếp vào độc bảng A, bảng B, như phụ tử, mã tiền, hoàng nàn, ba đậu, thần sa, thường sơn

- Một số vị thuốc có tác dụng quá mạnh, gây rối loạn chức năng có thể, như: Một

số vị thuốc trong nhóm thuốc trục thủy (cam toại, đại kích, khiên ngưu tử, thương lục…) Một số vị thuốc có thể kích ứng gây: Mẫn ngứa, phát ban (bán hạ, nam tinh…) Phương pháp làm giảm độc: Tùy theo từng vị thuốc cụ thể, có thể áp dụng các phương pháp làm giảm độc sau:

Phương pháp hỏa chế: Thường dùng mức nhiệt cao, thời gian dài

Ví dụ

Ba đậu chế thành ba đậu sương bằng cách sao đen, sử dụng nhiệt độ 190 –

2000C

Mã tiền chế, thường sao vàng đậm, cháy cạnh, nhiệt độ sao khoảng 170 – 1900C

- Phương pháp thủy chế: Sử dụng tác động của nước hay dịch phụ liệu có pH khác nhau gây tác động khác nhau

+ Loại trừ chất độc bằng phương pháp ngâm, nhiều chất độc tan được trong dịch phụ liệu nên khi ta loại bỏ dịch ngâm là loại bỏ thành phần độc

Ngâm bán hạ trong nước vôi trong, vị ngứa bị mất trong 72 giờ ngâm

- Phương pháp thủy hỏa hợp chế: Dùng phương pháp chưng, đồ, nấu (nhiệt độ khoảng 1000C trong môi trường nước) thúc đẩy nhanh quá trình giảm độc

Trang 16

1.3.2 Giảm tác dụng không mong muốn khác

Một số vị thuốc có gây rối loạn một số chức năng chuyển hóa thông thường như gây: Đầy bụng, tiêu chảy, mẩn ngứa, táo bón… Có thể chọn cách chế biến phù hợp thì hạn chế được tác dụng bất lợi đó Mỗi vị thuốc có nhiều tác dụng khác nhau.Trong bệnh cảm cụ thể thì tác dụng này được sử dụng trị bệnh, nhưng tác dụng kia có thể gây tác dụng bất lợi Thầy thuốc có thể điều hòa vị thuốc bằng cách chế biến riêng, hoặc chọn cách chế biến phù hợp Một số chất vô cơ dễ tan thì bị loại trừ khi ngâm

1.4 Ổn định tác dụng của thuốc

Một số vị thuốc dễ bị giảm tác dụng trong quá trình bảo quản, người ta chế biến nhằm bảo tồn tác dụng vốn có của nó Trong dược liệu có hoạt chất dễ bị phân hủy, nhất là các dược liệu có chứa hoạt chất nhóm glycosid (Flavonoid, saponosid, antranoid, glycosid tim…) thì việc bảo tồn hoạt chất chính là bảo tồn hiệu lực trị bệnh

Ví dụ: Hòe hoa sao qua, sao vàng để hạn chế sự phân hủy rutin

1.5 Bảo quản thuốc

Thuốc có nguồn gốc từ cây cỏ, động vật Môi trường nóng, ẩm thuận lợi cho việc hút ẩm gây nấm mốc, sâu mọt Nóng, ẩm còn là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển, enzym hoạt động làm hỏng hoặc làm giảm tác dụng của thuốc Mặt khác, trong mỗi vị thuốc có chưa nhiều thành phần hóa học khác nhau Một số thành phần có tác dụng trị bệnh Một số thành phần khác lại tạo ra môi trường thuận lợi để phát triển nấm mốc, sâu mọt như: chất lipit, protid, glucid, đường (glucose, fructose…), acid amin, chất nhầy, pectin Quá trình chế biến có thể làm giảm hoặc mất ảnh hưởng của các thành phần này, vì thế thời gian bảo quản kéo dài hơn Pectin, chất nhầy, một số

Trang 17

protein (albumin) bị đong vón khi nhiệt chế (sao, nấu) hoặc chế với rượu Acid amin, đường bị loại một phần khi ngâm trong dịch nước Đường bị caramen hóa khi sao ở nhiệt độ cao (sao vàng, sao đen) tạo thành chất bảo vệ

Chế biến thuốc có ý nghĩa sau:

- Giảm độ ẩm, vị thuốc khô và thơm

- Thay đổi tính chất một số thành phần hóa học dễ gây nấm mốc

- Diệt men gây phân hủy hoạt chất

- Tạo thành chất bảo vệ cho vị thuốc

1.6 Làm sạch thuốc

Loại trừ tạp chất khi thu hoạch

Loại trừ bộ phận không dùng làm thuốc, thu đúng bộ phận làm thuốc

Ví dụ

Hạnh nhân: bỏ vỏ; tang bạch bì: cạo bỏ vỏ; kim anh tử: bỏ hạt…

Tinh chế thuốc: một số vị thuốc là khoáng vật có tính chất thăng hoa như: lưu huỳnh, thủy ngân, thạch tín… có thể dùng phương pháp chế sương (nung kín) để thu laayss hoạt chất tinh khiết, loại bỏ tạp chất (các chất vô cơ khác không có tính chất thăng hoa)

Việc phân chia vị thuốc còn mang ý nghĩa thương phẩm

2 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẾ BIẾN

Chế biến thuốc cổ truyền là phương pháp chế biến các nguyên liệu làm thuốc đã qua sơ chế thành dạng phiến (thuốc chín) Các phương pháp chế dựa trên nguyên lý

Trang 18

của các học thuyết âm dương, ngũ hành, tạng tượng hoặc theo kinh nghiệm Thuốc phiến được dùng trong các dạng thuốc thang, thuốc chè (ẩm), thuốc bột (tán), thuốc viên (đan, đơn, hoàn) thuốc cao

Chế biến thuốc cổ truyền gồm 3 phương pháp chính là: Hỏa chế, thủy chế, thủy hỏa hợp chế và một số phương pháp khác

2.1 Hỏa chế (phương pháp chỉ dùng lửa)

Hỏa chế là phương pháp chế biến sử dụng sự tác động của nhiệt độ trực tiếp hoặc gián tiếp (qua các phụ liệu trung gian) ở các mức nhiệt khác nhau

2.1.1 Mục đích

- Tăng tính ấm, giảm tính hàn của vị thuốc Lửa thuộc nhiệt, thuộc dương Hỏa chế nghĩa là đưa thêm phần nhiệt, phần dương vào vị thuốc, làm giảm tính hàn cho vị thuốc đó

Ví dụ

+Đại hoàng tính hàn, tác dụng nhuận tẩy Đại hoàng sao cháy có thể gây táo bón Khi sao cháy, anthranoid bị thăng hoa nên tác dụng nhuận tẩy bị giảm, nhưng tanin vẫn tồn tại gây táo bón

+Thục địa tính ôn, tác dụng bổ huyết, sinh tân dịch Dùng thục địa cho bệnh nhân

tỳ dương hư sẽ gây đầy trướng bụng, rối loạn tiêu hóa Thục địa sao khô sẽ hạn chế tác dụng này

+Gạo sao đen dùng để trị chứng ỉa chảy mất nước, do nhiệt làm tăng tính ấm

- Giảm độc tính, giảm tác dụng quá mạnh của thuốc: thường dùng nhiệt độ cao phân hủy các chất gây độc của thuốc

Ví dụ:

+Mã tiền sao cát ở nhiệt độ 200 – 2500C Mã tiền gán trong dầu lạc, dầu vừng, nhiệt độ sôi ở khoảng 2000C

+ Ba đậu sao đen ở nhiệt độ 200 – 2400C

+ Bán hạ nam sao ở nhiệt độ 2000C thì độ ngứa mất hoàn toàn sau 30 phút

- Ổn đinh hoạt chất trong vị thuốc khi sao qua, sao vàng

Trang 19

+ Các vị thuốc có chứa glycosid hoặc thành phần hóa học khác có cấu trúc không bền vững dưới tác động của các men, trong điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, độ pH thích hợp các men đó sẽ phân hủy các thành phần hóa học này làm giảm hiệu lực trị bệnh

+ Ở 30 – 400C, hoạt tính của men là tối đa Nhiệt độ cao hơn sẽ làm giảm hoạt tính; ở 1000C thì hoạt tính men mất hoàn toàn

+ Hỏa chế làm khô sản phẩm và diệt men Nhằm mục đích diệt men nên chế ở nhiệt độ 1000C

- Giảm độ bền cơ học của vị thuốc ở nhiệt độ cao, các chất hữu cơ bị phân hủy, các liên kết hữu cơ bị phá vỡ làm giảm độ bền của thuốc

Chú ý

Một số hợp chất tự nhiên bị thăng hoa như anthranoid, coumarin một số alcaloid (cafein) hoặc tinh dầu dễ bị bay hơi ở nhiệt độ cao nên khi chế biến, phải chọn phương pháp phù hợp

40 0 C

Trang 20

- Sao vàng (hoàng sao): Nhiệt độ cao khoảng 100 – 6000C Sao vàng để tăng tác dụng quy tỳ, tăng mùi thơm Vị thuốc có màu vàng, mùi thơm

Ví dụ: Hoài sơn, ý dĩ, bạch truật

- Sao vàng cháy cạnh: Sao vàng nhưng cạnh phiến thuốc có màu đen, cháy Sao vàng cháy cạnh để giảm bớt mùi vị khó chịu của thuốc

Ví dụ: Chỉ thực, chỉ sác

- Sao vàng hạ thổ: Sao vàng, đổ thuốc xuống hố đất đã được chuẩn bị trước hạ thổ nhằm cân bằng âm dương cho vị thuốc Thực chất, đây là phương pháp hạ nhiệt độ nhanh, tránh sự ảnh hưởng tiếp theo của nhiệt độ

- Sao đen (hắc sao): Nhiệt độ sao khoảng 180 – 2400C Sao đen để tăng tác dụng tiêu thực, giảm tính mãnh liệt của vị thuốc Vị thuốc bề mặt ngoài có màu đen, bên trong có màu vàng

Ví dụ: Táo nhân sao đen (hắc táo nhân)

- Sao cháy (thán sao): Nhiệt độ khoảng 180 – 2400C Sao cháy để tăng tác dụng cầm máu Vị thuốc: mặt màu đen, bên trong màu nâu đen

Ví dụ: Trắc bách diệp thán, hòe hoa thán, ngải diệp thán

Ở nhiệt độ 180 – 2400C, một số thành phần hóa học bị phân hủy, nhưng một số khác vẫn tồn tại vì thế sao cháy, sao đen không đồng nghĩa với vô cơ hóa

Nhiệt độ cho sản phẩm sao đen, sao cháy đều khoảng 180 – 2400C Kĩ thuật sao khác nhau

* Sao gián tiếp

Là phương pháp sao mà vị thuốc được truyền nhiệt qua phụ liệu trung gian

- Sao cách gạo (mễ sao): Để tăng tác dụng kiện tỳ, giảm tính khô táo của thuốc

- Sao cách cát: Nhiệt độ khoảng 200 – 2500C Sao cách cát để truyền nhiệt đồng đều vào thuốc, thuốc chịu tác động của nhiệt độ cao và đồng ddeuf

Ví dụ: Sao hạt mã tiền, sao xuyên sơn giáp

- Sao cách hoạt thạch hoặc văn cáp (vỏ các loại sò) Hoạt thạch được tán thành bột mịn, văn cáp được nung tán thành bột: Hai loại bột này được dùng để sao một số vị thuốc như: Cao thuốc, a giao, nhằm tránh kết dính Nhiệt độ sao khoảng 2000C

Trang 21

- Chế than hoạt tính, thành phần là carbon và những chất vô cơ khác

- Sản phẩm nung xương động vật gồm: Carbon, CaCO3, Ca3(PO4)2, sắt oxyd, sắt silic, Al, Mg, một số muối hà tan

- Sản phẩm nung mẫu lệ, cửu khổng là các chất vô cơ, muối vô cơ…

2.1.2.3 Chế sương

Chế sương là phương pháp nung kín, thường áp dụng để tinh chế thuốc có nguồn gốc khoáng vật, hoạt chất vô cơ có tính chất thăng hoa Ở nhiệt độ cao, hoạt chất thăng hoa, tách ra khỏi các tạp chất khác Các vị thuốc thường hay áp dụng phương pháp chế sương như: S, khinh phấn (thủy phân clorua), thạch tín

2.1.2.4 Lùi (vùi, ổi)

Bọc thuốc vào giấy ẩm hay bột hồ ẩm,bột cám gạo rồi vùi vào tro nóng đến khi khô, bóc bỏ lớp vỏ ngoài

Lùi để giảm bớt chất dầu trong vị thuốc, giảm chất kích úng của thuốc

Ví dụ: Chế mộc hương, cam toại

2.2 Thủy chế (phương pháp chế biến chỉ dùng nước)

Thủy chế là phương pháp chế biến mà sử dụng sự tác động của nước hoặc dịch phụ liệu ở những mức độ khác nhau trong điều kiện nhiệt độ tự nhiên nhằm đáp ứng

Trang 22

những mục đích khác nhau Tùy theo mục đích mà sử dụng lượng nước hoặc dịch phụ liệu khác nhau, thời gian khác nhau Dịch phụ liệu có thể là dịch nước cam thảo, nước đậu đen, nước vo gạo, nước phèn chua, nước muối ăn

2.2.1 Mục đích

- Giảm độc tính, giảm tác dụng không mong muốn

- Thay đổi thành phần hóa học có trong dược liệu

- Thay đổi tác dụng điều trị do chuyển hóa thành phần hóa học theo chiều hướng

có lợi cho mục đích điều trị như lên men

Ví dụ:

Địa hoàng có lượng đường là 1,2%, khi chế thành sinh địa lượng đường trên 10%

- Giảm tính bền vững cơ học của vị thuốc, tăng khả năng giải phóng hoạt chất do

tế bào hút nước và trương nở

- Làm mềm dược liệu, giúp cho việc phân chia (bào, thái ) được dễ dàng

- Bảo quản thuốc

Trang 23

- Dịch ngâm có pH trung tính: Nước, dịch nước bồ kết, cam thảo, gừng, đậu đen

- Dịch ngâm có pH acid: Giấm, nước, phèn chua

- Dịch ngâm có pH thay đổi như:

+ Dịch nước vo gạo sau khi ngâm 1 ngày có thể chuyển từ pH trung tính sang pH acid do bị lên men

+ Nước đồng tiện sau khi ngâm 1 ngày có thể chuyển từ pH trung tính sang pH kiềm do NH3

Khả năng hòa tan của một số thành phần hóa học có trong dược liệu trong dịch ngâm

Trang 24

Một số thành phần hóa học khả năng hòa tan còn phụ thuộc đồng thời vào nhiều yếu tố khác nhau

* Thời gian ngâm:

Phụ thuộc vào từng vị thuốc cụ thể

- Ngâm đến khi dịch ngâm được ngấm hoàn toàn vào vị thuốc

- Cùng một vị thuốc nhưng mùa đông ngâm kéo dài hơn mùa hè

- Ngâm để đạt mục đích riêng

Ví dụ

Phụ tử ngâm đến khi mất vị tê, cay

Bán hạ ngâm đến khi hết “nhân trắng đục”

Hoài sơn ngâm đến khi nước ngấm đều toàn bộ

+ Hoàng kì tẩm mật ong để tăng tác dụng nhuận bổ…

- Ủ để len men: thời gian ủ khác nhau thùy thuộc vào từng vị thuốc cụ thể, ủ đến khi có lớp mốc mọc đều, mốc có thể có màu trắng hoặc vàng

Trang 25

Rửa: Dùng nước để rửa sạch các tạp chất cơ học

2.2.2.4 Thủy phi

Thủy phi là phương pháp tán thuốc ở trong nước thành dạng bột mịn, thường áp dụng với một số vị thuốc có nguồn gốc là khoáng vật như chu sa (thần sa)

Mục đích:

Tránh sụ tăng nhiệt độ trong khi tán do ma sát sinh ra

Thu được bột thuốc nhỏ mịn

Tránh được bay bụi thuốc

Cách chế: Cho vị thuốc vào cối sành hoặc sứ, cho nước vào nghiền kỹ, khuấy đều, vớt bỏ tạp chất, gạn lấy dịch nước đục có chứa các hạt thuốc nhỏ mịn Cho thêm nước, tiếp tục nghiền cắn lắng ở dưới, rồi gạn lại Làm nhiều lần như vậy đến khi thu được toàn bộ thuốc Để bột thuốc lắng xuống, gạn bỏ nước trong Bột thu được mang phơi đến khi khô (có thể dùng rượu thay thế nước)

2.3 Thủy hỏa hợp chế (phương pháp chế biến phói hợp nước và lửa)

Thủy hỏa hợp chế là phương pháp sử dụng sự tác động của nước ở nhiệt độ sôi

2.3.1 Chưng

Đun cách thủy vị thuốc với nước hay dịch phụ liệu

2.3.1.1 Mục đích:

Chuyển hóa thuốc trong điều kiện nước ở nhiệt độ cao khoảng 1000C

Ví dụ: Chưng sinh địa thành thục địa

Giảm tác dụng phụ của thuốc

Ví dụ: Hoàng tinh có vị ngứa, chưng thành thục hoàng tinh có vị ngọt, hết ngứa 2.3.1.2 Cách chế

Thuốc dùng dịch phụ liệu cho vào nồi nhỏ Tất cả được đặt trong nồi to có chứa nước Đun đến khi đạt tiêu chuẩn và quá trình đun cần bổ sung dịch phụ liệu vào thuốc

và nước ở nồi ngoài

2.3.1.3 Thời gian chưng:

Cổ truyền: Chưng theo phương pháp “cửu chưng, cửu sái” ( 9 lần chưng, 9 lần phơi; đêm thì chưng, ngày thì phơi)

Trang 26

Hiện nay: Chưng liên tục 3 ngày, 3 đêm, phơi (hoặc sấy) Tẩm đến khi hết dịch chưng thì phơi, sấy đến khô

Ví dụ: Chế thục địa, hoàng tinh

Chú ý: Nếu chưng không đủ thời gian thì vị thuốc dễ bị mốc, nếu chưng đủ thời

gian, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật thì vị thuốc thơm, bảo quản được lâu, ít bị mốc mọt

2.3.2 Trích

Trích là phương pháp tẩm vào vị thuốc một hay nhiều loại dịch phụ liệu, ủ đế khi thấm đều thì sao hoặc nướng Việc lựa chọn dịch phụ liệu cụ thể cho từng vị thuốc dựa trên cơ sở lý thuyết của học thuyết ngũ hành

2.3.2.1 Mục đích

- Tăng tác dụng trị bệnh

Ví dụ

+ Bán hạ trích dịch nước gừng để tăng tác dụng chống nôn, trích dịch cam thảo

để tăng tác dụng long đờm, giảm ho

+ Bạch truật trích mật ong để tăng tác dụng nhuận, kiện tỳ, bổ khí

- Thay đổi tính vị, khuynh hướng tác dụng của thuốc

+ Tăng tác dung thăng của thuốc thì chế với rượu

+ Tăng tác dụng thu liễm giảm đau thì chế với giấm

+ Tăng tác dụng trầm giáng thì chế với nước muối

- Thay đổi độ pH của môi trường: pH ảnh hưởng đến độ tan của thành phần hóa học trong thuốc Nhiều dịch độ pH khác nhau, khí tẩm vào thuốc sẽ làm thay đổi pH của thuốc

Trang 27

2.3.2.2 Phụ liệu trích

Phụ liệu thường được chế dưới dạng dịch nước, dịch cồn, dung dịch Một số dịch phụ liệu thường dùng: Nước gừng, rượu sa nhân, nước cam thảo, nước vo gạo, nước đậu đen, hước hoàng thổ, bích thổ, dịch mật ong, dung dịch nước muối, giấm, rượu

Nấu thuốc nhiều lần, thu dịch nấu, gộp lại, cô đặc để dùng

Sác thuốc thường dùng cho chiết xuất thuốc thang hoặc cao thuốc Thuốc thang

có 2 phương pháp sắc:

- Văn hỏa: Sắc thuốc nhỏ lửa, thời gian nấu kéo dài 1-4 giờ, thường áp dụng cho

thuốc có cấu trúc rắn, chắc như các bài thuốc bổ văn hỏa để thu vị của thuốc

- Vũ hỏa: Sắc thuốc lửa to, dịch thuốc sôi mạnh, thời gian đun khoảng 15-30

phút Vũ hỏa thường áp dụng sắc các thang thuốc có chứa tinh dầu như: Quế chi thang, tang cúc ẩm… các bài thuốc có tác dụng giải biểu, tán phong hàn, hành khí trệ Vũ hỏa

để khi thu khí của thuốc

2.3.6 Tôi

Tôi là phương pháp nung vị thuốc ở nhiệt độ caco, rồi nhúng vào nước hay ịch phụ liệu Tôi thường áp dụng đối với những vị thuốc có nguồn gốc từ khoáng vật như: Cửu khổng, mẫu lệ, trân châu mẫu

Tôi nhằm mục đích

- Giảm độ bền cơ học của thuốc

- Giảm thành phần hóa học bất lợi sinh ra trong quá trình nung

Trang 28

Ví dụ: Nung thời gain dài mẫu lệ, cửu khổng thì có thể hình thành CaO, nấu sắc hoặc hòa tan bằng nước tạo thành Ca(OH)2 Tôi trong giấm để trung hòa Ca(OH)2

Đun sôi dầu, cho thuốc vào, tiếp tục đun cho đến khi đạt tiêu chuẩn Lấy thuốc

ra, để chảy hết dầu, lấy giấy bản lau khô

Ví dụ: Mã tiền (hạt) đun trong dầu sôi đến khi có màu vàng cánh gián, vị đắng nhẹ 2.4.2 Chế thuốc dạng khác (dạng bánh)

Thuốc được chế dưới dạng thuốc bánh như thần khúc, bán hạ khúc

Trang 29

THUỐC GIẢI BIỂU – THUỐC THANH NHIỆT

1 THUỐC GIẢI BIỂU

Thuốc giải biểu còn gọi là thuốc giải cảm, là thuốc có tác dụng phát hãn Dùng

để đưa ngoại tà (phong, hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài bằng đường mồ hôi, chữa những bệnh còn ở biểu (ngoài da) không cho xâm nhập vào lý (bên trong)

Thuốc giải biểu được dùng tùy theo từng trường hợp cụ thể Trong cảm mạo có

ho, nhiều đờm, khó thở, có thể phối hợp thuốc chỉ ho, hóa đờm, bình suyễn, kèm đau ngực kết hợp thuốc hành khí,…

Chỉ dùng thuốc giải biểu khi cần thiết với liều nhất định vì khí vị của chúng chủ thăng, chủ tán dễ làm hao tổn tân dịch nên khi tà đã giải thì ngưng sử dụng Khi tà đã nhập lý thì có thể dùng phương pháp biểu lý song giải

* Cấm kỵ: Các trường hợp đổ mồ hôi nhiều không cầm được (tự hãn), hay đổ mồ hôi trộm (đạo hãn); giai đoạn phục hồi của các bệnh truyền nhiễm hay các ban chẩn đã bay, mụn nhọt đã vỡ

1.1 Tân ôn giải biểu

Đặc điểm chung:

- Có vị cay, tính ấm, phần lớn qui về kinh phế

- Công năng chung phát tán phong hàn, phát hãn, giải biểu, chỉ thống, làm thông dương khí, thông kinh hoạt lạc

- Dùng chữa các bệnh cảm mạo phong hàn: sốt, ớn lạnh, đau đầu, đau mình, nghẹt mũi, chảy mũi…, đau dây thần kinh do lạnh, viêm mũi dị ứng…

1.1.1 Quế chi

Là cành nhỏ của nhiều loại quế (Cirnamomum cassia) thuộc họ long não (Laraceae)

- Tính vị quy kinh: Cay, ngọt, ấm vào kinh phế, tâm, bàng quang

- Tác dụng: Phát hạn, giải biểu, thông kinh lạc, thông dương khí

- Ứng dụng LS: Chữa cảm phong hàn, đau nức khớp, ứ nước, bí tiểu

- Liều dùng: 2- 12 g/ ngày

Trang 30

1.1.2 Kinh giới

Dùng thân và lá của cây kinh giới (Elsholtzra cristana) thuộc họ hoa môi (Labiatae)

- Tính vị quy kinh: Cay, ấm vào kinh phế, can

- Tác dụng: Giảm cảm, khu phong, chữa về huyết

- Ứng dụng LS: Chữa cảm phong hần, sởi thời kì đầu kinh giới sao đen: chữa ói ra máu, cháy máu mũi, đi cầu ra máu

- Liều dùng: 6- 12 g/ ngày

1.1.3 Tía tô

Còn gọi là Tử tô Dùng toàn cây trên mặt đất, phơi khô của cây tía tô (Perillao cymoideis) thuộc họ Hoa môi (Labiatae)

Ngoài ra còn dùng: Hạt phơi khô gọi là Tô tử

Lá tía tô gọi là Tô diệp

Cành tía tô gọi là Tô ngạnh

- Tính vị quy kinh: Cay, ấm vào kinh phế, tỳ

- Tính vị quy kinh: Cay, ấm vào kinh phế, vị, tỳ

- Tác dụng: Giải cảm, trừ hàn, trị ói, tiêu đờm, hành thủy

- Ứng dụng LS: Chữa cảm phong hàn, ói mửa, ho do lạnh, đầy hơi

- Liều dùng: 4- 12 gram

Trang 31

1.1.5 Bạch chỉ

Là rễ phơi khô của cây Bạch chỉ (Angelica dahurica) thuộc họ Hoa tán (Umbelliferae) (Lưu ý: không phải cây Nam bạch chỉ (Robinia amera) thuộc họ Đậu cánh bướm)

- Tính vị quy kinh: Cay, ấm vào kinh phế, vị

- Tác dụng: Trừ hàn, giảm đau, chống viêm

- Ứng dụng LS: Chữa cảm lạnh, nhức đầu, đau răng, làm bớt mủ trong viêm tuyến vú, áp xe vú

- Liều dùng: 4- 12 gram

* Một số vị thuốc cùng nhóm: Ma hoàng, khương hoạt, tế tân, hương nhu, phòng

phong, thông bạch, hồ tuy

1.2 Tân lương giải biểu

Đặc điểm chung:

- Có vị cay, tính mát, phần lớn quy về kinh phế

- Tác dụng chữa cảm phong nhiệt (sốt cao, đau đầu, ho khan, khàn giọng), viêm họng, giai đoạn khởi phát của các bệnh truyền nhiễm có biểu hiện lâm sàng: sự nóng, nhức đầu, mắt đỏ, họng đỏ, miệng khô, rêu lưỡi vàng hay trắng dày, chất lưỡi đỏ, mạch phù sác Làm mọc các nốt ban chẩn (sởi, thủy đậu)

Trang 32

- Tính vị quy kinh: Ngọt, đắng, lạnh vào kinh phế, can

- Tác dụng: Trừ phong nhiệt, lương huyết, bổ phế

- Ứng dụng LS: Chữa cảm sốt, viêm màng tiếp hợp cấp Giải dị ứng, cầm máu, chữa ho, viêm họng

- Liều dùng: 8- 16 gram

1.2.3 Cúc hoa

Dùng hoa của cây Cúc (Chrysanthemum indicum), dùng cả hai loại hoa trắng và hoa vàng đều được

- Tính vị quy kinh: Ngọt, đắng, tính hơi hàn vào kinh phế, can, thận

- Tác dụng: Giải cảm nhiệt, giải độc

- Ứng dụng LS: Chữa cam sốt kèm theo rét, thấy đau đầu hoặc đau mắt, viêm kết mạc mắt, hạ huyết áp, chữa mụn nhọt đinh độc

- Liều dùng: 8- 16 gram

1.2.4 Cát căn

Dùng rễ phơi khô của cây sắn dây (Pueraria thomsoni Benth), thuộc họ Đậu (Fabaceae)

- Tính vị quy kinh: Ngọt, cay, tính bình vào kinh tỳ, vị

- Tác dụng: Giải cảm phong nhiệt, giải độc, sinh tân chỉ khát

- Ứng dụng lâm sàng: Chữa sốt cao khát nước, đau cứng cổ gáy Làm cho ban sởi mọc hoàn toàn

- Liều dùng: 4-24 gram

1.2.5 Sài hồ

Dùng rễ và lá của cây Sài hồ (Buplerum sinense DC), thuộc họ Hoa tán (Apiaceae)

- Tính vị quy kinh: Đắng, hơi hàn vào kinh can, đởm, tâm bào, tam tiêu

- Tác dụng: Sơ can giải uất, ích tinh sáng mắt

- Ứng dụng LS: Chữa cảm sốt, chữa hoa mắt chóng mặt do can khí uất trệ, chữa nác cục, sốt rét

Trang 33

- Liều dùng: 8- 16 gram

* Một số vị thuốc cùng nhóm: Thuyền thoái, ngưu bàng tử, mạn kinh tử, thăng ma,

phù bình, thanh cao

2 THUỐC THANH NHIỆT

Chứng nhiệt trong người có nhiều nguyên nhân sinh ra: nhiệt sinh ra do quá trình chuyển hóa cơ bản của cơ thể, nhiệt tà từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể Thuốc thanh nhiệt là những thuốc có tính chất hàn lương, có tác dụng thanh trừ nhiệt độc của cơ thể, lấy lại sự cân bằng âm dương cho cơ thể

Phân loại: gồm 5 nhóm

 Thanh nhiệt giải độc: do nhiệt độc gây các bệnh nhiễm khuẩn và truyền nhiễm

 Thanh nhiệt giáng hỏa: do hỏa độc phạm vào phần khí hay kinh dương minh

 Thanh nhiệt lương huyết: do huyết nhiệt gây tạng nhiệt

 Thanh nhiệt táo thấp: do thấp nhiệt gây các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục, tiết niệu và tiêu hóa

 Thanh nhiệt giải thử: do thử tà gây ra

* Cấm kỵ:

Không dùng khi bệnh còn ở biểu

Tỳ vị hư nhược: ăn không ngon, tiêu chảy

Mất máu nhiều sau khi sinh

2.1 Thanh nhiệt giải độc

Có tác dụng thanh trừ nhiệt độc trong cơ thể, giú cơ thể tăng thải chất độc, có thể dùng để dự phòng nhiễm độc

Chữa các chứng: mụn nhọt, sang lỡ, mẩn ngứa, dị ứng nội sinh, côn trùng cắn đốt, ngộ độc hoặc dị ứng thức ăn

2.1.1 Bồ công anh

Dùng toàn cây bỏ rễ của cây Bồ công anh (Lacheca indica) còn gọi là cay mũi mác, cây diếp dại, thuộc họ Cúc (Compositeae)

- Tính vị quy kinh: đắng, ngọt, lạnh vào kinh can, vị

- Tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm

Trang 34

- Ứng dụng LS: Chữa mụn nhọt, viêm cơ bắp, viêm hạch, viêm đường tiết niệu, viêm tuyến vú

- Liều dùng: 8 – 20 gram

2.1.2 Kim ngân hoa

Dùng hoa lúc chưa nở đem phơi khô của cây Kim ngân (Lonicera japonica) thuộc họ Kim ngân (caprifrolaceae) Nếu dùng cành và lá của cây kim ngân gọi là Kim ngân đằng

- Tính vị quy kinh: Ngọt, lạnh vào kinh phế, vị, tâm

- Tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, lương huyết

- Ứng dụng LS: Chữa các bệnh nhiễm khuẩn: sốt cao, mụn nhọt, viêm họng, viêm tuyến vú Chữa lỵ trực trùng, đại tiện ra máu Chữa các bệnh dị ứng: ban ngứa, đau khớp

- Liều dùng: 12 – 20 gram

2.1.3 Ngư tinh Thảo

Dùng toàn cây bỏ rễ của cây diếp cá Houttuynia cordata

- Tính vị quy kinh: Vị cay chua tính hàn vào phế, đại tràng, bàng quang

- Ứng dụng LS:

+ Thanh nhiệt giải độc: dùng trong trường hợp viêm phế quản, viêm phổi, áp

xe phổi

+ Trị sốt cao, sốt rét

+ Trị chứng bàng quang thấp nhiệt, bí tiểu tiện

- Liều dùng: 12 – 20 gram/ ngày

2.2 Thanh nhiệt giáng hỏa

Đa số thuốc có tính đại hàn, tác dụng hạ hỏa, thanh tâm nhiệt, trừ phiền chỉ khát, chữa các chứng sốt cao, mê man, phát cuồng, nói nhảm

Ngày đăng: 28/06/2023, 21:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w