1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bg sinh ly duoc phan 2 1383

120 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sinh Lý Hệ Sinh Dục
Trường học Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Sinh Lý Dược
Thể loại Bài giảng
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Dạng kết hợp: Carbohydrat có thể kết hợp với các chất lipid hoặc protein thành dạng glycolipid hoặc glycoprotein và tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào ở các mô trong cơ thể.. K

Trang 1

SINH LÝ HỆ SINH DỤC

Với vai trò duy trì nòi giống, hệ sinh dục ở nam và nữ thực hiện hai chức năng chính là chức năng ngoại tiết tạo ra giao tử và chức năng nội tiết tạo ra hormon sinh dục Hoạt động của hệ sinh dục gắn liền với hoạt động của trục vùng hạ đồi-tuyến yên-tuyến sinh dục (GnRH-FSH, LH-hormon sinh dục) Đời sống sinh sản được đánh dấu bằng các hiện tượng dậy thì và mãn dục Quá trình mang thai và nuôi con cũng có nhiều thay đổi trong cơ thể để giúp người phụ nữ

thực hiện thiên chức làm vợ và làm mẹ

SINH LÝ SINH DỤC NAM

Mục tiêu:

1 Trình bày được chức năng ngoại tiết và nội tiết của tinh hoàn

2 Phân tích được các hiện tượng trong hoạt động sinh dục nam

1 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CHỨC NĂNG

Bộ máy sinh dục nam gồm 3 phần chính:

- Dương vật: niệu đạo nằm trong thể xốp, mô cương gồm hai thể hang, thần kinh và mạch máu

- Bìu: nằm ngoài khoang cơ thể Trong bìu có tinh hoàn và mào tinh + Tinh hoàn: nhiều thùy, mỗi thùy nhiều ống sinh tinh, giữa các ống sinh tinh có tế bào kẽ (tế bào Leydig)

+ Mào tinh: Dài 6m, tiếp nối các ống sinh tinh

- Ống dẫn tinh và các tuyến phụ thuộc: ống dẫn tinh tiếp nối mào tinh hoàn, đổ vào niệu đạo Các tuyến ngoại tiết đổ dịch vào đường sinh dục nam là túi tinh, tiền liệt tuyến, tuyến hành niệu đạo

2 CHỨC NĂNG CỦA TINH HOÀN

2.1 Chức năng tạo tinh trùng

Trang 2

2.1.1 Quá trình hình thành và dự trữ tinh trùng

- Sản sinh tinh trùng: xảy ra ở ống sinh tinh, tạo 120 triệu tinh trùng/ngày Tiến trình này mất 74 ngày từ tế bào mầm nguyên thủy (2n nhiễm sắc thể) 

tinh bào bậc I (2n)  tinh bào bậc II (n)  tiền tinh trùng (n)  tinh trùng (n)

- Sự thành thục (trưởng thành) tinh trùng: xảy ra ở mào tinh làm tinh trùng bắt đầu có khả năng di động theo đường thẳng 4mm/phút

- Dự trữ tinh trùng: xảy ra ở ống dẫn tinh dưới dạng không hoạt động và

có thể duy trì khả năng thụ tinh trong 1 tháng, nếu không phóng tinh tinh trùng

sẽ tự tiêu hủy

2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tinh trùng

* Các hormon:

- GnRH (vùng hạ đồi) kích thích tuyến yên bài tiết FSH và LH

- FSH (tuyến yên) kích thích sản sinh tinh trùng

- LH (tuyến yên) kích thích tế bào Leydig bài tiết testosteron

- Testosteron (tinh hoàn) kích thích sản sinh tinh trùng

- Inhibin (tinh hoàn) ức chế bài tiết FSH dẫn đến làm giảm sản sinh tinh trùng

- Somatomedin (gan), T3-T4 (tuyến giáp) kích thích sản sinh tinh trùng

* Các yếu tố khác:

- Nhiệt độ:

+ Nhiệt độ thích hợp cho sản sinh tinh trùng là nhiệt độ thấp hơn thân nhiệt từ 1-20C Để đảm bảo nhiệt độ này, tinh hoàn phải được đưa từ ở bụng xuống bìu trong thời kỳ bào thai Bên cạnh đó khả năng thải nhiệt ở bìu rất tốt bằng cơ chế đối lưu và cơ Dartos của bìu còn có thể co dãn theo nhiệt độ môi trường

+ Nhiệt độ thích hợp cho hoạt động tinh trùng là 370C và đây cũng chính

là nhiệt độ của đường sinh dục nữ Khi nhiệt độ giảm, Hoạt động của tinh trùng

sẽ giảm Người ta bảo quản tinh trùng ở -1750

C

- Độ pH: pH trung tính hoặc hơi kiềm, tinh trùng sẽ hoạt động mạnh Khi

pH acid, tinh trùng sẽ giảm hoạt động và có thể bị giết chết pH âm đạo của phụ

Trang 3

nữ tuổi sinh sản là pH acid, do vậy để bảo vệ tinh trùng thì tinh dịch phóng ra phải có pH kiềm

- Kháng thể: tinh trùng bị tiêu diệt bởi kháng thể có trong máu và dịch thể Ngoài ra, một số ít phụ nữ có kháng thể kháng tinh trùng ở đường sinh dục, những phụ nữ này sẽ bị vô sinh

- Rượu, thuốc lá, ma túy, tia X, tia phóng xạ, virus quai bị, căng thẳng kéo dài có thể làm giảm sản sinh và ảnh hưởng lên chất lượng tinh trùng

2.2 Chức năng nội tiết

+ Làm xuất hiện và bảo tồn các đặc tính sinh dục nam thứ phát từ tuổi dậy thì như tóc cứng và thô, mọc nhiều lông, râu; giọng nói trầm do dây thanh âm phì đại; da dày, thô, mụn trứng cá; phát triển cơ xương, phát triển cơ quan sinh dục; tâm lý mạnh mẽ, hướng ngoại, thích người khác giới

+ Kích thích sản sinh tinh trùng: kích thích sự hình thành tinh nguyên bào,

sự phân chia giảm nhiễm từ tinh bào II thành tiền tinh trùng Testosteron cũng kích thích tế bào Sertoli tổng hợp và bài tiết protein nuôi dưỡng tinh trùng

+ Đồng hóa prorein, phát triển hệ thống cơ xương: hệ thống cơ bắp phát triển mạnh, lắng đọng protein ở da làm da dày, ở thanh quản làm phì đại niêm mạc thanh quản, tăng tổng hợp protein của khung xương Gây cốt hóa sụn liên hợp đầu xương, tăng hoạt động tạo xương, làm khung chậu phát triển theo hình ống

Trang 4

+ Tăng chuyển hóa cơ sở

+ Tăng số lượng hồng cầu

+ Tái hấp thu Na+

và nước ở ống lượn xa

- Điều hòa bài tiết:

+ Bào thai: HCG kích thích bài tiết testosteron

+ Trưởng thành: LH kích thích bài tiết testosteron

2.2.2 Inhibin

- Nguồn gốc: tế bào Sertoli

- Bản chất: glycoprotein, trọng lượng phân tử 10.000-30.000

- Tác dụng: ức chế bài tiết FSH dẫn đến giảm sản sinh tinh trùng

- Điều hòa: khi sản sinh tinh trùng quá nhiều sẽ kích thích bài tiết inhibin

3 HOẠT ĐỘNG SINH DỤC NAM

3.1 Hiện tượng cương

- Cương là một phản xạ tủy Cung phản xạ:

+ Bộ phận nhận cảm: receptor xúc giác ở dương vật do kích thích cơ học

và ở vỏ não do kích thích tâm lý

+ Sợi hướng tâm: dây thần kinh thẹn trong

+ Trung tâm: đoạn thắt lưng của tủy sống

+ Sợi ly tâm: sợi phó giao cảm trong dây thần kinh tạng

+ Đáp ứng: dãn các tiểu động mạch ở dương vật, tổ chức cương của dương vật chứa đầy máu, tĩnh mạch bị ép lại làm nghẽn dòng máu ra Dương vật

to, dài ra và rất cứng

- Các xung động giao cảm làm co các tiểu động mạch gây chấm dứt hiện tượng cương, dương vật nhỏ và mềm lại

3.2 Hiện tượng phóng tinh

Phóng tinh là một phản xạ tủy gồm 2 giai đoạn:

3.2.1 Tinh dịch di chuyển vào niệu đạo

- Bộ phận nhận cảm: receptor xúc giác ở dương vật, da quanh bộ phận sinh dục, bụng, mặt trước đùi

- Sợi hướng tâm: dây thần kinh thẹn trong

Trang 5

- Trung tâm: đoạn thắt lưng trên của tủy sống

- Sợi ly tâm: sợi giao cảm trong dây thần kinh hạ vị

- Đáp ứng: co cơ trơn ống dẫn tinh, túi tinh, tiền liệt tuyến đẩy tinh trùng

và dịch các tuyến vào niệu đạo

3.2.2 Xuất tinh

- Trung tâm: đoạn thắt lưng dưới và cùng trên của tủy sống

- Sợi ly tâm: dây thần kinh cùng 1-3 và dây thần kinh thẹn trong

- Đáp ứng: co các cơ hành hang đẩy tinh dịch ra khỏi niệu đạo vào lúc cực khoái (orgasm)

3.3 Vai trò của các tuyến phụ thuộc

+ Đẩy tinh trùng ra khỏi niệu đạo

+ Dinh dưỡng cho tinh trùng

+ Tăng tiếp nhận tinh trùng và giúp tinh trùng di chuyển về phía loa vòi trứng

+ Bảo vệ tinh trùng trong đường sinh dục nữ

3.3.2 Dịch tiền liệt tuyến

+ Đông nhẹ tinh dịch ngay sau phóng tinh, tăng tiếp nhận tinh trùng

+ Loãng tinh dịch trở lại sau 15-30 phút giúp tinh trùng hoạt động trở lại + Giúp tinh trùng di chuyển về phía loa vòi trứng

3.4 Tinh dịch

Trang 6

- Tinh dịch là dịch được phóng ra vào lúc cực khoái Đây là một hỗn dịch: 10% dịch ống dẫn tinh (có tinh trùng), 60% dịch túi tinh, 30% dịch tiền liệt tuyến, một lượng nhỏ từ các tuyến khác

- Tiêu chuẩn tinh dịch bình thường theo WHO 2010:

Thời gian ly giải: 15-60 phút

+ Tinh trùng:

Tổng số tinh trùng 39 triệu Mật độ tinh trùng 15triệu/mL

Di động tiến tới (PR) 32% hoặc PR+NP (không tiến tới) 40% Hình dạng bình thường 4%

1 Trình bày được chức năng nội tiết và ngoại tiết của buồng trứng

2 Phân tích được các thay đổi sinh học trong chu kỳ kinh nguyệt

1 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CHỨC NĂNG

Bộ máy sinh dục nữ bao gồm 2 phần chính:

- Cơ quan sinh dục ngoài: âm hộ, âm đạo và tầng sinh môn

Trang 7

- Cơ quan sinh dục trong:

+ Tử cung: cổ tử cung, thân tử cung và đáy tử cung

+ Vòi trứng: tiếp nối từ đáy tử cung ra ngoài và tạo thành loa vòi bao phủ buồng trứng

Đời sống sinh sản của người phụ nữ bắt đầu từ tuổi dậy thì đến mãn kinh,

có hai hiện tượng quan trọng nhất diễn tiến theo chu kỳ là chu kỳ buồng trứng

và chu kỳ nội mạc tử cung

2 CHỨC NĂNG CỦA BUỒNG TRỨNG

2.1 Chức năng tạo trứng và hoàng thể

Quá trình tạo trứng và hoàng thể lập đi lập lại trong đời sống sinh sản tạo thành chu kỳ buồng trứng Một chu kỳ gồm các giai đoạn:

* iai đoạn nang trứng:

Lúc người phụ nữ đang hành kinh, ở buồng trứng chỉ có các nang trứng nguyên thủy, trong mỗi nang có một noãn Noãn là giao tử cái mang bộ nhiễm sắc thể đơn bội

Từ sau khi hành kinh đến trước khi phóng noãn, 6-12 nang trứng nguyên thủy phát triển to lên thành nang trứng sơ cấp, nang trứng thứ cấp và nang trứng

có hốc Trong quá trình này một số nang trứng tiếp tục bị thoái hóa để đến khi phóng noãn thường chỉ còn lại một nang Đi cùng sự phát triển của nang trứng là

sự hình thành ngày càng rõ của hai lớp áo, lớp áo ngoài là vỏ xơ bao xung quanh nang trứng và lớp áo trong với các tế bào có hạt bao quanh noãn Lớp áo trong này chính là bộ phận nội tiết của nang trứng bài tiết estrogen và progesteron mà chủ yếu là estrogen Hốc chứa dịch bên trong nang trứng cũng lớn dần lên và đẩy noãn về một cực của nang

Trang 8

* iai đoạn phóng no n:

Nang trứng có hốc Estrogen

Nang trứng chín

Progesteron

Men phân giải protein Nang trứng xung huyết và

bài tiết prostaglandin Thành nang yếu Thấm huyết tương vào nang Thoái hóa thành nang

Vỡ nang

Phóng no n Hoàng thể (+)

Sơ đồ 1 1 Cơ chế phóng no n

Thời điểm phóng noãn là khoảng giữa chu kỳ kinh nguyệt (trước ngày hành kinh của chu kỳ sau 12-16 ngày) Thông thường mỗi chu kỳ chỉ phóng một noãn duy nhất và trong toàn bộ đời sống sinh sản có khoảng 400-500 nang trứng phát triển đến phóng noãn

Cơ chế phóng noãn: vào khoảng gần giữa chu kỳ kinh nguyệt, nồng độ estrogen trong máu tăng cao có tác dụng feedback(+) làm tuyến yên tăng bài tiết FSH và LH Khi đạt đến đỉnh FSH/LH=1/3 thì nang trứng chín, đồng thời dưới tác dụng của LH nang trứng bắt đầu tăng bài tiết progesteron, progesteron sẽ gây

ra một số biến đổi tại nang trứng dẫn đến phóng noãn

Trứng rụng nằm trên bề mặt buồng trứng được loa vòi đón lấy và đưa vào 1/3 ngoài loa vòi Nếu không thụ tinh, trứng sẽ tự thoái hoá

* Giai đoạn hoàng thể:

Hoàng thể được hình thành từ phần còn lại của nang trứng sau khi phóng noãn, ngấm mỡ và có màu vàng Hoàng thể bài tiết hormon progesteron và estrogen mà chủ yếu là progesteron Sự phát triển và thoái hóa của hoàng thể:

Trang 9

- Khi không có thai: hoàng thể phát triển to nhất 7-8 ngày sau phóng noãn rồi thoái hóa và giảm dần bài tiết hormon Đời sống hoàng thể khoảng 12-14 ngày

- Khi có thai: hoàng thể tiếp tục duy trì đời sống sau 14 ngày và phát triển tối đa vào tháng thứ 3 Sau tháng thứ 4 hoàng thể ngừng hoạt động, thoái hóa và nhau thai sẽ thay thế hoàng thể bài tiết progesteron và estrogen

2.2 Chức năng nội tiết

Buồng trứng bài tiết 2 hormon sinh dục chính: estrogen và progesteron

* Tác dụng

- Làm xuất hiện và bảo tồn các đặc tính sinh dục nữ thứ phát từ tuổi dậy thì đến lúc mãn kinh như tóc dài, mượt, mọc lông mu; giọng nói trong do dây thanh âm mỏng; lắng đọng mỡ dưới da làm dáng vẻ mềm mại; tâm lý mềm mỏng, hướng nội, thích người khác phái

Trang 10

+ Cổ tử cung: làm các tế bào tuyến cổ tử cung tiết nhiều chất nhầy trong, dai và loãng

- Trên vòi trứng: tăng sinh mô tuyến niêm mạc, tăng số lượng và hoạt động của các tế bào biểu mô lông rung

- Trên âm đạo: phát triển biểu mô âm đạo thành dạng tầng với 4 lớp và làm cho bào tương các tế bào biểu mô tích trữ nhiều glycogen Trực khuẩn

thường trú ở âm đạo là Doderlein sẽ sử dụng glycogen tạo ra acid lactic làm cho

pH âm đạo có tính acid (3,8-4,2)

- Tên tuyến vú: phát triển hệ thống ống tuyến, mô đệm; tăng lắng đọng

mỡ ở vú

- Trên chuyển hoá: tăng tổng hợp protein ở các mô đích., tăng lắng đọng

mỡ dưới da đặc biệt ở ngực, mông, đùi để tạo dáng nữ, giảm nồng độ cholesterol toàn phần và tăng nhẹ giữ nước và Na+

+ Cơ tử cung: giảm co bóp cơ tử cung

+ Nội mạc tử cung: tiếp tục làm tăng trưởng nội mạc tử cung lớp chức năng, làm các động mạch dài ra, xoắn lại, các tuyến dài ra ngoằn ngoèo và bài tiết dịch có chứa nhiều glycogen vào trong lòng tử cung gọi là “sữa tử cung”

+ Cổ tử cung: làm các tế bào biểu mô của niêm mạc cổ tử cung bài tiết một lớp dịch đục, đặc và bở

Trang 11

- Trên vòi trứng: giảm hoạt động của các tế bào có lông niêm mạc vòi trứng, kích thích niêm mạc vòi trứng tiết dịch chứa chất dinh dưỡng

- Trên âm đạo: bong các lớp trên của biểu mô âm đạo làm niêm mạc âm đạo mỏng đi

- Trên tuyến vú: phát triển thuỳ và nang tuyến làm các tế bào tăng sinh, to lên và trở nên có khả năng bài tiết

- Trên chuyển hóa: tăng tái hấp thu Na+, Cl- và nước ở ống lượn xa

- Tăng nhiệt độ cơ thể lên 0,3-0,5oC

2.3 Điều hoà chức năng buồng trứng

- Vùng hạ đồi bài tiết GnRH kích thích thuỳ trước tuyến yên bài tiết FSH

- Nang trứng phát triển và hoàng thể bài tiết estrogen và progesteron có tác dụng feedback âm lên sự bài tiết GnRH và FSH, LH (đặc biệt là khi có mặt

cả estrogen và progesteron) Chỉ riêng thời điểm 24-48 giờ trước khi phóng noãn, nồng độ estrogen trong máu rất cao đã kích thích tuyến yên bài tiết FSH

và LH (feedback dương) dẫn đến nồng độ hai hormon này tăng cao, nhất là LH (gấp 3 lần FSH)

- Hoàng thể bài tiết inhibin có tác dụng ức chế tuyến yên bài tiết FSH, tác dụng này xảy ra vào cuối chu kỳ kinh nguyệt làm giảm FSH và LH ở thời điểm này

- Võ não: các cảm xúc tâm lý cũng có ảnh hưởng lên trục vùng hạ đồi - tuyến yên - buồng trứng

3 CHU K KINH NGUYỆT

Trang 12

Chu kỳ kinh nguyệt (chu kỳ nội mạc tử cung) là sự biến đổi ở niêm mạc

tử cung và gây chảy máu một cách có chu kỳ Chu kỳ kinh nguyệt có độ dài khoảng 25-32 ngày, trung bình 28 ngày gồm 3 giai đoạn

3.1 Giai đoạn tăng sinh (giai đoạn estrogen, giai đoạn nang tố) (N 5-N14)

- Tuyến yên: bài tiết FSH và LH tăng dần mà chủ yếu là FSH

- Buồng trứng: dưới tác dụng của FSH và LH, 6-12 nang trứng phát triển

và bài tiết estrogen, progesteron mà chủ yếu là estrogen Nồng độ estrogen tăng dần trong máu

- Tử cung: dưới tác dụng của estrogen, lớp chức năng nội mạc tử cung phát triển làm niêm mạc tử cung dày 3-4mm Các tuyến dài dần, thẳng, không tiết dịch và xuất hiện các động mạch thẳng

- Cuối giai đoạn này: 24-48 giờ trước phóng noãn, estrogen tăng cao gây feedback (+) làm tăng bài tiết FSH và LH lên rất cao, đặc biệt là LH Nồng độ FSH và LH cao nhất là khoảng 16 giờ trước phóng noãn với tỷ số FSH/LH=1/3 rồi giảm xuống Dưới tác dụng của FSH và LH, ở buồng trứng:

+ Nang trứng tăng cường bài tiết estrogen đạt đến đỉnh rồi bắt đầu giảm xuống ngay trước khi phóng noãn

+ Chỉ còn 1 nang trứng phát triển đến chín, các nang khác thoái hoá

+ Dưới tác dụng của LH, nang trứng bắt đầu tăng bài tiết progesteron Chính progesteron sẽ gây phóng noãn kết thúc giai đoạn tăng sinh

3.2 Giai đoạn phân tiết (giai đoạn progesteron, giai đoạn hoàng thể tố) (N N28)

14 Tuyến yên: bài tiết FSH và LH mà chủ yếu là LH

- Buồng trứng: dưới tác dụng của LH, hoàng thể được thành lập, phát triển to nhất 7-8 ngày sau khi phóng noãn và bài tiết tăng dần chủ yếu là progesteron và một phần estrogen

- Tử cung: dưới tác dụng của progesteron và estrogen lớp chức năng nội mạc tử cung phát triển rất mạnh làm niêm mạc tử cung dày 5-6mm Các tuyến dài ra, ngoằn ngoèo và bắt đầu bài tiết dịch trong gọi là “sữa tử cung” Các động mạch xoắn lại

Trang 13

- Cuối giai đoạn này: estrogen và progesteron tăng cao phối hợp nhau gây feedback âm làm ức chế tuyến yên bài tiết LH Ở buồng trứng, mất tác dụng của

LH, hoàng thể thoái hoá teo lại, không bài tiết estrogen và progesteron, nồng độ hai hormone này mà đặc biệt là progesteron giảm đột ngột Kết quả là niêm mạc tử cung bắt đầu bị thoái hoá giữa lớp nền và lớp chức năng (khoảng 2 ngày trước khi hành kinh)

Hình 1 1 Chu k kinh nguyệt

3.3 Giai đoạn hành kinh (N 1 -N 5 )

- Tuyến yên: bài tiết FSH và LH rất ít

- Buồng trứng: hoàng thể đã thoái hoá hoàn toàn, chỉ tồn tại các nang trứng nguyên thủy nên hầu như không bài tiết progesteron và estrogen

- Tử cung: mất tác dụng của progesteron và estrogen làm nội mạc tử cung lớp chức năng bị thoái hóa thật sự, các động mạch xoắn co thắt, niêm mạc tử cung không được nuôi dưỡng, bị hoại tử giải phóng chất co mạch thuộc nhóm

Trang 14

prostaglandin tiếp tục gây co thắt động mạch xoắn Khi động mạch chức năng

vỡ, máu chảy ra dưới lớp niêm mạc chức năng Máu đông lại sau đó tan ra làm tróc lớp niêm mạc chức năng đã hoại tử

- Kết quả của giai đoạn này là niêm mạc tử cung chỉ còn lại lớp nền và phần bong chảy ra gây hiện tượng hành kinh Ngày chảy máu đầu tiên là ngày thứ nhất của chu kỳ kinh nguyệt, thời gian hành kinh trung bình 3-5 ngày Tính chất của máu kinh nguyệt:

+ Trung bình 30-80mL/lần hành kinh

+ Chủ yếu là máu động mạch, 25% là máu tĩnh mạch

+ Máu màu đỏ sẫm, không đông

+ Thành phần: các thành phần của máu, chất nhầy cổ tử cung, mảnh vụn của niêm mạc tử cung, tế bào niêm mạc âm đạo và nhiều vi trùng trường trú trong âm đạo

ĐỜI SỐNG SINH SẢN

Mục tiêu:

1 Trình bày được các giai đoạn dậy thì và mãn kinh

2 Trình bày được quá trình mang thai và nuôi con bằng sữa mẹ

3 Xác định được cơ sở sinh lý của các biện pháp tránh thai

- Phát triển nhanh cơ thể về chiều cao và trọng lượng

Trang 15

- Phát triển cơ quan sinh dục và bắt đầu hoạt động, có khả năng mang thai

- Xuất hiện các đặc tính sinh dục thứ phát về cách mọc tóc, mọc lông, giọng nói, hình thể, tâm lý tạo sự khác biệt lớn giữa nam và nữ

Tuổi dậy thì ở nữ khoảng 13-14 tuổi, ở nam khoảng 15-16 tuổi Tuổi dậy thì đang có khuynh hướng ngày càng sớm đặc biệt là ở các xã hội phát triển Tuổi được đánh dấu bằng lần có kinh đầu tiên ở nữ và lần xuất tinh đầu tiên ở nam Tuy nhiên ở nam thường khó xác định thời điểm dậy thì nên phải dựa vào

sự phát triển của tinh hoàn >4cm3, dài >2cm và sự xuất hiện của các đặc điểm sinh dục thứ phát

Cho đến thời điểm này chưa rõ cơ chế dậy thì Giả thuyết về cơ chế dậy thì là do sự “chín” (trưởng thành) của hệ viền (hệ Limbic) dẫn đến vùng hạ đồi bắt đầu bài tiết GnRH theo dạng xung động GnRH kích thích tuyến yên bài tiết FSH và LH, bắt đầu kích thích tuyến sinh dục hoạt động sản xuất các hormon sinh dục

- Ở nữ, hoạt động sinh sản sẽ chấm dứt vào thời kỳ mãn kinh Đây là thời

kỳ buồng trứng ngừng hoạt động, không rụng trứng, chu kỳ kinh nguyệt thưa dần rồi hết hẳn, nồng độ các hormon sinh dục nữ giảm xuống rất thấp

+ Tuổi mãn kinh khoảng 45-55 tuổi Trước 40 tuổi là mãn kinh sớm, sau

55 tuổi là mãn kinh muộn Tuổi mãn kinh đang có khuynh hướng ngày càng muộn đi đặc biệt là ở các xã hội phát triển

Trang 16

+ Cơ chế của mãn kinh: số lượng noãn bào giảm đáng kể, buồng trứng trở nên kém nhạy cảm đối với những kích thích từ trục hạ đồi - tuyến yên - buồng trứng

+ Biểu hiện: ở giai đoạn tiền mãn kinh khoảng 2-5 năm trước khi mãn kinh thật sự có rối loạn về kinh nguyệt, tăng cân, trằn vùng bụng dưới, đau vú, cơn bốc hỏa, tiết mồ hôi đêm, lo âu, căng thẳng, cáu gắt Mãn kinh thật sự được chẩn đoán sau 12 tháng liên tiếp vô kinh: buồng trứng teo nhỏ, các nang trứng thoái hóa, không có kinh nguyệt, bộ phận sinh dục ngoài teo nhỏ, âm đạo khô, hết ham muốn tình dục, giao hợp đau rát, thay đổi về hình thể, xuất hiện các nguy cơ bệnh lý xơ vữa động mạch, loãng xương, nhiễm trùng sinh dục và tiết niệu, đái tháo đường typ 2

Trang 17

SINH LÝ HỆ NỘI TIẾT

Có hai hệ thống chính điều hòa các chức năng cơ thể là hệ thần kinh thông qua cơ chế thần kinh và hệ nội tiết thông qua cơ chế thể dịch Hệ nội tiết bao gồm các tuyến nội tiết nhỏ, nằm rải rác, không liên quan về mặt giải phẫu nhưng lại liên quan rất chặt chẽ về mặt chức năng Bên cạnh đó, có thể nói tất cả các cơ quan và tế bào trong cơ thể đều làm nhiệm vụ nội tiết

Về mặt mô học, tuyến nội tiết là những tuyến không có ống dẫn, sản phẩm bài tiết (hormon) được đổ thẳng vào máu Cấu tạo của tuyến nội tiết gồm hai phần: phần chế tiết tạo thành từng đám tế bào có nhiệm vụ tổng hợp và phóng thích hormon, lưới mao mạch phong phú bao bọc xung quanh các tế bào chế tiết có nhiệm vụ tiếp nhận hormon đưa vào hệ thống tuần hoàn Các tuyến nội tiết chính trong cơ thể gồm: vùng hạ đồi, tuyến yên, tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến tụy, tuyến thượng thận và tuyến sinh dục

ĐẠI CƯƠNG VỀ HORMON

Mục tiêu:

1 Trình bày được các khái niệm về hormon, mô đích, receptor

2 Phân loại hormon và nêu được các đặc điểm chung trong quá trình sinh tổng hợp, bài tiết, vận chuyển hormon

3 Phân tích được hai cơ chế tác dụng của hormon

4 Trình bày được các cơ chế điều hòa hoạt động hệ nội tiết

1 KHÁI NIỆM VỀ HORMON, MÔ ĐÍCH VÀ RECEPTOR

1.1 Khái niệm về hormon

- Quan niệm trước đây: hormon là một chất trung gian hóa học, được bài tiết bởi các tế bào chuyên biệt nằm trong các tuyến nội tiết và được chuyên chở

Trang 18

trong máu đến các tế bào đáp ứng với nó (tế bào đích) nhằm điều hòa quá trình chuyển hóa của các tế bào này

- Quan niệm hiện nay: hormon có thể là một trong ba chất sau:

+ Hormon chung (general hormone): là những hormon theo quan niệm cổ điển Ví dụ: các hormon của vùng hạ đồi, tuyến yên, tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến tụy, tuyến thượng thận và tuyến sinh dục

+ Hoạt chất sinh học: là những chất trung gian hóa học do các cơ quan không phải là tuyến nội tiết chế tiết, được dòng máu phân phối và có tác dụng sinh học trên mô đích Ví dụ: gan tiết angiotensinogen (angiotensin I - angiotensin II); thận tiết renin, erythropoietin, 1,25dihydroxycholecalciferol; tim tiết atrial natriuretic peptid

+ Hormon địa phương (local hormone): là những chất trung gian hóa học

do các tế bào chế tiết vào dịch gian bào và có tác dụng sinh học tại chỗ Hormon địa phương có thể tác động theo một trong hai phương thức là cận tiết (paracrine) và tự tiết (autocrine) Ví dụ: thần kinh phó giao cảm tiết acetylcholin,

tế bào S niêm mạc tá tràng tiết secretin, tế bào T niêm mạc tá - hỗng tràng tiết cholecystokinin

1.2 Khái niệm về mô đích (target tissues)

Mô đích là mô chịu sự tác động của hormon một cách đặc hiệu Những trường hợp đặc biệt:

- Có những hormon mà mô đích của nó là tất cả hoặc hầu như tất cả các tế bào của cơ thể, ví dụ: somatomedin (gan), T3, T4 (tuyến giáp)

- Có thể tuyến nội tiết này lại là mô đích cho hormon của tuyến nội tiết khác, ví dụ: tuyến giáp là mô đích của hormon TSH do tuyến yên tiết ra

1.3 Khái niệm về receptor chuyên biệt (specific receptor)

Receptor là chất tiếp nhận hormon ở mô đích Mỗi receptor có tính đặc hiệu cao đối với một loại hormon Bản chất của receptor là protein, đôi khi là glycoprotein Mỗi tế bào có khoảng 2.000-100.000 receptor Vị trí của các receptor:

Trang 19

+ Receptor nằm trong màng hoặc trên bề mặt màng bào tương tế bào đích: tiếp nhận hormon peptid và catecholamin

+ Receptor nằm trong bào tương tế bào đích: tiếp nhận hormon steroid + Receptor nằm trong nhân tế bào đích: tiếp nhận hormon T3, T4

2 PHÂN LOẠI VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA HORMON TRONG QUÁ TRÌNH SINH TỔNG HỢP, BÀI TIẾT VÀ V N CHUYỂN

2.1 Phân loại hormon

Hormon có thể chia thành hai loại tan trong nước và tan trong dầu, tuy nhiên người ta thường chia thành 3 loại theo theo bản chất hóa học:

* Hormon peptid, là các hormon có bản chất là peptid hoặc protein Các hormon

này có thể chỉ là một chuỗi peptid hoặc nhiều chuỗi peptid được liên kết nhau bằng cầu nối disulfur (-S-S-) Một số hormon có thêm gốc carbohydrat tạo thành glycoprotein (như: FSH, TSH, LH, HCG) Hormon peptid gồm:

- Hormon vùng hạ đồi: như TRH là một tripeptid

- Hormon tuyến yên:

+ Thùy trước: protein hoặc polypeptid

+ Thùy sau: ADH và oxytocin là những peptid có 9 acid amin

- Hormon tuyến cận giáp: parathormon là một polypeptid

- Hormon tuyến tụy: insulin, glucagon là những polypeptid

* Hormon acid amin, là các dẫn xuất của acid amin như:

- Dẫn xuất của acid amin tyrosin: hormon tuyến giáp (T3, T4), hormon tủy thượng thận (catecholamin: epinephrin và norepinephrin)

- Dẫn xuất của acid amin tryptophan như melatonin, serotonin

- Dẫn xuất của acid amin histidin như histamin

- Dẫn xuất của acid amin glutamic như GABA

* Hormon lipid, là các dẫn xuất của lipid như:

- Hormon là dẫn xuất của acid béo, thường là các hormon địa phương Ví dụ: hormon của tuyến tiền liệt, của các tế bào ruột, gan (như các prostaglandin)

- Hormon steroid là các dẫn xuất của lipid có nhân steroid Ví dụ: hormon

vỏ thượng thận (mineralocorticoid, glucocorticoid, androgen), hormon sinh dục

Trang 20

(buồng trứng, nhau thai: estrogen, progesteron, tinh hoàn: testosteron), hormon của da - gan - thận (vitamin D3)

2.2 Sinh tổng hợp, bài tiết và vận chuyển hormon trong máu

2.2.1 Sinh tổng hợp và bài tiết hormon

* Hormon peptid :

Hormon peptid được tổng hợp thông qua quá trình sinh tổng hợp protein với nguyên liệu là các acid amin Quá trình này diễn ra trong nhân (sao mã), ribosom (dịch mã), sản phẩm tạo thành là preprohormon sẽ được đưa vào mạng lưới nội bào tương có hạt Tại đây, preprohormon được chuyển thành prohormon

và đưa đến bộ golgi Tại bộ golgi, dạng hoạt động của hormon được hình thành và

dự trữ sẵn đủ để đáp ứng nhanh chóng cho các kích thích gây bài tiết Các kích thích này cũng đồng thời xúc tiến việc tạo hormon mới

* Hormon acid amin:

Được tổng hợp trong bào tương các tế bào chế tiết dưới tác động của các enzym

- Hormon tủy thượng thận (catecholamin) và melatonin: là những amin được tạo thành trong tế bào chế tiết từ sự chuyển hóa acid amin Sau khi tổng hợp sẽ được hấp thu vào các túi có sẵn trong bào tương dự trữ đến khi bài tiết Kích thích gây bài tiết hormon cũng đồng thời kích hoạt các enzym trong chuỗi phản ứng tạo các hormon mới

- Hormon giáp trạng (T3, T4): đầu tiên được tạo thành trong tế bào nang giáp Sau đó đưa vào trong lòng nang đến gắn lên một phân tử protein lớn gọi là thyroglobulin và được dự trữ ở đó Khi bài tiết, những hệ thống enzym chuyên biệt trong tế bào chế tiết sẽ phân cắt thyroglobulin tạo ra hormon và bài tiết vào máu

* Hormon steroid:

Nguyên liệu để tổng hợp là cholesterol được cung cấp chủ yếu từ LDL (low density lipoprotein) trong máu và một lượng nhỏ từ acetyl coenzym A trong tế bào Quá trình tổng hợp diễn ra tại mạng lưới nội bào tương trơn Dạng hoạt động được tạo thành và dự trữ với số lượng rất ít mà chủ yếu là các phân tử

Trang 21

tiền chất hiện diện trong tế bào chế tiết Khi có một kích thích thích hợp, các enzym trong vòng vài phút sẽ tạo các phản ứng hóa học cần thiết biến dạng tiền chất thành dạng hoạt động và sau đó bài tiết ra ngoài

2.2.2 Vận chuyển hormon trong máu

- 2 dạng vận chuyển: dạng kết hợp chất vận chuyển và dạng tự do

+ Hormon peptid: dạng tự do

+ Hormon acid amin: catecholamin: 1/2 dạng kết hợp, 1/2 dạng tự do T3,

T4: phần lớn ở dạng kết hợp

+ Hormon steroid: phần lớn ở dạng kết hợp

- Dạng kết hợp là một phức chất dễ phân ly Đây là dạng dự trữ hormon Khi cần phức chất sẽ giải phóng hormon tự do (dạng tác dụng)

3 CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA HORMON

3.1 Cơ chế tác dụng thông qua chất truyền tin thứ II

* Đặc điểm:

- Các hormon tác dụng theo cơ chế này là hormon peptid và catecholamin Các hormon này có tính chất tan trong nước, không tan trong lipid nên không qua được lớp lipid kép của màng tế bào, do vậy cần có chất truyền tin thứ hai trong tế bào Receptor đặc hiệu nằm ở màng bào tương tế bào đích

- Khi hormon (chất truyền tin thứ I) gắn với receptor đặc hiệu tạo thành phức hợp hormon-receptor sẽ dẫn đến sự xuất hiện chất truyền tin thứ II Chất truyền tin thứ II có nhiệm vụ hoạt hóa các enzym nội bào tạo ra một dòng thác phản ứng (cascade of reactions) mà mỗi phản ứng sau ảnh hưởng tác động lại được khuếch đại lớn hơn phản ứng trước Kết quả là từ một lượng rất ít hormon ban đầu đã tạo được đáp ứng sinh lý to lớn cuối cùng

- Các hormon khác nhau cùng tác động thông qua trung gian một loại chất truyền tin thứ II nhưng lại gây được đáp ứng chuyên biệt vì bản chất và số lượng khác nhau của hệ thống enzym trong tế bào Các đáp ứng sinh lý (hưng phấn hoặc ức chế) có thể là thay đổi tính thấm của màng tế bào, co hoặc giãn cơ, tổng hợp protein, kích thích tế bào bài tiết chất

- Đáp ứng sinh lý thường xảy ra nhanh nhưng ngắn

Trang 22

* Các chất truyền tin thứ II:

- AMPc (cyclic 3’, 5’-adenosine monophosphate) (phổ biến) hoặc GMPc (cyclic 3’, 5’-guanosine monophosphate)

ATP

AMPc

5'-AMP

Phosphodiesterase Adenyl cyclase

Hormon-Receptor

Protein kinase A

Đáp ứng sinh lý Phosphoryl hóa

(+)

(+)

Sơ đồ 9.1 Cơ chế hình thành và tác dụng của AMPc

Ví dụ: ACTH tác dụng lên tế bào tuyến giáp gây tổng hợp và bài tiết T3,

T4; histamin tác dụng lên tế bào viền ở dạ dày gây bài tiết HCl; ADH tác dụng lên tế bào ống thận gây tăng tái hấp thu nước Tất cả các tác dụng này đều thông qua trung gian AMPc

- Ca++-calmodulin:

Hormon đến gắn lên receptor làm mở cổng kênh Ca++

Ca++ từ ngoài sẽ khuếch tán vào trong tế bào và kết hợp với calmodulin Calmodulin là một phân

tử protein có ái lực cao với Ca++ Khi có từ 3 đến 4 ion Ca++

gắn kết, calmodulin

sẽ thay đổi cấu hình và trở lên hoạt hóa Sự kích hoạt này sẽ dẫn đến hoạt hóa các enzym nội bào, gây đáp ứng sinh lý

Ví dụ: Ca++

- Calmodulin hoạt hóa enzym myosin kinase gây co cơ trơn

- Inositol triphosphat (IP3) và diacylglycerol

Trang 23

CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG VÀ ĐIỀU NHIỆT

MỤC TIÊU

1 Trình bày vai trò, nhu cầu và điều hòa chuyển hóa carbonhydrat, lipid, protid trong cơ thể

2 Trình bày các dạng năng lượng và các nguyên nhân tiêu hoa năng lượng

3 Trình bày được các dạng thân nhiệt và quá trình sinh nhiệt , thải nhiệt của

cơ thể

4 Trình bày cơ chế chống nóng và chống lạnh của cơ thể con người

NỘI DUNG

Cơ thể tồn tại và phát triển được là nhờ có quá trình thay cũ đổi mới xảy

ra liên tục Bản chất của quá trình này chính là quá trình chuyển hoá Nhờ quá trình chuyển hoá mà cơ thể luôn được cung cấp các nguyên liệu cần thiết cho cấu trúc tế bào và năng lượng để tế bào hoạt động

1 CHUYỂN HÓA CHẤT

Chuyển hoá chất là những quá trình hoá học xảy ra trong cơ thể nhằm duy trì sự sống và phát triển của cơ thể Chuyển hoá chất trong cơ thể bao gồm chuyển hoá carbohydrat, chuyển hoá lipid, chuyển hoá protein, chuyển hoá nước, các chất khoáng và vitamin Trong bài này, chúng ta chỉ đề cập tới chuyển hoá carbohydrat, lipid và protein đồng thời tập trung giới thiệu về các dạng, vai trò, nhu cầu và điều hoà chuyển hoá chứ không đề cập đến các phản ứng hoá học xảy ra trong từng loại chuyển hoá vì nội dung này được giới thiệu trong chương trình môn Hoá sinh

1.1 Chuyển hoá carbohydrat

1.1.1 Các dạng carbohydrat trong cơ thể

Sản phẩm cuối cùng của chuyển hoá carbohydrat trong ống tiêu hoá là các monosaccarid như glucose, fructose, galactose trong đó glucose chiếm 80% Trong cơ thể, carbohydrat tồn tại dưới 3 dạng:

- Dạng dự trữ: Đó là glycogen, tập trung chủ yếu ở gan và cơ

Trang 24

- Dạng vận chuyển: Đó là glucose, fructose, galactose ở dạng tự do trong máu và trong các dịch cơ thể, trong đó glucose là chủ yếu và chiếm 90 - 95%

- Dạng kết hợp: Carbohydrat có thể kết hợp với các chất lipid hoặc protein thành dạng glycolipid hoặc glycoprotein và tham gia vào thành phần cấu tạo của

tế bào ở các mô trong cơ thể

1.1.2 Vai trò của carbohydrat đối với cơ thể

 Vai trò cung cấp và dự trữ năng lượng:

- Carbohydrat là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu của cơ thể, 70% năng lượng của khẩu phần ăn là do carbohydrat cung cấp

- Khi thoái hoá, glucose sẽ cung cấp rất nhiều năng lượng cho tế bào hoạt động Năng lượng được tạo ra qua quá trình thoái hoá glucose phần lớn được tập trung vào các liên kết phosphat giàu năng lượng trong phân tử ATP để cho các

tế bào sử dụng, một phần năng lượng được tỏa ra dưới dạng nhiệt Phân giải hoàn toàn một phân tử glucose sẽ tạo ra 38 ATP và giải phóng 420 Kcal dưới dạng nhiệt

- Glycogen là dạng dự trữ carbohydrat của mọi tế bào nhưng chủ yếu là ở

tế bào gan và cơ Khi tế bào cơ hoạt động, sự tiêu hao năng lượng đòi hỏi phải được cung cấp một lượng lớn glucose, ngoài nguồn glucose do máu mang đến, trong tế bào cơ có sự phân giải mạnh glycogen dự trữ của nó để tạo glucose cho hoạt động co cơ

- Các tế bào não chỉ có thể lấy năng lượng từ nguồn carbohydrat

 Vai trò trong tạo hình của cơ thể:

Trong cơ thể, ngoài vai trò dự trữ và cung cấp năng lượng, carbohydrat còn tham gia vào cấu tạo nhiều thành phần của cơ thể Ví dụ như:

+ Các protein xuyên màng của màng tế bào có bản chất là glycoprotein + Các ribose có trong cấu trúc nhân của các tế bào

+ Các condromucoid là thành phần cơ bản của mô sụn, thành động mạch,

da, van tim, giác mạc

+ Aminoglycolipid tạo nên chất stroma của hồng cầu

Trang 25

+ Cerebrosid, aminoglycolipid là thành phần chính tạo vỏ myelin của các sợi thần kinh, tạo chất trắng của mô thần kinh

+ Một số hormon như FSH, LH, TSH có bản chất là glycoprotein

 Tham gia vào các hoạt động chức năng của cơ thể:

Thông qua việc tham gia vào các thành phần cấu tạo của cơ thể, carbohydrat có vai trò trong rất nhiều chức năng của cơ thể như chức năng bảo

vệ, chức năng miễn dịch, chức năng sinh sản, chức năng dinh dưỡng và chuyển hoá Carbohydrat còn tham gia vào quá trình tạo hồng cầu, có vai trò trong hoạt động của hệ thần kinh, làm nhiệm vụ lưu giữ và thông tin di truyền qua các tế bào và các thế hệ thông qua RNA và DNA

1.1.3 Nhu cầu carbohydrat đối với cơ thể

- Carbohydrat chiếm 2% trọng lượng khô của cơ thể Ở người trưởng thành bình thường nặng 50 kg, carbohydrat toàn cơ thể nặng khoảng 0,3 đến 0,5

kg

- Nhu cầu carbohydrat thường không được quy định trực tiếp mà dựa vào nhu cầu năng lượng và tỷ lệ năng lượng giữa ba loại chất dinh dưỡng sinh năng lượng để tính ra Theo tài liệu của Viện dinh dưỡng Việt Nam:

+ Nhu cầu năng lượng cho trẻ em từ 1 - 3 tuổi là 1300 Kcal/ngày

+Người trưởng thành nam giới là 2300 – 2500 Kcal/ngày

15 - 20%, phần còn lại là do carbohydrat cung cấp (khoảng 70%)

- Carbohydrat được cung cấp cho cơ thể thông qua nguồn thức ăn Các chất nhiều carbohydrat thường được dùng như gạo tẻ, gạo nếp, ngô

1.1.4 Điều hoà chuyển hoá carbohydrat

Trang 26

Điều hoà chuyển hoá carbohydrat theo hai cơ chế thể dịch và thần kinh

- Cơ chế thể dịch điều hoà chuyển hoá carbohydrat:

Cơ chế thể dịch điều hoà chuyển hoá carbohydrat chủ yếu thông qua các hormon Chính vì vậy nên cơ chế điều hoà này còn được gọi là sự điều hoà bằng nội tiết

+ Hormon làm giảm đường huyết là insulin của tuyến tụy nội tiết

+ Các hormon làm tăng đường huyết gồm GH của tuyến yên, T3 và T4 của tuyến giáp, cortisol của vỏ thượng thận, adrenalin của tủy thượng thận và glucagon của tuyến tụy nội tiết

Tác dụng cụ thể lên chuyển hoá carbohydrat của các hormon nói trên sẽ được trình bày ở bài - Sinh lý nội tiết

- Cơ chế điều hoà thần kinh:

Nhiều thực nghiệm đã chứng minh ảnh hưởng của hệ thần kinh đối với chuyển hoá carbohydrat như cắt bỏ não hoặc phá hủy sàn não thất IV gây tăng đường huyết Nhịn đói, stress, xúc cảm mạnh có tác động lên chuyển hoá carbohydrat thông qua vùng dưới đồi Người ta cũng gây được phản xạ có điều kiện có ảnh hưởng lên chuyển hoá carbohydrat Khi nồng độ glucose trong máu giảm sẽ tác dụng trực tiếp lên vùng hypothalamus kích thích thần kinh giao cảm làm tăng bài tiết adrenalin và noradrenalin gây tăng đường huyết

1.2 Chuyển hoá lipid

1.2.1 Các dạng lipid trong cơ thể

Sản phẩm cuối cùng của lipid trong ống tiêu hoá là acid béo, monoglycerid, diglycerid, phospholipid (ít nhiều đã bị phân hủy), các sterol

Trong cơ thể, lipid tồn tại dưới 3 dạng:

- Lipid ở dạng vận chuyển: Đó là các acid béo, các phospholipid và một

số lipid khác Lipid vận chuyển trong máu dưới dạng các lipoprotein Có 4 loại lipoprotein đó là:

+ Lipoprotein tỷ trọng rất thấp (Very Low Density Lipoprotein Cholesterol - VLDLC)

Trang 27

+ Lipoprotein tỷ trọng trung gian (Intermediate Density Lipoprotein Cholesterol - IDLC)

+ Lipoprotein tỷ trọng thấp (Low Density Lipoprotein Cholesterol - LDLC)

+ Lipoprotein tỷ trọng cao (High Density Lipoprotein Cholesterol - HDLC)

Trong 4 loại loại lipoprotein thì loại LDLC có liên quan đến bệnh xơ vữa mạch

- Lipid ở dạng kết hợp: Lipid có thể kết hợp với carbohydrat hoặc protein

và chúng tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào ở các mô, các cơ quan trong cơ thể

- Lipid ở dạng dự trữ: Đó là các triglycerid còn gọi là mỡ trung tính được đưa đến và dự trữ ở các mô mỡ

1.2.2 Vai trò của lipid đối với cơ thể

- Lipid là nguồn cung cấp và dự trữ năng lượng lớn nhất của cơ thể ở người bình thường lipid có thể chiếm tới 40% trọng lượng cơ thể, chủ yếu là triglycerid Khi thoái hoá các acid béo trong triglycerid lại cung cấp rất nhiều năng lượng (9,3 Kcal/1 gam triglycerid), nhưng năng lượng này không được cung cấp trực tiếp mà phải qua nhiều khâu trung gian mới tạo thành được ATP

- Lipid tham gia vào cấu trúc tế bào và mô, ví dụ như:

+ Màng tế bào và màng các bào quan trong tế bào được cấu tạo bởi thành phần chính là các lipid

+ Các lipid phức tạp là phospholipid như sphingomyelin là thành phần quan trọng trong cấu trúc thần kinh, đặc biệt lớp vỏ myelin của sợi trục thần kinh

+ Cephalin là thành phần chủ yếu của của thromboplastin, một chất rất cần cho quá trình đông máu

+ Lecithin là thành phần quan trọng của lớp surfactant của phế nang + Cholesterol là thành phần chính của các hormon steroid, là nguyên liệu chính tạo ra acid mật và muối mật Lipid là dung môi hoà tan nhóm

Trang 28

vitamin tan trong dầu (các vitamin A, D, E, K), giúp cho sự hấp thu các vitamin này vào cơ thể

- Lipid tham gia vào các hoạt động chức năng của cơ thể: Thông qua việc tham gia vào các thành phần cấu tạo của cơ thể, lipid có vai trò trong rất nhiều chức năng của cơ thể

+ Tham gia vào quá trình đông máu do lipid tham gia vào thành phần cấu tạo của một số chất gây đông máu

+ Tham gia vào chức năng dẫn truyền các xung động thần kinh do tham gia cấu tạo vỏ myelin

+ Tham gia vào hoạt động của một số tuyến nội tiết do tham gia vào thành phần cấu tạo của một số hormon

+ Tham gia vào quá trình tiêu hoá do tham gia cấu tạo muối mật

+ Cholesterol lắng đọng trong lớp sừng của da ngăn cản sự thấm nước qua da

Tuỳ thuộc lipid tham gia vào thành phần cấu tạo nào của tế bào, của mô

và cơ quan mà nó có thể tham gia các hoạt động chức năng khác nhau

1.2.3 Nhu cầu lipid đối với cơ thể

- Lipid là nguồn thức ăn không thể thiếu của cơ thể, đặc biệt là các lipid chứa các acid béo không no có nhiều dây nối đôi

- Nhu cầu lipid cần phải cung cấp hàng ngày nếu tính gián tiếp theo tỷ lệ nhu cầu năng lượng trong tổng số nhu cầu năng lượng được tính ra Kcal/ngày do

ba loại chất dinh dưỡng sinh năng lượng tạo ra thì năng lượng do lipid cần cung cấp chiếm 18 - 25 %

- Lipid được cung cấp cho cơ thể chủ yếu thông qua nguồn thức ăn Thức

ăn cung cấp lipid cho cơ thể có thể từ mỡ động vật và dầu thực vật Tuy nhiên, lipid được cung cấp từ thức ăn có nguồn gốc là động vật thường chứa nhiều acid béo bão hoà (acid béo no), nên khi ăn thường xuyên một lượng lipid quá cao có nguồn gốc là động vật sẽ tăng tạo cholesterol ở gan, tăng cholesterol máu

- Hàm lượng cholesterol máu cao sẽ gây sự lắng đọng những tinh thể cholesterol ở lớp nội mạc và lớp cơ trơn dưới nội mạc của mạch máu Muối Ca2+

Trang 29

lắng đọng, ngưng tụ cùng cholesterol và lipid khác của cơ thể, biến động mạch thành một ống xơ cứng, không đàn hồi (xơ cứng mạch) Thành động mạch bị thoái hoá dễ vỡ và tại nơi xơ cứng dễ hình thành cục máu đông gây tắc mạch Bởi vậy, chúng ta nên ăn lipid có nguồn gốc là thực vật, chứa nhiều acid béo không bão hoà (acid béo không no) sẽ ít làm tăng cholesterol máu, để tránh nguy

cơ hình thành các mảng xơ vữa phát triển trong thành động mạch

- Ngoài nguồn lipid được cung cấp trực tiếp từ thức ăn, lipid trong cơ thể còn được tổng hợp từ carbohydrat và protein Khi ăn một lượng lớn carbohydrat, một phần chúng được thoái hoá tạo năng lượng cho cơ thể hoạt động, một phần chuyển thành glycogen dự trữ, phần lớn chuyển thành triglycerid dự trữ ở mô

mỡ Nhiều acid amin cũng được chuyển thành acetyl CoA để tổng hợp acid béo, trường hợp này gặp ở những người ăn quá nhiều protein

1.2.4 Điều hoà chuyển hoá lipid

Điều hoà chuyển hoá lipid ở mức toàn cơ thể theo hai cơ chế:

- Cơ chế thần kinh: Nhiều thực nghiệm chứng minh vùng dưới đồi có liên quan đến quá trình điều hoà chuyển hoá các chất, trong đó có lipid Các stress nóng, lạnh, cảm xúc đều có liên quan đến hoạt động của hệ thống nội tiết làm ảnh hưởng đến quá trình chuyển hoá lipid

- Cơ chế thể dịch: Thực hiện thông qua tác dụng của các hormon

+ Các hormon làm tăng thoái hoá lipid: Adrenalin của tủy thượng thận, glucagon của tụy nội tiết, GH của tuyến yên, T3 và T4 của tuyến giáp và cortisol của vỏ thượng thận

+ Hormon làm tăng tổng hợp lipid: Insulin của tụy nội tiết

Tác dụng cụ thể của các hormon sẽ được trình bày ở bài - Sinh lý nội tiết

1.3 Chuyển hoá protein

1.3.1 Các dạng protein trong cơ thể

Sản phẩm cuối cùng của tiêu hoá protein là các acid amin và một ít dipeptid và tripeptid Trong cơ thể, protein tồn tại dưới các dạng:

- Dạng vận chuyển: Đó là các acid amin tự do dưới dạng các ion ở trong máu và các dịch của cơ thể Ngoài ra, protein còn được vận chuyển dưới dạng

Trang 30

albumin, globulin và fibrinogen Albumin, fibrinogen và 80% globulin được tổng hợp tại gan, 20% globulin được tạo ra ở các mô bạch huyết Hàm lượng các protein vận chuyển trong máu luôn ổn định và có vai trò quan trọng đối với cơ thể, nếu vì một lý do nào đó gây thiếu hụt protein trong máu sẽ dẫn tới tình trạng bệnh lý

- Protein ở dạng tham gia cấu tạo cơ thể: Đó là các protein tham gia cấu tạo của nhiều thành phần cơ thể, ví dụ như các protein xuyên màng trong cấu trúc của màng tế bào, các protein cấu trúc tế bào của các mô, đặc biệt là các mô

cơ, các protein huyết tương (albumin, globulin, fibrinogen), các protein tham gia tạo nên các hormon, enzym, các acid amin tham gia cấu tạo vòng porphyrin trong nhân hem của hồng cầu

- Protein dự trữ: Protein không có dạng dự trữ riêng Tuy nhiên những protein có ở trong tế bào của các mô (đặc biệt là gan và cơ), ngay cả các protein của huyết tương, có thể được coi là những kho dự trữ acid amin của tế bào Khi cần thiết các protein này dễ dàng bị thủy phân bởi các enzym thủy phân protein

có trong tế bào để giải phóng ra những acid amin nội sinh, các acid amin này chuyển ra ngoài tế bào, vào máu, tới gan để tiếp tục thoái hoá tạo ra một số chất trung gian có chức năng đối với tế bào, đặc biệt tạo ra các tiền chất cho các thành phần của tế bào

1.3.2 Vai trò của protein đối với cơ thể

Protein có nhiều vai trò quan trọng đối với cơ thể

- Protein cũng là nguồn cung cấp năng lượng của cơ thể: Trong 20 acid amin khi bị khử amin thì 18 acid amin có cấu trúc hoá học cho phép chuyển thành glucose và 19 acid amin có thể chuyển thành acid béo Các glucose và acid béo này khi thoái hoá sẽ giải phóng ra năng lượng, một phần được tích luỹ trong ATP, một phần được tỏa ra dưới dạng nhiệt

- Protein có vai trò trong cấu trúc và tạo hình của cơ thể: Đây là vai trò chính của protein Protein tham gia vào thành phần cấu tạo của tất cả tế bào trong các mô, đặc biệt là các tế bào cơ, cấu tạo của các acid nhân tế bào (cấu tạo

Trang 31

của các DNA và các RNA) Protein của huyết tương gồm các albumin, globulin

và fibrinogen là các protein được tổng hợp từ gan

- Protein có vai trò tham gia vào các hoạt động chức năng của cơ thể: Thông qua việc tham gia vào các thành phần cấu tạo của cơ thể, protein có vai trò trong rất nhiều hoạt động chức năng của cơ thể, ví dụ như:

+ Protein có vai trò quyết định đặc tính di truyền của cá thể và loài + Protein có vai trò trong tạo áp suất keo của huyết tương nhờ chức năng của albumin

+ Protein có vai trò trong miễn dịch nhờ chức năng của các globulin + Protein có vai trò trong cầm máu và đông máu nhờ tác dụng của các yếu tố đông máu như fibrinogen và các protein đông máu khác

+ Protein có vai trò trong hoạt động của các enzym khi nó tham gia vào thành phần cấu tạo của các enzym

1.3.3 Nhu cầu protein đối với cơ thể

- Nhu cầu protein cần phải cung cấp hàng ngày, nếu tính gián tiếp theo tỷ

lệ nhu cầu năng lượng trong tổng số nhu cầu năng lượng được tính ra Kcal/ngày

do ba loại chất dinh dưỡng sinh năng lượng tạo ra thì năng lượng do protein cần cung cấp chiếm 12 – 15 %

- Để đảm bảo duy trì nồng độ acid amin trong máu là 35 – 65 mg% và để

bù lại "sự mất bắt buộc" của protein (cho sự đổi mới tế bào, cho sự hằng định nội môi ) diễn ra trong cơ thể, tối thiểu mỗi ngày cơ thể phải được cung cấp khoảng 30 gam protein Tuy nhiên, người ta cho rằng tốt nhất mỗi ngày cung cấp khoảng 60 - 75 gam thì bảo đảm và an toàn hơn

- Trong 20 loại acid amin để cấu tạo nên protein trong cơ thể thì có 10 loại acid amin cơ thể không tự tổng hợp được (nên được gọi là 10 acid amin cần thiết) Bởi vậy, nhu cầu cung cấp protein hàng ngày cho cơ thể cần phải cung cấp protein có chứa đủ 10 loại acid amin cần thiết

- Protein được cung cấp cho cơ thể thông qua nguồn thức ăn Các loại thực phẩm chứa nhiều protein thường được dùng như thịt lợn, thịt bò, cua, tôm, cá

Trang 32

- Khi cơ thể không được cung cấp protein, một phần protein của cơ thể (protein của mô) bị thoái hoá thành acid amin, khoảng 20 đến 30 gam mỗi ngày

Đó là lượng protein bị mất đi bắt buộc Khi cơ thể bị suy kiệt protein, protein của huyết tương sẽ là nguồn thay thế rất nhanh protein của mô Toàn bộ protein huyết tương được đưa vào tế bào nhờ cơ chế ẩm bào Tại tế bào, các protein được phân giải thành acid amin, vào máu và được đưa đến các tế bào để sử dụng

- Khi cơ thể bị đói, đầu tiên cơ thể sử dụng năng lượng từ phân giải carbohydrat hoặc lipid dự trữ, khi nguồn carbohydrat và lipid bị cạn kiệt, cơ thể phải phân giải protein của tế bào thành acid amin đưa vào máu

- Cung cấp protein cho cơ thể không đủ sẽ dẫn đến rối loạn chuyển hoá protein Phản ứng của cơ thể với tình trạng thiếu protein có thể chia làm 3 giai đoạn:

(1) Giai đoạn mất tức thời: Tiêu hao protein giảm, protein dự trữ của cơ thể bị huy động, nhờ đó mà hằng tính nội môi vẫn giữ được ổn định

(2) Giai đoạn thích nghi tích cực: Tiêu hao protein tiếp tục giảm đi nữa, tiêu hao cho đổi mới tế bào cũng giảm, protein dự trữ tiếp tục được huy động, nhưng ngược lại các enzym tiêu hoá của dịch vị, dịch tụy tăng lên, hệ số hấp thu protein của thức ăn tăng, nhờ đó mà hằng tính nội môi vẫn được duy trì gần như bình thường

(3) Giai đoạn mất thích nghi: Tình trạng thiếu protein ngày càng nặng thêm, khả năng tiêu hoá và hấp thu cũng giảm dẫn tới hằng tính nội môi không duy trì được và xuất hiện tình trạng bệnh lý mà lâm sàng gọi là suy dinh dưỡng protein năng lượng Tình trạng này tạo thành vòng xoắn bệnh lý có thể dẫn tới tử vong Bởi vậy, việc phát hiện suy dinh dưỡng ngay từ giai đoạn nhẹ là rất quan trọng

1.3.4 Điều hoà chuyển hoá protein

- Cơ chế thần kinh tác động lên chuyển hoá protein cũng giống như đối với chuyển hoá carbohydrat và lipid là tác động đến vùng dưới đồi hoặc tác động đến các tuyến nội tiết do các stress nóng, lạnh, cảm xúc

Trang 33

- Cơ chế thể dịch là cơ chế chính điều hoà chuyển hoá protein, đó là thông qua tác dụng của một số hormon:

+ Một số hormon có tác dụng tăng cường quá trình vận chuyển acid amin từ huyết tương vào tế bào để tổng hợp protein của tế bào ở các mô như hormon insulin, GH, hormon sinh dục, T3, T4 trong thời kỳ đang phát triển

+ Một số hormon như cortisol, T3, T4 (thời kỳ trưởng thành) lại có tác dụng ngược lại, đó là tăng cường thoái hoá protein ở các mô

Tác dụng cụ thể của các hormon nói trên sẽ được trình bày ở bài - Sinh lý nội tiết

2 CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG

2.1 Các dạng năng lượng trong cơ thể

Trong cơ thể có 5 dạng năng lượng, trong đó có 4 dạng năng lượng sinh công và một dạng năng lượng không sinh công

- Năng lượng sinh công hoá học (hoá năng): Hoá năng là năng lượng giữ cho các nguyên tử, các nhóm chức hoá học có vị trí không gian nhất định đối với nhau trong phân tử Năng lượng sẽ được giải phóng khi cấu trúc phân tử bị phá

vỡ Mức độ năng lượng được giải phóng khác nhau tuỳ theo từng loại liên kết Hoá năng gặp ở những nơi nào có các phân tử hoá học, do đó nó tồn tại ở khắp

cơ thể, dưới nhiều hình thức:

+ Hoá năng của những chất tạo hình

+ Hoá năng của những chất dự trữ

+ Hoá năng của những chất bảo đảm các hoạt động chức năng của cơ thể

+ Hoá năng của các hợp chất giàu năng lượng Hình thức hoá năng này cực kỳ quan trọng vì là khâu trung gian của chuyển hoá năng lượng trong cơ thể

+ Hoá năng của những chất bài tiết

- Năng lượng sinh công cơ học (động năng): Là năng lượng để di dời vật chất từ nơi này đến nơi khác, năng lượng này được lấy từ ATP Động năng gặp

Trang 34

ở mọi nơi trong cơ thể như năng lượng để thay đổi tư thế, vị trí cơ thể, năng lượng để vận chuyển máu

- Năng lượng sinh công thẩm thấu: Là năng lượng sinh ra do sự vận chuyển vật chất qua màng tế bào và duy trì sự chênh lệch nồng độ các chất hai bên màng tế bào, do đó tạo ra hiện tượng thẩm thấu với một số chất khác (nước)

- Năng lượng sinh công điện (điện năng): Điện năng sinh ra do sự vận chuyển thành dòng của các ion qua màng tế bào và duy trì sự chênh lệch nồng

độ các ion giữa hai bên màng Nó có ý nghĩa rất quan trọng với các tế bào thần kinh, tế bào cơ khi hưng phấn Khi đó tế bào thực hiện một công điện

- Năng lượng không sinh công (nhiệt năng): Nhiệt năng được sinh ra trực tiếp từ hoá năng tế bào 80% hoá năng sinh các loại công được biến thành nhiệt (như vậy, hiệu suất sử dụng là 20%) Tế bào sống không có bộ máy sử dụng nhiệt để sinh công Tuy vậy, nhiệt năng cần thiết để duy trì nhiệt độ cơ thể tối thuận cho các phản ứng chuyển hoá trong cơ thể diễn ra bình thường Nhiệt năng luôn được tạo ra, khiến cho thân nhiệt luôn có xu hướng tăng lên Khi thân nhiệt vượt quá 42°C thì các protein bị biến tính, nhất là các enzym, do vậy nhiệt năng còn là dạng năng lượng phải được thường xuyên loại trừ khỏi cơ thể

2.2 Các nguyên nhân tiêu hao năng lượng

Những nguyên nhân làm cho cơ thể tiêu tốn năng lượng bao gồm: Tiêu hao năng lượng cho sự duy trì cơ thể, tiêu hao năng lượng cho phát triển cơ thể

và tiêu hao năng lượng cho sinh sản

2.2.1 Tiêu hao năng lượng cho sự duy trì cơ thể

Tiêu hao năng lượng cho sự duy trì cơ thể là số năng lượng cần thiết để cho cơ thể tồn tại và hoạt động bình thường, không thay đổi thể trọng, không sinh sản Năng lượng tiêu hao cho duy trì cơ thể gồm tiêu hao do chuyển hoá cơ

sở, do vận cơ, do điều nhiệt và do tiêu hoá

2.2.1.1 Tiêu hao năng lượng do chuyển hoá cơ sở

- Định nghĩa chuyển hoá cơ sở: Chuyển hoá cơ sở (CHCS) là mức chuyển hoá năng lượng cần thiết cho cơ thể tồn tại trong điều kiện cơ sở: Không vận cơ,

Trang 35

không tiêu hoá, không điều nhiệt Chuyển hoá cơ sở chiếm hơn 1/2 năng lượng

để duy trì cơ thể

- Đơn vị đo chuyển hoá cơ sở: Chuyển hoá cơ sở được tính theo:

+ Kcal/m2 da/giờ (tính theo đơn vị này, chuyển hoá cơ sở không thay đổi theo trọng lượng cơ thể, nghề nghiệp, nên thuận tiện cho chẩn đoán và điều trị)

+ KJ/m2 da/giờ (tính theo hệ mới "SI" từ 1-1-1978)

- Các yếu tố ảnh hưởng tới chuyển hoá cơ sở:

+ Tuổi: Tuổi càng cao thì CHCS càng giảm Tuy nhiên, ở tuổi dậy thì và trước dậy thì CHCS giảm ít hơn

+ Giới: Với cùng một lớp tuổi thì CHCS ở nam cao hơn nữ Điều này có thể liên quan với tỷ lệ mỡ trong cơ thể hoặc với các hormon sinh dục

+ Nhịp ngày - đêm: CHCS cao nhất lúc 13 - 16 giờ trong ngày, thấp nhất lúc 1 - 4 giờ sáng

+ Theo chu kỳ kinh nguyệt và ở phụ nữ có thai: Nửa sau chu kỳ kinh nguyệt và khi có thai CHCS cao hơn bình thường (do tác dụng của progesteron)

+ Ngủ CHCS giảm

+ Tình trạng bệnh lý:

• Sốt làm tăng CHCS Khi thân nhiệt tăng 1°C thì CHCS tăng 10%

• Bệnh tuyến giáp: Ưu năng tuyến giáp làm tăng CHCS và ngược lại

• Suy dinh dưỡng protein năng lượng: Giảm CHCS

2.2.1.2 Tiêu hao năng lượng do vận cơ

Khi vận cơ, hoá năng tích trữ trong cơ (ATP) sẽ bị mất đi dưới dạng công

và nhiệt, trong đó 25% chuyển thành công cơ học của sự co cơ, 75% còn lại tỏa

ra dưới dạng nhiệt Đơn vị tính năng lượng tiêu hao trong vận cơ là: Kcal/Kg thể trọng/1 phút

Vận cơ làm tiêu hao năng lượng chung của cơ thể Sự tiêu hao năng lượng này thay đổi theo mức độ lao động thể lực của mỗi nghề, vì vậy mức tiêu hao

Trang 36

năng lượng trong vận cơ thường được dùng làm cơ sở để xác định khẩu phần ăn cho từng loại nghề nghiệp

Trong vận cơ, các yếu tố ảnh hưởng tới tiêu hao năng lượng bao gồm:

- Cường độ vận cơ: Cường độ vận cơ càng lớn thì tiêu hao năng lượng càng lớn Đây là cơ sở để phân loại lao động thể lực thành loại nhẹ, trung bình, nặng và cực nặng

- Tư thế vận cơ: Năng lượng tiêu hao không chỉ do tạo ra công mà còn do các cơ phải co để giữ cho cơ thể ở những tư thế nhất định trong lúc vận cơ Số

cơ co càng nhiều thì tiêu hao năng lượng càng lớn Tư thế càng thoải mái dễ chịu thì số cơ co càng ít và năng lượng tiêu hao càng ít Đây là cơ sở để chế tạo những công cụ lao động phù hợp với kích thước thân thể của người lao động

- Mức độ thông thạo: Càng thông thạo công việc thì tiêu hao năng lượng cho vận cơ càng thấp, vì càng thông thạo thì số cơ co không cần thiết càng bớt

đi

2.2.1.3 Tiêu hao năng lượng do điều nhiệt

Điều nhiệt là hoạt động của cơ thể nhằm duy trì thân nhiệt ở mức hằng định, không thay đổi nhiều theo nhiệt độ môi trường bên ngoài Và như vậy, nó đảm bảo cho tốc độ các phản ứng hoá học trong cơ thể diễn ra bình thường, cũng tức là đảm bảo mức chuyển hoá của cơ thể không bị thay đổi

Trong môi trường lạnh, tiêu hao năng lượng phải tăng lên để bù cho số nhiệt năng đã bị khuếch tán ra môi trường xung quanh Trong môi trường nóng, lúc đầu tiêu hao năng lượng tăng lên do hoạt động của bộ máy điều nhiệt, nhưng sau đó giảm xuống do giảm quá trình chuyển hoá của cơ thể trong môi trường nóng

2.2.1.4 Tiêu hao năng lượng do tiêu hoá

Ăn để cung cấp năng lượng cho cơ thể, nhưng bản thân việc ăn lại làm cho tiêu hao năng lượng của cơ thể tăng lên Năng lượng tiêu hao thêm là kết quả của việc chuyển hoá các sản phẩm đã được hấp thu - đó là tác dụng động lực đặc hiệu (Specific Dynamic Action: SDA) của thức ăn

Trang 37

Tác dụng động lực đặc hiệu của thức ăn được tính bằng tỷ lệ phần trăm của mức tiêu hao năng lượng so với tiêu hao năng lượng trước khi ăn Tác dụng động lực đặc hiệu của thức ăn thay đổi theo từng chất dinh dưỡng:

- Protein làm tiêu hao năng lượng tăng thêm 30% - SDA là 30

- Lipid làm tiêu hao năng lượng tăng thêm 14% - SDA là 14

- Carbohydrat làm tiêu hao năng lượng tăng thêm 6% - SDA là 6

- Chế độ ăn hỗn hợp làm tiêu hao năng lượng tăng thêm 10% - SDA là 10

2.2.2 Tiêu hao năng lượng cho phát triển cơ thể

Khi cơ thể phát triển có sự tăng chiều cao và trọng lượng, tức là tăng kích thước và số lượng tế bào Như vậy, cơ thể phải tổng hợp được các thành phần của các chất tạo hình và dự trữ, có nghĩa là cơ thể phải sử dụng và biến đổi một phần hoá năng của thức ăn thành hoá năng của các chất tạo hình và dự trữ

Tiêu hao năng lượng cho sự phát triển cơ thể thường gặp khi:

Năng lượng tiêu hao để tăng thêm 1 gam thể trọng là 3 Kcal

2.2.3 Tiêu hao năng lượng cho sinh sản

Trong thời kỳ mang thai và nuôi con, mức tiêu hao năng lượng của các bà

mẹ tăng lên do một số lý do sau:

- Tạo và nuôi thai phát triển trong cơ thể người mẹ

- Tăng khối lượng máu tuần hoàn, tăng khối lượng các cơ quan của mẹ,

dự trữ để bài tiết sữa sau đẻ (tất cả bằng 60.000 Kcal cho một lần mang thai)

- Đẻ, tổng hợp và bài tiết sữa khi cho con bú

2.3 Điều hoà chuyển hoá năng lượng

2.3.1 Điều hoà ở mức tế bào

Nhu cầu năng lượng trong từng tế bào luôn được điều hoà thông qua cơ chế điều hoà ngược Yếu tố điều hoà là ADP Khi hàm lượng ADP trong tế bào

Trang 38

càng cao thì tốc độ phản ứng sinh năng lượng càng tăng, khi hàm lượng này giảm thì tốc độ chuyển hoá năng lượng cũng giảm Kết quả là, trong điều kiện bình thường, hàm lượng ATP trong tế bào được duy trì ở mức nhất định, đảm bảo cho tế bào hoạt động bình thường

2.3.2 Điều hoà ở mức cơ thể

+ Hormon vỏ thượng thận làm tăng biến đổi protein (acid amin) thành carbohydrat, mà carbohydrat là nguồn năng lượng trực tiếp

+ Hormon của tuyến tụy: Glucagon làm tăng phân giải glycogen ở gan thành glucose Insulin làm tăng thiêu đốt glucose ở các tế bào Tổng hợp tác dụng của cả hai hormon này là làm tăng sử dụng năng lượng được dự trữ dưới dạng glycogen

+ GH của tuyến yên làm giảm quá trình thiêu đốt glucose và huy động năng lượng dự trữ dưới dạng lipid ở các mô mỡ

+ Các hormon sinh dục: Testosteron và estrogen làm tăng đồng hoá protein, do đó làm tăng tích luỹ năng lượng (testosteron mạnh hơn estrogen) Progesteron làm tăng CHNL

Nhờ các cơ chế điều hoà trên, bình thường năng lượng ăn vào luôn luôn bằng năng lượng tiêu hao cho tất cả các nguyên nhân

3 SINH LÝ ĐIỀU NHIỆT

Trang 39

Sự ổn định nhiệt độ cơ thể là một điều kiện để đảm bảo cho các phản ứng hoá học được diễn ra bình thường Sống trong môi trường mặc dù là điều kiện môi trường luôn thay đổi nhưng nhờ có cơ chế điều nhiệt nên nhiệt độ cơ thể luôn được duy trì trong giới hạn bình thường Rối loạn điều nhiệt sẽ dẫn đến rối loạn hoạt động chức năng cơ thể

3.1 Thân nhiệt, thân nhiệt trung tâm, thân nhiệt ngoại vi

3.1.1 Định nghĩa thân nhiệt

Thân nhiệt là nhiệt độ của cơ thể Nó khác nhau theo từng vùng của cơ thể: Cao nhất là nhiệt độ của gan, là trung tâm quan trọng của chuyển hoá; máu

có nhiệt độ thấp hơn, là trung gian vận chuyển nhiệt trong cơ thể; cơ có nhiệt độ thay đổi tuỳ theo mức độ hoạt động; còn da có nhiệt độ thấp nhất trong cơ thể Người ta chia thân nhiệt thành hai loại:

- Thân nhiệt trung tâm: Đó là nhiệt độ ở các phần sâu trong cơ thể như gan, não, các tạng Người ta còn gọi thân nhiệt trung tâm là nhiệt độ phần lõi

cơ thể Nhiệt độ đó rất ổn định quanh trị số 37° C Thân nhiệt trung tâm thường được đo ở 3 vị trí là trực tràng, miệng và nách

+ Nhiệt độ ở trực tràng hằng định nhất, trong điều kiện cơ sở nó chỉ dao động trong khoảng 36,3 – 37,1° C

+ Nhiệt độ ở miệng thấp hơn ở trực tràng 0,2 – 0,5° C và dao động nhiều hơn, nhưng dễ đo hơn nên thường được dùng để theo dõi tình trạng bệnh

+ Nhiệt độ ở nách thấp hơn ở trực tràng 0,5 – 1,0° C, dao động nhiều hơn nữa nhưng cũng tiện đo nhất, thường được dùng theo dõi thân nhiệt người bình thường

- Thân nhiệt ngoại vi: Đó là nhiệt độ ở da hay còn gọi là nhiệt độ phần vỏ

cơ thể Nó luôn luôn biến động theo nhiệt độ môi trường và thấp hơn thân nhiệt trung tâm Thân nhiệt ngoại vi cũng thay đổi theo vị trí đo: ở trán vào khoảng 33,5° C, ở lòng bàn tay khoảng 32° C, còn ở mu bàn chân chỉ còn khoảng 28° C

3.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng lên thân nhiệt

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới thân nhiệt:

Trang 40

- Tuổi càng cao thì thân nhiệt càng giảm, tuy nhiên càng về sau thì mức

độ giảm càng ít hơn

- Nhịp ngày - đêm: Thân nhiệt thấp nhất vào lúc 1 đến 4 giờ sáng và cao nhất vào lúc 14 đến 17 giờ

- Trong nửa sau của chu kỳ kinh nguyệt, thân nhiệt tăng lên 0,3 – 0,5° C

và trong tháng cuối của thời kỳ có thai, thân nhiệt có thể tăng thêm 0,5 – 0,8° C

- Vận cơ cũng làm tăng thân nhiệt, cường độ vận cơ càng lớn thì thân nhiệt càng cao

- Trong môi trường quá nóng hoặc quá lạnh, thân nhiệt ngoại vi cũng tăng lên hoặc giảm đi Tuy nhiên, sự thay đổi không nhiều

Trong một số bệnh lý: Nhìn chung, trong các bệnh nhiễm khuẩn, thân nhiệt tăng lên; trong bệnh tả thì thân nhiệt giảm; ưu năng tuyến giáp thì thân nhiệt tăng; nhược năng tuyến giáp thì thân nhiệt giảm

3.2 Quá trình sinh nhiệt

- Nguồn sinh nhiệt chủ yếu của cơ thể là do chuyển hoá, tức là do các phản ứng hoá học xảy ra ở tế bào Do vậy mọi yếu tố làm tăng cường độ chuyển hoá đều làm tăng mức sinh nhiệt, mức này có thể lên tới 150%

- Một nguồn sinh nhiệt nữa của cơ thể là do co cơ Trong co cơ, 75% năng lượng sinh ra từ các phản ứng hoá học được thải ra dưới dạng nhiệt năng, do đó lao động thể lực làm cho thân nhiệt tăng lên Đặc biệt khi lao động nặng, thân nhiệt đo ở trực tràng có thể tăng tới 38,5 – 40° C Trương lực cơ là một dạng co

cơ nên cũng là nguyên nhân sinh nhiệt đáng kể của cơ thể Run cơ khi rét thực chất cũng là co cơ với biên độ thấp và là một nguyên nhân sinh nhiệt quan trọng,

vì hình thức co cơ này có tới 80% năng lượng bị mất đi dưới dạng nhiệt Khi cơ thể run lên vì lạnh, mức sinh nhiệt có thể tăng tới 200 – 400%

3.3 Quá trình thải nhiệt

Nhiệt năng tỏa ra khỏi cơ thể bằng hai cách: Truyền nhiệt và bay hơi nước

3.3.1 Truyền nhiệt

Ngày đăng: 28/06/2023, 21:32

w