Hiện nay, hội nhập quốc tế đ trở thành một hiện thực lan rộng trên phạm vi toàn thế giới. Nó mang tới cho mọi quốc gia, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam những cơ hội lớn để đạt đƣợc sự phát triển nhanh chóng. Thực tế cho thấy, tham gia vào tiến trình hội nhập quốc tế là một đ i h i tất yếu đối với các quốc gia nếu muốn tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển chung của thế giới trong thời đại ngày nay. Vì vậy, ngày càng nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đ chủ động, t ch cực hội nhập sâu rộng vào sân chơi toàn cầu, tăng cƣờng sự gắn kết, hợp tác với các quốc gia khác để khai thác những giá trị, lợi ch t bên ngoài nhằm đẩy nhanh tiến trình phát triển đất nƣớc.
Trang 1MỞ ĐẦU
1
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, hội nhập quốc tế đ trở thành một hiện thực lan rộng trên phạm vi
toàn thế giới Nó mang tới cho mọi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển
như Việt Nam những cơ hội lớn để đạt được sự phát triển nhanh chóng Thực tế cho
thấy, tham gia vào tiến trình hội nhập quốc tế là một đ i h i tất yếu đối với các quốc
gia nếu muốn tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển chung của thế giới trong
thời đại ngày nay Vì vậy, ngày càng nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đ chủđộng, t ch cực hội nhập sâu rộng vào sân chơi toàn cầu, tăng cường sự gắn kết, hợptác với các quốc gia khác để khai thác những giá trị, lợi ch t bên ngoài nhằm đẩy
nhanh tiến trình phát triển đất nước Tuy nhiên, ên cạnh những lợi ích to lớn, quátrình hội nhập quốc tế c ng mang lại không ít những ảnh hưởng tiêu cực trên nhiều
mặt, nhiều lĩnh vực của đời sống x hội Một trong những ảnh hưởng tiêu cực đó làtrong quá trình mở rộng hợp tác, giao lưu, hội nhập toàn diện, các sản phẩm văn hóa
ngoại lai không ph hợp với đặc điểm, truyền thống văn hóa dân tộc dễ dàng xâmnhập vào đời sống văn hóa, tinh thần của các quốc gia, gây nên những ảnh hưởng,tác động xấu tới nhận thức, định hướng giá trị văn hóa, thẩm mỹ, đạo đức của
người dân trong quốc gia đó, làm xói mòn bản sắc văn hóa truyền thống tốt đ p của
dân tộc Bên cạnh đó, quá trình hội nhập c ng khiến các quốc gia chưa phát triển,
có năng lực cạnh tranh thấp phải chịu nhiều sự thua thiệt, thậm ch ị ch n p và đối
x ất công
Trong ối cảnh như vậy, các quốc gia, nhất là những nước còn hạn chế về
tiềm lực, sức mạnh kinh tế, quân sự muốn giữ vững độc lập và tiếp tục phát triển
cần nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia, khuếch trương tầm ảnh hưởng trong
các mối quan hệ quốc tế, mà giải pháp phù hợp là phát huy sức mạnh mềm văn hóa
Bởi l , đây không chỉ là một giải pháp hữu hiệu trong việc gia tăng vị thế, tầm ảnh
hưởng của một quốc gia trong các mối quan hệ quốc tế để có thể gặt hái những lợi
ch t hội nhập quốc tế cho phát triển đất nước, mà c n góp phần bảo vệ được bảnsắc văn hóa dân tộc giữa những tác động tiêu cực t bên ngoài.
Trang 2được đề cập và đ nhanh chóng được phổ biến rộng rãi, nhận được sự quan tâm lớn
của không những giới nghiên cứu học thuật mà còn thu hút sự chú ý của các nhà
hoạch định chính sách, các chính trị gia Thực tế cho thấy, đ có nhiều quốc gia
nghiên cứu, vận dụng tốt lý luận này trong thực tiễn phát triển đất nước và đạt được
thành công Điều đáng nói là, khác với việc s dụng sức mạnh quân sự hay sức
mạnh kinh tế, sức mạnh mềm văn hóa không phải là độc quyền của các quốc gia
lớn, có tiềm lực kinh tế mạnh Mỗi quốc gia, kể cả đối với các quốc gia có xuất phát
điểm yếu hơn trong cạnh tranh toàn cầu c ng có thể s dụng như một giải pháp hữu
hiệu nhằm gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia Tuy nhiên, việc vận dụng, phát
huy sức mạnh mềm văn hóa của các quốc gia không có một công thức chung cho tất
cả, mà phụ thuộc nhiều điều kiện cụ thể ở t ng quốc gia Vì vậy, mỗi quốc gia cần
nghiên cứu để tìm ra phương pháp, cách thức khơi dậy, phát huy hiệu quả sức mạnh
mềm văn hóa của quốc gia mình
Sở hữu một kho tàng văn hóa đa dạng, giàu ản sắc, được hình thành quahàng ngàn năm lịch s , Việt Nam gây ấn tượng với ạn quốc tế ởi nhiều di sảnvăn hóa, nhiều giá trị văn hóa tiêu iểu như l ng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý ch
tự cường, tinh thần h a hiếu, nhân ái, ao dung Trong suốt chiều dài lịch s dântộc, các thế hệ cha ông chúng ta đ iết khai thác, s dụng sức mạnh mềm t nhữnggiá trị văn hóa truyền thống ấy như là một trong những phương cách để xây dựng và
ảo vệ tổ quốc, d chưa t ng tuyên ố hay kh ng định thành lý luận Ch nh sứcmạnh mềm văn hóa ấy là một trong những nhân tố quan trọng giúp dân tộc ta khôngchỉ chiến thắng nhiều kẻ th xâm lược mạnh hơn h n chúng ta về sức mạnh quân
sự, tiềm lực kinh tế, mà c n giúp đưa đất nước vượt qua mọi thời kỳ khó khăn,
khủng hoảng và gặt hái những thành tựu phát triển đáng tự hào như ngày nay
Hiện nay, Việt Nam đ và đang chủ động và tích cực hội nhập để tận dụng
và phát huy tối đa những lợi thế sẵn có nhằm giữ vững được độc lập, chủ quyền và
an ninh quốc gia, phát triển đất nước Hơn lúc nào hết chúng ta cần nỗ lực khai thác,
phát huy mọi nguồn sức mạnh dân tộc, đặc biệt là nguồn sức mạnh nội sinh, sức
mạnh mềm t những giá trị văn hóa truyền thống đa dạng, phong phú vốn là tài sản
Trang 3hưởng của văn hóa quốc gia, t đó thúc đẩy sự hợp tác với các quốc gia khác và thu
được những lợi ích kinh tế, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, hiện thực hóa khát
vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
T những lý do trên, đồng thời nhận thấy, cho tới nay, những nghiên cứu tiếpcận vấn đề sức mạnh mềm, sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam, phát huy sức mạnhmềm văn hóa Việt Nam t góc độ triết học vẫn c n ít và chưa hệ thống, vì vậy tác
giả lựa chọn vấn đề “Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập quốc tế hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình
2
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
.1 Mục tiêu nghiên cứu
2
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc phát huy sức
mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời gian qua, luận án đề xuất một số giải pháp
nâng cao hiệu quả phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập quốc tế hiện nay
2
.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Phân tích một số vấn đề lý luận về sức mạnh mềm văn hóa và phát huy
-sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay,
đồng thời chỉ ra sự cần thiết của việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay
-Phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quá
trình phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam hiện nay
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả phát huy sức
mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay
-3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
.1 Đối tượng nghiên cứu
3
Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề phát huy sức mạnh mềm văn hóa
trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Trang 4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu việc phát huy sức mạnh
-mềm văn hóa Việt Nam trong mối quan hệ tương tác với các quốc gia khác
Phạm vi thời gian: nghiên cứu vấn đề phát huy sức mạnh mềm văn hóa
-Việt Nam trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập quốc tế t năm 2011 (thời điểm
khái niệm “hội nhập quốc tế” ch nh thức được đề cập tới trong văn kiện Đại hội
XI của Đảng Cộng sản Việt Nam) đến nay
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Ch Minh, đặc biệt là các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng
và chính sách pháp luật của Nhà nước về văn hóa, hội nhập quốc tế, vai trò của sức
mạnh mềm văn hóa, phát huy sức mạnh mềm văn hóa trong tiến trình hội nhập
-Luận án tiếp thu, kế th a có chọn lọc những giá trị khoa học của một số
công trình nghiên cứu đ công ố liên quan đến nội dung của luận án.
.2 Phương pháp nghiên cứu
4
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch s , luận án s dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phươngpháp lịch s và lôg c, phương pháp phân t ch và tổng hợp, phương pháp tr u tượnghóa, khái quát hóa, đồng thời kết hợp một số phương pháp nghiên cứu của cáckhoa học khác như phương pháp phân t ch số liệu thống kê xã hội học, để thựchiện mục tiêu và nhiệm vụ mà luận án đề ra
5
Đóng góp mới của luận án
-Luận án góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về sức mạnh mềm
văn hóa, làm rõ nội hàm khái niệm sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam và khái niệm
phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam, đồng thời phân tích và chỉ ra sự cần
thiết của việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
quốc tế; thực chất và những phương thức phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt
Nam hiện nay
Trang 5Luận án phân tích những thành tựu và hạn chế trong việc phát huy sức
mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay
Luận án đề xuất một số giải pháp cơ ản nhằm nâng cao hiệu quả phát huy
sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay
-6
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học của luận án:
-Những nội dung mà luận án tập trung phân tích, luận giải s góp phần bổ
sung, làm rõ hơn về mặt lý luận các vấn đề liên quan đến sức mạnh mềm, sức mạnhmềm văn hóa, vai tr của sức mạnh mềm văn hóa trong ối cảnh hội nhập, sự cầnthiết và các phương thức phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnhhội nhập quốc tế hiện nay
-Ý nghĩa thực tiễn của luận án:
Những giải pháp mang tính khả thi mà luận án đề xuất nhằm phát huy sức
mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay s là những
gợi mở có giá trị cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách xây dựng những
ch nh sách, chương trình, kế hoạch hành động để phát huy hiệu quả hơn nữa sứcmạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay
Luận án c ng có thể s dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu,
giảng dạy và học tập ở các trường Đại học, các Học viện hiện nay
7
Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
án bao gồm 4 chương, 13 tiết
Trang 6TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1
.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỨC MẠNH MỀM
1
.1.1 Những công trình nghiên cứu nước ngoài về sức mạnh mềm
Trong thế kỷ 20, việc nghiên cứu về sức mạnh tổng hợp quốc gia đ được đặt
ra khi nhiều nhà lý luận nhận thấy rằng, sức mạnh của một quốc gia không đơn
thuần được tạo thành chỉ bởi sức mạnh quân sự mà còn bởi nhiều yếu tố khác nữa
Năm 1939, học giả E.H Carr đ nhắc tới tầm quan trọng của “sức mạnh của ý
tưởng” (power of opinion) trong mối tương quan với sức mạnh quân sự và sứcmạnh kinh tế của quốc gia đó [67] Năm 1973, trong cuốn sách uy n lực và thịnh
vượng: inh tế ch nh trị h c trong quy n lực quốc tế (Power and Wealth: The
kinh tế - ch nh trị học thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Princeton, Mỹ
đ phân iệt sự khác nhau của khái niệm “sức mạnh” và “ảnh hưởng”, chỉ ra những
cách thức gây ảnh hưởng tới các quốc gia khác không chỉ bằng những phương pháp
“
cứng” có t nh ắt buộc như quân sự mà còn bằng những ảnh hưởng mang tính phi
cưỡng chế, như kinh tế ch ng hạn [78] Nhà nghiên cứu Kenneth Waltz trong công
trình “Lý luận v chính trị thế giới” (Theory of International Politics) năm 1979
c ng t ng tuyên bố rằng cách hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu tối thượng của
quốc gia không phải lúc nào c ng là thực thi sức mạnh vật chất [91, tr 130 - 131]
Dù vậy, trong những năm này, chưa có nhà nghiên cứu nào đưa ra được một lý luậnhoàn chỉnh về vấn đề “sức mạnh mềm”
Phải đến năm 1990, giáo sư Joseph Nye, Đại học Havard, Mỹ mới tiếp tụcnghiên cứu và phát triển vấn đề này, biến nó trở thành một hệ thống lý luận Vì vậy,
ông thường được xem như người khởi xướng lý thuyết “sức mạnh mềm” trên thếgiới J Nye đ có nhiều công trình bàn về vấn đề sức mạnh mềm, tiêu biểu có thể kể
tới như: cuốn sách “Ràng buộc để dẫn dắt: Bản chất sức mạnh đang thay đổi của
Mỹ” (Bound to Lead: The Changing Nature of American Power) xuất bản năm 1990
Trang 7trong chính trị thế giới” (Soft power, The Means to Success in World Politics) xuấtbản năm 2004 ởi nhà xuất bản Public Affairs, New York, đ được dịch sang tiếng
Việt với tên gọi “Quyền lực mềm - ý niệm mới về thành công trong chính trị thế giới”
[41]; ài áo “Suy nghĩ v sức mạnh m m” (Think Again: Soft Power) [120] đăng
trên tạp ch Foreign Policy năm 2006; công trình “Sức mạnh m m: nguồn gốc và tiến
concept) [85] xuất bản bởi Palgrave Communications năm 2017
Trong các công trình này, J.Nye đ chỉ ra nội hàm khái niệm, nguồn gốc vàcách thức s dụng sức mạnh mềm Ông đưa ra khái niệm “sức mạnh mềm” trongtương quan với khái niệm “sức mạnh cứng” Theo ông, nếu như “sức mạnh cứng”(hard power) mang t nh áp đặt, cưỡng chế, đe dọa dựa trên những nguồn lực hữuhình (ch ng hạn như sức mạnh quân sự) thì “sức mạnh mềm” (soft power) ch nh làsức hấp dẫn, thuyết phục, khả năng ảnh hưởng, lôi k o của một quốc gia đối với cácquốc gia khác Nguồn tạo nên sức hấp dẫn này, theo Nye, gồm ba nguồn lớn: văn
hóa, các giá trị chính trị và ch nh sách đối ngoại của một quốc gia Mỗi nguồn lực
này phù hợp với một đối tượng khác nhau trong quá trình tác động của sức mạnhmềm Ch ng hạn, đối với đối tượng l nh đạo của quốc gia đối tác, nguồn lực phùhợp nhất để tạo nên sự hấp dẫn, thu hút đối với họ là chính sách quốc gia, sau đó làvăn hóa và giá trị Nhưng để thu hút đối tượng công chúng thì nguồn lực phù hợptrước hết lại là văn hóa, sau đó là các giá trị và cuối cùng mới là chính sách quốcgia Điều này dẫn tới việc cần xác định cơ chế tác động phù hợp đối với mỗi đốitượng tiếp nhận sức mạnh mềm, thông qua các hoạt động ngoại giao, hoạt động của
chính phủ hay thông qua các kênh truyền thông và mạng xã hội
Lý luận về sức mạnh mềm của J Nye đ tạo nên một cuộc thảo luận sôi nổi
trong giới học thuật phương Tây Nhiều tác giả đ tiếp tục nghiên cứu, phê phán và
mở rộng vấn đề này trong các công trình của mình Có thể kể đến như:
Steven Luke trong công trình “Sức mạnh và cuộc chiến giữa trái tim và tâm
trí ” (Power and the Battle for Hearts and Minds) (2005) [82] đăng trên tạp chí
Trang 8dạng tiềm năng Theo ông, sức mạnh thực sự cần phải ở trạng thái được “k ch hoạt”chứ không phải chỉ ở dạng tiềm ẩn Đồng thời, Luke c ng đưa ra cách thức nhằm sosánh sức mạnh của các chủ thể khác nhau, là dựa trên kết quả của hành động và tầm
quan trọng của kết quả mà họ đạt được Khi nhắc tới khái niệm sức mạnh, Luke cho
rằng nó không chỉ đơn giản thể hiện sự đe dọa hay dụ dỗ nhằm tranh đoạt lấy quyềnlợi t những người khác, mà quan trọng hơn, nó c n iểu hiện ở khả năng địnhhình, ảnh hưởng hoặc xác định niềm tin và mong muốn của người khác, nhờ đó cóđược sự tuân thủ của họ [82, tr 486] Đó c ng ch nh là “chiều cạnh thứ a” của kháiniệm sức mạnh mà Nye nhắc tới – sức mạnh mềm Luke cho rằng, vận dụng khía
cạnh mềm của sức mạnh chính là khía cạnh có thể đảm bảo giành được cả “trái tim
và tâm tr ” của người khác Để làm điều này, ông cho rằng cần tập trung vào cả chủthể và đối tượng và cần trả lời được những câu h i: chính xác làm thế nào để các
chủ thể thành công trong việc giành được trái tim và tâm trí của những người chịu
ảnh hưởng của họ? Làm thế nào những người có quyền lực định hình sở thích của
những người chịu quyền lực của họ? Hoặc ch nh xác hơn: đến mức độ nào, theonhững cách thức và cơ chế nào để các chủ thể mạnh m ảnh hưởng đến nhữngngười khác
Có thể nói, Luke trong công trình của mình đ làm rõ những quan điểm khác
nhau về sức mạnh, chỉ ra các chiều cạnh của sức mạnh và khả năng vận dụng nó
trong bối cảnh hiện đại Trong đó, chiều cạnh mềm của sức mạnh được ông đặc biệtnhấn mạnh, cho rằng nó là phương tiện quan trọng để giành được cả trái tim và tâmtrí của người khác, do vậy, s đạt được hiệu quả tối đa.
Tác giả Christopher Ford trong công trình “Yếu tố m m trong sức mạnh m m”
(“Soft on “Soft Power”) (2012) c ng đ đưa ra quan điểm của mình về sức mạnh
mềm Ông cho rằng, sức mạnh mềm là khái niệm được d ng để đề cập tới tập hợp
những tác động của lực tổng hợp của một quốc gia trong các lĩnh vực kinh tế, vănhóa và chính trị Thực tế là, hiện nay, sức mạnh mềm bao gồm tất cả các khía cạnh
của sức mạnh quốc gia, tr sức mạnh cứng là có liên quan tới những ép buộc về
quân sự [70]
Trang 9nào?”(What is Soft Power and How Russia Should Use it?) (2012), nhà nghiên cứu
Pilko cho rằng sức mạnh mềm có thể coi như sức hấp dẫn của hình ảnh của một
quốc gia trên trường quốc tế Hình ảnh quốc gia là một tập hợp đầy đủ các bộ phận,
như là hệ thống giá trị, hệ thống chính trị quốc gia, trật tự kinh tế, văn hóa, những
truyền thống và phong tục, di sản lịch s , tư tưởng, tôn giáo [121] Có thể nói,
ngoài việc chỉ ra những cách thức mà một quốc gia cụ thể là Nga cần làm để s
dụng sức mạnh mềm, công trình này đ góp phần mở rộng khái niệm của Nye về
sức mạnh mềm t khía cạnh những nguồn lực tạo ra sức mạnh mềm, bao gồm
không chỉ văn hóa, các giá trị tư tưởng và chính sách mà còn gồm cả các yếu tố như
kinh tế, giáo dục
Góp thêm vào cuộc tranh luận về sức mạnh mềm, công trình “Một cách tiếp
cận phê phán v sức mạnh m m” (A critical approach to soft power) (2017) [96]
của tác giả Umut Yukaruc đăng trên Journal of Bitlis Eren University đ phê phánkhái niệm sức mạnh mềm do Nye đưa ra ở a điểm: thứ nhất, rất khó để đo lườngsức mạnh mềm hoặc để chứng minh rằng hành vi của một quốc gia là kết quả củaquyền lực mềm của các quốc gia khác Thứ hai, khái niệm này không quá độc đáo
và có những điểm tương đồng với các cách tiếp cận khác trong khái niệm á quyềncủa nhà tư tưởng người Ý, Antonio Gramsci Thứ a, có sự mơ hồ về tác nhân/cấutrúc của khái niệm Không có sự khác iệt giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm
về mục tiêu của nó Không rõ liệu nó chỉ nằm trong sự kiểm soát của một nhà nướchay có thể có các tác nhân khác như các tổ chức phi ch nh phủ và các iểu tượngvăn hóa phổ iến hoặc cấu trúc mà khái niệm này hoạt động trong đó
Bảng xếp hạng thường niên “Sức mạnh m m 30” (Soft power 30) [118] thuộc
h ng quan hệ công chúng Porland là một trong những công trình hướng tới việc đolường các chỉ số của sức mạnh mềm của các quốc gia trên thế giới Bảng xếp hạng
này được xây dựng t năm 2015, do tác giả Jonathan Mcclory, một nhà nghiên cứu
tại Viện Chính phủ thuộc Vương quốc Anh đồng thời là một chuyên gia về sức
mạnh mềm, ngoại giao công chúng, quan hệ văn hóa sáng lập Ông cùng với các
cộng sự đ tìm cách định lượng sức mạnh mềm nhằm tạo cơ sở để so sánh sức
Trang 10mạnh mềm giữa các quốc gia Báo cáo dựa trên 6 nhóm chỉ số để đo lường sức
mạnh mềm của một quốc gia, bao gồm: kỹ thuật số, văn hóa, kinh doanh, hợp tác,giáo dục – đào tạo, chính phủ Trong đó, chỉ số sức mạnh mềm văn hóa được xácđịnh dựa trên tỉ lệ phổ biến của ngôn ngữ quốc gia, số lượng huy chương tại các kỳOlympic, số lượng di sản văn hóa, số lượng album nhạc phát hành và đứng top 50thế giới về mức tiêu thụ, các triển lãm tranh ảnh, vị trí của óng đá quốc gia đó trênbảng xếp hạng FIFA và số lượng khách du lịch Đây là một trong những công trình
đưa ra cách đo lường sức mạnh mềm thông qua nhiều chỉ số cụ thể và được thamkhảo bởi nhiều chính phủ trên thế giới
Ngoài ra, một công trình nghiên cứu khác c ng hướng tới việc định lượng và
so sánh sức mạnh mềm của các quốc gia trên thế giới là bảng xếp hạng “Chỉ số sức
mạnh mềm toàn cầu” (Global soft power index) của h ng tư vấn định giá thươnghiệu hàng đầu thế giới Brand Finance [100] Bảng xếp hạng này đánh giá và xếphạng sức mạnh mềm của 100 quốc gia trên thế giới, dựa trên bảy trụ cột cơ ản:
kinh doanh và thương mại; chính phủ; quan hệ quốc tế; văn hóa và di sản; truyềnthông đại chúng; giáo dục và khoa học; con người và giá trị Chỉ số sức mạnh mềm
văn hóa được xác định dựa trên thành tựu trong các lĩnh vực: du lịch, thể thao, ẩm
thực, nghệ thuật, văn học, âm nhạc, phim ảnh, tr chơi điện t và thời trang.
Có thể nói, kể t khi J Nye thiết lập lý luận về sức mạnh mềm, vấn đề này đ
được thảo luận sôi nổi trong giới học thuật và giới chính trị quốc tế Những tranh
luận sôi nổi xung quanh vấn đề này minh chứng rằng đây là vấn đề thiết thực màmọi quốc gia cần đối mặt trong bối cảnh hiện nay Nye bị phê phán là chỉ tập trung
vào trường hợp của Mỹ khi đưa ra lý luận về sức mạnh mềm, tuy nhiên đa số cácnhà nghiên cứu đồng ý với khái niệm sức mạnh mềm mà ông đưa ra Đồng thời, lýluận về sức mạnh mềm an đầu của Nye c ng được mở rộng và bổ sung thêm nhiềunội dung, giúp hoàn thiện và sáng t hơn về vấn đề này.
1
.1.2 Những công trình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về sức mạnh mềm mới chỉ bắt đầu trong
khoảng hơn mười năm trở lại đây Về cơ ản, ở Việt Nam chưa có nhiều công trìnhnghiên cứu lý luận về vấn đề sức mạnh mềm như một số nước trong khu vực và trên
Trang 11thế giới Tuy vậy, có thể kể đến một số công trình bắt đầu tiếp cận tới vấn đề này
như: ài áo “Các yếu tố cấu thành sức mạnh tổng hợp quốc gia” của tác giả Lương
Văn Kế (2007) [28] đăng trên tạp chí Nghiên cứu châu Âu số 9; “Sức mạnh m m
sản số 808; “Quy n lực cứng, quy n lực m m, quy n lực thông minh trong n n dân
chủ” của tác giả Bùi Việt Hương (2011) [24] đăng trên tạp chí Lý luận chính trị số3
/2011; “Cạnh tranh sức mạnh m m giữa các quốc gia đầu thế kỷ XXI” của tác giả
Trần Nguyên Khang [30] đăng trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 3 (106) tháng
/2016; cuốn sách “Ngoại giao văn hóa: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng
dụng” [63] của tác giả Phạm Thái Việt và Lý Thị Hải Yến do nhà xuất bản Chính trị
Hành chính ấn bản năm 2012 Trong các công trình này, đa số các tác giả đ làm9
-rõ khái niệm sức mạnh mềm và những vấn đề cơ ản về lý luận sức mạnh mềm hiện
đang được thảo luận sôi nổi trên thế giới
Trong ài áo “Các yếu tố cấu thành sức mạnh tổng hợp quốc gia” đăng trên
tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số 9/2007 của mình, tác giả Lương Văn Kế đ kh ng
định sự cần thiết của việc nghiên cứu sức mạnh tổng hợp quốc gia và chỉ ra các yếu
tố cấu thành sức mạnh tổng hợp quốc gia, trong đó có các yếu tố mềm như năng lựccủa chính phủ hay sự đoàn kết trong nhân dân T đó, tác giả kh ng định cần thiết
phải khai thác một cách có hiệu quả cả khía cạnh sức mạnh cứng và sức mạnh mềm
để gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia trong bối cảnh mới
C n trong công trình “Nhận diện sức mạnh m m Trung Quốc và ứng xử của
đi sâu phân t ch lý thuyết và phương pháp tiếp cận vấn đề sức mạnh mềm theo quanđiểm của J Nye, t đó vạch ra một số quy tắc trong việc s dụng sức mạnh mềm.
Trên cơ sở đó, tác giả phân tích cách thức s dụng sức mạnh mềm mà chính quyền
Trung Quốc thực hiện đối với các nước xung quanh, và rút ra bài học về cách
ứng x của Việt Nam đối với sức mạnh mềm của Trung Quốc Bài viết dù có
mục đ ch nhận diện về cách thức vận hành sức mạnh mềm của Trung Quốc, song
những phân tích về lý luận sức mạnh mềm và phương pháp tiếp cận vấn đề trong
đó là rất đáng lưu ý
Trang 12Trong ài áo “Cạnh tranh sức mạnh m m giữa các quốc gia đầu thế kỷ XXI”
đăng trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 3 (106) tháng 9/2016, tác giả Trần Nguyên
Khang trên cơ sở làm rõ khái niệm sức mạnh mềm và sự “thịnh hành” của nó trongquan hệ quốc tế thế kỷ XXI đ chỉ ra cuộc cạnh tranh mang t nh đa phương toàn cầunhằm gia tăng sức mạnh mềm giữa các quốc gia trên thế giới Tác giả đ phân t chnhững đặc trưng của cuộc cạnh tranh về sức mạnh mềm giữa các quốc gia đứng đầutrong bảng xếp hạng các quốc gia có sức mạnh mềm lớn nhất thế giới, t đó rút ra
bài học kinh nghiệm cho việc phát huy sức mạnh mềm của các quốc gia khác, trong
đó có Việt Nam
Tác giả Nguyễn Minh trong ài “Sức mạnh m m trong quan hệ quốc tế”
(2010) đăng trên tạp chí Cộng sản số 808 đ làm rõ các khái niệm công cụ như kháiniệm sức mạnh, khái niệm sức mạnh cứng, sức mạnh mềm, t đó chỉ rõ sự cần thiết
phải xây dựng và phát huy sức mạnh mềm của các quốc gia, d đó là các quốc gia
lớn hay nh Đồng thời, tác giả c ng chỉ ra một cách khái quát những cách thức xây
dựng sức mạnh mềm của một số quốc gia khác nhau, t đó chỉ ra tiềm năng có thể
khai thác của sức mạnh mềm Việt Nam
Trong cuốn sách “Ngoại giao văn hóa: cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và
đề lý luận cơ ản về ngoại giao văn hóa như cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn củangoại giao văn hóa, những nội dung cơ ản của ngoại giao văn hóa, những công cụ
cơ ản để thực thi ngoại giao văn hóa và những kinh nghiệm trong việc s dụng
những công cụ này của một số quốc gia T đó, các tác giả rút ra những bài học
kinh nghiệm cho ngoại giao văn hóa ở Việt Nam Mặc dù không trực tiếp bàn tới
những vấn đề lý luận về sức mạnh mềm và sức mạnh mềm văn hóa, song nhữngnghiên cứu t góc độ ngoại giao văn hóa với tư cách là một trong những phươngthức thực hiện sức mạnh mềm văn hóa của hai tác giả là điều rất đáng quan tâm
Có thể thấy, đa số các công trình trên khi trình bày về vấn đề sức mạnh mềm đều
tiếp cận t góc độ của J.Nye, người được coi như cha đẻ của học thuyết này Về cơbản, các công trình nghiên cứu về sức mạnh mềm của các tác giả Việt Nam chưa hệ
thống các luồng quan điểm về sức mạnh mềm trên thế giới hay những tranh cãi về lý
Trang 13luận xung quanh khái niệm này Đồng thời, chưa có công trình nghiên cứu mang tínhđịnh lượng nào về vấn đề sức mạnh mềm và sức mạnh mềm của Việt Nam.
1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỨC MẠNH MỀM VĂN HÓA
1
.2.1 Những công trình nghiên cứu nước ngoài
Khi J Nye đưa ra lý luận về sức mạnh mềm, ông kh ng định văn hóa là mộttrong những nguồn quan trọng nhất tạo nên sức mạnh mềm của một quốc gia Đa số
các nhà nghiên cứu tán thành với nhận định này của Nye Đ có nhiều công trình
nghiên cứu luận giải về vai trò quan trọng của văn hóa đối với việc gia tăng sứcmạnh mềm của một quốc gia Tiêu biểu có thể kể tới các công trình sau:
Bài viết “Văn hóa như là sức mạnh m m trong quan hệ quốc tế” (Culture as
Andrei đăng trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế Knowledge – based organization, Vol
XXI No 1, 2015 đ kh ng định sức mạnh mềm là một loại sức mạnh tinh thần, mà
tất cả các yếu tố mềm của sức mạnh tinh thần đều ẩn chứa trong văn hóa Vì vậy,văn hóa là một nguồn quan trọng của sức mạnh mềm và là một phần thiết yếu của sức
mạnh tổng hợp quốc gia Tác giả cho rằng văn hóa đóng một vai trò quan trọng trong
quá trình ra quyết định liên quan đến các nhà l nh đạo chính trị, vì họ đưa ra quyết địnhdưới ánh sáng của nhận thức văn hóa cụ thể đối với văn hóa của chính họ, bởi vậy tácđộng của sức mạnh mềm văn hóa trong các quan hệ quốc tế là rất lớn
Tác giả Hanna Schreiber trong công trình “Di sản văn hóa phi vật thể và sức
mạnh m m – khảo sát mối quan hệ” (“Intangible cultural heritage and soft power –
Intangi le Heritage đ chỉ ra khái niệm sức mạnh mềm và làm rõ mối quan hệ của
nó với các di sản văn hóa phi vật thể Trên cơ sở những số liệu về di sản văn hóa phivật thể của nhân loại, quan điểm của UNESCO về di sản văn hóa phi vật thể c ngnhư ảng xếp hạng quyền lực mềm Soft power 30, tác giả đ chỉ ra tầm quan trọng
của các di sản văn hóa phi vật thể đối với việc gia tăng sức mạnh mềm của các quốcgia, đặc biệt là đối với các quốc gia nh
Công trình “Văn hóa, cốt lõi của sức mạnh m m: nghiên cứu tổng thể v các
yếu tố của sức mạnh m m văn hóa Iran” (“Culture, the core of soft power: an
Trang 14overview of Iran’s Cultural components of soft power”) (2014) [71] của nhóm tác
giả Golshanpazhooh Mahmoud Reza và Esfahani Marzieh Kouhi đ phân t ch
nguyên nhân thành công trong việc vận dụng sức mạnh mềm trong chính sách của
Iran khi đối mặt với áp lực quốc tế liên tục, các lệnh tr ng phạt kinh tế và bị cô lập,
là do một yếu tố mạnh m và lâu dài hơn, đó là "văn hóa" Bài viết xem xét hai trụcột cho cấu trúc văn hóa của Iran; nền văn minh Ba Tư và văn hóa Hồi giáo Mặc
dù tập trung vào việc phân tích tình huống cụ thể của sức mạnh mềm văn hóa của
Iran, cung cấp các ví dụ về việc s dụng các thành phần văn hóa để phát huy sức
mạnh mềm, song những lập luận về vai trò của văn hóa đối với việc phát huy sức
mạnh mềm của quốc gia, đặc biệt trong điều kiện một quốc gia phải đối mặt vớinhiều thách thức như Iran, là rất đáng quan tâm
Công trình “Từ sức mạnh m m và văn hóa đại chúng tới văn hóa đại chúng
đăng trong Working Paper No 03-16, University of Bristol đ kh ng định các yếu
tố của văn hóa đại chúng, t truyền thông, thể thao, phim ảnh hay du lịch là những
nguồn lực đáng kể của sức mạnh mềm Tuy nhiên, chúng lại không được quan tâm
đánh giá đúng mức trong quan hệ quốc tế Các tác giả cho rằng văn hóa đại chúngđang tham gia t ch cực vào chính trị thế giới, bởi vì nó tác động tới tất cả mọi đốitượng, t người ình thường cho tới các nhà hoạch định chính sách thông qua quá
trình sản xuất, tiêu thụ và phổ biến các sản phẩm văn hóa đại chúng Chính vì vậy,
các tác giả cho rằng cần nhấn mạnh tới vai trò của văn hóa đại chúng đối với chính
vốn có n t đặc th đối với mỗi quốc gia chứ không có một cách thức chung nào cho
mọi quốc gia
Trang 15.2.2 Những công trình nghiên cứu trong nước
Giống như vấn đề về sức mạnh mềm, vấn đề sức mạnh mềm văn hóa c ng mớiđược các tác giả Việt Nam quan tâm tới trong thời gian gần đây Về cơ ản, các công
trình nghiên cứu về sức mạnh mềm văn hóa ở Việt Nam chủ yếu tập trung bàn về tầm
quan trọng của sức mạnh mềm văn hóa và vấn đề sức mạnh mềm văn hóa cụ thể củamột quốc gia Có thể kể tới những công trình tiêu biểu như: ài áo “Vấn đ nâng cao
sức mạnh m m văn hóa ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Phạm Huy Kỳ đăng trên tạp
chí Triết học số 5 (228), tháng 5/2010; bài viết “Sức mạnh m m của văn hóa trong giao
Sinh hoạt lý luận số 1 năm 2013; “Lý luận sức mạnh m m văn hóa và nhận thức của
Trung Quốc v sức mạnh m m văn hóa” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số
12 (148) năm 2013 của hai tác giả Hồng Yến – Hoài Nam; cuốn sách “Sức mạnh m m
văn hóa Trung uốc - tác động đến Việt Nam và một số nước Đông Á” do Nguyễn Thị
Thu Phương chủ biên (2016), nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành
Trong công trình “Lý luận sức mạnh m m văn hóa và nhận thức của Trung Quốc
v sức mạnh m m văn hóa” [65] đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 12
(148) năm 2013, hai tác giả Hồng Yến – Hoài Nam đ tập trung làm rõ nội hàm kháiniệm sức mạnh mềm, những nguồn tạo ra sức mạnh mềm theo quan điểm của J Nye,
đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm Hai tác giả c ng
đồng thời thống kê những đánh giá của giới học giả phương tây về học thuyết sứcmạnh mềm của Nye, trong đó có những tán đồng và những tranh luận gay gắt về lýluận c ng như về cách phân chia và tương tác giữa sức mạnh cứng – sức mạnh mềmtrong lý thuyết của Nye Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về sức mạnh mềmtrong học thuyết của Nye, hai tác giả đ đi sâu phân t ch quan điểm của các học giảTrung Quốc về khái niệm sức mạnh mềm đặc sắc Trung Quốc, về nguồn sức mạnh
mềm và phương thức thực hiện sức mạnh mềm của Trung Quốc Trên cơ sở đó, tác giảrút ra những nhận xét về bản chất của sức mạnh mềm Trung Quốc c ng như về xu
hướng gia tăng sức mạnh mềm của Trung Quốc trong khu vực Có thể nói, đây là àiviết tổng thuật được nhiều nghiên cứu về sức mạnh mềm của nhiều tác giả, cả ở
Trang 16phương Tây và ở Trung Quốc, cho thấy rằng đây là vấn đề được quan tâm nghiên cứu
một cách rộng rãi trên phạm vi quốc tế
Tác giả Phạm Huy Kỳ trong ài áo “Vấn đ nâng cao sức mạnh m m văn hóa
rõ nội hàm khái niệm sức mạnh mềm và sức mạnh cứng, t đó chỉ ra tính tất yếu
của việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số gợi ý về việc tăng cường xây dựng văn hóa,nâng cao sức mạnh mềm văn hóa ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Ngọc Hòa trong bài viết “Sức mạnh m m của văn hóa trong
năm 2013 đ kh ng định giao lưu là nhu cầu không thể thiếu của con người, và trongquá trình giao lưu, những hấp dẫn về văn hóa là những hấp dẫn bền vững và lâu dài
nhất, vì vậy, phát triển văn hóa đ trở thành một chiến lược để phát triển đất nước Văn
hóa thể hiện như là sức mạnh mềm, có khả năng thay đổi những quan niệm về giá trị và
tác động mạnh m đến thể chế chính trị của một quốc gia T những nhận định này, tác
giả đưa ra một số gợi ý nhằm phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt nam trong giai
đoạn hiện nay
Ngoài ra, c n phải kể đến một số công trình in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa
học Quốc tế “Sức mạnh m m Ấn Độ, sức mạnh m m Việt Nam trong bối cảnh khu
gia Hồ Ch Minh tổ chức vào tháng 12/2017 Hội thảo tập hợp nhiều ài tham luậnsâu sắc về nhiều vấn đề, t vấn đề lý luận về sức mạnh mềm, tới thực tiễn phát huysức mạnh mềm của Ấn Độ và sức mạnh mềm của Việt Nam trong ối cảnh khu vựchóa, toàn cầu hóa hiện nay Đặc iệt, Hội thảo có nhiều ài tham luận về sức mạnhmềm, sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam và phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt
Nam hiện nay Tiêu iểu như: Dương Xuân Ngọc: Giá trị văn hóa Việt Nam với
việc tạo lập và phát huy “quy n lực m m” quốc gia trong tiến trình đổi mới và hội
Trang 17Phát huy sức mạnh m m của văn hóa Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế;
Nguyễn Huy Phòng: Phát huy sức mạnh m m của văn hóa trong quá trình phát
triển b n vững ở nước ta hiện nay; Nguyễn Thị Nga, Hoàng Thị Kim Oanh: Phát
huy sức mạnh m m Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa;
Nhìn chung, các bài tham luận của các tác giả đều chỉ ra rằng, Việt Nam là
quốc gia có bề dày lịch s , có truyền thống văn hóa lâu đời, đậm đà ản sắc dân tộc
và một vị tr địa chính trị cực kỳ quan trọng trong khu vực Dân tộc Việt Nam t xa
xưa đ xác định cách sống, cách ứng x phù hợp với những hoàn cảnh, thách thức
của tự nhiên và xã hội, vì vậy, sức mạnh mềm Việt Nam đ tồn tại t lâu trong lịch
s dân tộc Nhiều tác giả kh ng định, bản sắc văn hóa Việt Nam kết tinh t những
giá trị cốt lõi như: tinh thần yêu nước, thương người; trí thông minh, sáng tạo trong
sản xuất và chiến đấu; tinh thần nhân nghĩa; truyền thống đoàn kết tương thân tương
ái Đó ch nh là cốt lõi của sức mạnh mềm Việt Nam Trên cơ sở đó, các tác giả
kh ng định: trong bối cảnh mới, cần đúc kết kinh nghiệm, nghiên cứu lý luận để
khơi dậy và phát huy tiềm năng của sức mạnh mềm Việt Nam; phải gìn giữ, phát
huy những nhân tố tốt đ p trong truyền thống của dân tộc, đồng thời đón nhận những
tinh hoa văn hóa nhân loại để t đó nâng cao sức mạnh mềm Việt Nam Nhiều giảipháp để phát huy sức mạnh mềm Việt Nam c ng đ được đưa ra trong các ài thamluận này Tuy nhiên, đa số những công trình này mới d ng lại ở việc tiếp cận vấn đề
sức mạnh mềm, sức mạnh mềm văn hóa t lý luận của J Nye – một lý luận được đưa
ra dựa trên những đặc thù của một nước lớn, có ảnh hưởng lớn về văn hóa trên thế giới,chưa có công trình nào phân t ch về sức mạnh mềm văn hóa t góc độ của các nước
nh , đang phát triển, c ng chưa có công trình nào làm rõ được về mặt lý luận nhữngyếu tố tạo nên sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam
Ngoài các công trình được công bố dưới dạng tạp chí, t năm 2013 đến nay, các
vấn đề liên quan đến lý luận sức mạnh mềm văn hóa c ng đ được đề cập tới trong một
số cuốn sách, ch ng hạn như cuốn sách “Sức mạnh m m văn hóa Trung uốc - tác
(2016) do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật phát hành Trong công trình này,
nhóm tác giả đ đi sâu phân t ch những vấn đề lý luận về sức mạnh mềm, sức mạnh
Trang 18mềm văn hóa trong quan điểm của Trung Quốc, c ng như những cách thức triển khaisức mạnh mềm văn hóa mà Trung Quốc đ tiến hành ở một số nước Đông Á và ViệtNam Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đ tổng hợp những phản ứng của các nước Đông Átrước sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc và đưa ra những gợi ý ch nh sách đối vớiViệt Nam Tuy rằng ở đây, nhóm tác giả tập trung chủ yếu vào vấn đề triển khai sức
mạnh mềm văn hóa của Trung Quốc, song so với các công trình ở Việt Nam, đây là haicông trình trình bày hệ thống hơn về những vấn đề lý luận liên quan tới sức mạnh
mềm, sức mạnh mềm văn hóa
Về cơ ản, các công trình nghiên cứu của các học giả trong nước về lý luận sức
mạnh mềm văn hóa c ng giống như đa số học giả nước ngoài, đều xoay quanh luậnthuyết sức mạnh mềm của Joseph Nye – người được coi như cha đẻ của học thuyếtnày Ở Việt Nam cho tới nay, các công trình nghiên cứu về sức mạnh mềm văn hóa
chưa nhiều về số lượng, c ng chủ yếu là những công trình với quy mô còn nh Nếu
như giới học thuật của nhiều quốc gia xung quanh chúng ta như Trung Quốc hay HànQuốc đ và đang tập trung vào việc khai thác quan niệm của riêng họ về sức mạnh
mềm văn hóa, thì vấn đề sức mạnh mềm và sức mạnh mềm văn hóa ở Việt Nam rõràng vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống
1
.3 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC PHÁT HUY SỨC
MẠNH MỀM VĂN HÓA
1
.3.1 Những công trình nghiên cứu về thực tiễn phát huy sức mạnh
mềm văn hóa ở một số quốc gia trong khu vực
Với mục tiêu tìm hiểu thực tiễn phát huy sức mạnh mềm văn hóa ở một số
quốc gia nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình phát
huy sức mạnh mềm văn hóa của đất nước, luận án lựa chọn tìm hiểu về thực tiễn
phát huy sức mạnh mềm văn hóa của bốn quốc gia trong khu vực Trong đó, Hàn
Quốc và Singapore là hai quốc gia nh với xuất phát điểm thấp nhưng trong một
khoảng thời gian không dài đ đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triểnđất nước, mà một trong những nguyên nhân là do phát huy sức mạnh mềm văn hóa;
còn Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia lớn nhưng có nhiều ảnh hưởng về văn
hóa đối với Việt Nam
Trang 19.3.1.1 Hàn Quốc
Trong các quốc gia ở châu Á, Hàn Quốc được xem như một bài học thành
công về việc phát huy sức mạnh mềm Chỉ trong vài chục năm xây dựng đất nước
sau chiến tranh, Hàn Quốc đ được nhiều người biết tới như là một cường quốc về
điện ảnh, âm nhạc, thời trang, mỹ phẩm , trở thành một hình ảnh hấp dẫn đối với
nhiều người, đặc biệt là đối với những người trẻ ở khắp nơi trên thế giới Những giátrị văn hóa Hàn Quốc được phổ biến rộng khắp toàn thế giới thông qua các sản
phẩm của họ đ tạo nên sức mạnh mềm văn hóa của nước này Đ có rất nhiều côngtrình nghiên cứu phân tích các thành tố của sức mạnh mềm Hàn Quốc và lý do vì
sao nước này đạt được thành tựu đáng kể trong việc phát huy sức mạnh mềm vănhóa Tiêu biểu có thể kể tới các công trình: “Lý luận v sức mạnh m m và chiến
lược sức mạnh m m của Hàn Quốc” (“A Theory of Soft Power and orea’s Soft
sóng Hàn Quốc: phân tích v chính sách ngoại giao văn hóa trong các bài phát
Young Kim và Dal Yong Jin đăng trên International Journal of Communication
1
0(2016); “Có phải Hàn Quốc mở rộng ngoại giao sức mạnh m m?” (Is [south]
mạnh m m Hàn Quốc: nguồn lực, tác nhân, tác động và ảnh hưởng”(Mapping
South orea’s soft power: sources, actors, tooks and impacts) [76] của hai tác giả
Youngmi Kim và Valentina Marinescu đăng trên Journal of Sociological studies,
New series, No 1 (2015), p 3-12; Công trình Sức mạnh m m văn hóa của Hàn
Các công trình này đ góp phần làm rõ quá trình nhận thức và hành động quanhiều giai đoạn của chính phủ và người dân Hàn Quốc nhằm tiến hành xây dựng và
phát huy sức mạnh mềm văn hóa của mình cho tới giai đoạn hiện nay
Các tác giả chỉ ra rằng, Hàn Quốc bắt đầu chú ý tới khái niệm sức mạnh
mềm vào khoảng cuối thập kỷ 90 khi chính phủ của họ nghiêm túc đánh giá về tầm
Trang 20quan trọng của các ngành công nghiệp văn hóa và ngoại giao công chúng trong việc
xây dựng một hình ảnh thu hút của quốc gia trên trường quốc tế Bằng chứng là vào
năm 1996 – 1997, Bộ Văn hóa và Thể thao Hàn Quốc đ lựa chọn 10 biểu tượng
văn hóa để giới thiệu về đặc trưng của văn hóa Hàn Quốc với thế giới Đó là: trangphục truyền thống – hanbok; chữ viết – Hangul; các món ăn truyền thống - Kimchi
và pulgogi; những ngôi chùa– Bulguksa; võ thuật – Taekwondo; trà sâm - Koryo
insam; các điệu nhảy truyền thống; các di tích Khổng giáo; tổ hợp núi và công viên
quốc gia; những nghệ sĩ Hàn Quốc nổi tiếng trên thế giới [90, tr 209]
Trong giai đoạn 1998 – 2008, chính phủ Hàn Quốc đ thúc đẩy hai lĩnh vực:
công nghệ thông tin và văn hóa đại chúng như là hai lĩnh vực trọng tâm của nềnkinh tế Công nghệ thông tin giúp kiến tạo nên những lĩnh vực công nghệ mới và
văn hóa đại chúng s là sản phẩm xuất khẩu chính của Hàn Quốc Các sản phẩm
văn hóa đại chúng được tập trung đầu tư ao gồm phim ảnh, và sau đó là âm nhạc,
đ tạo nên làn sóng Hàn Quốc (Hàn lưu) ở nhiều nước châu Á, và hiện nay phổ biến
trên toàn cầu Hàn lưu không những giúp phổ biến văn hóa và hình ảnh Hàn Quốc
rộng khắp khu vực châu Á mà còn giúp Hàn Quốc thu về những giá trị kinh tế
không nh t việc xuất khẩu các sản phẩm mang thương hiệu quốc gia và thúc đẩy
du lịch Các sản phẩm văn hóa của Hàn Quốc sở dĩ có được sự lan t a và chấp nhận
của đông đảo khán giả trên thế giới d an đầu có rào cản ngôn ngữ, là bởi cùng
một lúc nó v a rất “đặc biệt” (mang những giá trị văn hóa Hàn Quốc), lại v a “phổbiến” ( ởi nó biểu thị những giá trị, những biểu tượng và chất liệu phổ biến trên toàn
cầu) [86, tr 4] C ng t đây, Hàn lưu đ trở thành công cụ để tăng uy t n quốc gia, tạo
vị thế quốc tế cho Hàn Quốc, tạo ấn tượng tích cực và xây dựng hình ảnh ở nước ngoài
Là một quốc gia nh , tiềm lực quân sự không lớn, luôn phải đối mặt với tình
trạng căng th ng ở biên giới, lại ở cạnh một quốc gia lớn mạnh về kinh tế như Nhật
Bản, Hàn Quốc sớm đ nhận ra vai trò của sức mạnh mềm đối với sự phát triển của
đất nước mình Khi hoạch định những chính sách quốc gia, chính phủ Hàn Quốc
không thúc đẩy việc mở rộng làn sóng Hàn Quốc (Hàn lưu) như là một lĩnh vựcriêng biệt, chỉ tập trung vào sự gia tăng vai tr của văn hóa đại chúng đối với việcnâng cao hình ảnh quốc gia, mà phát triển nó như là một phần của nền kinh tế quốc
Trang 21gia bởi vì họ cho rằng sự tăng trưởng của kinh tế đất nước với sự hỗ trợ của Hàn lưu
s v a tạo ra sức mạnh cứng v a tạo ra sức mạnh mềm, v a giúp phát triển nền kinh
tế và thu về lợi nhuận, v a quảng bá và phát triển hình ảnh c ng như danh tiếngquốc gia Vì vậy, chính phủ Hàn Quốc đ cụ thể hóa các sản phẩm văn hóa thôngqua nguồn tiền trợ cấp và hỗ trợ pháp lý của họ đối với nền kinh tế quốc gia trong
khi thúc đẩy các sản phẩm văn hóa nhằm nâng cao hình ảnh quốc gia Những thànhcông của Hàn Quốc trong việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa thể hiện tầm nhìn
và vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy văn hóa đại chúng trong thời đại mới
1
.3.1.2 Singapore
Là một quốc gia rất nh ở khu vực Đông Nam Á, lịch s hình thành và phát
triển c ng chỉ mới trải qua vài chục năm, nhưng Singapore đ chứng t tầm ảnhhưởng của mình đối với các quốc gia khác trên thế giới Tầm ảnh hưởng này rõ ràngkhông tới t sức mạnh quân sự hay một nền kinh tế vượt trội, mà chủ yếu là biểu
hiện của sức mạnh mềm Năm 2019, Singapore có mặt trong bảng xếp hạng 30 quốcgia có sức mạnh mềm lớn nhất thế giới (Soft power 30) và đứng ở vị trí thứ 21 Hộchiếu Singapore c ng được đánh giá là một trong những tấm hộ chiếu “quyền lực”nhất thế giới khi được tới 189 quốc gia và vùng lãnh thổ miễn thị thực nhập cảnh
Những công trình tiêu biểu mô tả về kinh nghiệm phát huy sức mạnh mềm
của Singapore có thể kể tới như: “Singapore và kinh nghiệm sức mạnh m m”
(Singapore and the Soft power experience) của tác giả Alan Chong (2009) in trong
cuốn sách The Diplomacies of Small States, International Political Economy Series
Palgrave Macmillan, London [68]; “Sức mạnh m m của Singapore” (The soft power
of Singapore, Volume 2: Reflections on Singapore, World Scientific Publishing.
Trong các công trình này, quá trình phát huy sức mạnh mềm của Singapore được
mô tả bắt nguồn t việc nước này nhận thức được những điểm mạnh và yếu của đấtnước mình, và tận dụng những điểm mạnh đó để phát triển đất nước Singaporekhông có lợi thế về diện tích, dân số, sức mạnh quân sự , nhưng lại có một vị trí
chiến lược dọc theo những tuyến giao thông đường biển quan trọng Vì vậy, họ tậndụng điều này để tạo ra một trung tâm kết nối giữa phương Đông và phương Tây,
Trang 22tạo ra một môi trường kinh tế, tài chính, công nghệ đậm chất phương Tây trong
l ng phương Đông, t đó thu hút sự đầu tư, hợp tác của các nước khác.
Là một quốc gia đa văn hóa, đa chủng tộc, tách ra t Malaysia chưa lâu,Singapore không có lợi thế về một nền văn hóa có ản sắc riêng, giàu truyền thống
so với rất nhiều nền văn hóa khác, thậm chí, nhiều tác giả còn tranh luận rằng
Singapore không có một nền văn hóa riêng iệt, vì vậy không có sức mạnh mềm
văn hóa Tuy vậy, nếu xét t khía cạnh rộng nhất của nó, Singapore đ tập trungphát triển sức mạnh mềm của mình chủ yếu t việc khai thác nguồn lực con người,
xây dựng nên một trung tâm sáng tạo với những ý tưởng giải quyết các vấn đề thực
tiễn trong cuộc sống, t các vấn đề về quản lý đô thị tới các vấn đề về môi trường,
về không gian, về quy hoạch và kiến trúc, về y tế Singapore nổi tiếng với những
mô hình hiệu quả và sáng tạo để giải quyết các vấn đề t chống tham nh ng tới pháttriển mô hình chính phủ điện t , hay việc xây dựng các cảng biển, sân bay, quản lý
tài chính, tiền tệ C ng với sự thành công của mình, họ xuất khẩu các mô hình đó
sang nhiều nước và tạo nên danh tiếng quốc gia trên phạm vi rộng lớn
Tất yếu cùng với sức mạnh t sự sáng tạo của con người, Singapore tạo nên một
nền giáo dục tiên tiến, c ng theo phong cách một nền giáo dục kiểu châu Âu trong lòngchâu Á Các công trình nghiên cứu đều chỉ ra sự thành công của nước này trong việc
tạo nên sức hấp dẫn và thương hiệu quốc gia t giáo dục Singapore có những trường
đại học lọt top 50, 100 trường đại học hàng đầu thế giới, như Đại học Quốc giaSingapore (NUS) hay Đại học Công nghệ Nanyang (NTU), thu hút hàng năm rất nhiềusinh viên quốc tế tới học Không những thế, bằng danh tiếng này, Singapore xuất khẩu
được mô hình giáo dục ra nhiều quốc gia, t mô hình giáo dục phổ thông, đại học hay
các bộ sách giáo khoa, đặc biệt là sách giáo khoa toán và khoa học
Về cơ ản, Singapore ngay t an đầu không thực sự đặt mục tiêu phát triển
sức mạnh mềm hay sức mạnh mềm quốc gia của mình mà là tìm ra một mô hình,
một cách thức để phát triển đất nước trong điều kiện cụ thể của quốc gia mình Chỉ
có điều, trong quá trình xây dựng và phát triển, chính việc không có tài nguyên
thiên nhiên, đất đai cho tới hạn chế về nhân lực đ khiến Singapore tận lực tạo ranhững mô hình phát triển độc đáo, sáng tạo, và sự thành công của những mô hình
Trang 23này đ lan t a hình ảnh của đất nước, t đó tạo nên sức mạnh mềm của Singapore.
Ông Tan Tay Keong, Giám đốc điều hành của Quỹ quốc tế Singapore (SIF) đ phátbiểu trong một cuộc hội thảo ở Israel tháng 11/2005 về chiến lược mà Singapore s
dụng để duy trì sức mạnh mềm của mình, được gọi là 5T, bao gồm: (1) Tài năng
(Talent); (2) Thương mại (Trade); (3) Kỹ thuật (Technology); (4) Khoan dung
(Tolerance); (5) Sự tín nhiệm/niềm tin (Trust) Có thể nói, tuy không có nguồn lực
t một nền văn hóa đặc sắc và giàu truyền thống nhưng Singapore lại tạo ra đượcnhững giá trị mới để giải quyết nhiều vấn đề thời đại, do vậy tạo nên được sức hấp
dẫn của riêng mình [74]
1
.3.1.3 Trung Quốc
Trung Quốc là một trong những quốc gia châu Á có nhiều nghiên cứu về vấn
đề sức mạnh mềm và sức mạnh mềm văn hóa Các nhà l nh đạo Trung Quốc đ
sớm quan tâm tới việc nghiên cứu về sức mạnh mềm, sức mạnh mềm văn hóa như
là một trong những phương tiện để thực hiện mục tiêu của mình Vào năm 2007,
trong văn kiện Đại hội 17 của Đảng Cộng sản Trung Quốc có kh ng định Trung
Quốc cần vực dậy sức sống, sức sáng tạo của văn hóa toàn dân tộc, nâng cao sức
mạnh mềm văn hóa quốc gia [Trích theo 43, tr 60] Chính vì vậy, các nghiên cứu
về sức mạnh mềm và sức mạnh mềm văn hóa ở Trung Quốc đặc biệt nở rộ Tiêu
biểu có thể kể tới các công trình: “Sự hấp dẫn của Trung Quốc: Những tác động
của sức mạnh m m Trung Quốc” (China’s charm: Implications of Chinese soft
văn hóa và sức mạnh m m Trung Quốc: Một góc nhìn toàn cầu hóa” của tác giả
Bành Tân Lương (2008), nhà xuất bản Giảng dạy và nghiên cứu ngoại ngữ, Bắc
Kinh [35]; “Đ cương nghiên cứu v sức mạnh m m văn hóa Trung uốc”
(Research Outline for China’s Cultural Soft Power) của Zhang Guozuo (2017) [97]
in trong Research Series on the Chinese Dream and China’s Development Path,
Springer; “Trung Quốc, sức mạnh m m văn hóa mới? Sức mạnh m m và sức mạnh
Trang 24Emmanuel Lincot (2019) đăng trên Asia Focus số 109 [81]; “Sức mạnh m m văn
JCIR, vol 2, No 1
Đa số các học giả đều thống nhất rằng Trung Quốc có một nguồn sức mạnh
mềm to lớn, đó là nền văn hóa lâu đời của nước này Nền văn hóa này không chỉảnh hưởng tới các nước trong khu vực t lâu mà c n thu hút được sự quan tâm củanhiều quốc gia khác trên thế giới Các giá trị văn hóa Trung Quốc thể hiện qua phim
ảnh, các lễ hội văn hóa, ẩm thực được người Hoa mang đi khắp nơi trên thế giới haycác sản phẩm, các công trình nghệ thuật độc đáo đều tạo nên màu sắc và sức cuốn
hút riêng biệt đối với thế giới Nhận thức được điều này, trong những năm qua,
chính phủ Trung Quốc đ ằng nhiều cách thức khác nhau gia tăng sức hấp dẫn vàảnh hưởng văn hóa của mình đối với các nước trong khu vực và trên thế giới Vềmặt ngoại giao văn hóa, các nghiên cứu chỉ ra rằng chính phủ Trung Quốc đ đẩy
mạnh giao lưu về văn hóa và giáo dục với nhiều quốc gia trên thế giới Họ xây dựngcác trung tâm văn hóa Trung Quốc ở nước ngoài, các Học viện Khổng t để quảng
bá ngôn ngữ và di sản văn hóa của nước mình Về mặt giáo dục, họ tích cực cấp học
bổng và tạo các điều kiện thuận lợi cho sinh viên nước ngoài tới Trung Quốc học
tập Về mặt truyền thông, Trung Quốc thúc đẩy các kênh truyền thông để quảng bá
hình ảnh đất nước họ ra thế giới như áo điện t , truyền hình, internet Thông quangành công nghiệp giải tr , phim điện ảnh, phim truyền hình, âm nhạc và các
chương trình giải trí Trung Quốc c ng lan rộng đặc biệt ở các quốc gia châu Á, sau
đó sang cả châu Phi và châu Mỹ Latinh
1
.3.1.4 Ấn Độ
Ấn Độ ngày nay là một trong những quốc gia châu Á đang phát triển nhanh
chóng và ngày càng thể hiện rõ tầm ảnh hưởng của mình trong khu vực và trên thế
giới Vốn sở hữu một nền văn hóa đồ sộ, lâu đời và có sức ảnh hưởng vào bậc nhấttrong khu vực, chính vì vậy, Ấn Độ rất lưu tâm tới việc phát huy sức mạnh mềm và
sức mạnh mềm văn hóa Nghiên cứu về sức mạnh mềm và sức mạnh mềm văn hóa
Ấn Độ, có khá nhiều công trình tiêu biểu có thể kể tới như: cuốn sách “Truy n
Trang 25thông sức mạnh m m của Ấn Độ” (2013) (“Communnicating India’s Soft power”)
89] của Daya Kishan Thussu, nhà nghiên cứu thuộc trung tâm truyền thông Ấn Độ
[
của Đại học Westminster, London, Anh và được nhà xuất bản Palgrave Macmillan,
New York phát hành; “Sức mạnh m m Ấn Độ và ảnh hưởng văn hóa” (India’s soft
cuốn sách Challenges of Economic Growth, Inequality and Conflict in South Asia
(2009), nhà xuất bản World Scientific; “Sức mạnh m m Ấn Độ trong thế giới toàn
cầu” (Indian Soft power in a Globalizing world) của T.V Paul đăng trên tạp chíCurrent History vào tháng 4/2014
Các công trình nghiên cứu đều kh ng định rằng Ấn Độ có tiềm năng to lớn
để phát huy sức mạnh mềm văn hóa, ởi có một nền văn hóa, tôn giáo và triết học
ưu việt, có tầm ảnh hưởng rộng lớn t cổ đại tới ngày nay Ngoài ra, Ấn Độ còn hấp
dẫn nhiều người trên thế giới bởi Yoga, nền ẩm thực độc đáo hay nền điện ảnh, âmnhạc của mình Chính vì vậy, Ấn Độ đ xác định phương hướng phát huy sức mạnh
mềm văn hóa của mình trước hết là thực hiện ngoại giao Phật giáo Chính phủ Ấn
Độ thực hiện ch nh sách “Hành động ph a Đông” để tạo sự liên kết giữa Ấn Độ vàcác quốc gia Phật giáo trên thế giới, thành lập Hội đồng quan hệ văn hóa Ấn Độ
(ICCR) nhằm tập trung quảng á văn hóa Ấn Độ ra thế giới thông qua việc truyền
á văn học, múa, yoga C ng giống như nhiều nước, Ấn Độ thúc đẩy việc trao đổisinh viên thông qua cấp học bổng cho sinh viên nước ngoài và hợp tác giữa các
trường đại học, viện nghiên cứu ở châu Á nhằm quảng bá những giá trị văn hóa độc
đáo của mình tới các quốc gia hợp tác Đây có thể nói là những chính sách ngoại
giao văn hóa mà Ấn Độ thực hiện để quảng bá nền văn hóa của mình Bên cạnh đó,
Ấn Độ c ng lựa chọn tập trung phát triển công nghiệp văn hóa, đặc biệt là công
nghiệp điện ảnh như là một trong những cách thức gia tăng sức mạnh mềm văn hóacủa nước mình Bollywood – trung tâm sản xuất phim đặt tại Bombay là một trong
những trung tâm sản xuất phim lớn nhất thế giới Nhiều bộ phim điện ảnh, truyền
hình của Ấn Độ đạt mức độ phổ biến trên phạm vi thế giới, qua đó, quảng á đượcnhững giá trị văn hóa, những nghi lễ của nước này tới đông đảo khán giả quốc tế
Trang 26Là một trong những nền văn minh cổ đại, không thể phủ nhận rằng Ấn Độ có
nhiều nguồn lực to lớn để có thể phát huy sức mạnh mềm văn hóa của mình Trong
hàng ngàn năm, những giá trị văn hóa của Ấn Độ đ tồn tại và phát triển ở nhiềuquốc gia, tạo nên sự phổ biến của văn hóa Ấn Độ trên thế giới Tuy vậy, với tiềm
năng to lớn này, Ấn Độ trước đây dường như chưa tận dụng tốt để tạo nên mức độảnh hưởng của mình đối với thế giới Có những giai đoạn, mặc dù là một trong hai
nền văn minh lớn thời cổ đại ở phương Đông nhưng dường như Ấn Độ lại bị TrungQuốc vượt qua về mặt quảng bá và lan t a các giá trị văn hóa ra ên ngoài Hiện
nay, Ấn Độ đ có những thay đổi trong cách thức nhằm tập trung phát huy tối đa
sức mạnh mềm văn hóa của mình, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho quốc gia
1
.3.2 Những công trình nghiên cứu về việc phát huy sức mạnh mềm văn
hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Cùng với sự phát triển nhận thức về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển
đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong những năm qua, nhiều nhà nghiên
cứu đ làm rõ về bản sắc văn hóa Việt Nam và vai trò, sức ảnh hưởng của văn hóađối với sự phát triển của Việt Nam Có thể kể tới những công trình tiêu biểu như:
Cuốn sách “Bản sắc văn hóa Việt Nam” (2002) [40] của tác giả Phan Ngọc
do nhà xuất bản Văn học phát hành, trên cơ sở đưa ra cách tiếp cận đối với vấn đềvăn hóa và ản sắc văn hóa đ chỉ ra bề dày văn hóa của Việt Nam, những đặc trưngmang tính bản sắc của văn hóa Việt Nam so với các nền văn hóa khác T đó, tácgiả phân tích về những ưu thế của văn hóa Việt và đưa ra những cách thức nhằmphát huy văn hóa Việt trong cuộc tiếp xúc văn hóa hiện nay Mặc dù cuốn sáchkhông trực tiếp đề cập đến việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa, song những phântích về vai trò của văn hóa Việt Nam và cách thức phát huy bản sắc văn hóa của đất
nước trong giao lưu và tiếp xúc với các nền văn hóa khác là những nội dung rấtđáng chú ý, gần g i về mặt vấn đề với câu chuyện sức mạnh mềm văn hóa
Cuốn sách “V giá trị và giá trị châu Á” (2005) [47] của tác giả Hồ Sĩ Quý
đ đưa ra những phân tích sâu sắc về giá trị, vị trí của giá trị trong văn hóa, vai tr
của giá trị trong việc định hướng hoạt động của con người Tác giả đ đi sâu phân
t ch quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu về những giá trị tiêu biểu của văn hóa
Trang 27châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Á trong sự khác biệt với giá trị văn hóa phươngTây, trên cơ sở đó, kh ng định những ưu trội nhất định của giá trị châu Á và giá trịViệt Nam trong bối cảnh hội nhập và phân tích một số biến động của giá trị Việt
Nam trong toàn cầu hóa Có thể nói, những phân tích của tác giả về giá trị châu Á
trong tương quan với giá trị phương Tây cho thấy một số điểm chung về giá trị vănhóa giữa các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam khi tiến hành hội nhập
quốc tế T đây, chúng ta có cơ sở để lựa chọn tham khảo kinh nghiệm phát huy sứcmạnh mềm văn hóa của một số quốc gia trong khu vực và lựa chọn những giá trị
tiêu biểu, đặc sắc của văn hóa Việt Nam trong việc phát huy sức mạnh mềm vănhóa của đất nước
Cuốn sách “Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa” [8] của tác
giả Nguyễn Văn Dân (2006) xuất bản bởi nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội đ tập trung vào bối cảnh toàn cầu hóa và những tác động mà nó gây ra đối với vănhóa của mỗi quốc gia Tác giả chỉ ra những cơ sở dẫn tới văn hóa toàn cầu, nhữngyếu tố thể hiện chủ chốt của văn hóa toàn cầu và những giải pháp giải quyết vấn đềxung đột văn hóa trong ối cảnh toàn cầu hóa T đây, tác giả đi tới những nhậnđịnh về vai trò của văn hóa đối với phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa Có thể
nói, công trình này trực tiếp đề cập tới những vấn đề văn hóa mà một quốc gia phảiđối mặt trong bối cảnh toàn cầu hóa Dù không tiếp cận vấn đề t khía cạnh tìm
cách phát huy sức mạnh mềm văn hóa, song những nhận định của tác giả về vai tròcủa văn hóa trong phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa là những nội dung đángquan tâm
Những công trình trên tuy chưa đề cập trực tiếp tới khái niệm phát huy sứcmạnh mềm văn hóa Việt Nam nhưng ở góc độ nào đó đ đề cập tới một số khíacạnh cụ thể của việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam, v như những ưutrội của bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hiện đại, những cách thức để pháthuy bản sắc văn hóa của dân tộc trong mối quan hệ với các nền văn hóa khác
Về vấn đề phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhậpquốc tế, hiện nay ở Việt Nam có thể kể tới một số công trình nghiên cứu như sau:
Trang 28Cuốn sách “Ngoại giao văn hóa “Vì một bản sắc Việt Nam trên trường
viết của hội thảo quốc gia “Ngoại giao văn hóa vì một bản sắc Việt Nam trêntrường quốc tế, phục vụ hòa bình, hội nhập và phát triển bền vững” được tổ chức
tại Hà Nội tháng 10/2008, trong đó có nhiều bài viết, bài phát biểu đề cập tới vaitrò của ngoại giao văn hóa, ch nh sách ngoại giao văn hóa và những cách thứchiệu quả trong việc thực hiện các ch nh sách đó của Việt Nam Có thể kể tớinhững bài viết như: “Ngoại giao văn hóa Việt Nam, những khởi đầu thuận lợi để
hóa trong ch nh sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả
B i Thanh Sơn; “Nhân tố văn hóa trong ngoại giao Việt Nam: Lý luận và thực
tiễn” của tác giả V Dương Huân; “Cơ chế phối hợp giữa các Bộ, Ngành nhằm
Nguyễn Văn Tình; “Quảng bá hình ảnh Việt Nam tới bạn bè quốc tế thông qua
Các bài viết đều kh ng định trong hàng chục thế kỷ qua, ngoại giao văn hóa
đ đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Hiện nay, ngoại giao vănhóa c ng đóng vai tr quan trọng trong tổng thể ch nh sách đối ngoại của Việt Nam,thực hiện nhiệm vụ quảng bá hình ảnh và thương hiệu của đất nước, con người ViệtNam, làm cho thế giới hiểu biết đúng về Việt Nam, có thiện cảm và ủng hộ Việt
Nam T đây, các tác giả đưa ra một số biện pháp thúc đẩy hiệu quả của ngoại giaovăn hóa Việt Nam, như xúc tiến thương mại, tổ chức các sự kiện văn hóa Việt Nam
ở nước ngoài, truyền thông, áo ch Ngoại giao văn hóa có thể coi như một ví dụtiêu biểu của việc thực hiện sức mạnh mềm văn hóa của mỗi quốc gia, do vậy,
những luận điểm được nêu ra trong các bài viết này đ cho thấy phần nào quan điểmcủa nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam về vấn đề thúc đẩy ngoại giao văn hóa, mộttrong những biện pháp để phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam phục vụ cho
hội nhập và phát triển bền vững
Cuốn sách “Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trình nghiên cứu công phu về hệ giá trị Việt Nam Trong cuốn sách này, các tác giả
không chỉ khái quát hệ giá trị Việt Nam truyền thống mà còn tiến hành những
Trang 29nghiên cứu, điều tra về sự biến động của hệ giá trị Việt Nam truyền thống trong giai
đoạn hiện đại, khi đất nước đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hộinhập quốc tế T những phân tích về sự bảo tồn của những giá trị phổ biến trong xã
hội Việt Nam c ng như những giá trị bị suy thoái trở thành phi giá trị và những giá
trị mới hình thành, các tác giả đ khái quát nên mô hình hệ giá trị định hướng cần
xây dựng ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế Có thể nói, những phân tích về hệ giá trị Việt Nam hiện nay c ng như đề xuất
mô hình hệ giá trị mà chúng ta cần xây dựng đáp ứng những yêu cầu của thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của nhóm tác giả là những gợi ý
rất quan trọng trong việc xác định nội dung phát huy sức mạnh mềm văn hóa của
đất nước ta hiện nay
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia: “Những vấn đ lý luận và thực tiễn
v sức mạnh m m văn hóa Việt Nam” (2020) [46] của nhóm tác giả Nguyễn Thị
Thu Phương Đây là công trình có hệ thống đầu tiên về vấn đề sức mạnh mềm vănhóa ở Việt Nam, mới được bảo vệ thành công vào tháng 8/2020 Trong công trình
này, nhóm tác giả đ hệ thống hóa lý luận sức mạnh mềm, ước đầu khái quát nên
khái niệm sức mạnh mềm văn hóa, t đó đưa ra các quan điểm về nguồn lực của sứcmạnh mềm văn hóa Việt Nam Đồng thời, các tác giả c ng phân t ch những bài họckinh nghiệm của việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa của một số quốc gia trên thế
giới Trên cơ sở đó, nhóm tác giả lựa chọn một số thành tố văn hóa có tiềm năngtrong việc phát huy sức mạnh mềm của Việt Nam, gợi ý những giải pháp về chính
sách để phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đất nước ta đangchủ động, tích cực tiến hành hội nhập quốc tế
Có thể nói, đ có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam,
kh ng định vai trò của văn hóa Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước,
nhưng các công trình này chủ yếu tiếp cận t khía cạnh nội sinh, tức là coi văn hóanhư là một trong những khía cạnh của đời sống xã hội Việt Nam, xem x t tác độngcủa nó đối với sự phát triển xã hội và con người Việt Nam Một số công trình
nghiên cứu về ngoại giao văn hóa đ đề cập tới vai trò của văn hóa trong việcnâng cao hình ảnh và vị thế quốc gia, nhưng lại mới tập trung ở khía cạnh chính
sách, chưa mở rộng cách tiếp cận sang các vấn đề khác, trong khi đó, sự ảnhhưởng của một quốc gia đối với một quốc gia khác trong giai đoạn hiện nay rất
Trang 30nhiều khi không trực tiếp tới t các chính sách mà là t các khía cạnh truyền
thông, văn học nghệ thuật, vai trò của những cá nhân xuất sắc trong một lĩnh vực
cụ thể Một số công trình đ ước đầu nghiên cứu về vấn đề sức mạnh mềm vănhóa và phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam, nhưng chưa hệ thống Cho đếnhiện tại, chưa có công trình khoa học nào trực tiếp bàn về vấn đề phát huy sứcmạnh mềm văn hóa Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế Vì vậy
mà cho tới nay, những phân tích lý luận về những yếu tố cấu thành sức mạnh mềm
văn hóa Việt Nam, những phương thức phát huy sức mạnh mềm văn hóa ViệtNam còn ít và tản mạn
1.4 KHÁI QUÁT GIÁ TRỊ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN
TỚI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
tiên thực hiện Điều kiện lịch s của nó là sự thay đổi của bối cảnh quốc tế, khi toàn
cầu hóa thúc đẩy mạnh m sự xích lại gần nhau giữa các quốc gia, thế giới trở thành
một “ngôi làng toàn cầu” mà trong đó, các quốc gia càng ngày càng trở nên gắn kết,phụ thuộc, quy định lẫn nhau Nhận thức được điều đó, các quốc gia đ chủ động mởrộng quy mô và cường độ tương tác với nhau, tiến hành các hoạt động gắn kết với nhaunhằm chia sẻ lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực và tuân thủ các luật chơi chung trong
các tổ chức quốc tế Trong bối cảnh này, rõ ràng, sức mạnh mềm nổi lên như một
phương thức hiệu quả và phù hợp để các quốc gia theo đuổi mục tiêu và đạt được lợiích của mình Như vậy, học thuyết sức mạnh mềm ra đời không ngẫu nhiên mà là kết
quả của quá trình nhận thức và giải quyết vấn đề của các quốc gia trong bối cảnh mới
Trang 31L dĩ nhiên, các nhà nghiên cứu c ng chỉ ra, sức mạnh mềm không phải làthứ duy nhất làm nên sức mạnh của một quốc gia Để đạt được sự phát triển trong
bối cảnh thế giới hiện nay, các nghiên cứu đều chỉ ra sự cần thiết của việc củng cố
cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm, và sự kết hợp của chúng để trở thành “sứcmạnh thông minh”
Thứ hai, có nhiều nguồn lực để tạo nên sức mạnh mềm, tiêu biểu như văn
hóa, tư tưởng chính trị, chính sách quốc gia, trong đó văn hóa là một trong nhữngnguồn lực quan trọng Việc tập trung s dụng nguồn lực nào để xây dựng và phát
huy sức mạnh mềm của mỗi quốc gia lại phụ thuộc vào điều kiện, tình huống cụ thể
của quốc gia đó Có quốc gia có nền tảng văn hóa lâu đời, độc đáo thì lựa chọn vănhóa là m i nhọn, như Trung Quốc hay Ấn Độ Có những quốc gia không có đượcnhững nền tảng này thì khéo léo lựa chọn những giá trị phổ quát và làm mới nó, ví
dụ như Singapore Vì vậy, không có một công thức chung nào cho việc xây dựng và
phát huy sức mạnh mềm của các quốc gia trên thế giới Nhưng d s dụng nguồn
lực nào, việc các quốc gia đang tranh thủ mọi cơ hội và tiềm năng để gây ảnh hưởngtới các quốc gia khác nhằm thu được lợi thế, nâng cao sức mạnh của mình là thực
tế Đối mặt với việc này, cách tốt nhất không phải là co cụm lại, né tránh hội nhập,
t chối giao lưu, mà cần xây dựng chiến lược rõ ràng để tham gia vào quá trình ấyvới tư cách là ên chủ động, v a chủ động tiếp nhận, v a chủ động quảng bá Cónhư vậy mới có thể đứng vững và tiếp tục phát triển
Thứ a, đối với Việt Nam, các nhà nghiên cứu trong nước đều kh ng định
vai trò to lớn của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước Nhưng, đa số nhữngnghiên cứu này mới đề cập tới tác động của văn hóa đối với người Việt Nam, nghĩa
là trong phạm vi nội bộ của đất nước, chưa đề cập tới những tác động mà văn hóa
có thể tạo nên ở ên ngoài đất nước, đối với những người nước ngoài, mà thông quanhững tác động ấy, có thể tăng cường sức mạnh và tầm ảnh hưởng của quốc gia.Chính vì vậy, việc nghiên cứu về sức mạnh mềm văn hóa đối với một đất nước cótiềm năng văn hóa như Việt Nam là rất cần thiết Những nghiên cứu về sức mạnhmềm và sức mạnh mềm văn hóa ở Việt Nam mới bắt đầu, và chắc chắn s còn nhiều
vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong tương lai
Trang 32.4.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
T khi luận thuyết về sức mạnh mềm được ra đời tới nay, vấn đề này đ nhận được sự quan tâm không chỉ của giới học thuật mà còn của cả các chính trị gia
nữa Điều này chứng t rằng đây không chỉ là vấn đề lý thuyết mà còn là một vấn đềthực tiễn đang đặt ra đối với các quốc gia Những quốc gia lớn và có tầm ảnh hưởngtrước đây nhận ra, trong bối cảnh thế giới đ thay đổi sau Chiến tranh lạnh, cần cónhững phương thức mới để duy trì sức ảnh hưởng và lợi ích của mình Một số quốcgia nh , trước đây t ng chịu ảnh hưởng của nước ngoài lại tận dụng được sức mạnhmềm như một phương thức mới hiệu quả trong việc gia tăng sức mạnh và tầm ảnhhưởng của mình trên thế giới Chính vì vậy, đối với Việt Nam hiện nay, việc nghiên
cứu về sức mạnh mềm, sức mạnh mềm văn hóa và cách thức để phát huy sức mạnhmềm văn hóa, góp phần tăng cường sức mạnh quốc gia, thúc đẩy sự phát triển củađất nước là việc cần thiết Tuy nhiên, cho đến nay, số lượng những nghiên cứu về
sức mạnh mềm và sức mạnh mềm văn hóa ở Việt Nam vẫn còn rất ít Hiện chưa cócông trình nào đề cập trực tiếp tới việc làm thế nào để phát huy tiềm năng văn hóa
to lớn của đất nước, tạo nên sức hấp dẫn và sức mạnh của Việt Nam Chính vì vậy,
luận án hướng tới việc nghiên cứu những nguồn lực tạo nên sức mạnh mềm văn hóaViệt Nam, t đó tìm cách khơi dậy, phát huy chúng, góp phần vào công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay Cụ thể là:
-Làm rõ các khái niệm sức mạnh mềm văn hóa, sức mạnh mềm văn hóa Việt
Nam, phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam c ng như vai tr và tầm quantrọng của việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa trong ối cảnh đất nước đang hộinhập quốc tế hiện nay
-Chỉ ra những nguồn lực văn hóa quan trọng có thể tạo nên sức mạnh mềm
văn hóa của Việt Nam
-Làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình phát huy
sức mạnh mềm văn hóa của Việt Nam hiện nay
-Trên cơ sở những nguồn lực văn hóa của Việt Nam, những vấn đề gặp phải
trong quá trình phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam, đưa ra một số giải pháp đểkhơi dậy những tiềm năng văn hóa này, iến chúng thành sức mạnh mềm văn hóa củaViệt Nam, góp phần gia tăng sức mạnh của đất nước trong bối cảnh hiện nay
Trang 33Chương 2
PHÁT HUY SỨC MẠNH MỀM VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2
.1 QUAN NIỆM VỀ SỨC MẠNH MỀM, SỨC MẠNH MỀM VĂN HÓA VÀ
SỨC MẠNH MỀM VĂN HÓA VIỆT NAM
2
.1.1 Quan niệm về sức mạnh mềm
Sức mạnh là khái niệm gắn liền với lịch s phát triển của xã hội loài người
nói chung và của t ng quốc gia nói riêng Khái niệm này được s dụng tương đối
phổ biến không chỉ trong đời sống xã hội mà c n trong lĩnh vực nghiên cứu khoahọc xã hội, khoa học chính trị
Thông thường thì, khi xem xét tới khái niệm “sức mạnh”, chủ thể được tậptrung bàn tới là các quốc gia, t đó hình thành nên vấn đề sức mạnh quốc gia Các nhànghiên cứu t lâu đ chú ý tới vấn đề sức mạnh tổng hợp quốc gia, nhưng một cách hệthống, vấn đề này mới chỉ xuất hiện rõ rệt t khoảng cuối thế kỷ 19 ở phương Tây, pháttriển t quá trình t nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng, xác định các yếu
tố cấu thành và vai trò của t ng yếu tố đó trong việc cấu thành sức mạnh tổng hợp quốcgia ở thế kỷ 20 Theo đó, mỗi quốc gia là một thực thể độc lập, sức mạnh của mỗi quốcgia được cấu thành bởi nhiều yếu tố tự nhiên và xã hội, vật chất và tinh thần, t đất đai,tài nguyên thiên nhiên, dân cư tới thực lực kinh tế, các yếu tố văn hóa, sức mạnh tinhthần Các yếu tố này có thể được chia thành hai nhóm: các yếu tố “cứng” như l nhthổ, kinh tế, dân số, trình độ quân sự và các yếu tố “mềm” như sức mạnh văn hóa, sứcmạnh tinh thần, các giá trị chính trị Nhiều tác giả đ chỉ ra sức mạnh của một quốc
gia không chỉ ở việc cưỡng chế, bắt buộc các quốc gia khác mà còn ở khía cạnh làm
các nước khác tự nguyện điều chỉnh hành vi theo mục tiêu mình mong muốn Ch ng
hạn như học giả người Anh Edward Hallett Carr t những thập niên 30 – 40 của thế kỷ
XX kh ng định rằng sức mạnh chính trị trong quan hệ quốc tế bao gồm ba nguồn: sức
mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế và sức mạnh của ý tưởng [67, tr 108]
Nếu gần đây, người phương Tây mới bắt đầu chú ý tới khía cạnh “mềm” củasức mạnh thì người phương Đông ngay t thời cổ đại đ thể hiện ý niệm về việc s
Trang 34dụng sự thuyết phục, hấp dẫn để đạt được mục đ ch của mình thay vì việc dùng bạo
lực hay cưỡng chế người khác Có thể thấy thấp thoáng đâu đó những tư tưởng nàytrong các học thuyết, triết lý tiêu biểu của phương Đông Khổng T - người sáng lập
ra Nho giáo đ phê phán x hội thời Xuân thu – Chiến quốc là thời kỳ “ á đạo” nổilên lấn át “vương đạo” Ông phê phán quan điểm “ á đạo” – d ng v lực để cai trịthiên hạ, thay vào đó, ông cho rằng cần d ng “vương đạo” – nghĩa là đường lối
d ng nhân nghĩa để cai trị thiên hạ Trong toàn bộ học thuyết của mình, Khổng T
nhấn mạnh tới đường lối “đức trị”, hướng tới giáo dục con người đạo đức, lễ nghĩa,
t đó họ s tự nguyện phục tùng chính quyền Sau Khổng T , học thuyết chính trị
-xã hội của Mặc t nhấn mạnh rằng “ý trời” là muốn con người yêu thương nhau,cùng làm lợi cho nhau, vì vậy, ông đưa ra thuyết “Kiêm ái”, chủ trương không d ng
v lực để thôn tính lẫn nhau mà cần nâng cao đạo đức của nhân dân để xây dựng
một xã hội không có sự phân biệt sang – hèn, trên – dưới và mọi người dân thương
yêu lẫn nhau, làm lợi cho nhau
Trong quan điểm của Đạo gia, Lão t khi bàn về “Đạo” và hai mặt đối lập
của mọi sự vật đ nhận định: “Trong thiên hạ cái rất mềm thì làm chủ cái rất cứng”,
và rằng “ muốn thu lại, hãy mở ra, muốn đoạt lấy h y cho đi” [5, tr 128] Mở
rộng quan niệm về “Đạo” trong đời sống xã hội, ông đề xướng thuyết “vô vi” –
hướng con người sống, hoạt động theo quy luật, theo l tự nhiên.
Triết học Phật giáo hướng tới mục đ ch cao nhất là giải thoát chúng sinh kh i
bể khổ luân hồi, vì thế, hướng người ta tới lối sống đạo đức, t i ác ái, chăm lolàm điều thiện Đức Phật cho rằng cần dựa vào tâm t i, đem tình yêu thương chânthật để giúp đỡ con người, mang lại lợi ích cho mọi người
Có thể thấy rằng, trong quan điểm của nhiều trường phái triết học phương
Đông đ ít nhiều có nhấn mạnh đến sự linh hoạt, mềm dẻo trong ứng x , phản đối
việc dùng bạo lực, cho rằng cần dùng sự thuyết phục bằng đạo đức, bằng nhân
nghĩa, ằng trí tuệ, bằng tình yêu thương có thể thay đổi đối phương để đạt đượcmục đ ch T cổ đại cho tới hiện nay, phong cách ứng x của người phương Đông
vẫn được nhận x t là mang đặc điểm mềm dẻo, linh hoạt, được cho là một trong
những đặc trưng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước Ở khía cạnh này, có thể
Trang 35nói người phương Đông đ t nhiều nhắc tới hoặc nhấn mạnh tới vai trò của nhữngyếu tố “mềm” và chú ý tới việc d ng “sức mạnh mềm”, đặc biệt là trong hoạt độngchính trị của chính quyền phong kiến khi đó, d rằng các tác gia khi đó đều chưanhận thức, chưa gọi tên, chưa lập luận một cách đầy đủ và rõ ràng về khái niệm này.
Mặc d người phương Tây có ý tưởng về việc s dụng sức mạnh mềm muộnhơn so với người phương Đông, không thể phủ nhận rằng họ mới chính là nhữngngười đưa ra khái niệm c ng như mô tả nó một cách cụ thể và có hệ thống Vào
năm 1973, trong cuốn “Quy n lực và thịnh vượng: inh tế ch nh trị h c trong quy n
lực” và “ảnh hưởng”, chỉ ra những cách thức gây ảnh hưởng tới các quốc gia kháckhông chỉ bằng những phương pháp “cứng” có t nh ắt buộc như quân sự mà cònbằng những ảnh hưởng mang t nh phi cưỡng chế, như kinh tế ch ng hạn Dù vậy,ông c ng chưa đưa ra được một lý luận hoàn chỉnh về vấn đề “sức mạnh mềm”.Phải đến năm 1990, giáo sư Joseph Nye, Đại học Havard, Mỹ mới tiếp tục nghiêncứu và phát triển vấn đề này, biến nó trở thành một hệ thống lý luận Vì vậy, J Nye
thường được xem như người khởi xướng lý thuyết “sức mạnh mềm” trên thế giới
Khái niệm “sức mạnh mềm” được Joseph Nye đưa ra lần đầu tiên trong cuốn
“Bound to Lead: The Changing Nature of American Power” xuất bản vào tháng tư
năm 1990 Theo Nye, sức mạnh mềm là khả năng đạt được thứ mình muốn thông qua
sự hấp dẫn chứ không phải sự ép buộc Cụ thể hơn, khi ạn có được sự ngưỡng mộ,yêu mến hay cảm phục t người khác, họ có thể tình nguyện đi theo sự dẫn dắt củabạn, làm những điều bạn mong muốn một cách tự nhiên mà không cần sự ép buộc
nào Trên cấp độ lớn hơn, một quốc gia có thể đạt được nhiều lợi ích mong muốntrong các mối quan hệ quốc tế bởi các quốc gia khác muốn noi theo khi họ ngưỡng
mộ với những giá trị của quốc gia đó, khao khát vươn tới những thành tựu mà quốcgia đó đ đạt được [83] Năm 2004, trong cuốn “Quy n lực m m – ý niệm mới v
lực mềm không chỉ đơn thuần là sự thuyết phục hay khả năng lay động người khácbằng tranh luận, mặc d đó là một phần quan trọng của nó Nó còn là khả năng thuhút và sự thu hút thường dẫn đến sự chấp nhận Nói đơn giản, trong giới hạn về hành
vi thì quyền lực mềm là sức mạnh hấp dẫn” [41, tr 29]
Trang 36Sau Nye, nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những bổ sung hoặc những cách tiếp
cận khác về khái niệm sức mạnh mềm Geun Lee, nhà nghiên cứu người Hàn Quốc
đ đưa ra định nghĩa rằng sức mạnh mềm là “sức mạnh nhằm xây dựng sở thích vàhình ảnh của bản thân và người khác thông qua những nguồn lực có tính biểu tượnghoặc tư tưởng dẫn tới sự thay đổi hành vi của người khác” [80, tr 211] Định nghĩanày được đưa ra dựa trên nguồn lực của sức mạnh mềm Nói cách khác, sức mạnhđược gọi là sức mạnh mềm khi những nguồn lực được s dụng để tạo nên sức mạnh
ấy là nguồn lực mềm, nguồn lực phi vật chất, còn khi nguồn lực được s dụng là
nguồn lực vật chất thì nó được gọi là sức mạnh cứng Về khía cạnh này, định nghĩasức mạnh mềm của Nye khiến người ta khó phân biệt giữa sức mạnh cứng và sức
mạnh mềm hơn định nghĩa của Lee Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu TrungQuốc lại đưa ra định nghĩa sức mạnh mềm là “tổng hợp sức hấp dẫn, khả năng độngviên quốc tế và khả năng động viên trong nước của chính phủ” [Trích theo 45, tr.6
1-62] Định nghĩa này nhấn mạnh vào tính chủ thể của sức mạnh mềm, là chínhphủ các quốc gia
T những quan điểm và cách tiếp cận này, có thể hiểu sức mạnh mềm là sức
mạnh của chủ thể có được nhờ việc phát huy những nguồn lực mềm; là khả năngcuốn hút, hấp dẫn, dẫn tới sự tự nguyện của khách thể trong hành vi thay vì sự ép
buộc của chủ thể sức mạnh để tạo nên kết quả Sức mạnh mềm là sự hấp dẫn tự thâncủa chủ thể của nó, khiến cho đối tượng chịu tác động của sự hấp dẫn ấy, tự nguyệnthực hiện những việc mà chủ thể của sức mạnh mềm mong muốn
Về mặt phương thức tác động, sức mạnh mềm được xem như đối lập với
Trong bối cảnh hiện đại, khi các quốc gia ngày càng tham gia vào quá trình
hội nhập quốc tế sâu rộng, thì việc s dụng sức mạnh mềm càng cho thấy ưu thế và
sự phù hợp hơn so với sức mạnh cứng Sức mạnh mềm tạo ra những lợi ích không
hề nh và có tác dụng khá lâu dài, trong khi chi phí cho nó lại không cao Đồng
Trang 37thời, việc phát huy sức mạnh mềm của một quốc gia không nhất thiết dẫn tới sự
thắng lợi của chủ thể và sự thất bại của khách thể, mà có thể tạo ra cục diện có lợi
cho cả hai phía, khi mà sức mạnh mềm làm gia tăng sự hiểu biết, hấp dẫn nhau hơngiữa các quốc gia, t đó gia tăng khả năng hợp tác cùng có lợi
Mặc dù cho thấy nhiều ưu thế, song không vì thế mà sức mạnh mềm trở
thành yếu tố duy nhất để củng cố và phát triển sức mạnh quốc gia Sức mạnh cứng
và sức mạnh mềm là hai yếu tố không thể tách rời nhau, có tác động và chuyển hóa
lẫn nhau để tạo nên sức mạnh tổng hợp của một quốc gia Một quốc gia chỉ có sức
mạnh mềm mà không dựa trên cơ sở sức mạnh cứng nhất định thì sự phát triển c ng
bị hạn chế Trong khi đó, một quốc gia chỉ nhắm vào việc phát triển sức mạnh cứng
về quân sự, kinh tế mà sức mạnh mềm không theo kịp, thì ảnh hưởng quốc tế c ng
giảm sút đi rất nhiều Giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm có những mối tươngquan c ng như sự khác biệt trong việc đạt được mục tiêu Sức mạnh mềm thường
đ i h i thời gian tương đối dài mới phát huy hiệu quả, trong khi những công kích
của sức mạnh cứng có thể đem lại hiệu quả ngay tức thì Hơn nữa, bản thân sự phânđịnh thành hai nhóm sức mạnh cứng và sức mạnh mềm c ng chỉ là tương đối bởi cónhững yếu tố trong trường hợp này thể hiện như là sức mạnh cứng nhưng trongtrường hợp khác lại thuộc về sức mạnh mềm V như các nguồn lực kinh tế, khiđược s dụng để “mua chuộc” thì tạo nên sức mạnh cứng, nhưng khi được s dụng
để hấp dẫn thì lại tạo ra sức mạnh mềm đáng kể Chính vì vậy, trên thực tế, các
quốc gia thường s dụng kết hợp cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm để đạt hiệuquả cao nhất Trong trường hợp sự kết hợp giữa hai yếu tố này thành công, quốc gia
ấy s hình thành được “sức mạnh thông minh” Tất nhiên là, sức mạnh thông minhkhông phải là sự kết hợp giản đơn giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm, mà đểđạt được nó, cần khéo léo kết hợp các yếu tố như ý tưởng, thể chế, chính sách nhằmđưa ra được một đường lối ch nh sách đối ngoại có lợi nhất cho quốc gia trongtương lai Sự kết hợp giữa hai yếu tố này phụ thuộc vào t ng thời điểm và hoàn
cảnh cụ thể, sức mạnh cứng có thể không được s dụng nhưng s trở thành hậuthuẫn quan trọng cho sức mạnh mềm, và sức mạnh mềm c ng giúp khuếch trươngsức mạnh cứng [93, tr 110-124]
Trang 38Bàn về cấu trúc của sức mạnh mềm, Nye cho rằng sức mạnh mềm chủ yếu
xuất phát t sự hấp dẫn về văn hóa, giá trị tư tưởng chính trị và chính sách của mộtquốc gia Theo ông, một nền văn hóa chứa đựng những giá trị phổ quát, có sức thu
hút đối với các quốc gia khác s tạo nên sức mạnh để quốc gia đó dễ đạt đượcnhững mục tiêu hướng tới Về mặt tư tưởng chính trị, những giá trị dân chủ, tự do,
nhân quyền của quốc gia này đủ sức hấp dẫn đối với nhân dân các quốc gia khác
c ng s tạo nên sức mạnh mềm cho quốc gia đó Ngoài ra, các ch nh sách đối nội vàđối ngoại của quốc gia được thực thi một cách ch nh đáng và hợp pháp, phù hợp vớicác giá trị mà đa số theo đuổi c ng s tạo nên sức mạnh mềm quốc gia Một nhànghiên cứu khác là Gregor Holik lại mở rộng cấu trúc của sức mạnh mềm gồm năm
yếu tố: sức mạnh mềm kinh tế; sức mạnh mềm chính trị; sức mạnh mềm văn hóa; sức
mạnh mềm nguồn nhân lực và sức mạnh mềm ngoại giao [73, tr 223-254] Về sau
này, các nhà nghiên cứu tiếp tục bổ sung một số yếu tố khác nữa như ch nh phủ,
chính sách ngoại giao, giáo dục, những tiến bộ công nghệ và kinh doanh [117]
Như vậy, có nhiều yếu tố có thể tạo nên sức hấp dẫn của một quốc gia đối
với các quốc gia khác đ được nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra Tuy nhiên, ở góc độ cơ
bản nhất thì sức mạnh mềm được hình thành bởi các yếu tố thuộc về văn hóa, giá trị
tư tưởng chính trị và chính sách của quốc gia đó Con người chân chính, dù ở bất cứ
nơi đâu, trong thời đại nào, mục tiêu vươn tới c ng là những giá trị chân, thiện, mỹ,
là những giá trị nhân văn, nhân đạo, vì con người, tôn vinh vẻ đ p của con người.Đây c ng ch nh là những yếu tố căn ản của văn hóa, v a mang nét cá biệt, độcđáo, v a mang tính phổ quát, đủ khả năng tạo nên sự thu hút, hấp dẫn đối với conngười Những yếu tố khác đ được kể tới, như giáo dục, tiến bộ khoa học côngnghệ x t đến cùng là yếu tố phái sinh t các yếu tố trên Bởi khi một quốc gia
chứa đựng những giá trị văn hóa nhân văn, thì ch nh sách quốc gia của họ c ng vìvậy mà hướng tới con người, phục vụ con người, do đó, giáo dục, công nghệ c ng s tất yếu được phát triển
Sức mạnh mềm được biểu hiện ở nhiều cấp độ, t cấp độ nh như trong quan
hệ giữa các cá nhân trong xã hội, tới cấp độ lớn hơn như quan hệ giữa các tổ chức,các tập đoàn trong công việc, và cả cấp độ quốc gia như những mối quan hệ trong
Trang 39chính trị quốc tế Tuy nhiên, sức mạnh mềm thường được nghiên cứu ở tầm quốc
gia, bởi vai trò ngày càng quan trọng của nó với tư cách là một nhân tố làm nên sức
mạnh của quốc gia, đặc biệt là trong thời đại của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
mạnh m như hiện nay
2
.1.2 Quan niệm về sức mạnh mềm văn hóa
Khái niệm văn hóa đ xuất hiện t thời cổ đại ở cả phương Đông và phươngTây Trong triết lý phương Đông, t “văn hóa” được tạo thành ởi sự kết hợp haithành tố “văn trị” và “giáo hóa”, tức là d ng những yếu tố tốt đ p để giáo hóa conngười, d ng sự thuyết phục để thống trị con người Trong triết lý phương Tây, “vănhóa” ắt nguồn t khái niệm “cultus” – nghĩa là gieo trồng, trồng trọt Văn hóa, vìvậy mang hàm nghĩa là sự nuôi dưỡng những vẻ đ p tinh thần, tr tuệ của conngười Có thể thấy, ngay t an đầu, văn hóa đ mang trong nó hàm ý về sự hấpdẫn, thuyết phục con người tự nguyện làm những điều mà người s dụng nó mongmuốn Nói cách khác, trong ản chất của mình, văn hóa đ thể hiện ý nghĩa cơ ảncủa sức mạnh mềm
Cho tới nay, đ có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa được các nhà
nghiên cứu đưa ra Năm 1982, UNESCO - tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục
của Liên Hợp Quốc nêu tuyên bố chung về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể những nét
đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và xúc cảm quy định tính cách của một xã
hội hay của một nhóm xã hội Văn hóa ao gồm nghệ thuật và văn chương, những
lối sống, những quyền cơ ản của (tồn tại - eing) người, những hệ thống giá trị,
những truyền thống và t n ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy x t(Reflect-phản tư) về bản thân Ch nh văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinhvật đặc biệt - con người, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí
Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình
là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân,
tìm kiếm không mệt m i những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình
vượt qua cả giới hạn của bản thân” [122] Theo định nghĩa này, khái niệm văn hóađược đề cập tới theo ba cấp độ khác nhau Ở mức h p nhất, văn hóa được xem là
văn học và nghệ thuật; rộng hơn, ngoài văn học và nghệ thuật, văn hóa c n ao gồm
Trang 40cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin của
con người, tức là hệ thống các giá trị tinh thần của con người hay một nhóm người
trong xã hội Ở mức bao quát nhất, văn hóa ao gồm những giá trị vật chất và tinh
thần của một xã hội hay một nhóm xã hội
Một định nghĩa khác có nhiều điểm gần với định nghĩa văn hóa này của
UNESCO là định nghĩa văn hóa mà chủ tịch Hồ Ch Minh đưa ra vào năm 1943.Trong đó Người viết: “Vì l sinh tồn c ng như mục đ ch của cuộc sống, loài ngườimới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôngiáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở vàcác phương thức s dụng Toàn ộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.[
38, tr.431]
Như vậy, có thể hiểu văn hóa theo nghĩa rộng nhất là tổng thể những giá trị,
những sản phẩm (bao gồm cả các sản phẩm vật chất – như những công cụ cho sinh
hoạt hàng ngày của con người và sản phẩm tinh thần – như ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo ) do con người sáng tạo ra Văn hóa là cái đặc
trưng riêng có của một cộng đồng người, do cộng đồng đó sáng tạo ra, và được duytrì, phát triển thông qua các hoạt động của họ t thế hệ này sang thế hệ khác Bởi
thế, văn hóa không chỉ đơn thuần bộc lộ ra thông qua các sản phẩm của con người,
mà nó còn thể hiện những đặc trưng của con người và đời sống của họ Do vậy, nội
hàm khái niệm văn hóa không chỉ bao gồm những sản phẩm do con người sáng tạo
ra, mà c n là phương thức (cách thức) của sự tồn tại mà chỉ riêng con người mới có
Khi xét tới bản chất như vậy, văn hóa có thể trở thành sức mạnh và động lực thúc
đẩy con người và cả xã hội phát triển và ngày càng hoàn thiện bản thân Văn hóa là
do con người tạo ra, nhưng sau khi ra đời, văn hóa lại chi phối sự tồn tại và phát
triển của xã hội, quy định bản sắc của một cộng đồng người, thậm chí quyết định
chiều hướng phát triển của một dân tộc UNESCO khi phát động Thập kỷ thế giới
phát triển văn hóa đ kh ng định: “Phát triển cần th a nhận văn hóa giữ một vị trí
trung tâm, một vai tr điều tiết xã hội” [116, tr 5] Vai tr của văn hóa đối với sự
phát triển của một cộng đồng do ch nh quy luật vận động và phát triển của ản thânvăn hóa, mà tiêu iểu nhất phải kể tới là quy luật t ch hợp và lan t a văn hóa quy