1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giao lưu văn hóa việt nam nhật bản trong hoạt động truyền thông

147 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giao Lưu Văn Hóa Việt Nam-Nhật Bản Trong Hoạt Động Truyền Thông
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Luận Án
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 318,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, giao lưu văn hóa có vai trò quan trọng đặc biệt trong thực hiện chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 210QĐTTg phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Chiến lược này đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp chủ yếu để phát triển văn hóa đối ngoại nhằm khai thông quan hệ với các nước trong khu vực, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay,giao lưu văn hóa có vai trò quan trọng đặc biệt trong thực hiện chính sách đốingoại của mỗi quốc gia

Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 210/QĐ-TTg

phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 Chiến lược này đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp

chủ yếu để phát triển văn hóa đối ngoại nhằm khai thông quan hệ với cácnước trong khu vực, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đã được thiết lập đivào chiều sâu, tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia, góp phầnquảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa, con người Việt Nam với bạn bè thế giới

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011), Đảng ta đã khẳng định: "Kế

thừa và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc ViệtNam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dânchủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ trithức, đạo đức, thể lực, thẩm mỹ ngày càng cao" [17, tr.16] Cùng với pháttriển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc, giao lưu văn hóa phải là một trongnhững hoạt động cơ bản, cốt lõi để quảng bá văn hóa dân tộc và tiếp thu cácgiá trị văn hóa nhân loại Đẩy mạnh giao lưu văn hóa là tiền đề để Việt Namhội nhập sâu rộng, phát triển toàn diện đất nước trong bối cảnh mới

Với nhận thức đó, Việt Nam mong muốn là bạn với tất cả các nước trênthế giới Đến nay chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với 192 quốc gia và vũnglãnh thổ, trong đó, Nhật Bản là một đối tác quan trọng hàng đầu của ViệtNam Quan hệ Việt Nam-Nhật Bản là mối quan hệ truyền thống lâu đời, chưabao giờ tốt đẹp như hiện tại Hai bên không chỉ phấn đầu đến năm 2020 đưakim ngạch lên 60 tỷ USD mà còn hết sức coi trọng phát triển tinh thần chonhân dân hai nước Hai nước luôn coi trọng tiến hành các hoạt động giao lưu

Trang 2

văn hóa, tạo sự hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau hướng tới phát triển con ngườitoàn diện Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản đã trở hành điển hình tronghoạt động giao văn hóa nói chung của Việt Nam.

Truyền thông - trong đó báo chí, phát thanh, truyền hình… khôngnhững là thành tố quan trọng của văn hóa, mà còn là phương tiện, con đườngđặc biệt của giao lưu văn hóa Không chỉ dừng lại mức độ thông tin, mà nócòn tổ chức, xúc tiến các hoạt động giao lưu văn hóa Đài Tiếng nói Việt Nam(Radio The voice of Viet Nam-VOV)-Cơ quan truyền thông đa phương tiệnhiện đại bậc nhất của Việt Nam, có chương trình phát thanh Tiếng Nhật sớmnhất và duy nhất ở Việt Nam (thành lập 29/4/1963), trực tiếp là nơi giao lưuvăn hóa giữa nhân dân hai nước trong suốt gần nửa thế kỷ qua Nhiều ngườiNhật Bản biết đến Việt Nam, yêu Việt Nam qua "Tiếng nói Việt Nam" Tuynhiên cho đến nay, vấn đề giao lưu văn hóa giữa hai nước Việt Nam-NhậtBản trong hoạt động truyền thông VOV vẫn chưa được quan tâm nghiên cứunhư một hệ thống chuyên biệt nhìn dưới góc độ văn hóa học

Với những lý do trên, nghiên cứu sinh (NCS), nhận thấy việc nghiên

cứu đề tài "Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động truyền thông VOV" là việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhằm nâng

cao hiệu quả của giao lưu văn hóa giữa hai nước, khẳng định vai trò ngàycàng gia tăng của VOV trong việc đẩy mạnh giao lưu văn hóa trong bối cảnhhội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giao lưu văn hóa, luận

án đánh giá thực trạng giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt độnghoạt động truyền thông của VOV, từ đó dự báo xu hướng và khuyến nghị một

số giải pháp góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản vì mụctiêu hòa bình, thịnh vượng của cả hai quốc gia

Trang 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động truyền thông củaVOV (nhấn mạnh tới phát thanh Tiếng Nhật, hoạt động của Cơ quan Thườngtrú Đài VOV tại Tokyo, Nhật Bản)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Lịch sử quan hệ giao lưu giữa Việt Nam-Nhật Bản có từ

nhiều thế kỷ trước Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài, luận án tập trung vàonghiên cứu một số hoạt động giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạtđộng của VOV 3 năm trở lại đây khi VOV trở thành một cơ quan truyềnthông đa phương tiện

- Về phạm vi khảo sát: Trong những năm qua, VOV tích cực tham gia

thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa hai nước thông qua các hoạt động truyềnthông trên sóng phát thanh, gần đây là cả trên sóng truyền hình, website củaVOV cùng các hoạt động khác Trong khuôn khổ của đề tài, luận án tập trungkhảo sát thực trạng giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản trong chương trìnhphát thanh tiếng Nhật, website tiếng Nhật của VOV, hoạt động của Cơ quanthường trú VOV tại Nhật Bản và hoạt động hợp tác giữa VOV và NHK Đây

Trang 4

là những hoạt động chủ yếu phản ánh được toàn diện quá trình giao lưu vănhóa Việt Nam - Nhật Bản trong hoạt động truyền thông VOV.

- Về nội dung khảo sát: Trong luận án này, NCS khảo sát, đánh giá

thực trạng giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản thông qua các nội dung vàhình thức hoạt động cụ thể của VOV Đó là các chuyên mục trong các chươngtrình phát thanh, là các hoạt động văn hóa nghệ thuật giới thiệu về văn hóa,con người của hai nước Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản mang tính haichiều, một mặt là giới thiệu văn hóa Việt Nam đến với người Nhật Bản, hai làgiới thiệu văn hóa Nhật Bản đến với người Việt Nam Luận án cũng sẽ khảosát cả hai nội dung này

Quá trình giao lưu văn hóa là quá trình giải quyết mối quan hệ giữa cái

"nội sinh" và cái "ngoại sinh" để tạo nên các sản phẩm, các giá trị văn hóamới Mối quan hệ giữa hai nhân tố này phải thông qua kênh "trung gian" nhưvăn học, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, kiến trúc hội họa, phát thanh, truyềnhình và các phương tiện truyền thông mới như internet, mạng xã hội v.v…

4 Lý thuyết nghiên cứu

Luận án sử dụng lý thuyết giao lưu văn hóa

Thuật ngữ giao lưu văn hóa do nhà nhân học Mỹ J W Powell, sử dụng

từ năm 1889 khi đề cập đến sự biến đổi của lối sống và lối suy nghĩ của người

di dân khi tiếp xúc với xã hội Mỹ Tuy nhiên, phải đợi đến những năm 1930,nhận thức về hiện tượng gặp gỡ giữa các nền văn hóa mới có hệ thống và cóđịnh nghĩa về mặt khái niệm

Năm 1936, Hội đồng nghiên cứu khoa học xã hội Mỹ lập ra một ủy ban

để tổ chức nghiên cứu các sự kiện giao lưu văn hóa, trong đó có Robert

Redfield, Ralph Linton và Medville Herskovits Trong Bản ghi nhớ nghiên cứu về giao lưu văn hóa [1936] có nêu ra định nghĩa: Giao lưu văn hóa là toàn

thể các hiện tượng do việc tiếp xúc liên tục và trực tiếp giữa các nhóm cá thể

có văn hóa khác nhau, dẫn đến những biến đổi trong các mô thức văn hóa banđầu của một hoặc của hai nhóm này

Trang 5

Quá trình giao lưu văn hóa gồm có: các phương thức "chọn lọc" cácyếu tố vay mượn hoặc "phản ứng" lại sự vay mượn; các hình thức hội nhậpcác yếu tố này vào mô thức văn hóa gốc; các cơ chế tâm lý tạo điều kiện dễdàng hay không cho việc hội nhập văn hóa; và cuối cùng là các hậu quả chủyếu của giao lưu văn hóa, bao gồm các phản ứng tiêu cực, đôi lúc có thể xảy

ra với các phong trào "chống lại giao lưu văn hóa "

Tóm lại, giao lưu văn hóa là một hiện tượng động, một quá trình đang

xảy ra hoặc đang thực hiện Trong các biến đổi văn hóa của quá trình giao lưuvăn hóa, có thể rút ra quy luật chung là các yếu tố không mang tính biểu trưng(kỹ thuật và vật chất) của một nền văn hóa biến chuyển dễ dàng hơn các yếu

tố biểu trưng (tôn giáo, ý thức hệ, v.v )

Trong luận án này, việc sử dụng lý thuyết giao lưu văn hóa cho phépnhìn nhận sự gặp gỡ, trao đổi giữa hai nền văn hóa Việt Nam-Nhật Bản như làmột biểu hiện của quy luật giao lưu văn hóa Quan hệ giao lưu văn hóa nàyđược đặt trong mối quan hệ với tổng thể xã hội, dưới tác động của phươngtiện truyền thông (cụ thể ở đây là qua hoạt động của VOV) Đây là quá trìnhgiao lưu bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, bổ sung và làm phong phú cho nhau.Quá trình giao lưu này là quá trình đối thoại, chia sẻ các giá trị văn hóa thôngqua kênh truyền dẫn quan trọng là Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) Lý thuyếtgiao lưu văn hóa được vận dụng vào để nghiên cứu giao lưu văn hóa ViệtNam - Nhật Bản thông qua hoạt động truyền thông VOV là nghiên cứu sựtrao truyền, chia sẻ giá trị văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản thông qua bốnhoạt động của Đài VOV là: (1) Chương trình phát thanh tiếng Nhật của VOV;(2) Hoạt động của website tiếng Nhật của VOV; (3) Hoạt động của Cơ quanthường trú tại Nhật Bản; (4) Hoạt động hợp tác giữa VOV và NHK Từ đó,luận án có thể đưa ra khuyến nghị cần thiết để đẩy mạnh giao lưu văn hóaViệt - Nhật trong thời gian tới

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận về giao lưu văn hóa thông qua các

Trang 6

phương tiện truyền thông đại chúng, nhận diện rõ ưu thế và vai trò của cácphương tiện truyền thông trong thúc đẩy giao lưu văn hóa thời kỳ toàn cầuhóa và sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật số.

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác động, vai trò của VOV đối với hoạtđộng giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản, luận án đề xuất một số địnhhướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các chương trình truyền thôngcủa VOV và của Đài Việt ngữ-NHK Nhật Bản trong quan hệ giao lưu văn hóaNhật-Việt và Việt-Nhật Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần tăng cườngquan hệ hai nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và góp phần mở rộng hộinhập quốc tế của Việt Nam

- Luận án có thể làm dùng làm tài liệu tham khảo cho những học viên,sinh viên… chuyên ngành văn hóa học, xã hội học, truyền thông, cán bộ, biêntập viên, phát thanh viên, kỹ thuật viên của ngành phát thanh và truyền hìnhViệt Nam và Nhật Bản quan tâm, nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt động giao lưuvăn hóa Việt Nam-Nhật Bản, lịch sử VOV, vai trò của VOV trong hoạt độngtăng cường hữu nghị giữa nhân dân hai nước

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,luận án chia thành 4 chương, 14 tiết

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về giao lưu văn hóa Việt Nhật Bản

Nam-Ở cấp độ giao lưu văn hóa,có rất nhiều cuốn sách, đề tài luận án Tiến sĩ,

công trình nghiên cứu… bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài đề cập

Ở Việt Nam với những tác phẩm của các tác giả Trần Quốc Vượng,Trần Ngọc Thêm, Phạm Duy Đức, Lê Quý Đức, Hoàng Chí Bảo, PhanNgọc… đã đưa ra nhiều định nghĩa giao lưu văn hóa từ các cách tiếp cận khácnhau

Ở góc độ giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản, có rất nhiều tác phẩmcủa các tác giả như Phan Ngọc, Phan Hải Linh, Nguyễn Tiến Lực, Vũ ThịPhụng… nghiên cứu, đề cập tới từng góc độ Trong phạm vi luận án, nghiêncứu sinh chỉ tổng hợp một số tác phẩm mới nhất của cả nhà nghiên cứu, chínhtrị gia Việt Nam và Nhật Bản nghiên cứu sâu về giao lưu văn hóa giữa hainước

Nhà nghiên cứu Vĩnh Sính với tác phẩm Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hóa (in lần đầu năm 2001) là cuốn sách đã tổng kết khá đầy đủ về mối

quan hệ hai nước

Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hóa được chia làm ba phần: phần 1gồm những tiểu luận về giao lưu giữa Việt Nam và Nhật Bản; phần 2 gồm hai

công trình dịch thuật và khảo cứu của Vĩnh Sính: 1) An Nam cung dịch kỷ

sự của di thần nhà Minh Chu Thuấn Thủy, đến Đại Việt (cụ thể là Đàng Trong) vào thế kỷ XVII và 2) Lối lên miền Oku của thi hào Nhật Bản Matsuo

Basho (Tùng Vĩ Ba Tiêu; 1644-1694) - người có công định hình thơ haiku;

phần 3 là Phụ lục nguyên bản chữ Hán tập An Nam cung dịch kỷ sự, Di cảo của Bùi Mộng Hùng đọc bản dịch Lối lên miền Oku của Vĩnh Sính và hình

ảnh

Trang 8

Ở một số nội dung tiểu luận, tác giả nêu bật lên những điểm tươngđồng và dị biệt trong cách nhìn, cũng như trong mối quan hệ giữa Việt Nam

và Nhật Bản đối với Trung Quốc Trong trật tự thế giới Đông Á truyền thốngTrung Quốc là trung tâm, là Thiên triều, coi các nước nằm trên ngoại vi củamình là "man di'' Đối với Trung Quốc, văn hóa Trung Hoa - với trọng điểm

là Nho giáo và chữ Hán - là tiêu chuẩn duy nhất để đo lường trình độ vănminh của các nước lân bang Nhìn chung, cái nhìn của Trung Quốc đối vớiViệt Nam và Nhật Bản về cơ bản không có nhiều khác biệt Tuy nhiên, thái

độ của Việt Nam và Nhật Bản đối với Trung Quốc có những khác biệt lớn: 1)Thái độ của Việt Nam đối với Trung Quốc: Đề kháng xâm lăng quân sự vàchấp nhận khuôn mẫu văn hóa Nằm sát với Trung Quốc, lịch sử dựng nước

và giữ nước qua nhiều đời tóm gọn trong hai phương án: Triệt để chống trảmọi xâm lăng quân sự, nhưng đồng thời chấp nhận và tiếp thu các khuôn mẫuvăn hóa của Trung Quốc Chấp nhận "bất tốn Trung Quốc, bất dị TrungQuốc" (không thua Trung Quốc, không khác Trung Quốc) chứ không chịu bịTrung Quốc cai trị Việt Nam chấp nhận và đứng trong khuôn khổ của vănhóa Trung Hoa 2) Nhật Bản ở ngoài trật tự thế giới Trung Hoa với thái độkính nể hoặc phủ nhận văn hóa Trung Hoa Tiếp thu văn hóa là một lẽ nhưng

ý thức dân tộc của người Nhật giúp họ có hướng đi riêng, Nhật Bản khôngchịu áp lực quân sự của Trung Quốc nên cũng không bị ràng buộc bởi thể chếtriều cống với Trung Quốc

Trong hành trình dân tộc đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu và Phan ChâuTrinh là hai sĩ phu đi hàng đầu vận động giành độc lập trong 25 năm đầu thế

kỷ Hai nhân vật kiệt hiệt của Việt Nam tưởng rất gần mà lại rất xa Bên cạnhviệc nhìn lại vị trí của Phan Bội Châu và Phân Châu Trinh, tác giả Vĩnh Sínhcũng nêu ra những khác biệt quan trọng trong quan niệm độc lập quốc gia ởViệt Nam và Nhật Bản qua hai trường hợp Phan Bội Châu và FukuzawaYukichi: "cả hai người đã đi tiên phong trong việc thức tỉnh dân chúng về vấn

Trang 9

đề độc lập quốc gia trước hiểm hoạ Tây xâm, và mỗi người đã để lại một dấu

ấn sâu đậm trong lịch sử cận đại của đất nước mình"

Ngoài ra, ở phần 1, tác giả cũng đưa ra những ý kiến đóng góp vào việctìm hiểu và đánh giá Nguyễn Trường Tộ (tư tưởng, học ở đâu? thế đứng củaNguyễn Trường Tộ, vai trò của Tân thư đối với việc mở rộng kiến thức củaNTT, NTT có gặp Y Đằng Bác Văn (Ito Hirobumi)? ); Nguồn gốc và ý

nghĩa tác phẩm Giai nhân kỳ ngộ diễn ca (GNKNDC) của Phan Châu Trinh (GNKNDC là tác phẩm diễn ca (dịch thơ) từ bản dịch Hán văn Giai nhân kỳ ngộ của Lương Khải Siêu, bản gốc Giai nhân kỳ ngộ do tác giả Nhật Bản

Tokai Sanshi trước tác, việc Lương Khải Siêu cắt bỏ và sửa chữa khi dịch raHán văn, việc Phan Châu Trinh lựa chọn dừng dịch ở đầu quyển 9/16, PhanChâu Trinh dịch GNKNDC giai đoạn nào?…); Mối quan hệ giữa Phan BộiChâu và Asaba Sakirato - một ân nhân người Nhật của cụ Phan; Đóng gópvào việc tìm hiểu thêm về Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện; Tư liệu vềviệc sang Nhật của Lê Quốc Vọng (Lê Thiết Hùng) những năm 1931-1933;Văn hóa và con người Việt Nam dưới cặp mắt của Shiba Ryotaro (1923-1996); Vài ý kiến về vấn đề cận đại hóa ở Việt Nam và kinh nghiệm của NhậtBản qua quá trình Minh Trị duy tân; về nền mậu dịch Nhật-Việt với nhữngluân lý kinh doanh, vấn đề giáo dục… vẫn còn rất thời sự

Qua phần 1 cuốn sách, tác giả đã kỳ công vẽ lại bức tranh với bối cảnhchính là những tương quan thú vị và có ý nghĩa giữa hai nước Việt Nam vàNhật Bản trước thời cận đại; mối quan hệ cổ truyền của Việt Nam và NhậtBản với Trung Quốc trong trật tự thế giới Đông Á cũ và sự đảo lộn giữa thế

kỷ XIX khi làn sóng Tây xâm đánh vào bờ các nước ven Thái Bình Dương

Trong các tài liệu viết về Việt Nam thế kỷ XVII, ngoài khối lượng lớn

tài liệu phương Tây mà nổi bật là hai tác giả C Borri (Xứ Đàng Trong năm 1621) và A de Rhodes (Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài) thì không thể không nhắc đến 2 tập tài liệu do người Trung Quốc ghi chép: Hải ngoại kỷ

Trang 10

sự (Thích Đại Sán) và An Nam cung dịch kỷ sự (Chu Thuấn Thủy) An Nam cung dịch kỷ sự có thể nói là một sử liệu độc đáo cung cấp cho chúng ta nhiều

thông tin bổ ích về tình hình ở đất Thuận-Quảng nói riêng cũng như ĐàngTrong nói chung vào thế kỷ XVII

Qua bản dịch và phần chú thích công phu An Nam cung dịch kỷ sự của

dịch giả Vĩnh Sính, một lần nữa những điểm tương đồng và dị biệt trong cáchnhìn, cũng như trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đối với (Nhohọc) Trung Quốc được khắc họa Từ đó thấy được đặc trưng văn hóa của mỗinước trong quá trình giao lưu

Với tác phẩm " 大大大大大大大大大大大大大大大大大大大大" tạm dịch là: "Vẻ đẹp

tự nhiên của Việt Nam-đất nước thân thiết với Nhật Bản qua con mắt Đại sứ"

xuất bản năm 2015 tại Nhật Bản của Nguyên Đại sứ Nhật Bản tại Việt NamMitsuo Sakaba đã toát lên một cách khái quát Việt Nam, mối quan hệ đặc biệtthân thiết giữa Việt Nam và Nhật Bản qua cảm nhận của ông trong suốt thờigian làm việc tại Việt Nam Cuốn sách bao gồm 6 chương và 1 chương kếtluận giới thiệu cặn kẽ văn hóa, đặc điểm của những khu vực Bắc bộ, Nam bộ,Tây Nguyên, Tây Nam bộ… với những đánh giá về thẩm mỹ văn hóa, sựhấp dẫn của ngôn ngữ… thể hiện sự hiểu biết sâu sắc văn hóa Việt Nam dướilăng kính của một người nước ngoài Đặc biệt mối quan hệ đối tác chiến lượcsâu rộng giữa Việt Nam-Nhật Bản được ông đánh giá là kiểu mẫu của các mốiquan hệ trong cộng động quốc tế

Đương kim Chủ tịch Đảng cộng sản Nhật Bản-Ông Kazuo Shii cũng đãdày công thu thập tư liệu để viết lên cuốn sách " 大大大大大大大大大大大" tạmdịch là: "Việt Nam-chuyến công du của tình hữu nghị và hợp tác" xuất bảnnăm 2007 tại Nhật Bản đã tổng hợp, đánh giá mối quan hệ giữa Đảng Cộngsản Nhật Bản và Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, đặc biệtnhất là từ khi ông Shii là Chủ tịch của Đảng này Dựa trên việc đánh giá mốiquan hệ thân thiết giữa hai Đảng, tác giả đã đưa ra những luận điểm cho

Trang 11

rằng quan hệ nào thì quan hệ nhưng cũng xuất phát từ lợi ích của nhân dân.Quan hệ hai đảng bền vững sẽ đóng góp việc tăng cường hiểu biết giữa nhândân hai nước, đóng góp vào sự phát triển chung của mỗi nước.

Trong thời gian tới, đặc biệt 2017 sẽ có những công trình nghiên cứusâu hơn về giao lưu văn hóa giữa hai nước Ví dụ như Tiến sĩ Ngô Hương Lan(Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) đang học sau tiến sĩ tại Nhật Bản,thông qua việc nghiên cứu về Lễ hội Nhật Bản, đồng thời có sự so sánh vớivăn hóa lễ hội Việt Nam, chắc chắn sẽ có những đóng góp vào việc bảo tồn vàquảng bá lễ hội Việt Nam

1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan tới truyền thông và truyền thông trong lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản

Liên quan đến truyền thông mà cụ thể là truyền thông VOV, nghiêncứu sinh xin thống kê một số cuốn sách mới được xuất bản năm 2016 bằngtiếng Nhật có những góc nhìn mới về truyền thông trong hoàn cảnh mạng xãhội đang lấn lướt truyền thông truyền thống và chính thống

Trong cuốn Xã hội hóa tương lai (tiếng Nhật là miraikasuru Shyakai,

tiếng Anh là The industries of the future của Alec Ross, Nhà xuất bản KK.HarperCollins Japan, 2016 đã đề cập tới "nguyên liệu" của thời đại thông tinhóa đó là dữ liệu, còn nguyên liệu của thời đại canh tác nông nghiệp đó là đấtđai, nguyên liệu của công nghiệp hóa là sắt

Điện báo, điện thoại, radio, truyền hình, máy tính là những sản phẩm

kỹ thuật của các loại hình truyền thông lần lượt được ra phát minh ra vàcho thấy những dữ liệu truyền thông đến giữa thế kỷ 20 tăng rất mạnh Đếnnăm 1996 khi kỹ thuật số đưa vào sử dụng, thì năng lực bảo quản dữ liệutrở thành công cụ vượt trội so với loại hình báo giấy trước đó Các dữ liệuthông tin được số hóa, đặc biệt cho báo nói Báo nói có ưu thế là các dữliệu trong quá khứ sẽ được cất giữ cẩn thận, đồng thời những dữ liệu hiệntại và tương lai được sắp xếp theo trình tự, chủ đề…rõ ràng hơn, giúp việcbảo quản tốt hơn

Trang 12

Tác giả Norihiko Sasaki, trong cuốn sách " 大大大大大大大大大大大大大大",

tạm dịch: 5 năm sau, Truyền thông có đạt được mục tiêu của mình ? xuất bản năm 2013, đã đưa ra 7 đại biến của truyền thông trong thế kỷ mới Trong đó

đưa ra dự đoán báo giấy lại trở về vị trí được quan tâm nhất, sau đó tới truyềnthông sử dụng kỹ thuật số (gồm cả radio) Nhưng điều quan trọng để duy trìhoạt động truyền thông đó là nội dung truyền thông Nội dung truyền thông

sẽ có sự tham gia của nhà báo, độc giả và doanh nghiệp Theo đó, xã hội sẽkhông tách rời các cá nhân, và các cá nhân không thể tách rời xã hội Nhưvậy, truyền thông sẽ tham gia vào thúc đẩy xã hội, thúc đẩy phát triển kinhtế

Những công trình nghiên cứu riêng biệt về truyền thông rất nhiều Tuynhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài là truyền thông (cụ thể là loại hìnhbáo nói) trong giao lưu văn hóa (cụ thể là giao lưu văn hóa Việt-Nhật) cũngchưa có những bài viết, chuyên đề, sách… đề cập tới Có thể nói đây là côngtrình đầu tiên đề cập tới vai trò của báo nói đối với sự phát triển giao lưu vănhóa Việt Nam-Nhật Bản Điều này là một thử thách lớn đối với nghiên cứusinh Song cũng là động lực để nghiên cứu sinh có tư duy độc lập, sáng tạo vềmột vấn đề nghiên cứu mới

Với lý do đó, tác giả luận án ngoài việc nghiên cứu tài liệu riêng biệtliên quan tới truyền thông, giao lưu văn hóa, lịch sử quan hệ Việt-Nhật đãnghiên cứu một số cuốn sách xuất bản năm 2011-2013 có tính gợi mở

Ngay từ những thập niên 70 của thế kỷ XX, vai trò của văn hóa vàtruyền thông đối với hoạt động ngoại giao đã được nhiều nước quan tâmnghiên cứu Giáo sư Joseph Nye, nguyên Hiệu trưởng trường John F.Kennedy thuộc Đại học Harvard - Mỹ, đã đưa ra thuật ngữ "sức mạnh mềm".Theo ông, "sức mạnh mềm" bắt nguồn từ sự hấp dẫn về văn hóa, từ tư tưởngchính trị đến chính sách ngoại giao đến mức lôi cuốn nước khác đi theo mình.Trong bối cảnh toàn cầu hóa đi kèm với sự bùng nổ thông tin hiện nay, nhiều

Trang 13

nhà phân tích hàng đầu về quan hệ quốc tế cho rằng "sức mạnh mềm" đang tỏ

ra chiếm ưu thế hơn so với "sức mạnh cứng"

Một cách tiếp cận tương đối đầy đủ và hệ thống về lĩnh vực văn hóatruyền thông trước hết được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu củacác học giả nước ngoài, nhất là trong giai đoạn những thập kỷ cuối của thế kỷ

20 Trong số những tác giả đáng chú ý, trước hết nghiên cứu sinh muốn nhắcđến Raymond Williams (1921-1988), là một nhà văn, nhà nghiên cứu phêbình về chính trị, văn hóa và truyền thông đại chúng người xứ Wales.Cáccông trình của ông đặt nền móng cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu liên quanđến các vấn đề văn hóa và chính trị

Công trình nghiên cứu mang tên Văn hóa và xã hội, xuất bản lần đầu

tiên năm 1958 và sau đó được dịch và xuất bản tại các nước Italy, Nhật Bản,Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Cộng hòa Liên bang Ðức ngay lập tức làm cho tácgiả trở nên nổi tiếng Tác giả trở thành một học giả có ảnh hưởng lớn tronglĩnh vực nghiên cứu chính trị, văn hóa xã hội và truyền thông ở Tây Âu từ nửasau của thế kỷ 20 Năm 1974, Raymond Williams tiếp tục cho xuất bản cuốn

sách Truyền hình: Công nghệ và hình thức văn hóa, nghiên cứu chuyên sâu

về lĩnh vực truyền hình, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò và ý nghĩacủa sự phát triển công nghệ cũng như ảnh hưởng của truyền hình đối với nềntảng văn hóa của đời sống xã hội hiện đại

Trong số những học giả có ảnh hưởng quan trọng đến giới nghiên cứuvăn hóa truyền thông là Clifford James Geertz (1926-2006), nhà nhânhọc người Mỹ mà với những nghiên cứu thực địa ban đầu của ôngtại Indonesia, nơi ông đã xây dựng nên khái niệm Negara giúp giải thích toàn

bộ các hoạt động văn hóa và chính trị trong vùng Ðông Nam Á Một trong

những công trình tiêu biểu của ông là cuốn The Interpretation of Cultures: SelectedEssays (Tạm dịch là ‘Giải thích (học) về văn hóa - tuyển tập tiểu

luận’ được xuất bản năm 1973 Với công trình này, ông được coi là người đãđóng

Trang 14

góp lớn trong việc chuyển đổi tư duy trong các ngành xã hội và nhân văn, từlối suy nghĩ tìm qui luật nhân quả sang tư duy xã hội học diễn giải(interpretative), đặt sự vật và hiện tượng trong hệ qui chiếu bản địa của ý thứcđịa phương.

Nhìn xã hội qua văn hóa, và đặc biệt là những biểu tượng (symbol) phổbiến và đặc trưng trong nền văn hóa đó, Clifford cũng được coi là cha đẻ cho

ngành nhân học biểu tượng và văn hóa học Văn hóa được định nghĩa là "một

hệ thống các khái niệm nối tiếp được diễn đạt thông qua các hình thức biểutượng với các phương tiện mà người ta dùng để liên lạc, ghi nhớ và phát triểnkiến thức và thái độ đối với cuộc sống"

Một trong những học giả nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu lý thuyếtliên quan đến lĩnh vực văn hóa truyền thông là Robert Stam Giáo sư tại Ðạihọc New York University Ông là chuyên gia nghiên cứu và giảng dạy về vănhọc Pháp, văn học so sánh và về các vấn đề liên quan lý thuyết và lịch sửphim ảnh Những công trình quan trọng của ông có liên quan đến văn hóa

truyền thông là các cuốn Subversive Pleasures: Bakhtin, CulturalCriticism, and Film, (tạm dịch là ''Người làm lật đổ thú vị: Bakhtin, phê bình văn hóa và phim ảnh''), xuất bản năm 1989; và Unthinking Eurocentrism: Multiculturalism andthe Media, (tạm dịch: Phản thuyết châu Âu là Trung tâm:

Ða văn hóa và truyền thông) viết chung với Ella Shohat, xuất bản năm 1999.Trong các công trình này Robert dành sự quan tâm đặc biệt tới những vậnđộng văn hóa gắn liền với các hình thức truyền thông đại chúng có ảnh hưởngrộng rãi đến đời sống tinh thần của công chúng hiện đại Trong mấy chục nămtrở lại đây, sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về những vấn đề liên quanđến văn hóa truyền thông ngày càng tăng lên Có thể bắt gặp rất nhiều nhữngcông trình nghiên cứu tập trung vào chủ đề văn hóa truyền thông trên rấtnhiều khía cạnh và những cấp độ khác nhau

Năm 1995, Giáo sư người Mỹ Douglas Kellner cho xuất bản cuốn Văn hóa truyền thông (Media culture), trong đó tác giả đề cập đến những nội dung

Trang 15

khác nhau liên quan đến các phương pháp tiếp cận mới về văn hóa, mối liên

hệ giữa văn hóa truyền thông và đời sống chính trị xã hội, những vấn đề vềchủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại trong văn hóa, xã hội và truyền thông

Trước đó, năm 1989, Giáo sư Vincent Porter công bố trên tạp chí Văn hóa truyền thông và xã hội một bài viết nhan đề "Việc sắp đặt lại của truyền

hình: tính đa nguyên, tính hợp pháp và thị trường tự do ở Mỹ, Tây Ðức, Pháp

và Vương quốc Liên hiệp Anh" đã chỉ rõ những tác động mạnh mẽ của hệthống truyền thông (truyền hình) đối với toàn bộ đời sống văn hóa xã hội ởTây Âu trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ 20 (27) Liên tiếp trong những thập kỷ

80 và 90 của thế kỷ 20, nhiều công trình nghiên cứu tập trung về những vấn

đề rất đa dạng của văn hóa truyền thông

Tác giả Ikegami Akira trong cuốn sách 大大大大大大大大大(tạm dịch là

Thông tin kết nối trái tim) xuất bản tháng 6 năm 2011 tại Tokyo là cảm xúc

của tác giả khi những bài báo, phóng sự truyền hình, phát thanh… đưa tin

về thảm họa sóng thần kép tại Nhật Bản tháng ba năm 2011 Từ nhữnghình ảnh truyền thông đưa tin, toàn thế giới hướng về Nhật Bản, kinh ngạc vìsức mạnh tâm hồn của người Nhật Bản Sức mạnh của truyền thông là sứcmạnh của sự gắn kết, trao truyền giá trị văn hóa của Nhật Bản đến với thếgiới

Chúng ta có thể kể một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu như:

R.Collins, Truyền thông, văn hóa và xã hội, London, Sage Publications, 1986; Jostenim Gripsrud, Nghề làm báo và văn hóa đại chúng, London, Sage Publications, 1992; và Hiểu biết về văn hóa truyền thông xuất bản năm

2002…là những tài liệu đáng tham khảo cho luận án

So với hoạt động nghiên cứu ngoài nước, hoạt động nghiên cứu trongnước liên quan đến đề tài phong phú hơn rất nhiều Những tư liệu này chắcchắn đây là những tiền đề để phát triển đề tài luận án một cách toàn diện dướinhiều góc độ khác nhau

Gần đây, các nhà nghiên cứu trong nước đều thừa nhận rằng, ngoại giao

Trang 16

văn hóa là sự tồn tại của các dòng thông tin và tư tưởng xuyên quốc gia, và do

đó đều gắn lĩnh vực này với truyền thông quốc tế Tư duy đó đã mở ra hướngnghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn về vai trò của truyền thông trong ngoạigiao văn hóa Vậy để có thể văn hóa trở thành sức mạnh mềm thì chúng ta sẽ

có câu trả lời là: khi nó được lan tỏa rộng rãi và có sức cuốn hút các chủ thể

khác tự nguyện làm theo Phạm Thái Việt với cuốn sách Ngoại giao văn hóa

cơ sở và lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng, Nxb Chính trị- Hành

chính, Hà Nội, 2012, đã phân tích rõ vai trò của truyền thông và thông tintrong chuyển hóa văn hóa thành sức mạnh Tác giả đã nhận định rằng, truyềnthông sẽ thúc đẩy quá trình di truyền văn hóa (xét trong nội bộ cộng đồngtruyền thống) và mô phỏng văn hóa (xét trong quan hệ giữa các cộng đồngvới nhau)

Từ một góc nhìn khác, Lê Thanh Bình với Giáo trình quan hệ công chúng chính phủ trong văn hóa đối ngoại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2011 khẳng định quan hệ công chúng (public relations, viết tắt là PR) là hoạtđộng rộng lớn, chuyên nghiệp lâu dài, áp dụng tất cả các kỹ thuật quan hệcông chúng thông qua lĩnh vực văn hóa, tác động đến công chúng nước ngoài,nhằm xây dựng khẳng định vị thế, hình ảnh đất nước, văn hóa quốc gia, phảnbác biểu hiện sai lệch từ công chúng nước ngoài Bên cạnh đó, nhiều bài viếtcủa Hà Minh Đức, Đỗ Quang Hào, Hồ Sĩ Vịnh…làm rõ hơn về vai trò củatruyền thông trong giao lưu văn hóa

Cuốn Văn hoá truyền thông trong thời kỳ hội nhập do Hội Nhà báo

Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn và Nhà xuất bảnThông tin Truyền thông phối hợp xuất bản năm 2013 dày 355 trang, nội dungsách gồm 35 bài tham luận của các nhà báo, nhà khoa học và nhà quản lý báo

chí tại Hội thảo Khoa học Văn hoá truyền thông thời kỳ hội nhập do Hội Nhà

báo Việt Nam và Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn tổ chức Với

nhiều bài viết tiêu biểu như: Văn hoá truyền thông trong thời kỳ hội nhập (Nguyễn Văn Kim); Văn hoá truyền thông và truyền thông có văn hoá (Hà

Trang 17

Minh Đức); Vài nét về sự định hình văn hoá truyền thông kỹ thuật số dưới góc nhìn xã hội học (Tống Văn Chung); Thế nào là người làm báo có văn hoá? (Nguyễn Công Đán); Văn hoá phỏng vấn (Trần Bá Dung); Phóng viên thời hội nhập (Phạm Thị Mỵ); Văn hoá truyền thông trong môi trường Internet - Vài điều qua kinh nghiệm của hoạt động VOV online (Nguyễn Thuý Hoa…).

Nhiều tham luận đã cho rằng: văn hoá và báo chí - truyền thông có mốiquan hệ khăng khít, biện chứng Báo chí là bộ phận của văn hoá nhưng báochí cũng sáng tạo ra và phổ biến văn hoá, lưu truyền văn hoá…

Trong tham luận "Báo chí - truyền bá và sáng tạo văn hóa", Vũ Duy

Thông cho thấy khả năng truyền bá và sáng tạo văn hóa của báo chí Thamluận nhấn mạnh: Trước đòi hỏi của xã hội và nhu cầu của bạn đọc, bên cạnhnhiệm vụ đáp ứng các yêu cầu chính trị, báo chí đã trở thành một phương tiệntruyền bá văn hóa ngày càng quan trọng, không thể thiếu được và tự thân nó

đã trở thành một lĩnh vực văn hóa Ngày nay, với sự ra đời của truyền hình,internet, có thể nói, không có lĩnh vực nào của văn hóa, báo chí không thểtruyền tải, quảng bá được Cùng với khả năng truyền tải và do tác động củakhả năng truyền tải, đến lượt mình, báo chí đã trở thành chủ thể sáng tạonhững giá trị mới của văn hóa và là một bộ phận của văn hóa Chưa nói đếntác dụng kích thích sáng tạo văn hóa của báo chí đối với các chủ thể khác, chỉtính đến vai trò sáng tạo văn hóa của báo chí cũng có thể thấy, báo chí đóngvai trò là cơ quan đưa ra sáng kiến, tổ chức, hỗ trợ các hoạt động, các sân chơivăn hóa Báo chí đã trở thành trường học công cộng để nâng cao trình độ dântrí, trình độ văn hóa của công chúng, đồng thời định hướng dư luận

Trong tham luận "Một số vấn đề truyền thông đại chúng, văn hóa đại chúng và văn hóa truyền thông trong kỷ nguyên kỹ thuật số", Đặng Thị Thu

Hương khẳng định: Văn hóa truyền thông cần được xây dựng trên nền tảnggiá trị và tính liên tục lịch sử, khơi dậy các khả năng sáng tạo của công chúng

và phục vụ công chúng Không thể đánh đồng văn hóa đại chúng với khuynh

Trang 18

hướng thương mại hóa, tầm thường hóa và dung tục hóa nền văn hóa Do vậy,truyền thông đại chúng phải đóng vai trò then chốt trong việc phát triển ngànhcông nghiệp văn hóa Việt Nam, nâng cao tính đề kháng cho nền văn hóa dântộc trước những ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa văn hóa, đồng thời hạnchế tác động tiêu cực của xu hướng thương mại hóa văn hóa và thương mạihóa báo chí.

Trong bài « Báo chí - loại hình ý thức xã hội đặc thù » của Nguyễn

Ánh Hồng (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) cũng đã phân tích rõ vai tròcủa báo chí trong quá trình hội nhập quốc tế Theo tác giả, Báo chí là yếu tốvăn hóa ngoại sinh khi văn hóa Việt Nam cấu trúc lại chính mình trong giaolưu tiếp biến với văn hóa phương Tây Theo đó báo chí phải là động lực thúcđẩy phát triển kinh tế -xã hội, song song với sự vận hành của cuộc sống.Nguyễn Ánh Hồng nhận định: Khi đi vào tác phẩm báo chí, biểu tượng vănhoá lại phát sinh một đời sống riêng, bởi sản phẩm của hoạt động sáng tạo tácphầm báo chí vừa tuân theo chuẩn mực của quy luật xã hội, vừa là dấu ấn cátính sáng tạo độc đáo tự do

Nghiên cứu Một số vấn đề xung quanh khái niệm văn hóa truyền thông" của Nguyễn Đức Hạnh in trong Kỷ yếu hội thảo: Văn hóa truyền thông trong thời kỳ hội nhập do Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại

học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2012 đã đưa ra cách tiếp cận mới về vănhóa truyền thông Tác giả xem truyền thông như một hoạt động văn hóa đặcthù Nó vừa là kết quả của một quá trình văn hóa vừa có sự liên hệ tác độngqua lại đối với các hiện tượng văn hóa khác Tuy nhiên, hoạt động truyềnthông lại tuân theo những nguyên tắc riêng và mô hình riêng so với mọi lĩnhvực hoạt động khác mặc dù bất cứ lĩnh vực hoạt động nào của con người cũng

đề có quan hệ với truyền thông (truyền thông là hoạt động phổ biến của xã hộiloài người)

Tác giả dẫn ra phát hiện mới của các nhà nghiên cứu liên quan tới phântích năng lực truyền thông của con người, theo đó, các nhà nghiên cứu đã ưu

Trang 19

tiên lựa chọn phương pháp được gọi là phân tích ngôn bản để phân tích năng

lực này Phương pháp tiếp cận này thừa nhận quá trình truyền thông mangtính hợp tác giữa hai hay nhiều người Các phương pháp tiếp cận lấy ngôn bảnlàm làm trung tâm không coi truyền thông là một hệ thống các cách truyềnthông điệp tách biệt từ người này sang người kia Thay vào đó các phươngpháp này lại coi truyền thông là một quá trình nổi bật lên mà khi tiếp diễn nóliên tục thay đổi hình thái và mục đích

Nguyễn Đức Hạnh cũng dẫn quan điểm của nhà nhân loại học EdwardSapir đưa ra một công thức chung nhất và sớm nhất về phương pháp tiếp cậntruyền thông bằng hành vi: Mỗi mô hình văn hóa và mỗi hành động đơn lẻtrong hành vi xã hội đều liên quan đến truyền thông xét cả nghĩa đen haynghĩa bóng

Cuốn Truyền thông giao lưu văn hóa với vấn đề bảo vệ lợi ích và an ninh văn hóa quốc gia do Lê Thanh Bình và Vũ Trọng Lâm đồng chủ biên,

NXB Thông tin và Truyền thông xuất bản năm 2015, tập trung nghiên cứu vàphân tích cơ sở khoa học của truyền thông giao lưu văn hóa với vấn đề bảo vệlợi ích và an ninh văn hóa quốc gia

Cuốn sách cũng tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc giatrong lĩnh vực này

Bảo vệ lợi ích và an ninh văn hóa quốc gia là một vấn đề đặc biệt quantrọng đối với mọi quốc gia trên thế giới hiện nay Sự đe dọa đến lợi ích và anninh văn hóa quốc gia sẽ đe dọa trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của xãhội, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ chính trị

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự giao lưu văn hóa giữa các quốc giadiễn ra ngày càng mạnh mẽ không chỉ theo chiều rộng mà cả theo chiều sâu,các quốc gia có cơ hội và điều kiện thuận lợi tiếp thu những tinh hoa của vănhóa nhân loại, nhưng cũng đứng trước thách thức to lớn trong việc ngăn chặn

và đấu tranh trước sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai, giữ vững bản sắc, giá

Trang 20

trị văn hóa dân tộc, nhất là đối với những quốc gia đang phát triển, đẩy mạnhhội nhập quốc tế như Việt Nam Để thực hiện được điều đó, trước hết, phải cónhận thức đầy đủ về lợi ích văn hóa quốc gia và an ninh văn hóa quốc gia thìtiến hành truyền thông giao lưu văn hóa và có những bước đi phù hợp, bắt kịpvới sự chuyển vần của thời đại.

Cuốn sách cũng đã đưa ra khái niệm truyền thông giao lưu văn hóa nhưsau: "Truyền thông giao lưu văn hóa chính là quá trình tương tác, trao đổi cáchoạt động văn hóa, thúc đẩy quá trình giao lưu, tiếp biến các giá trị văn hóa,quảng bá giá trị văn hóa và tiếp thu các giá trị văn hóa mới Truyền thônggiao lưu văn hóa là cầu nối giữa các nền văn hóa, tạo điều kiện cho các nềnvăn hóa tiếp xúc, trao đổi, hiểu biết nhau và tiếp biến, học hỏi các giá trị vănhóa của nhau" [6; 21]

Một số sách của các tác giả khác nghiên cứu về truyền thông đại chúng

và ở những mức độ nhất định cũng đã đề cập đến những bình diện khác nhaucủa văn hóa truyền thông Có thể kể tên một số tác phẩm có nội dung liênquan đến vấn đề này như: Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục

thẩm mĩ nước ta hiện nay của tác giả Trần Ngọc Tăng; Báo chí truyền thông

và kinh tế, văn hóa xã hội của tác giả Lê Thanh Bình; Cẩm nang học báo chí

do hai tác giả Tạ Ngọc Tấn và Ðinh Thị Thúy Hằng biên soạn…

1.1.3 Nhận xét chung và những vấn đề luận án tiếp tục cần nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài "Giao lưu văn hóa Việt

Nam - Nhật Bản trong hoạt động truyền thông VOV" đã có những thành tựu

chủ yếu sau:

- Các công trình này đã cung cấp một cái nhìn tổng quát về giao lưuvăn hóa Việt Nam-Nhật Bản qua các thời kỳ lịch sử cận đại và hiện đại, chỉ rõnhững tác động qua lại và đặc điểm của giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bảntrong tình hình hiện nay Đồng thời, đã có một số nghiên cứu cụ thể và truyềnthống về truyền thông trong giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản, nhấn mạnhvai trò của truyền thông trong giao lưu văn hóa quốc tế và ngoại giao văn hóa

Trang 21

hiện nay Những công trình này đã cung cấp các tri thức cơ bản cho nghiêncứu sinh về lĩnh vực giao lưu văn hóa, giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản,truyền thông trong giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản để NCS tiếp thu và

sử dụng trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận án

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới dừng lại ở một số vấn đề

lý luận chung mà chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề giao lưu văn hóa Việt Nhật Bản trong hoạt động truyền thông của Đài tiếng nói Việt Nam (VOV)như một công trình nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống Những vấn đề tiếptục đặt ra để đi sâu nghiên cứu trong luận án này là:

Nam Làm rõ những vấn đề giao lưu văn hóa Việt NamNam Nhật Bản trong bốicảnh hai quốc gia đang tăng cường đẩy mạnh quan hệ hữu nghị và vai trò củaVOV với hoạt động đẩy mạnh giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản

- Làm rõ thực trạng giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạtđộng truyền thông VOV hiện nay

- Dự báo và khuyến nghị các giải pháp thúc đẩy giao lưu văn hóa ViệtNam-Nhật Bản trong thời gian tới

Những công trình nghiên cứu đã công bố của các nhà nghiên cứu trongnước và quốc tế trên đây là những nguồn tài liệu tham khảo bổ ích và rất cầnthiết để NCS thực hiện luận án này

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.2.1 Cơ sở lý luận

1.2.1.1 Khái niệm giao lưu văn hóa

Thuật ngữ giao lưu văn hóa được sử dụng rộng rãi trong các ngành học

có đối tượng là văn hóa học như nhân học, xã hội học, văn hóa học, dân tộchọc… Tùy theo truyền thống khoa học của mỗi nước mà khái niệm giao lưuvăn hóa được diễn đạt bằng các thuật ngữ khác nhau Các thuật ngữ này cóhàm lượng ngữ nghĩa chung, nhưng mỗi thuật ngữ đều mang sắc thái riêng vềnghĩa Chẳng hạn, người Anh ưa dùng chữ "Cultural Change", có thể dịch làtrao đổi văn hóa ; người Tây Ban Nha dùng chữ "Transculturation", nghĩa là

Trang 22

di chuyển văn hóa ; người Pháp có thuật ngữ "Interpénétration dévivilisations " nghĩa là sự giao nhập giữa các nền văn minh ; người Hoa Kỳ sửdụng thuật ngữ "Acculturation" có thể dịch là giao lưu văn hóa Trong tiếngNhật "大大大" nghĩa là hoạt động giao lưu văn hoá thông qua các hoạt độngnhư giới thiệu văn hoá ra nước ngoài, giáo dục ngôn ngữ và các hoạt độngtrao đổi nghiên cứu lẫn nhau.

Giao lưu văn hóa là sự trao đổi qua lại những sản phẩm văn hóa giữacác cộng đồng xã hội khác nhau, ở đây là giữa các cộng đồng dân tộc - quốcgia với nhau Sản phẩm văn hóa khởi đầu có thể là kinh nghiệm, tri thức, gọimột cách khái quát là thông tin Thông tin ấy được tích lũy từ quá khứ đếnhiện tại, kết tinh thành các giá trị và chuẩn mực xã hội, thị hiếu và sở thích,thành truyền thống xã hội, gọi chung là hệ giá trị xã hội, quy định cách lựachọn tồn tại và gắn liền với nó là thế ứng xử của con người đối với thiênnhiên, với xã hội và với bản thân Có thể xem thế giới sản phẩm vật thể cùngvới hệ ứng xử của con người là hình thái ngoại hiện của văn hóa, thì hệ giá trị

xã hội sẽ là nội dung cơ bản của nó Thừa nhận đơn vị cơ bản của văn hóa làthông tin (dĩ nhiên là thông tin lan truyền theo các kênh xã hội, không baohàm thông tin di truyền theo con đường sinh học) thì sáng tạo văn hóa là sángtạo ra những thông tin mới, giao lưu văn hóa là trao đổi thông tin làm cholượng thông tin xã hội được nhân lên vô hạn, rồi kết tinh thành ký ức xã hội

và tích lũy trong mỗi con người Phương Tây có câu : nếu trong hai người màmỗi người có một vật đem trao đổi cho nhau, thì mỗi người vẫn có một vật.Còn mỗi người có một tin đem trao đổi với nhau, thì mỗi người sẽ có hai tin

Giao lưu văn hóa với biểu hiện của nó là trao đổi thông tin diễn rathường xuyên, liên tục, tạo ra mạng lưới của những dòng kênh chuyển tin đikhắp nơi Giao lưu văn hóa gắn liền với phương tiện chuyển tải thông tin Cóthể nhận thấy ba giai đoạn giao lưu văn hóa trong lịch sử loài người, gắn với

ba trình độ phát triển của phương tiện thông tin xã hội

- Giai đoạn cổ sơ của xã hội nguyên thủy, lưu lượng thông tin còn ít,

Trang 23

phạm vi giao lưu hạn hẹp trong một khu vực nhất định Đó là giao lưu vănhóa trong các xã hội tiền văn tự.

- Giao lưu văn hóa trong các xã hội có văn tự, thường là xã hội nôngnghiệp, đã xuất hiện các hình thái Nhà nước chiếm hữu nô lệ thời cổ đại Nhờxuất hiện văn tự, các công việc dạy học, viết sách, in văn bản có điều kiện rađời Giao lưu văn hóa có thể thực hiện trong phạm vi rộng lớn của các đếquốc cổ đại như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa, Hy Lạp, La Mã

- Giao lưu văn hóa trong xã hội công nghiệp gắn với sự ra đời của cácphương tiện truyền thông đại chúng Đó là đặc trưng cơ bản của xã hội hiệnđại ; giao lưu văn hóa phát triển theo xu hướng toàn cầu

Văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người Mỗi một nền văn hóa tồntại và phát triển là nhờ thường xuyên trao truyền từ thế hệ này sang thế hệkhác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác Hay nói cách khác, kế thừa vàgiao lưu văn hóa là hai quy luật cơ bản chi phối, quyết định đến sự sinh tồncủa mỗi một nền văn hóa Nếu quy luật kế thừa là sự khái quát hoá quá trìnhphát triển văn hoá diễn ra theo trục thời gian thì giao lưu và tiếp biến văn hoánhìn nhận sự phát triển văn hoá trong mối quan hệ không gian với nhiều phạm

vi rộng hẹp khác nhau, tuỳ trình độ phát triển và đặc điểm riêng của mỗi dântộc Nhờ sự tiếp xúc, trao đổi văn hóa giữa các tộc người, giữa các vùng, cácquốc gia mà văn hóa văn hóa vận động như một dòng chảy xuyên không gian

và thời gian Giao lưu văn hóa được xem là dấu hiệu gắn với tiến bộ xã hội.Một cộng đồng xã hội càng mở rộng sự giao lưu văn hóa với bên ngoài, hấpthụ được nhiều tri thức mới lạ, làm cho quỹ thông tin xã hội tăng lên sẽ cónhiều tiềm năng sáng tạo văn hóa Ngược lại, cộng đồng sinh hoạt theo kiểukhép kín, thu mình trong sự tự trị của những mối quan hệ nội giao sẽ làmkhông kiệt tiềm năng sáng tạo, cuối cùng không tránh khỏi nguy cơ suy thoái.Giao lưu văn hoá thực chất là sự gặp gỡ, đối thoại giữa các nền vănhoá Quá trình này đòi hỏi mỗi nền văn hoá phải biết dựa trên cái nội sinh đểlựa chọn tiếp nhận cái ngoại sinh, từng bước bản địa hoá nó để làm giàu, phát

Trang 24

triển văn hoá dân tộc.Trong tiếp nhận các yếu tố văn hoá ngoại sinh, hệ giá trị

xã hội và tâm thức dân tộc có vai trò rất quan trọng Nó là "màng lọc" để tiếpnhận những yếu tố văn hoá của các dân tộc khác, giúp cho văn hoá dân tộcphát triển mà vẫn giữ được sắc thái riêng của mình

Cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về giao lưu văn hoá Giao lưu vănhoá, đó là hoạt động nhằm trao đổi, giới thiệu những sản phẩm, giá trị vănhoá, đưa những sản phẩm, giá trị văn hoá đó vào đời sống văn hoá của nhau-giữa dân tộc này với dân tộc khác, tạo ra cơ hội thực tế cho sự cảm nhận, cảmthụ, lĩnh hội những đặc sắc văn hoá của nhau [3, tr.144]

Xuất phát từ cách tiếp cận trên, có thể quan niệm giao lưu văn hóa như

sau: Giao lưu văn hoá là qúa trình gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi lẫn nhau giữa nền văn hoá này với một nền văn hoá khác, tạo nên sự biến đổi của một hoặc của tất cả các nền văn hóa tham gia vào quá trình gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi đó.

Quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá thường diễn ra theo hai hìnhthức: giao lưu văn hóa tự nguyện và giao lưu văn hóa cưỡng bức Đối vớihình thức tự nguyện, thông qua các hoạt động như buôn bán, thăm hỏi, dulịch, hôn nhân, quà tặng…mà văn hoá được trao đổi trên tinh thần tự nguyện.Còn hình thức cưỡng bức giao lưu văn hóa thường gắn liền với các cuộc chiếntranh xâm lược thôn tính đất đai và đồng hoá văn hoá của một quốc gia nàyđối với một quốc gia khác Tuy nhiên, trên thực tế, các hình thức này đôi khikhông thuần nhất Có khi trong cái vẻ tự nguyện, có những yếu tố mang tínhcưỡng bức Hoặc trong quá trình bị cưỡng bức văn hoá, vẫn có những yếu tốtiếp nhận mang tính tự nguyện

Trong quá trình phát triển của lịch sử và văn hoá, bên cạnh thuậtngữ "giao lưu văn hóa" còn xuất hiện nhiều thuật ngữ như tiếp biến, tiếp xúc,giao tiếp liên văn hoá, giao thoa văn hoá, đối thoại văn hoá Nhưng xét chocùng bản chất của chúng là giống nhau, tuy nội dung và hình thức biểu hiệncủa chúng lại khác nhau

Tiếp biến văn hoá: Là quá trình mà trong đó các thành viên của nhóm

Trang 25

văn hoá thông qua niềm tin và hành vi của nhóm khác, chuyển từ lối sốngriêng của mình để thích ứng.

Định nghĩa về "tiếp biến văn hoá" được đưa ra ở cuộc họp UNESCO

châu Á tại Téhéran 1978: Tiếp biến văn hoá đó là sự tiếp xúc giữa những nhóm người khác nhau về hóa, do đó sinh ra những sự thay đổi về văn hoá (ứng xử, giao tiếp, tư duy…) ở trong mỗi nhóm Tiếp biến văn hoá là quá trình

một nhóm người hay một cá nhân qua tiếp xúc trực tiếp và liên tục với mộtnhóm khác, tiếp thụ (tự nguyện hay bắt buộc, toàn bộ hay từng bộ phận) nềnvăn hoá của nhóm này Hiện nay, khái niệm tiếp biến văn hoá được quanniệm được quan niệm đơn giản hơn:

Tiếp biến văn hoá là quá trình một cá nhân hay khi tiếp xúc trực tiếp và liên tục với một cộng đồng hay một cá nhân khác (có hoặc không có ý thức) hấp thụ nhiều hay ít nền văn hóa của cộng đồng hay các cá nhân này.

Điều đáng lưu ý là, giao lưu và tiếp biến văn hoá trong lịch sử nhân loại

về phương thức, đặc điểm và sự ảnh hưởng nó trong mỗi giai đoạn lịch sử,không giống nhau Có hiện tượng văn hoá của cộng đồng này lấn lướt văn hoácủa cộng đồng khác, nhất là trong một không gian và trong quan hệ kinh tế.Trong một số trường hợp, tiếp biến văn hoá sẽ dẫn đến quá trình đồng hoá.Tiếp biến văn hoá và đồng hoá văn hoá dẫn đến sự pha trộn, đồng nhất, sựhoà tan văn hoá của nhóm nhỏ vào văn hoá của nhóm trội hơn

Tiếp biến thể hiện trội hơn trong quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hoá sựđấu tranh, chọn lọc khi tiếp thu tiếp nhận, tức thể hiện tính chủ động của chủthể trong quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hoá Trong quá trình đó, giao lưuvăn hoá vừa tiếp xúc và trao đổi dẫn đến sự hỗn dung, sự cộng sinh và hệ quả

là sự tiếp biến Không có giao lưu, tiếp xúc thì không có tiếp biến, tiếp biếnvăn hoá là hệ quả của giao lưu, tiếp xúc văn hoá

Tiếp xúc văn hoá, đó là sự tìm hiểu, làm quen, khởi đầu cho sự hiểu

biết lẫn nhau, tiến tới xác lập mối quan hệ giữa những chủ thể văn hoá vớinhau

Giao tiếp liên văn hoá, chính là sự giao tiếp giữa các nền văn hoá, giữa

Trang 26

các cộng đồng văn hoá khác nhau với những phương thức sống và thế giớiquan khác nhau [3, tr.17].

Trong công trình nghiên cứu về văn hoá của mình Duane Elmer chorằng: "Giao thoa văn hoá là một hình thức kết nối giữa các nền văn hoá, tạo ra

sự hoà quyện giữa các giá trị văn hoá bản địa và văn hoá nước ngoài" - Duane Elmer: Cross- Cultural connections: Steping Out and Fitting in around the world, Inter Varsity pressm, 2002, p.3 Nhưng quá trình giao thoa văn hoá

không thể để cho tự phát mà phải được định hướng, bởi vì không phải bất cứ

sự giao thoa nào cũng mang lại lợi ích.Giao thoa văn hoá là hiện tượng phổbiến của lịch sử văn hoá nhân loại và nó có tính qui luật

Đối thoại văn hoá là thực hiện qua sự tiếp xúc và trong giao lưu giữa

các dân tộc có những nền văn hoá khác nhau về trình độ phát triển, về hoàncảnh lịch sử, truyền thống, phong tục, tập quán Trong đối thoại các nền vănhoá có thể biểu hiện mình, nâng cao giá trị văn hoá, gây ảnh hưởng tới cácnền văn hoá khác Đối thoại văn hoá là sự thuyết phục lẫn nhau, là tiếp nhậnnhững giá trị và bản sắc của nhau, là chấp nhận sự khác biệt ngoài mình vớinăng lực và bản lĩnh văn hoá của chính mình bằng "bộ lọc" và hệ quy chiếucủa mình [3, tr.147]

Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản được hiểu là quá trình gặp gỡ,tương tác giữa các chủ thể văn hóa (nhân dân hai nước) và các yếu tố của hainền văn hóa Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản diễn ra trong bối cảnhhòa bình, hợp tác Đó là sự giao lưu mang tính chủ động, tự nguyện Trongluận án này, VOV được nghiên cứu với tư cách là phương tiện thúc đẩy giaolưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản Một kênh chuyển tải thông tin và kết nốigiữa hai nền văn hóa

1.2.1.2 Khái niệm truyền thông

Truyền thông là khái niệm được sử dụng khá phổ biến Trong tiếng Anh

commuinicaton có nghĩa là sự thông tin hay là sự truyền đạt, giao thiệp, giao

Trang 27

tiếp, mối quan hệ bạn bè Tiếng La tinh communicare có nghĩa là chia sẻ,

truyền tải Tiếng Nhật là 大大大Tsusin) - có nghĩa là ngôn ngữ truyền đạt thôngtin

Truyền thông là một hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời, phát triển cùng

xã hội loài người, tác động đến và lên quan tới mọi cá thể xã hội [9, tr.11].Tuy nhiên, truyền thông với tư cách là bộ phận đặc biệt của văn hóa, tham giatích cực vào sự phát triển văn hóa, truyền thông cũng có sự thay đổi về hìnhthức biểu hiện Từ hình thức biểu hiện đó cách hiểu về truyền thông vô cùngphong phú

Theo John R Hober (1954), truyền thông là qua trình trao đổi tư duyhoặc ý tưởng bằng lời

Theo Frank Dance (1970), truyền thông là quá trình làm cho cái trướcđây là độc quyền của một vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiềungười

Cũng có quan niệm cho rằng: "Truyền thông là sự trao đổi thông điệpgiữa các thành viên hay nhóm người trong xã hội, nhằm đạt sự hiểu biết lẫnnhau" [20, tr.8]

Nếu truyền thông với tư cách là kết quả của sự tác động lẫn nhau thìviệc mang lại những tính chung hoặc sự riêng biệt của thông tin thường rất ít.Trong trường hợp ở Người, việc truyền tải trạng thái tâm lý của bản thân đếnngười khác không chỉ là ở trạng thái động mà tùy thuộc vào thông tin màngười khác tiếp nhận cũng sẽ bao gồm sự thấu hiểu trạng thái tâm lý của đốitượng hay nói giản đơn hơn là sự thấu hiểu người khác

Có thể hiểu: Truyền thông là một quá trình trao đổi thông tin giữa bên truyền thông tin và tiếp nhận thông tin thông qua ngôn ngữ, chữ viết, hay sự biểu hiện trạng thái tâm lý, biểu tượng nhằm mục đích lý giải lẫn nhau, tác động lẫn nhau trong qua trình biến đổi của xã hội.

Khi xã hội phát triển, con người càng tham gia nhiều vào các hoạtđộng xã hội Trong quá trình tham gia này, con người đòi hỏi sự giao tiếpvới những qui mô lớn hơn nhờ sự giúp đỡ của các phương tiện kỹ thuật

Trang 28

thông tin - hay còn gọi là các phương tiện thông tin đại chúng (mass media).Nghĩa là sự giao tiếp này ở mức độ rộng rãi, mang tính xã hội Truyền thôngđại chúng là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi, thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng.

Truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội đặc thù [44, tr.45], bao gồm các yếu tố sau:

Hoạt động truyền thông (chẳng hạn như săn tin, quay phim, chụp ảnh rồi viết bài, biên tập, và cuối cùng là xuất bản hay phát sóng)

Các nhà truyền thông (nhà báo, kỹ thuật viên của các loại hình báo chí: Báo in, phát thanh, truyền hình, Internet)

Đại chúng (bao gồm các tầng lớp công chúng trong xã hội)

Trong lịch sử, không phải lúc nào cũng có đầy đủ các loại hình truyềnthông như bây giờ Có thể nói đây là giai đoạn có đầy đủ các loại hình truyền

thông Các loại hình truyền thông đại chúng bao gồm: Báo in, Phát thanh, Truyền hình, Sách, Quảng cáo, Điện ảnh, Ảnh báo chí…Phát thanh (báo nói)

là một trong những loại hình của truyền thông đại chúng, là đối tượng, phạm

vi nghiên cứu của đề tài luận án mà NCS nghiên cứu

Phát thanh tuy không phải là loại hình truyền thông ra đời sớm, nhưng

sự ra đời của nó đã đánh dấu bước phát triển của công nghệ mới Vào cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX, A.X.Pôpốp đã phát minh ra vô tuyến điện, tạo ra mộtloại hình truyền thông mới đó là phát thanh (Radio) Sự ra đời của Radio làmbùng nổ truyền thông và nó trở thành công cụ thể hiện quyền lực chính trị vôcùng lợi hại Báo phát thanh dùng thế giới âm thanh sống động và vô cùngphong phú (lời nói, âm nhạc, tiếng động…) thông qua các phương tiện kỹthuật để truyền tải thông tin

Phát thanh là kênh truyền thông đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện

từ và hệ thống truyền dẫn (Radio) truyền đi những âm tác động trực tiếp vàothính giác người tiếp nhận [15, tr.179] Tuy nhiên, do sự phát triển của côngnghệ thông tin, báo phát thanh Internet, Radion online… có những đặc trưngkhác nhau nên định nghĩa cũng khác nhau

Trang 29

Lois Baird, tác giả của cuốn "Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh", nhìn nhận rất khái quát về báo phát thanh như sau:

Radio là loại hình tạo ra hình ảnh, sự kiện trong tâm trí người ngheRadio là thân mật, riêng tư (không loan báo)

Radio dễ tiếp cận, dễ mang theo

Radio là trực tiếp

Radio có ngôn ngữ riêng - nghiêng về cách nói đời thường

Radio gợi lên cảm xúc

Radio làm công việc thông tin giáo dục rất hiệu quả

Radio là âm nhạc

Tuy có những hạn chế riêng, nhưng phát thanh là sự thể hiện sự kết hợpchặt chẽ giữa các nhà khoa học, kỹ sư chế tạo, nhà doanh nghiệp với côngchúng truyền thông Ngày nay, do kỹ thuật số phát triển nên phát thanh có sứccạnh tranh mạnh mẽ với các loại hình truyền thông khác Trên thế giới, báophát thanh được ưa chuộng bởi sự nhanh nhạy của thông tin Ở Thụy Sĩ, cónhững thời điểm 70% dân số nghe Radio Còn ở Mỹ, thì số lượng đầu thuRadio ở Mỹ đã vượt quá dân số Mỹ Đặc điểm nổi bật của công chúng là tínhchuyên biệt cao, và xu hướng tập trung tiêu dùng vào sóng FM Chúng ta thửxem nhu cầu sử dụng Radio của người Mỹ theo bảng 1.1 [57, tr.138]

Bảng 1.1: Nhu cầu sử dụng Radio của người Mỹ Chương trình Độ tuổi Giới tính Khu vực

(thành thị/nông thôn)

Chương trình phát cho lái xe 35 Cả hai Cả hai

Thời sự bình luận 25-34 Cả hai Thành thị

Trang 30

Thành thị đương thời 12-34 Cả hai Thành thị

Ở Việt Nam báo phát thanh (Đài Tiếng nói Việt Nam) đã có lịch sử 72

năm phát triển (thành lập ngày 7 tháng 9 năm 1945) với hệ thống phát thanhtoàn quốc, 63 đài phát thanh tỉnh, thành phố, 600 đài phát thanh huyện, phủsóng 98% dân số, đồng thời cũng là phương tiện duy nhất phủ sóng biểnĐông Đài Tiếng nói Việt Nam là công cụ tuyên truyền quan trọng của Đảng

và Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, vũ khí đấu tranh với những "diễn biếnhòa bình", "Cách mạng Cam"… nhằm xây dựng một quốc gia phát triển đónggóp vào nền hòa bình, thịnh vượng chung của thế giới

Bước sang thế kỷ XXI - được coi là thế kỷ của công nghệ thông tin,một số loại hình truyền thông mới như Internet xuất hiện có thể làm giảm vaitrò của phát thanh ở góc độ nào đó, tuy nhiên trên thế giới phát thanh vẫn có

vị trí độc tôn của nó Ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, phát thanhvẫn là loại hình truyền thông có tầm phủ sóng xa nhất, rộng nhất Đặc biệt đốivới những vùng xa xôi, vùng núi… phát thanh vẫn đến và là nguồn cảm xúcđầy đặn nhất của mọi người

1.2.1.3 Vai trò của giao lưu văn hóa đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Vai trò của giao lưu văn hoá thể hiện ở những nội dung sau đây:

Thứ nhất, tiếp thu chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ của các dân tộc khác

Theo Phan Ngọc thì không có văn hoá tự lực cánh sinh và cũng không

có văn hoá tự túc Cũng theo ông có hai kiểu tiếp xúc văn hoá là tiếp xúc chạytheo cái đồ vật, cái cặn bã của văn hoá người ta, và tiếp xúc là học tập người

Trang 31

ta để nắm được chính cái tinh thần đã tạo nên được một văn hoá cao hơnmình Rõ ràng giao lưu văn hoá vừa là để phát huy truyền thống dân tộc, vừa

là để làm mạnh dân tộc Cũng theo ông bản sắc văn hoá chính là nền tảng củagiao lưu văn hoá Tuy nhiên bản sắc này trong quá trình giao lưu sẽ trở nênphong phú hơn, đẹp đẽ hơn và toàn diện hơn [37, tr.137]

Đến nay, tại Việt Nam, những món ăn Nhật Bản như Tempura (móntẩm bột rán), cá sống, cơm cuộn… đã trở thành những món ăn yêu thích củangười dân Việt Nam, và ngược lại tại Nhật Bản, mỗi khi nhắc đến Việt Nam

là người dân sẽ nói ngay tới món nem cuốn, bánh xèo, phở Việt Nam Nhưvậy, rõ ràng những yếu tố tinh túy của xã hội, con người thường được học hỏimột cách nhanh chóng

Thứ hai, thấu hiểu các nền văn hóa.

Mỗi một dân tộc, quốc gia tự thấu hiểu văn hóa tự thân, sau đó lại thấuhiểu giá trị của các nền văn hoá khác Từ đó loại trừ những cái không phù hợp

để giao lưu, loại bỏ những cái xấu Tuy nhiên, có những trường hợp văn hóađộc hại lại được lan nhanh trong xã hội hơn cả những cái tốt đẹp Ở Nhật Bảncoi thấu hiểu văn hóa khác mình là một yếu tố cần thiết để phát triển chínhmình

Bản báo cáo Hành tinh đa văn hoá của Nhóm chuyên gia quốc tế thuộc

UNESCO đã chỉ rõ: Tương lai của nhân loại không thể được mô tả như là sựthống nhất mà không có đa dạng hay đa dạng mà không có thống nhất Tháchthức đối với tất cả những người đương thời là xây dựng một thế giới như vậy,

và trên tất cả là thách thức đối với những nền văn hoá làm cơ sở cho thế giớiquan và hệ giá trị của họ" Trong xu thế toàn cầu hoá thế giới ngày nay, điềucần tránh là việc biến các nền văn minh đa dạng thành sự đồng quy về mộtnền văn minh độc nhất và khiến cho các nền văn hoá trở nên thuần nhất.Chúng ta nên duy trì sự đa dạng hiện tồn của các nền văn minh và văn hoá.Mặt khác, điều cần thiết là thúc đẩy đối thoại giữa các nền văn minh khác

Trang 32

nhau, gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau, loại bỏ những hố sâu ngăn cách nào đó,hoà giải những đối kháng, chống lại "xung đột giữa các nền văn minh", từ đóhiện thực hoá sự thống nhất của các nền văn minh và văn hoá cũng như thựchiện toàn cầu hoá về nhân tính dựa trên cả sự đa dạng và sự thống nhất củacác nền văn minh thế giới Giao lưu liên văn hoá hợp lý chính là con đườngquan trọng để đạt được mục tiêu cao quý này.

Khổng Tử, triết gia Trung Quốc cổ đại, đã từng nói: "hài hoà trong đadạng" Điều đó có nghĩa là chúng ta nên tôn trọng những nét dị biệt và đadạng của mình, tìm kiếm sự chung sống hoà hợp thông qua giao lưu với ngườikhác để đáp ứng sự quan tâm và những lợi ích chung của con người Vănminh và văn hoá đều có những đặc điểm của sự đa dạng và sự đồng nhất.Kiểu đồng nhất này là đồng nhất động, dựa trên sự đa dạng Điều này có hai

nghĩa: Thứ nhất, đó là bản sắc của nền văn hoá dân tộc trong nền văn minh nhất định; Thứ hai, những truyền thống khác nhau của các nền văn minh và

văn hoá thực hiện khả năng bù trừ xác định hay khả năng văn hoá tích cựchướng đến những mục tiêu và giá trị của sự tiến bộ chung trong sự giao lưuhợp lý của mình

Sự giao lưu liên văn hoá hợp lý phải là sự giao lưu song phương và dựatrên sự thấu hiểu liên văn hoá lẫn nhau, trong đó có việc giải thích cho nhaunhững "văn bản" trong các nền văn hoá khác nhau Điều này có nghĩa là "vănhoá bản địa" với tính cách là "cái bản ngã" và "văn hoá bên ngoài" với tínhcách là "cái khác" đều ý thức về đối tác như là cái "khác" xa lạ và siêu việtkhỏi cái "ngã", tiến vào cái "khác" để phản ánh nền văn hoá của chính mìnhtrong cái xa lạ Cả cái "ngã" và cái "khác" đều hiển hiện ra trong sự tương phảnlẫn nhau "Văn hoá bản địa" và "văn hoá bên ngoài" đều có thể trở nên kỳ vĩtrong sự lý giải mới về mình Trong hình thức giao lưu liên văn hoá biện chứngnày, một sự "đồng tâm chéo" nào đó, được hiểu như một dạng liên văn hoá tíchcực, có thể trở thành

Trang 33

hiện thực Đó là một sự "đồng tâm" bao hàm khác biệt, một kiểu tương đồngtrong dị biệt, một sự đồng nhất động dựa trên tính đa dạng "Văn hoá bản địa"

và "văn hoá bên ngoài" đều có thể siêu việt khỏi bản thân trong sự thấu hiểulẫn nhau và đạt được tri thức mới mang tính cách tân

Bất kỳ nền văn hoá nào cũng không thể gạt bỏ truyền thống văn hoá đãtiến hoá ở mức độ nhất định Sự thấu hiểu liên văn hoá cũng bao hàm sự thấuhiểu lẫn nhau giữa hai kiểu truyền thống văn hoá động là "văn hoá bản địa" và

"văn hoá bên ngoài" Chú giải học triết học của H.G.Gadamer khẳng địnhrằng, truyền thống - với tính cách là hợp lưu của những định kiến được lưugiữ bởi lịch sử - chính là tiền đề cho hành vi thấu hiểu mang tính người, đồngthời con người cũng tham dự vào sự tiến hoá của truyền thống thông qua hoạtđộng lý giải và thấu hiểu sáng tạo của họ Chúng ta có thể áp dụng quan điểmnày để lý giải rằng, hai truyền thống khác nhau của "văn hóa bản địa" và "vănhoá bên ngoài" đều đạt được sự hợp lưu và hoà hợp của hai tầm nhìn trong sựthấu hiểu lẫn nhau của chúng, do đó thúc đẩy sự tiến hoá của chính mìnhtrong sự giao lưu liên văn hóa

Tính liên văn hoá là một thuộc tính bản chất, là chức năng của thấu hiểuliên văn hoá và cũng là kết quả của giao lưu liên văn hóa Một mặt, nó biểuthị một vai trò trung gian xuất hiện trong sự tương tác và lý giải đối với "vănhoá bản địa" và "văn hoá bên ngoài", nó giống như quy tắc "trung dung" củaNho giáo Mặt khác, nó có nghĩa là hai nền văn hoá khác nhau tạo nên sự

"đồng tâm chéo" nào đó trong khi cùng lý giải, xây dựng lẫn nhau và thựchiện sự đồng nhất trong đa dạng văn hoá Giao lưu liên văn hoá làm cho cácquan hệ phức tạp của sự tương đồng và dị biệt đan xen vào nhau, biểu hiệnthành một số phương thức như tính bù trừ, tính cân xứng hay bất hoà và bấtcân xứng Nếu không có giao lưu, sự bất hoà và bất cân xứng thái quá - nhữngcái tiêu biểu cho tính liên văn hoá tiêu cực - rất dễ dẫn đến xa cách, thậm chí

là xung đột giữa các nền văn hoá khác nhau Việc tìm kiếm những tương đồng

Trang 34

trong khi vẫn duy trì khác biệt, "hài hoà trong đa dạng", nói lên tính liên vănhoá tích cực, hợp lý, được hiểu như là mục tiêu đích thực của giao lưu liênvăn hoá Điều này cũng có nghĩa là thực hiện sự đồng nhất của các nền vănminh đa dạng, thúc đẩy sự cộng tồn hài hoà và tiến bộ chung của các nền vănminh thế giới.

Chúng ta hãy xem xét một thí dụ: những học thuyết triết học của Khổng

Tử và Xôcrát, vốn có ảnh hưởng sâu sắc đối với truyền thống văn minh TrungQuốc và phương Tây, cho đến ngày nay có cả sự đồng nhất lẫn tính đặc thù.Điều đó nói lên rằng, cả truyền thống triết học Trung Quốc lẫn truyền thốngtriết học phương Tây trong hai nền văn minh đều có thể thấu hiểu, chuyên chởlẫn nhau và đều thực hiện được tính liên văn hoá tích cực trong giao lưu liênvăn hoá

Thứ ba, giới thiệu, quảng bá lịch sử, đất nước, con người, văn hoá của dân tộc, quốc gia ra thế giới.

Các hoạt động giao lưu văn hóa cũng là cơ hội để mỗi quốc gia, khuvực giới thiệu văn hóa tự thân ra bên ngoài Thông qua đó, mỗi nền văn hóaquốc gia, dân tộc đó sẽ được tiếp nhận, tăng cường hiểu biết lẫn nhau đónggóp vào sự phát triển chung của xã hội sở tại và thế giới

Điển hình ví dụ như Lễ hội Việt Nam tại Nhật Bản sau 9 lần tổ chứcđến nay đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với người NhậtBản và cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản Qua những Lễ hội như thế,

sự hiểu biết của người Nhật Bản về nền văn hóa Việt Nam sẽ dần được nânglên, và ngược lại, người Việt Nam cũng sẽ hiểu hơn về mối quan tâm củangười Nhật Bản là như thế nào

Đẩy mạnh hoạt động ngoại giao văn hóa là "thời cơ vàng" để chúng tahọc hỏi được nhiều điều hay, tiếp thu được nhiều điều tốt, chọn lọc đượcnhững tinh hoa văn hóa của các quốc gia, dân tộc trên thế giới để làm giàu vàphong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam, thực hiện đúng phương châm

Trang 35

"Đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới và đưa văn hóa thế giới đến ViệtNam" Đối với nước ta hiện nay, tăng cường ngoại giao văn hóa là một trongnhững việc làm thiết thực để góp phần thực hiện thắng lợi "Đường lối đốingoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạnghóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đấtnước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩagiàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộngđồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ vàtiến bộ xã hội trên thế giới" Mặt khác, thực hiện tốt các hoạt động ngoại giaovăn hóa còn tạo ra chất xúc tác thúc đẩy ngoại giao chính trị và ngoại giaokinh tế không ngừng phát triển, xây dựng công cụ quảng bá mạnh mẽ nền vănhóa Việt Nam, nhất là quảng bá các giá trị di sản văn hóa của dân tộc ta đếnvới bạn bè quốc tế.

Thứ tư, giao lưu văn hoá thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển, thúc đẩy sự sáng tạo của văn hoá.

Nói văn hóa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế là nói đến tính chấtchính trị của nền kinh tế, là nói nền kinh tế đó thuộc về ai và phục vụ cho ai.Nền kinh tế lấy văn hóa và con người làm động lực và mục tiêu đòi hỏi phảithường xuyên quan tâm đến hiệu quả xã hội của hoạt động kinh tế, coi pháttriển kinh tế là điều kiện để phát triển và hoàn thiện con người, phát triển vàhoàn thiện xã hội

Nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới, trong chính sách phát triển củamình đều gắn tăng cường giao lưu văn hóa với phát triển kinh tế xã hội, thúcđẩy sự sáng tạo văn hóa

Trong cuộc hội thảo "Intercultural Competence as a Cornerstone ofInnovation" (Tạm dịch: Mối giao thoa văn hóa là nền móng cho sự sáng tạo),ông Mark A.Ashwill - Nhà sáng lập Công ty Capstone cho rằng: "Nhữngngười có nhu cầu kết nối, giao thoa văn hóa sẽ có cơ hội sáng tạo, đột phá

Trang 36

nhiều hơn".

Theo ông, để làm được điều đó, chúng ta nên tương tác và trao đổi kinhnghiệm với những người khác, tăng cường học tập trong nhà trường, thúc đẩyquá trình tự học, trau dồi ngoại ngữ, thường xuyên đi du lịch nước ngoài, duhọc và làm việc ở các nước trên thế giới

Chính sự cọ sát của chúng ta với một môi trường văn hóa khác nào đó

sẽ giúp chúng ta có sự so sánh, từ đó rút ra những ý tưởng mới cho sự pháttriển văn hóa

Ở Việt Nam, phương châm "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội", đãđược thực hiện trong nhiều năm nay và đạt được những kết quả quan trọng

Thứ năm, giao lưu văn hoá cũng có thể dẫn tới sự áp đặt, kìm hãm sự phát triển văn hoá.

Trong lịch sử phát triển văn hoá của Việt Nam, chúng ta đã trải quanhững cuộc tiếp xúc văn hoá với bên ngoài Có ba cuộc tiếp xúc văn hoá: Lầnthứ nhất là thời kỳ tiếp xúc văn hoá Đông Nam Á mà chủ yếu là từ Ấn Độsang, lần thứ hai là tiếp xúc với văn hóa Trung Quốc, và lần thứ ba là tiếp xúcvới nền văn hoá phương Tây Ở cả ba thời kỳ này, thật tuyệt vời khi nền vănhoá của chúng ta đã tiếp thu được những tinh hoa từ bên ngoài, làm giàuthêm, phong phú thêm nền văn hoá dân tộc, và hoàn toàn không bị "lai căng".Sau này khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, thì một lầnnữa nền văn hoá Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, thời kỳ văn hoácủa độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội Văn hoá lúc này là văn hoá của

sự giải phóng con người, văn hoá của thời kỳ hướng tới xây dựng đất nướcgiàu mạnh, con người bình đẳng, xã hội tiến bộ Và năm 1986 khi chúng tathực hiện công cuộc đổi mới bằng những việc cần làm ngay của NVL, thì vănhoá của chúng ta gắn với sự nghiệp đổi mới Nó đòi hỏi một tư duy mới đápứng nhu cầu của công cuộc đổi mới đất nước Và hiện tại khi toàn cầu hoá

Trang 37

đang diễn ra mạnh mẽ và Việt Nam đang hộ nhập sâu rộng, thì giao lưu vănhoá lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

1.2.1.4 Tác động của truyền thông đối với giao lưu văn hóa

Trong thời đại bùng nổ thông tin, kinh tế tri thức đóng vai trò quantrọng đối với sự phát triển mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì lĩnh vực vănhóa (Culture) có những thay đổi, liên quan nhiều đến khía cạnh truyền thông(Communication) và tác động mạnh đến nền báo chí, quan hệ quốc tế đươngđại (kể cả hoạt động truyền thông đối ngoại) mọi quốc gia Trên thế giới, nhất

là các cường quốc, người ta nhấn mạnh nghiên cứu tổng thể các hoạt độngtruyền thông, các phương tiện truyền thông (Media), văn hóa, hiệu quả, hiệuứng xã hội ở các quy mô khác nhau

Truyền thông có những tác động mạnh mẽ tới giao lưu văn hóa Nhữngtác động thể hiện ở những điểm như; làm cho chủ thể hiểu mình là ai và muốn

gì, gắn với giao lưu văn hóa trong việc xây dựng quyết sách, triển khai hoạtđộng giao lưu văn hóa [6, tr 134]

Hiểu mình là ai và muốn gì ?

Trong thế giới hiện nay, hình ảnh quốc gia của một đất nước luôn luôn

tỷ lệ thuận với sức ảnh hưởng và hấp dẫn văn hóa của quốc gia đó trên thếgiới Sức ảnh hưởng, sức hấp dẫn lại tương đồng với khả năng cung cấp sảnphẩm văn hóa cho thế giới của quốc gia đó Do đó yếu tố quyết định một quốcgia có phải cường quốc văn hóa hay không, nhìn chung không phụ thuộc vàolịch sử nước đó dài hay ngắn, tài nguyên văn hóa phong phú hay nghèo nàn,cũng không phụ thuộc vào diện tích nước đó lớn hay nhỏ mà phụ thuộc vàosức cống hiến về văn hóa cho thế giới của nước này Hơn nữa, chính là sứcảnh hưởng, sức hấp dẫn và sức cống hiến này quyết định hình ảnh quốc gianước đó, thậm chí là đị vị trên trường quốc tế của nước đó

Một lợi ích hiện thực rõ rệt nhất của việc chế định chiến lược tổng thểvăn hóa quốc gia là: tập hợp sự đồng lòng và tính sáng tạo của toàn thể quốc

Trang 38

dân ở mức độ lớn nhất, phấn đấu thực hiện mục tiêu tổng thể của quốc gia.Các quốc gia mới phát triển cần học tập kinh nghiệm thành công của nhữngnước đi trước, xác lập chiến lược tổng thể quốc gia xây dựng nước có tầm vóclớn về văn hóa và hệ thống toàn bộ chiến lược văn hóa quốc gia, để từ đótrong thời gian ngắn, trên các phương diện như năng lực sáng tạo văn hóa, sứcmạnh mềm văn hóa và năng lực quản lý quốc gia…ở vào vị trí nhất định trêncác bậc thang quốc tế, đặt cơ sở vững chắc chi việc xây dựng các cường quốcvăn hóa.

- Tác động tinh tế, nhẹ nhàng, thân thiện.

Các nhà hoạch định chính sách truyền thông giao lưu văn hóa, thậm chíđường lối tuyên truyền của những quốc gia trên thế giới, hiểu rất rõ rằng: bất

kỳ dân chúng của nước nào, từ tận đáy lòng, họ đều phản cảm với việc ngườikhác tỏ ra ngạo mạn, phê bình chỉ trích, dạy mình làm cái này, không đượccái kia, vì thế, thậm chí gắng sức tránh những cụm từ như tuyên truyền,truyền thụ… mà thay vào đó là quan hệ công chúng PR Họ không thích chínhphủ nước khác trực tiếp gây ảnh hưởng, mà lạu sẵn sàng tiếp tục sự giao lưusong phương mang màu sắc văn hóa dân gian, màu sắc văn hóa tương đốiđậm đà, đại chúng, do đó rất nhiều chính phủ lựa chọn giải pháp thông quacon đường giao lưu văn nghệ dân gian, giao lưu văn hóa lặng lẽ từ bên ngoài.Phương pháp truyền thông giao lưu văn hóa nhằm mục đích chiến lược củaquốc gia hay chỉ tuyên truyền đối ngoại đều cần sự tinh tế, nhẹ nhàng, khônkhéo Đó cũng chính là biến tuyên truyền thô thiển, lộ liễu, hành chính, phongtrào thành truyền thông giao lưu văn hóa bài bản, đậm tính văn hóa, nhân văn,thân thiện, hữu nghị mà vẫn kín đáo

Đa số công chúng đều thích bàn luận, tranh cãi, dân chủ và không thích

sự dạy đời và rao giảng cứng nhắc và đó cũng là bản tính của mỗi con người.Tương tự như vậy truyền thông trong giao lưu văn hóa dù vì lợi ích quốc gia,dân tộc, nếu trong trường hợp vẫn phải nhỏ nhẹ một chút, hài hước hóm hỉnhmột chút, mềm mỏng với màu sắc văn hóa phong phú, bớt đi giọng điệu cứng

Trang 39

nhắc, hành chính… mới có thể làm cho các mục tiêu chiến lược về văn hóa,giao lưu văn hóa thực chất và hiệu quả hơn.

Trên cơ sở đó, truyền thông cũng phải giỏi giao thiệp với truyền thôngnước ngoài, thông qua các kênh truyền thông quốc tế để truyền bá tiếng nóiquốc gia, đưa tin quốc tế một cách khách quan, công bằng theo thông lệ quốctế… thì khi đó truyền thông mới tác động mạnh mẽ vào các hoạt động giaolưu văn hóa, tạo sự gắn kết con người trong cộng đồng thông qua giao lưu vănhóa đó

- Tác động tới xây dựng chiến lược, triển khai hoạt động giao lưu văn hóa.

Xem xét cách quản lý của các nước trên thế giới đối với giao lưu vănhóa, có 3 loại mô hình quản lý khác nhau: một là kiểu trực tiếp, chính phủtrực tiếp xây dựng cơ quan nhà nước phụ trách quản lý nhà nước hoạt độnggiao lưu văn hóa; một loại khác là kiểu gián tiếp, dưới sự tài trợ vốn của chínhphủ, thiết lập cơ quan tự trị phi chính phủ quản lý gián tiếp giao lưu văn hóa;loại thứ 3 là kiểu hỗn hợp, chính phủ khống chế quỹ và ký các hiệp định giaolưu văn hóa, các cơ quan phi chính phủ được ủy quyền độc lập dựa vào nănglược của mình để xử lý các công việc giao lưu văn hóa đối ngoại

Từ đó, truyền thông phải nắm vững những hình thái đó để có thể hiểu

rõ nhu cầu văn hóa nước đó như thế nào, yêu cầu ra sao để có thể tư vấn choviệc xây dựng, triển khai văn hóa của quốc gia mình cho phù hợp

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp liên/đa ngành

Đối tượng nghiên cứu của luận án là giao lưu văn hóa Việt Nam-NhậtBản trong hoạt động truyền thông VOV mang tính liên ngành rõ, vì thế, trongluận án, NCS sử dụng phương pháp liên ngành văn hóa học, truyền thông học,quốc tế học, xã hội học… để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu

Vận dụng những tư liệu đã có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, làm rõ

Trang 40

hoạt động giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản, tác động của VOV trongtăng cường hoạt động giao lưu văn hóa đó Đồng thời vận dụng những tư liệuthực tiễn của nghiên cứu sinh trong việc tuyên truyền, tổ chức, kết nối…giaolưu văn hóa hai nước.

- Phương pháp điều tra xã hội học

Nghiên cứu sinh thực hiện điều tra thính giả Nhật Bản về các chươngtrình của VOV liên quan tới văn hóa, giao lưu văn hóa, giao lưu con ngườigiữa hai nước để có thông tin chính xác và khách quan

- Phương pháp điền dã thực tế, quan sát, tham dự

Trong thời gian 21 năm từng trải qua nhiều công việc như biên tậpviên, biên dịch viên, phát thanh viên Tiếng Nhật, quản lý mảng tin quốc tế,Giám đốc Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Nhật Bản , nghiêncứu sinh đã có thời gian dài điền dã thực tế, quan sát, tham dự các hoạt độnggiao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản như sau:

- Trực tiếp tham gia vào các chương trình giới thiệu văn hóa, đời sống

xã hội Việt Nam bằng Tiếng Nhật đến với thính giả Nhật Bản và những ngườibiết tiếng Nhật trên toàn thế giới Phỏng vấn những chuyên gia văn hóa, nhàtruyền thông, lãnh đạo của Nhật Bản,Việt Nam, Mỹ và một số nước trên thếgiới về lịch sử quan hệ hai nước, sự giao thoa giữa hai nền văn hóa, về cáchthức tuyên truyền như thế nào để tăng cường giao lưu văn hóa, giao lưu conngười giữa hai nước

- Trực tiếp làm các chương trình phát thanh bằng Tiếng Nhật tại ĐàiNHK, Nhật Bản Nội dung của các chương trình đề cập tới nền văn hóa NhậtBản và so sánh với nền văn hóa Việt Nam, kinh nghiệm rút ra từ công tác bảotồn di sản văn hóa của Nhật Bản, nói chuyện chuyên đề về văn hóaViệt Namtại một số trường tiểu học, phổ thông trung học của Nhật Bản

- Đi thực tế, tìm hiểu sâu những nơi có dấu ấn của Việt Nam tại NhậtBản như nơi Phan Bội Châu từng sống tại Nhật Bản, bia kỷ niệm Phan Bội

Ngày đăng: 14/07/2023, 14:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Nhu cầu sử dụng Radio của người Mỹ - Giao lưu văn hóa việt nam nhật bản trong hoạt động truyền thông
Bảng 1.1 Nhu cầu sử dụng Radio của người Mỹ (Trang 29)
Bảng 3.1: Chương trình AM (phát trong và ngoài nước) - Giao lưu văn hóa việt nam nhật bản trong hoạt động truyền thông
Bảng 3.1 Chương trình AM (phát trong và ngoài nước) (Trang 83)
Bảng 3.2: Chương trình FM (phát trong nước) - Giao lưu văn hóa việt nam nhật bản trong hoạt động truyền thông
Bảng 3.2 Chương trình FM (phát trong nước) (Trang 84)
Bảng 3.3: Thống kê tin liên quan tới văn hóa Nhật Bản - Giao lưu văn hóa việt nam nhật bản trong hoạt động truyền thông
Bảng 3.3 Thống kê tin liên quan tới văn hóa Nhật Bản (Trang 90)
Bảng 3.4: Tin bài năm 2016 của Cơ quan thường trú VOV - Giao lưu văn hóa việt nam nhật bản trong hoạt động truyền thông
Bảng 3.4 Tin bài năm 2016 của Cơ quan thường trú VOV (Trang 99)
Bảng 3.5: Bảng biểu chương trình tiếng Việt Đài NKH - Giao lưu văn hóa việt nam nhật bản trong hoạt động truyền thông
Bảng 3.5 Bảng biểu chương trình tiếng Việt Đài NKH (Trang 102)
Bảng 3.6: Thính giả Nhật Bản nghe các chuyên mục giới thiệu - Giao lưu văn hóa việt nam nhật bản trong hoạt động truyền thông
Bảng 3.6 Thính giả Nhật Bản nghe các chuyên mục giới thiệu (Trang 107)
Bảng 3.7: Tổng hợp kết quả đánh giá của thính giả Nhật Bản về chất lượng các chuyên mục giới thiệu văn hoá Việt Nam - Giao lưu văn hóa việt nam nhật bản trong hoạt động truyền thông
Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả đánh giá của thính giả Nhật Bản về chất lượng các chuyên mục giới thiệu văn hoá Việt Nam (Trang 107)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w