Báo cáo thực tập, báo cáo thực tập tại viện kiểm sát nhân dân, thực tập tại viện kiểm sát nhân dân, báo cáo thực tập tốt nghiệp, báo cáo, mẫu báo cáo thực tập, báo cáo thực tập ngành luật, mẫu báo cáo thực tập ngành luật
Trang 1KHOA LUẬT
……
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đơn vị thực tập: Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
ĐỀ TÀI:
THỰC TIỄN KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ TỘI ĐÁNH BẠC TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG,
TỈNH TUYÊN QUANG NĂM 2021
Giảng viên hướng dẫn :
Hà Nội - 2022
Trang 2Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy, cô của Khoa Luật – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội nói riêng và toàn thể quý thầy, cô của trường Đại học Văn hóa Hà Nội nói chung đã tạo điều kiện, cơ hội để em hoàn thành tốt khóa thực tập, tạo điều kiện để em được tiếp cận với môi trường thực tế phù hợp với chuyên môn thông qua đợt thực tập đầy ý nghĩa và thiết thực này
Em xin chân thành cảm ơn Viện trưởng, Phó Viện trưởng cùng toàn thể cô chú, anh chị đang công tác và làm việc tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã tạo điều kiện, tận tình giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực tập, hướng dẫn, chỉ dạy cho em biết thêm nhiều kiến thức bổ ích từ thực tiễn, giúp em từng bước hoàn thiện kỹ năng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp sau này
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến giảng viên hướng dẫn cô Lê Thị Minh Trâm đã giúp
đỡ, hướng dẫn em hoàn thành tốt báo cáo thực tập đúng thời hạn quy định Trong quá trình thực hiện báo cáo, em cũng nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ và động viên của thầy cô, bạn bè và gia đình Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Với thời gian thực tập không nhiều, kiến thức còn hạn chế không tránh khỏi sẽ còn nhiều sai sót Kính mong nhận được sự nhận xét, góp ý của thầy, cô giúp em rút kinh nghiệm, học hỏi và tiếp thu để hoàn thiện bản thân mình hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn Dương, ngày 14 tháng 01 năm 2022
Sinh viên thực tập
Vũ Thị Phương Loan
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
PHẦN I: MỞ ĐẦU 4
PHẦN II: NỘI DUNG 5
Chương I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục tiêu nghiên cứu 7
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
Chương II TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN DƯƠNG VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG 8
1 Địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 8
1.1 Vị trí địa lí 8
1.2 Đặc điểm dân cư và kinh tế - xã hội 8
2 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 10
2.1 Cơ cấu tổ chức 10
2.2 Chức năng, nhiệm vụ 10
Chương III NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI ĐÁNH BẠC, PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ TỘI ĐÁNH BẠC 13
1 Khái niệm, đặc điểm tội đánh bạc 13
2 Pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự về tội đánh bạc 17
Chương IV THỰC TIỄN VIỆC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ TỘI ĐÁNH BẠC TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG NĂM 2021 23
1 Thực tiễn kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự về tội đánh bạc tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 23
2 Những ưu điểm 27
3 Những khó khăn, vướng mắc 27
4 Nguyên nhân 31
Chương V KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TỘI PHẠM ĐÁNH BẠC 33
Trang 41 Nhận xét 33
2 Kiến nghị đề xuất một số giải pháp hạn chế tội phạm đánh bạc 35
PHẦN III KẾT LUẬN 38
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 5PHẦN I: MỞ ĐẦU
Hiện nay, trong bối cảnh xã hội phát triển nhanh chóng cùng với sự phát triển kinh tế, việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, quan tâm giải quyết các vấn đề bức xúc xã hội cũng được đặt lên hàng đầu Đặc biệt tình hình hiện nay, khi kinh tế ngày càng phát triển, mức sống của con người được nâng cao hơn, thì nhu cầu đời sống tinh thần cần thiết phải được cải thiện, mà vấn đề bức xúc hiện nay rất cần quan tâm đó là đời sống văn hóa cơ sở còn nhiều mặt chưa được đáp ứng, môi trường trong lành đang bị đe dọa bởi nhiều tệ nạn xã hội làm cho người dân chưa thật sự an tâm Khi xã hội phát triển cũng kéo theo sự phát triển nhanh những tệ nạn xã hội, đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tội phạm gia tăng, một trong số đó phải nhắc đến là tệ nạn cờ bạc Các tội phạm về cờ bạc nói chung và tội phạm đánh bạc nói riêng đang là hiện tượng nhức nhối trong xã hội nước ta
Đánh bạc là hành vi tham gia vào trò chơi được tổ chức bất hợp pháp mà sự được hoặc thu kèm theo việc được hoặc mất lợi ích vật chất đáng kể có thể là tiền, hiện vật hoặc các hình thức tài sản khác, đánh bạc không chỉ bó hẹp trong phạm vi địa phương mà còn sử dụng công nghệ cao, diễn ra trên không gian mạng và xuyên quốc gia Chính vì vậy, đánh bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự
xã hội, không chỉ ảnh hưởng xấu đến gia đình và cá nhân người chơi mà còn có thể
Trang 6là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác Hệ lụy kèm theo hành
vi đánh bạc đánh bạc trái phép có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho bản thân, gia đình và cả xã hội Do đánh bạc mà dẫn đến bao nhiêu gia đình tan cửa nát nhà, do đánh bạc mà dẫn đến các hành vi phạm nhiều tội khác như gây rối trật tự công cộng, trộm cắp, cướp giật, cố ý gây thương tích, tổ chức sử dụng trái phép chất
ma tuý, thậm chí có thể là cả giết người… Trong thời điểm hiện nay, tình hình dịch bệnh Covid-19 đang bùng phát, gây nhiều khó khăn về kinh tế, kéo theo tình trạng thất nghiệp, mất việc gia tăng, thời gian nhàn rỗi nhiều, các đối tượng dễ bị lôi kéo vào tệ nạn cờ bạc Bên cạnh đó, một số bộ phận đối tượng có lối sống thích hưởng thụ nhưng lười lao động, muốn có tiền nhanh để tiêu xài cá nhân dẫn đến hành vi đánh bạc bất hợp pháp Theo dự báo của Cơ quan Công an, càng về cuối năm, tội phạm và tệ nạn đánh bạc càng có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp Đây chính là vấn đề trăn trở, rất cần được sự tập trung quan tâm góp ý tìm ra giải pháp hữu hiệu, để có định hướng xác thực khả thi, làm chuyển biến tình hình một cách tích cực trong những thời gian tới Tuy nhiên, để công tác phòng, chống tội phạm nói chung, phòng, chống tội phạm cờ bạc nói riêng đạt hiệu quả cao, rất cần sự chung tay góp sức của toàn xã hội Hiệu quả nhất vẫn là từ ý thức của mỗi cá nhân, tránh xa tệ cờ bạc để bảo vệ chính mình, gia đình mình và bảo vệ cộng đồng Tuyệt đối không tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức, đồng thời mạnh dạn cung cấp thông tin tố giác tội phạm và vi phạm pháp luật, góp phần ngăn ngừa, tiến tới loại bỏ tệ nạn cờ bạc, đảm bảo cuộc sống bình yên của mọi người
Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này và đưa ra được giải pháp nhằm hạn chế tội
phạm đánh bạc trong giai đoạn hiện nay em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Thực tiễn kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự về tội đánh bạc tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang năm 2021” làm đề tài báo cáo thực tập của mình
PHẦN II: NỘI DUNG
Chương I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trang 7Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế, các loại hình dịch vụ, vui chơi giải trí phát triển mạnh cũng đồng thời là nguyên nhân dẫn đến tình hình tội phạm nói chung, tội phạm và tệ nạn đánh bạc nói riêng có thời điểm diễn biến phức tạp Tình hình tội phạm và tệ nạn đánh bạc trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nói riêng và trên cả nước nói chung mặc dù được kìm giữ nhưng vẫn còn tiềm ẩn phức tạp Đối tượng tham gia đánh bạc ngày càng chuyên nghiệp và tinh
vi hơn Các tụ điểm đánh bạc được tổ chức với quy mô lớn nhỏ khác nhau, hoạt động
có tính chất “chộp giật”, liên tục thay đổi địa điểm, lợi dụng những nơi có địa hình phức tạp để tổ chức; đa dạng với nhiều thành phần, lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính khác nhau và có nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để đối phó với sự phát hiện của lực lượng chức năng Đặc biệt, trong thời gian gần đây xuất hiện một số phương thức, thủ đoạn mới, gây không ít khó khăn cho các lực lượng chức năng trong quá trình đấu tranh, xử lý
Ngoài các tệ nạn cờ bạc theo kiểu truyền thống đánh bạc trên không gian mạng cũng đang diễn ra hết sức phức tạp, ngày càng lớn cả về quy mô số người tham gia cũng như số tiền dùng để đánh bạc Các trang website cá cược được quảng cáo, giới thiệu, hướng dẫn bằng tiếng Việt công khai trên mạng internet với cách thức dễ sử dụng, phù hợp với nhiều loại thiết bị, có nhiều hình thức cá cược, việc thanh toán tiền dễ dàng, kín đáo So với loại hình cờ bạc truyền thống, đánh bạc qua mạng có
số người tham gia và lượng tiền giao dịch lớn hơn rất nhiều lần
Hệ lụy của tệ nạn cờ bạc đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống, tình hình của mỗi gia đình và của toàn xã hội là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, các tệ nạn xã hội khác như: Trộm cắp, lừa đảo, giết người, cướp tài sản, bắt giữ người trái pháp luật, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cố ý gây thương tích, hoạt động liên quan đến “tín dụng đen” Tội đánh bạc là tội phạm phổ biến, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của nhân dân, làm tha hóa đạo đức của một số bộ phận dân cư, gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần cho nhiều gia đình Vì vậy, đấu tranh phòng ngừa và chống tội đánh bạc, tiến tới đẩy lùi tội phạm đánh bạc ra khỏi đời sống xã hội đã và đang được coi là nhiệm vụ cấp bách cho toàn hệ thống chính trị của nước ta Thực tiễn hoạt động đấu tranh phòng ngừa và chống tội đánh bạc
Trang 8trong giai đoạn hiện nay luôn là mối quan tâm hàng đầu của các địa phương trên cả nước, trong đó có tỉnh Tuyên Quang
Từ đó đặt ra yêu cầu cần nâng cao hiệu quả phòng, chống tệ nạn cờ bạc sẽ nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác bên cạnh đó có được những giải pháp thật sự hiệu quả trong vấn đề hạn chế,
tiêu hủy loại tội phạm này Chính vì vậy, em chọn đề tài: “Thực tiễn kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự về tội đánh bạc tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang năm 2021” để tìm hiểu, nghiên cứu rõ hơn về vấn đề
cấp thiết trên từ đó đưa ra được những giải pháp có tính hiệu quả cao
2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực tiễn kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự về tội đánh bạc tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang năm 2021, chỉ
ra được những ưu điểm và những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tội phạm đánh bạc trong giai đoạn hiện nay
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Báo cáo nghiên cứu một số vấn đề xoay quanh tội đánh
bạc và thực tiễn kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự về tội đánh bạc của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang năm 2021
- Đối tượng nghiên cứu: Một số vấn đề trong việc kiểm sát giải quyết các vụ
án hình sự về tội đánh bạc tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang năm 2021; những ưu điểm đã đạt được và những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại Giải pháp nhằm hạn chế tội phạm đánh bạc trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Báo cáo dựa trên cơ sở thực tiễn kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự về tội đánh bạc của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang trong năm 2021, có sự so sánh với năm 2020, cùng với những kiến thức tiếp thu được trong quá trình thực tập tại cơ sở kết hợp kiến thức được học trong quá trình học tập tại trường Để nghiên cứu, hoàn thiện nội dung trong bài báo cáo có sử dụng các
Trang 9phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp thu thập số liệu: Báo cáo đã sử dụng một số thông tin nghiên
cứu từ các nguồn khác nhau cũng như thu thập thông qua phỏng vấn và đối mặt trực tiếp với các cán bộ, công chức tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: Báo cáo đã tổng hợp, phân tích
những tạp chí và báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ thông tin đại chúng liên quan đến các tệ nạn xã hội nói chung và tệ nạn về đánh bạc nói riêng
- Phương pháp so sánh: Báo cáo có sự so sánh số liệu kì này với số liệu kì
trước giúp có cái nhìn tổng quan về sự biến đổi của tệ nạn đánh bạc trong những thời gian gần đây
Ngoài những phương pháp nghiên cứu trên báo cáo còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu định lượng, phương pháp thực nghiệm,…
Chương II TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN DƯƠNG VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
1 Địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
1.1 Vị trí địa lí
Sơn Dương là một huyện miền núi nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm thành phố Tuyên Quang 30 km về phí Đông Nam và cách Thủ đô Hà Nội 104 km Huyện Sơn Dương có diện tích 789,9 km², vị trí địa lý: Phía Nam, Đông Nam giáp huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; phía Bắc giáp huyện Yên Sơn và huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên; phía Tây Nam giáp huyện Đoan Hùng và huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; phía Tây Bắc giáp huyện Yên Sơn và thành phố Tuyên Quang; phía Đông giáp huyện Định Hóa Địa hình huyện Sơn Dương có đặc thù vùng chuyển tiếp giữa trung du và miền núi, rừng núi chiếm khoảng ¾ diện tích đất tự nhiên
1.2 Đặc điểm dân cư và kinh tế - xã hội
Huyện Sơn Dương có dân số khoảng 181.052 người là huyện có dân số cao
Trang 10nhất của tỉnh Tuyên Quang, trong đó số người trong độ tuổi lao động của toàn huyện
là trên 121.000 người chiếm 61,6% (trong đó trên 50,4% lao động đã qua đào tạo nghề) đây là nguồn lao động dồi dào, có điều kiện phát triển để đáp ứng cho sản xuất các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và sản xuất nông lâm nghiệp sạch tại địa phương
Trên địa bàn huyện có 23 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó 08 dân tộc
có số dân đông hơn cả là dân tộc Kinh, Tày, Dao, Sán Chay, Mông, Nùng, Sán Dìu, Hoa Người Kinh chiếm gần nửa dân số, cư trú trên địa bàn cả huyện trong đó tập trung nhiều nhất ở khu vực thị trấn Sơn Dương và các xã có địa hình thuận lợi, kinh
tế phát triển hơn Dân cư của huyện Sơn Dương phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở khu vực thị trấn Sơn Dương và có mật độ dân số khoảng 220 người/km2
Huyện Sơn Dương có 31 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Sơn Dương (huyện lỵ) và 30 xã: Bình Yên, Cấp Tiến, Chi Thiết, Đại Phú, Đông Lợi, Đồng Quý, Đông Thọ, Hào Phú, Hồng Lạc, Hợp Hòa, Hợp Thành, Kháng Nhật, Lương Thiện, Minh Thanh, Ninh Lai, Phú Lương, Phúc Ứng, Quyết Thắng, Sơn Nam, Tam Đa, Tân Thanh, Tân Trào, Thiện Kế, Thương Ấm, Trung Yên, Trường Sinh, Tú Thịnh, Văn Phú, Vân Sơn, Vĩnh Lợi
Về tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội: Kinh tế của huyện Sơn Dương có tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng "tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản" Công nghiệp có bước phát triển; nông lâm nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới; du lịch bước đầu phát triển để từng bước trở thành ngành kinh tế quan trọng của huyện; hoạt động tài chính, tín dụng điều hành ngân sách có nhiều tiến bộ, thu ngân sách trên địa bàn hàng năm đạt trên 100
tỷ đồng; đời sống nhân dân được nâng lên, Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 26,5triệu đồng/người/năm Quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được củng cố, giữ vững Thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển; củng cố nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân; khơi dậy các nguồn lực trong dân; tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực từ bên ngoài để phát
Trang 11triển kinh tế - xã hội, nhất là xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng hỗ trợ sản xuất hàng hoá;
2 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
2.1 Cơ cấu tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương có trụ sở đặt tại tổ dân phố Quyết Thắng, thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Biên chế hiện tại: Đơn vị có 18 đồng chí: 03 đồng chí lãnh đạo, 06 đồng chí Kiểm sát viên, 04 đồng chí Kiểm tra viên, 01 đồng chí Chuyên viên nghiệp vụ, 01 đồng chí là nhân viên kế toán kiêm văn thư, lưu trữ, 01 đồng chí hợp đồng tạp vụ, 01 đồng chí hợp đồng bảo
- Đồng chí Nguyễn Thị Huyền Trang
❖ Kiểm tra viên:
Trang 12hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Căn cứ Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Tại Khoản 3 Điều 41 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân: “Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm
vi địa phương mình”, cụ thể:
- Chức năng thực hiện quyền công tố:
Tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân: Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan Điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi
tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định;
b) Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;
c) Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố
Trang 13giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
d) Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện;
đ) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;
e) Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội;
g) Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật;
h) Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố; i) Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa;
k) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;
- Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp:
Tại Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ghi nhận: Kiểm sát hoạt động
tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân
có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng
Trang 14quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu để Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp;
b) Trực tiếp kiểm sát; xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp;
c) Xử lý vi phạm; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị
cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm;
d) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị hành vi, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kháng nghị hành vi, quyết định
có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư pháp;
đ) Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền;
e) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật.”
Chương III NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI ĐÁNH BẠC, PHÁP LUẬT
VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ TỘI ĐÁNH BẠC
1 Khái niệm, đặc điểm tội đánh bạc
Đánh bạc là hành vi tham gia vào trò chơi được tổ chức bất hợp pháp mà sự
được (hoặc thua) kèm theo việc được (hoặc mất) lợi ích vật chất đáng kể có thể là tiền, hiện vật hoặc các hình thức tài sản khác như: ô tô, xe máy, nhà cửa, hàng hóa, gia súc, …
Đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức
nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng
Trang 15thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp Từ những hành vi như đánh phỏm, đánh chắn, đánh liêng, đánh sâm… bằng bài tú lơ khơ, đến chơi số
đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật
mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp đều thuộc hành vi đánh bạc trái phép
Hiện nay hệ thống mạng xã hội, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, kéo theo đó là nhiều hình thức vui chơi giải trí được tổ chức, có được thua bằng tiền hay hiện vật qua mạng diễn ra ngày càng nhiều Chơi bài online thông thường và thu về tiền ảo hoặc chơi bài tú lơ khơ vui không cá cược gì thì không phải đánh bạc trái phép Tuy nhiên, hành vi đánh bạc online rồi đổi từ tiền ảo sang tiền thật, bất kể thông qua trả tiền trực tiếp giữa các bên hay trả bằng thẻ điện thoại, rút tiền về các tài khoản ngân hàng, tài khoản thanh toán điện tử hay đổi trả bằng các hiện vật (quà) khác như ô tô, xe máy, Bởi thẻ điện thoại được tính là hiện vật có thể quy đổi ra giá trị, thì đều là hành vi đánh bạc trái phép
Đánh bạc là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự xã hội, không chỉ ảnh hưởng xấu đến gia đình và cá nhân người chơi mà còn có thể là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội và tội phạm khác Do vậy, tội đánh bạc là một loại tội phạm phổ biến, đã có từ rất lâu theo chiều dài lịch sử của đất nước tội phạm này được quy định trong Luật hình sự Việt Nam rất sớm Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về
Trang 16tội phạm này là Sắc lệnh số 168 năm 1948 của Chủ tịch chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hoà về việc ấn định cách trừng trị tội đánh bạc trong đó có nêu “Tất cả các trò chơi cờ bạc, dù là có tính cách may rủi hay là có thể dùng trí khôn để tính nước,
mà được thua bằng tiền, đều coi là tội đánh bạc và bị phạt như sau Những cuộc đánh đố nhau bằng tiền, những cuộc xổ số bằng tiền hay bằng đồ mà không có nhà chức trách có thẩm quyền cho phép trước, cũng đều bị phạt như tội đánh bạc” Trước
khi có Bộ luật hình sự năm 1985, tội đánh bạc cũng được quy định trong Sắc luật số
03 năm 1976 Trong Bộ luật hình sự cũ năm 1985 và năm 1999, tội đánh bạc đều được quy định thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng Tuy nhiên, trong Bộ luật hình sự năm 1999, tội đánh bạc được quy định cụ thể hơn với những dấu hiệu cụ thể giúp việc phân biệt giữa đánh bạc là tội phạm và đánh bạc là vi phạm cũng như với các dấu hiệu định khung hình phạt để phân hoá trách nhiệm hình sự giữa các trường hợp phạm tội đánh bạc Theo Bộ luật hình sự cũ năm 1999, hành vi đánh bạc chỉ bị coi là tội phạm khi tiền hoặc hiện vật đánh bạc có giá trị lớn hoặc khi chủ thể đã bị
xử phạt hành chính hoặc bị kết án về hành vi cờ bạc (đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá
bạc), chưa được xoá án tích mà còn vi phạm
Pháp luật hiện hành quy định về tội phạm đánh bạc tại Điều 321 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 như sau:
1 Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành
vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
Trang 17c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện
tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng
Các yếu tố cấu thành tội đánh bạc:
- Yếu tố về mặt chủ quan: Biết hành vi thực hiện là phạm pháp nhưng vẫn cố tình thực hiện Tội phạm được thực hiện do cố ý trực tiếp hi vọng may mắn thu tiền của hoặc tài sản của người khác
- Yếu tố về mặt khách quan: Mặt khách quan của tội đánh bạc là được thực hiện bất kì phương pháp nào như cờ thế, tổ tôm, xóc đĩa, tú lơ khơ, cá độ,… dưới hình thức được thua bằng tiền hoặc hiện vật như ô tô, xe máy, vàng hoặc các vật dụng khác Có sự thỏa thuận được thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; hoặc số tiền hoặc hiện vật có giá trị dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về tội này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 hoặc đã bị kết án tại tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 Căn cứ để xác định tiền và hiện vật dùng để đánh bạc: Tiền và hiện vật thu giữ được tại chiếu bạc; tiền và hiện vật thu giữ trên người con bạc mà có căn cứ sẽ dùng để đánh bạc; tiền và hiện vật ở nơi khác mà có căn cứ sẽ dùng để đánh bạc
- Yếu tố về chủ thể: Chủ thể của tội đánh bạc là bất kì người nào đủ năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi theo quy định của pháp luật Căn cứ theo khoản 1 Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội mà Bộ luật này có quy định khác Như vậy, chủ thể của tội đánh bạc là bất kì người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên
- Yếu tố khách thể: Hành vi đánh bạc trái phép xâm phạm đến an toàn, trật tự
Trang 18công cộng, ảnh hưởng đến an ninh xã hội
Để phân biệt hành vi đánh bạc với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải dựa vào đặc điểm của các trò chơi trong cờ bạc Trò chơi trong cờ bạc là trò chơi mà sự thắng thua của người tham gia hoàn toàn do may rủi hoặc phụ thuộc vào khả năng nào đó của người tham gia hoặc phụ thuộc vào cả hai (khả năng và may rủi) hoặc phụ thuộc vào yếu tố khác độc lập với ý muốn của những người tham gia cũng như của người tổ chức Trò chơi đánh bạc khác với trò chơi là một thủ đoạn của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trò chơi lừa đảo là trò chơi mà một hoặc một số người tham gia hoặc tổ chức có thể hoàn toàn chủ động trong việc thắng thua nhờ vào những thủ đoạn gian dối nhất định Hình phạt chính được quy định cho tội đánh bạc
có mức cao nhất là 7 năm tù Hình phạt bổ sung có thể là phạt tiền, người phạm tội
có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng
2 Pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự về tội đánh bạc
Căn cứ theo Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định
về tội đánh bạc thì căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự tội đánh bạc là khi cá nhân đó có các hành vi như:
Đánh bạc trái phép với số tiền hoặc tài sản từ 5.000.000 đồng trở lên Với đặc thù riêng của tội đánh bạc, Cơ quan Công an thường theo dõi và vây bắt trực tiếp để thu giữ số tiền trên chiếu bạc Đây căn cứ cần thiết phải có khi truy cứu trách nhiệm hình sự một cá nhân về tội đánh bạc
Đánh bạc trái phép với số tiền hoặc tài sản dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị
xử phạt hành chính về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc, gá bạc hoặc đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc, gá bạc mà chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
Như vậy hành vi đánh bạc trái phép của một cá nhân chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc khi có 02 dấu hiệu trên, các trường hợp khác không
có 02 dấu hiệu nêu trên, cá nhân tham gia đánh bạc có thể bị xử phạt hành chính Cần phân biệt tội này với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật hình sự 2015), trường hợp đánh bạc hay tổ chức đánh bạc, gá bạc mang tính chất gian lận
Trang 19nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Hình phạt đối với tội đánh bạc, cũng như các tội phạm khác được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015, tội đánh bạc cũng có các khung hình phạt và hình phạt khác nhau Khi quyết định áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Tòa án sẽ dựa trên hành vi đánh bạc, số tiền thu giữ trên chiếu bạc, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt phù hợp Hình phạt đối với tội đánh bạc gồm: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm tùy thuộc vào hành vi đánh bạc của người phạm tội
Pháp luật hiện hành quy định về tội đánh bạc tại Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi,
bổ sung năm 2017 và có những quy định mới hơn so với Bộ luật hình sự 1999 Quy định về hành vi đánh bạc đã có sự thay đổi:
Về định lượng: So với quy định tại Điều 248 BLHS 1999 thì Điều 321 BLHS
2015 đã nâng mức định lượng số tiền đánh bạc để truy cứu trách nhiệm hình sự với mức khởi điểm từ 2.000.000 đồng lên 5.000.000 đồng đối với người phạm tội lần đầu (khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015) Nâng mức phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ tại khoản 1 Điều 321 BLHS so với 5.000.000đ đến 50.000.000đ quy định tại khoản 1 Điều 248 trước đây
Về tình tiết định khung: Bổ sung thêm tình tiết định khung là “Sử dụng mạng
internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội”
Về trách nhiệm hình sự: Nâng mức phạt tù ở mức khởi điểm khoản 1 từ 06
tháng đến 03 năm, ở Bộ luật cũ là từ 03 tháng đến 03 năm; khoản 2 từ 03 năm đến
07 năm, trước đây là từ 02 năm đến 07 năm Nâng mức hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng lên 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (khoản 3 Điều 321)
Để xác định số tiền đánh bạc làm cơ trở truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc gồm những loại tiền nào; số tiền tham gia đánh bạc sẽ là số tiền mang theo người hay là số tiền có trên chiếu bạc hay là tổng cả hai số tiền nói trên Hiện tại,
Trang 20chưa có văn bản nào hướng dẫn cách tính số tiền dùng để đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, do vậy các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn áp dụng cách tính số tiền dùng để đánh bạc theo tinh thần của Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và 249 Bộ luật hình sự 1999 như:
- “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm: Tiền hoặc hiện vật dùng
đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc; tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc; tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc
- Khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc cần phân biệt:
Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này;
Trường hợp đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa (để tính là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa trong đó người chơi
có thể chơi làm nhiều đợt Trách nhiệm hình sự được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó
Ví dụ 1: Tại kỳ đua ngựa thứ 39, tổ chức vào ngày 15/7/2010, trong khoảng
thời gian từ 9 giờ đến 11 giờ A đã cá độ ba đợt cụ thể là đợt một 500.000 đồng, đợt hai 1.000.000 đồng, đợt ba 2.000.000 đồng, trong trường hợp này chỉ coi A đã đánh bạc một lần trong kỳ đua ngựa đó với tổng số tiền là 3.500.000 đồng
Ví dụ 2: Ngày 20/7/2010, trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 16 giờ, B mua
ba số đề trong một lô đề cụ thể là: mua số 17 với số tiền là 500.000 đồng, mua số 20 với số tiền là 2.100.000 đồng, mua số 25 với số tiền 3.000.000 đồng; trong trường hợp này, chỉ coi B đánh bạc một lần
Trang 21Trong các trường hợp nêu tại ví dụ 1 và ví dụ 2 trên đây, nếu số tiền cá độ đua
ngựa, số tiền mua số đề của mỗi đợt từ 2.000.000 đồng trở lên thì cũng không được
áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều
48 của Bộ luật hình sự 1999 và theo Bộ luật hình sự hiện hành 2015 sửa đổi, bổ sung
2017 thì sẽ là tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52
- Việc xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ và của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa như sau:
a) Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc
Trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ
Ví dụ: B mua 5 số đề với tổng số tiền là 100.000 đồng, tỷ lệ được thua 1/70
lần, trong đó có 4 số đề mua mỗi số 10.000 đồng, 1 số đề mua với số tiền 60.000 đồng, hành vi của B bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng, kết quả bóng đá, kết quả đua ngựa và B đã trúng số đề mua với số tiền 60.000 đồng thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng + (60.000 đồng × 70 lần) = 4.300.000 đồng
Trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá
độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ
Ví dụ 1: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.1 khoản 5 Điều này, nếu B không
trúng số nào thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng
Ví dụ 2: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.1 khoản 5 Điều này, nếu hành vi của
B bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng (không phụ thuộc vào việc khi có kết quả
mở thưởng B có trúng số đề hay không trúng số đề)