1. (6 điểm) Phân tích nội dung quyền liên quan? Liên hệ thực tế bảo hộ quyền liên quan ở nước ta hiện nay? 2. (4 điểm) Phân tích các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng quy định trong Luật sở hữu trí tuệ? Liên hệ thực tế để lấy ví dụ hoàn thiện hồ sơ đăng kí nhãn hiệu? Có đầy đủ ví dụ
Trang 1Luật sở hữu trí tuệ? Liên hệ thực tế để lấy ví dụ hoàn thiện hồ sơ đăng kí nhãn hiệu?
*Bài làm có đầy đủ ví dụ về mẫu nhãn hiệu và tờ khai đăng ký nhãn hiệu
Bài làm Câu 1 (6 điểm): Phân tích nội dung quyền liên quan? Liên hệ thực tế bảo hộ quyền liên quan ở nước ta hiện nay?
A Phân tích nội dung quyền liên quan
Theo khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 về
giải thích từ ngữ thì quyền liên quan hay quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của
tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá
Cũng theo điều này có thể thấy, quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) thuộc quyền sở hữu trí tuệ - quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí
tuệ bao gồm: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công
nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
Nội dung quyền liên quan là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản mà pháp luật đã xác định mà chủ thể quyền liên quan được hưởng đối với kết quả lao động của
họ Nội dung quyền liên quan gồm: Quyền của người biểu diễn; quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình; quyền của tổ chức phát sóng
1 Quyền và nghĩa vụ của người biểu diễn
Người biểu diễn là người truyền tải tác phẩm đến đông đảo công chúng thông qua
các loại hình nghệ thuật khác nhau Vì vậy, tuỳ theo từng phương diện nhất định, hình thức nghệ thuật mà họ thực hiện để biểu diễn tác phẩm cũng mang dấu ấn cá nhân theo phong cách sáng tạo nên họ cũng có quyền được hưởng những quyền lợi đó
Theo quy định tại khoản 1 điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sử đổi, bổ sung 2009,
2019 về quyền của người biểu diễn thì người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì có các quyền nhân thân và các quyền tài sản đối vưới cuộc biểu diễn; trong trương hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thì người biểu diễn có quyền nhân thân và chủ đầu tư
có các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn Như vậy theo quy định này thì quyền của người biểu diễn bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản
a Theo khoản 2 Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân bao gồm:
- Quyền được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát
Trang 2Danh tiếng của một diễn viên, ca sĩ hay các nghệ sĩ khác chỉ đươc công chúng biết đến khi học được giới thiệu qua các cuộc biểu diễn Nhằm để cá biệt hoá hình tượng biểu diễn, người biểu diễn được nêu tên mình trong các cuộc biểu diễn
- Quyền được bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến uy tín và danh
dự của người biểu diễn
Hình tượng biểu diễn là một khái niệm có nội hàm khá rộng được tạo nên bởi nhiều yếu tố khác nhau như phong cách biểu diễn, âm giọng, sắc thái biểu cảm, ngôn ngữ hình thể… Sự sáng tạo cũng như phong cách biểu diễn của mỗi người tạo nên hình tượng biểu diễn gắn liền với tên tuổi của họ Vì vậy, người biểu cũng cần phải được bảo hộ về hình tượng biểu diễn để tránh việc người khác lợi dụng hoặc xuyên tạc Bên cạnh đó, danh dự,
uy tín của người biểu diễn thưởng được thể hiện trong toàn bộ cuộc biểu diễn với hàng loạt các động thái khác nhau theo trình tự nhất định, như vậy nếu bản định hình hoặc chương trình phát sóng cuộc biểu diễn bị cắt xén hoặc thay đổi trình tự cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của người biểu diễn vì gây hiểu lầm cho người xem
b Theo khoản 3 Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tài sản bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:
- Quyền định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình Quyền này được hiểu là được ghi âm, ghi hình trực tiếp các cuộc biểu diễn Với tư cách là quyền tài sản nên quyền này luôn thuộc về chủ sở hữu quyền liên quan cuộc biểu diễn Theo quy định này, chủ sở hữu quyền liên quan có thể tự mình thực hiện việc ghi âm, ghi hình cũng có thể thông qua người khác thực hiện công việc này hoặc có quyền cho hay không cho phép người khác ghi âm, ghi hình trự tiếp cuộc biểu diễn đó
- Quyền sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình
Sao chép cuộc biểu diễn là việc tạo ra các bản ghi âm, ghi hình cuộc biểu diễn Là sao chép trực tiếp nếu bản ghi âm, ghi hình được tạo ra từ bản định hình lần đầu tiên về âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn (còn gọi là băng đĩa gốc) Là sao chép gián tiếp nếu bản ghi âm, ghi hình không được tạo ra từ chính bản ghi âm, ghi hình gốc
- Quyền phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diến đó nhằm mục đích phát sóng
Phát sóng là việc truyền âm thanh hoặc hình ảnh hoặc cả âm thanh vầ hình ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng băng phương tiện
Trang 3vô tuyến hoặc hữu tuyến bao gồm cả truyền qua vệ tinh để công chúng có thể tiếp nhận được
Quyền truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 29 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc phổ biến cuộc biểu diễn chưa được định hình đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào ngoài phát sóng Quyền phát sóng là quyền tài sản luôn thuộc về chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, trừ trường hợp cuộc biểu diễn được thực hiện với mục đích để phát sóng
- Quyền phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào
mà công chúng có thể tiếp cận được
Khi xác định người biểu diễn được hưởng những quyền nào trong những quyền nói trên cần phải căn cứ vào tư cách của họ đối với cuộc biểu diễn Người biểu diễn có thể mang một trong hai tư cách chủ thể: hoặc là chủ sở hữu quyền liên quan hoặc là chỉ mang
tư cách người biểu diễn Nếu là chủ sở hữu quyền liên quan thì người biểu diễn có tất cả các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn của mình, nếu chỉ là người biểu diễn mà không đồng thời là chủ sở hữu thì người biểu diễn chỉ có các quyền nhân thân
Ngoài ra, theo khoản 4 điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ nếu với tư cách là người sử dụng tác phẩm của người khác, người biểu diễn phải có các nghĩa vụ nhất định đối với tác giả của tác phẩm mà họ biểu diễn gồm:
- Phải xin phép tác giả, hoặc chủ sở hữu tác phẩm trước khi sử dụng tác phẩm của
họ để trình diễn, chỉ được biểu diễn khi có sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm nếu tác phẩm đó chưa được công bố
- Phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm trừ trường hợp biểu diễn các tác phẩm sân khấu các loại hình nghệ thuật khác trong buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền
cổ động ở nơi công cộng
2 Quyền và nghĩa vụ của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là người định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh
của cuộc biểu diễn hoặc các tác phẩm khác nên họ được hưởng các quyền đối với kết quả lao động do họ tạo ra Theo điều 30 Luật Sở hữu trí tuệ thì nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có các quyền sau:
Trang 4- Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền: Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình; Nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao ghi âm, ghi hình của mình thông qua thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối băng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được
- Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình còn được hưởng các quyền lợi về vật chất khi bản ghi âm, ghi hình của mình được phân phối đến công chúng
Mặt khác, để sản xuất bản ghi âm, ghi hình các tổ chức cá nhân này phải sử dụng tác phẩm hoặc chương trình biểu diễn của người khác, qua đó cũng phải có nghĩa vụ với tác giả hoăc chủ sở hữu của tác phẩm và người biểu diễn hoặc chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn bao gồm các nghĩa vụ như sau: Khi sử dụng tác phẩm chưa được công bố, tổ chức sản xuất băng đĩa âm thanh, băng đĩa hình phải xin phép tác giả hoặc chủ
sở hữu tác phẩm thông qua việc giao kết hợp đồng sử dụng tác phẩm Khi sử dụng tác phẩm phải nêu tên thật hoặc bút danh của tác giả, trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, đảm bảo sự toàn vẹn nội dung của tác phẩm
Đối với các tác phẩm đã được công bố nhà sản xuất xuất bản ghi âm, ghi hình không phải xin phép tác giả những cũng phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nêu trên
Ngoài ra, khi sử dụng chương trình của người biểu diễn để sản xuất bản ghi âm, ghi hình phải giao kết hợp đồng với chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, phải nêu tên thật của người biểu diễn và phải trả thù lao cho họ
3 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức phát sóng
Với tư cách là chủ sở hữu chương trình phát sóng do mình khởi xướng và thực hiện,
tổ chức phát sóng được hưởng các quyền đối với chương trình phát sóng do mình xây dựng
nên Theo điều 31 Luật Sở hữu trí tuệ thì tổ chức phát sóng gồm có các quyền sau:
- Tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền: Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình; phân phối đến công chung chương trình phát sóng của mình; định hình chương trình phát sóng của mình và sao chép bản định hình chương trình phát sóng của mình
- Tổ chức phát sóng còn có quyền được hưởng quyền lợi vật chất khi chương trình phát sóng của mình được ghi âm, ghi hình, phân phối đến công chúng
Hoạt động của các tổ chức này là việc sử dụng tác phẩm, chương trình biểu diễn cảu người khác để truyền tải đến công chúng nên khi sử dụng tác phẩm, chương trình biểu diễn
để phát sóng các tổ chức này phải đảm bảo các quyền lợi nhân thân cũng như lợi ích vật
Trang 5chất cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm hoặc người biểu diễn và chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn
Vì vậy, tổ chức phát sóng có các nghĩa vụ như:
- Phải xin phép và trả nhuận bút cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm nếu sử dụng tác phẩm chưa công bố để phát sóng, nếu là tác phẩm đã công bố thì không phải xin phép nhưng phải trả thù lao, nêu tên tác giả và đảm bảo sự toàn vẹn nội dung của tác phẩm
- Nếu sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được công bố nhằm mục đích thương mại để thực hiện phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào thì tổ chức phát sóng phải trả thù lao cho chủ sở hữu quyền liên đối với bản ghi âm, ghi hình đó
- Nếu thực hiện chương trình phát sóng trực tiếp cuộc biểu diễn với mục đích thương mại thì tổ chức phát sóng phải xin phép chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn trừ trường hợp cuộc biểu diễn được thực hiện vưới mục đích đẻ phát sóng, tổ chức phát sóng phải nêu tên người biểu diễn, trả thù lao cho chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn và phải đảm bảo toàn vẹn hình tượng biểu diễn Nếu sử dụng tá phẩm cải biên, ngoài nghĩa vụ phải nêu tên tác giả của tác phẩm, đảm bảo tính toàn vẹn nội dung của tác phẩm, trả nhuận bút cho tác giả của tác phẩm cải biên, chuyển thể thì tổ chức này còn phải trả thù lao cho tác giả của tác phẩm gốc
B Liên hệ thực tế bảo hộ quyền liên quan ở nước ta hiện nay
Theo từ điển tiếng Việt, bảo hộ là che chở, bảo vệ để không bị tổn thất về bất cứ điều gì Và theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm
2009, 2019 thì quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá Như vậy, có thể hiểu bảo hộ quyền liên quan là việc bảo vệ quyền, lợi ích của các đối tượng là chủ thể có đủ điều kiện được bảo
hộ quyền liên quan quy định tại điều 16, 17 Luật Sở hữu trí tuệ về tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền liên quan và các đối tượng quyền liên quan được bảo hộ
Thực tế ở nước ta hiện này, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan nói riêng đang là vấn đề được khá nhiều người quan tâm, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của con người đạt được được nhiều tầm cao mới thì vấn đề cần được bảo vệ tài sản trí tuệ càng cấp thiết Nhưng bên cạnh đó những vi phạm pháp luật về quyền liên quan, xâm phạm quyền liên quan trong
sở hữu trí tuệ cũng ngày càng phức tạp có dấu hiệu phổ biến và tinh vi hơn Công nghiệp ghi âm, ghi hình, sao chép lậu bản ghi âm, ghi hình ngày càng tràn lan đặc biệt trên mạng
xã hội, trên các trang web Nguy hiểm hơn đã có nhiều phim và chương trình truyền hình
Trang 6của các đài uy tín bị đánh cắp, biên tập lại cắt ghép trái quy định với những hình ảnh quảng cáo sai lệch đã được truyền tải đến người đọc, người xem qua rất nhiều hình thức khác nhau VD: Cắt ghép chương trình VTV để lồng ghép quảng cáo cho sản phẩm giả kém chất lượng, phát sóng các bộ phim chưa qua xin phép trên các trang phim lậu, … Việc xâm phạm quyền liên quan đến quyền tác giả không những gia tăng về số lượng, mà bắt đầu xảy ra ngày càng nhiều Về chất lượng hoặc hình thức, trước đây sự xâm phạm dễ phát hiện và phân biệt còn hiện nay lâm vào tình trạng thật giả lẫn lộn, rất khó phân biệt, nhận biết
Trước tình hình đó nước ta đã và đang có những nỗ lực trong việc xây dựng, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả và quyền liên quan nói riêng như: Có những quy định để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ thể của quyền liên quan; đưa ra những chế tài mạnh tay hơn đối với các đối tượng vi phạm; ban hành những nghị định hướng dẫn; nâng cao tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho những cá nhân, tổ chức có liên quan… Dù đã có đưa ra khá nhiều biện pháp phòng ngừa sự sai phạm và khắc phục hậu quả, nhưng số lượng các sai phạm vẫn còn nhiều bất cập Và vẫn còn những vấn đề cần khắc phục như: là những quy định còn chưa rõ ràng, thủ tục còn rườm ra hay vấn đề xác định các đối tượng mới tính cập chưa cao, chế tài chưa đủ răn đe…
Như vậy, thực tế bảo hộ quyền liên quan ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều mặt cần phải khắc phục và đổi mới, cần có những quy định và chế tài xử phạt phù hợp hơn để bắt kịp với sự thay đổi, phát triển của xã hội
Câu 2 (4 điểm): Phân tích các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng quy định trong Luật sở hữu trí tuệ? Liên hệ thực tế để lấy ví dụ hoàn thiện hồ sơ đăng kí nhãn hiệu?
A Phân tích tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng
Theo khoản 20 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sử đổi, bổ sung 2009, 2019 thì nhãn
hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt
Nam Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng được quy định tại điều 75 mục 4 Chương VII phần III Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 thuộc mục điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu gồm các tiêu chí như sau:
Có 08 tiêu chí sau đây được xem xét khi đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng:
1 Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;
2 Phạm vi dịch vụ mà hàng hoá, nhãn hiệu đã được lưu hành;
Trang 73 Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;
4 Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
5 Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;
6 Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;
7 Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;
8 Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu
Các tiêu chí trên là các tiêu chí được xem xét khi tiến hành thủ tục công nhận một nhãn hiệu là nổi tiếng Dựa vào các tiêu chí đánh giá trên, nếu tổ chức hoặc cá nhân muốn ghi nhận nhãn hiệu của mình là nhãn hiệu nổi tiếng thì có thể thu thập các chứng cứ, tài liệu để chứng minh nhãn của mình đáp ứng đủ các tiêu chí và chủ sở hữu sẽ phải nộp yêu cầu xem xét ghi nhận với Cục Sở hữu trí tuệ
1 Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;
Như vậy, khi đánh giá xem nhãn hiệu nào là nhãn hiệu nổi tiếng, Cục Sở hữu trí tuệ
và Tòa án sẽ xem xét đầu tiên đến số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu sẽ thông qua việc mua bán,
sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo
Tuy nhiên, nhãn hiệu phải được người tiêu dùng trên toàn lãnh thổ Việt Nam biết đến một cách rộng rãi để được xem là nhãn hiệu nổi tiếng Rõ ràng không nhãn hiệu nào, thậm chí là những nhãn hiệu nổi tiếng nhất, có thể được sử dụng cho tất cả các loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhưng để có thể được biết đến bởi tất cả người tiêu dùng có xuất thân, nghề nghiệp, sở thích và lợi ích khác nhau thì rất khó đảm bảo Do đó, việc chứng minh nhãn hiệu được người tiêu dùng trong cả nước biết đến rộng rãi có vẻ như khá mơ hồ và bất khả thi đối với các chủ sở hữu nhãn hiệu
Ví dụ: Để chứng minh nhãn hiệu sữa Vinamilk là một nhãn hiệu nổi tiếng thì trong trường hợp này cần phải thống kê được số lượng người tiêu dùng đã biết đến nhãn hiệu Vinamilk này qua việc mua bán, sử dụng hoặc thông qua quảng cáo Trên thực tế việc này
là rất khó, tốn nhiều thời gian và cũng còn nhiều sai sót
2 Phạm vi dịch vụ mà hàng hoá, nhãn hiệu đã được lưu hành;
Một nhãn hiệu để được đánh giá là nhãn hiệu nổi tiếng còn phải được đánh giá dựa trên phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành Tức là dựa trên số lượng tỉnh (thành phố), thậm chí là quốc gia mà nhãn hiệu có trên hàng hóa, dịch
vụ đã được lưu hành nhiều hay không
Trang 8Ví dụ: Theo thông tin thu thập được hiện nay thương hiệu sữa Vinamilk ngoài việc phân phối mạnh trong nước với mạng lưới hơn 220.000 điểm bán hàng phủ đều 63 tỉnh thành, sản phẩm Vinamilk còn được xuất khẩu sang 43 quốc gia trên thế giới như Mỹ, Pháp, Canada, Ba Lan, Đức, Nhật Bản khu vực Trung Đông, Đông Nam Á
3 Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc
số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;
Ngoài ra, doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp Nghĩa là, để 1 nhãn hiệu A được đánh giá là nhãn hiệu nổi tiếng còn phải dựa vào doanh số, số lượng từ việc bán hàng hóa hay cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu đó được tiêu thụ là bao nhiêu
Ví dụ: Số lượng sữa được tiêu thụ từ việc bán hàng hay cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu Vinamilk năm 2020 là 1 triệu tấn
4 Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
Về tiêu chí này, Tòa án hoặc Cục Sở hữu trí tuệ sẽ đánh giá xem một nhãn hiệu được coi là nhãn hiệu nổi tiếng nếu nhãn hiệu đó có thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu hay khồn và là bao nhiêu lâu Chúng ta có thể tạm hiểu được rằng không thể đánh giá 1 nhãn hiệu nổi tiếng hay không nếu có thời gian sử dụng lâu dài mà còn cần phải xem xét
nó có bị gián đoạn hay không
Ví dụ: Công ty sữa Vinamilk được thành lập vào năm 1976, lúc mới thành lập Công
ty Sữa Việt Nam (Vinamilk) có tên là Công ty Sữa – Cà Phê Miền Nam Qua nhiều lần thay đổi đến tháng 3 năm 1992, Xí nghiệp Liên hiệp Sữa – Cà phê – Bánh kẹo I chính thức đổi tên thành Công ty Sữa Việt Nam (Vinamilk) - trực thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ, chuyên sản xuất, chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa hiện tại tên Vinamilk vẫn đang được sử dụng Như vậy, thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu sữa Vinamilk có thể được tính từ tháng
3 năm 1992 đến nay
5 Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;
Tiêu chí này là một tiêu chí khá quan trọng, vì để đánh giá một nhãn hiệu được coi
là nổi tiếng, theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì ngoài việc nhãn hiệu đó được nhiều người biết đến, trên một phạm vi rộng, với doanh số, số lượng bán ra hàng hóa hay cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu đó lớn với thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu thì có cần quan tâm đến độ uy tín của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu
đó Tức là nếu một nhãn hiệu muốn được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng thì hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đó phải có độ uy tín cao
6 Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;
Trang 9Bảo hộ nhãn hiệu là bảo vệ giá trị của hàng hoá, dịch vụ Tiêu chí này có nghĩa là, việc đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng sẽ dựa vào cá nhân, tổ chức đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu
ở bao nhiêu quốc gia, đã có bao nhiêu quốc gia bảo hộ nhãn hiệu đó
7 Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;
Ngoài ra, tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng còn là số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu đó là nhãn hiệu nổi tiếng bên cạnh việc nhãn hiệu đó đã được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu thành công ở những quốc gia khác
8 Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu
Cuối cùng, để xác định một nhãn hiệu nổi tiếng, Tòa án nhân dân giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ căn cứ vào giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu
Như vậy, theo Luật sở hữu trí tuệ có 08 tiêu chí để đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng, nhưng lại không quy định tiêu chí nào là bắt buộc, tiêu chí nào không bắt buộc, hay có bắt buộc phải có đủ tất cả các tiêu chi hay không Tuy nhiên, việc để được công nhận nhãn hiệu nổi tiếng vẫn còn rất khó khăn đối vối các nhãn hiệu tại Việt Nam dù thực tế họ đã rất nổi tiếng với người tiêu dùng
B Liên hệ thực tế ví dụ hoàn thiện hồ sơ đăng ký nhãn hiệu
Để hoàn thiện hồ sơ đăng ký nhãn hiệu cần có:
1 Mẫu nhãn hiệu
2 Tờ khai đăng ký nhãn hiệu
3 Các tài liệu hưởng quyền ưu tiên (nếu có)
4 Tài liệu chứng minh quyền đăng ký (nếu có)
Ví dụ: Công ty TNHH kính mắt thời trang LT tại Việt Nam chuyên sản xuất các sản phẩm
về kính mắt thời trang Địa chỉ TDP Thượng Châu, thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Để đăng ký nhãn hiệu kính mắt thời trang LT công ty cần phải hoàn thiện hồ sơ đang ký nhãn hiệu gồm:
1 Mẫu nhãn hiệu:
- Người nộp đơn cần chuẩn bị 05 mẫu nhãn hiệu
- Mẫu nhãn hiệu có thể là mẫu chỉ có chữ hoặc mẫu chỉ có hình hoặc mẫu kết hợp có cả chữ và hình Mẫu nhãn hiệu có thể ở dạng đen trắng hoặc mẫu có màu
Trang 10- Chủ đơn cần in mẫu nhãn hiệu theo đúng quy cách, cụ thể là mẫu nhãn hiệu được in với kích thước không lớn hơn 8cm x 8cm và không nhỏ hơn 2cm x 2cm
Lưu ý: Việc đăng ký màu sắc hay đen trắng rất quan trọng, trong trường hợp nhãn hiệu là
yếu tố không được bảo hộ riêng thì nên tiến hành đăng ký dạng màu sắc, khi đó khả năng được bảo hộ sẽ cao hơn Ngược lại, nếu nhãn hiệu thông thường thì việc đăng ký nhãn hiệu đen trắng lại ưu việt hơn
Ví dụ cụ thể mẫu nhãn hiệu tự thiết kế:
2 Tờ khai đăng ký nhãn hiệu
- Được làm theo mẫu quy định (Ban hành theo Thông tư số 16/2016/TT-BKHCN ngày 30
tháng 06 năm 2016 của Bộ Khoa học và Công nghệ)
- Tờ khai được soạn thành 02 bản, cục sở hữu trí tuệ giữ một bản và người nộp đơn giữ một bản để theo dõi hồ sơ
Lưu ý: Khi làm tờ khai cần lưu ý về thông tin của chủ đơn, mô tả nhãn hiệu (yêu cầu
chính xác về màu sắc, ngữ nghĩa của nhãn hiệu); phân nhóm sản phẩm/dịch vụ chính xác theo bảng phân loại Nice; Tính phí đăng ký nhãn hiệu sao cho đầy đủ
(Tờ khai cụ thể bắt đầu từ trang tiếp theo)
3.Tài liệu hưởng quyền ưu tiên khi đăng ký nhãn hiệu
Quyền ưu tiên được hiểu là quyền của chủ đơn yêu cầu Cơ quan thẩm định đơn ghi nhận ngày nộp đơn là ngày đã nộp trước theo đơn gốc (với điều kiện tính từ thời điểm nộp đơn gốc tới thời điểm nộp đơn mới không quá 06 tháng)
4.Tài liệu chứng minh quyền đăng ký
Trong một số trường hợp nhất định, người nộp đơn cần cung cấp thêm tài liệu chứng minh quyền đăng ký (nộp đơn) của mình:
- Văn bản cho phép từ công ty sản xuất đối với đại lý phân phối