Trong những năm gần đây, các vụ án ly hôn tại huyện DH vẫn ngày một phổ biến. Trước thực trạng đáng lo ngại này, cũng như tác hại của vấn đề ly hôn đối với xã hội. Em xin được chọn chuyên đề: “Thực trạng áp dụng căn cứ ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện DH” làm chuyên đề báo cáo thực tập chuyên môn. Chuyên đề được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của tất cả các bác, các chú, các anh chị, cán bộ, công nhân viên chức của TAND huyện DH, tỉnh TB.
Trang 1Báo cáo thực tập
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo thực tập do tôi thực hiện trong thời gian thực tập tại cơ quan tiếp nhận thực tập Các nội dung trong báo cáo là trung thực, đảm bảo độ tin cậy./.
Xác nhận của
Cán bộ hướng dẫn thực tập
Tác giả báo cáo thực tập (Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 3Thuận tình ly hôn
Ủy ban nhân dân
Trang 4Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CĂN CỨ LY HÔN 2
1.1 Khái quát chung về ly hôn 2
1.2 Căn cứ ly hôn 3
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DH 5
2.1 Thực trạng ly hôn trên địa bàn huyện DH 5
2.2 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng ly hôn 5
2.3 Thực trạng áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật HNGĐ năm 2024 tại TAND huyện DH 9
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CĂN CỨ LY HÔN TẠI TAND HUYỆN DH VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 12
3.1 Một số nhận xét về thực trạng ly hôn tại TAND huyện DH 12
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn theo Luật HNGĐ 2014 14
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 16
PHỤ LỤC: 17
Trang 5MỞ ĐẦU
Tòa án nhân dân huyện DH là đơn vị trực thuộc TAND tỉnh TB, hoạt động theoLuật Tổ chức TAND TAND huyện DH có trụ sở làm việc tại tổ 5, thị trấn DH,tỉnh TB Hiện tại, tổng số cán bộ, công chức, nhân viên tại đơn vị là 15 người, 06thẩm phán trong đó có 01 chánh án, 02 phó chánh án; 06 thư kí; 01 kế toán; 01 bảovệ; 01 tạp vụ TAND huyện DH có cơ sở vật chất được trang bị tương đối đầy đủ
và khang trang phục vụ cho cán bộ công chức làm việc và nhân dân đến giao dịchtại cơ quan Chức năng, nhiệm vụ chính của TAND huyện DH là xét xử các loại
án hình sự, dân sự, hành chính, lao động, kinh doanh thương mại, các loại việckhác thuộc thẩm quyền và giải quyết các công việc theo quy định của Hiến pháp
và Luật tổ chức TAND
Ly hôn là một hiện tượng xã hội phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến một quyềnlợi, hạnh phúc của vợ chồng, đến lợi ích của gia đình và xã hội Trong những nămgần đây, các vụ việc ly hôn ở nước ta và các nước trên thế giới gia tăng đáng kể,những nguyên nhân, lý do ly hôn cũng rất phức tạp, đa dạng Vì vậy, muốn giảiquyết ly hôn chính xác, vừa đảm bảo quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng,vừa đảm bảo lợi ích của gia đình và xã hội, thẩm phán cần phải nắm vững quyđịnh của pháp luật, điều tra, tìm hiểu kĩ nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng,tâm tư tình cảm của đương sự để kết hợp đúng đắn đường lối, chính sách cụ thểcủa Đảng và Nhà nước đối với việc giải quyết từng vụ việc ly hôn
Trong những năm gần đây, các vụ án ly hôn tại huyện DH vẫn ngày một phổbiến Trước thực trạng đáng lo ngại này, cũng như tác hại của vấn đề ly hôn đối
với xã hội Em xin được chọn chuyên đề: “Thực trạng áp dụng căn cứ ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện DH” làm chuyên đề báo cáo thực tập chuyên môn.
Chuyên đề được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của tất cả các bác, các chú,các anh chị, cán bộ, công nhân viên chức của TAND huyện DH, tỉnh TB
Trong quá trình thực tập và nghiên cứu ở địa phương mình do kinh nghiệm cònhạn chế trong việc tìm hiểu, thu thập, đánh giá thông tin một cách hệ thống, khoahọc nên đề tài của em còn có những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được góp
ý từ các thầy cô Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 6Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CĂN CỨ LY HÔN
I.1 Khái quát chung về ly hôn
I.1.1 Định nghĩa ly hôn
Ly hôn là hiện tượng xã hội với ý nghĩa thực chất là chấm dứt quan hệ vợchồng trước pháp luật, là việc vợ chồng “bỏ nhau”1 Xét về mặt pháp lý thì ly hôn
là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt các nghĩa vụ, quyền giữa vợ và chồng trên cơ
sở yêu cầu của vợ chồng và được Tòa án công nhận.Theo bản giải nghĩa một số từ
ngữ được sử dụng trong Luật HNGĐ 2014: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”2.
I.1.2 Quyền yêu cầu ly hôn
- Quyền yêu cầu ly hôn nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật là quyền
nhân thân gắn liền với nhân thân của vợ chồng, “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn 3 ” Có thể thấy rằng, ly hôn dựa trên sự tự nguyện của
vợ chồng, là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn củamình
- Quyền yêu cầu ly hôn của cha, mẹ, người thân thích khác
Theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật HNGĐ thì có thể xin ly hôn thay chongười thân và pháp luật cũng quy định cụ thể về lý do xin ly hôn, trong đó có bạolực gia đình là một lý do, căn cứ để cha, mẹ, người thân thích khác cũng có quyềnyêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng bị bệnh tâm thần hoặcmắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình Quy định nàytháo gỡ cho nhiều trường hợp mong muốn xin ly hôn thay cho người thân mấtnăng lực hành vi mà không được do trước đây chỉ quy định việc ly hôn phải dochính đương sự yêu cầu, trong khi họ lại bị mất năng lực hành vi dân sự Do đó,dẫn đến thực trạng có rất nhiều trường hợp vợ hoặc chồng muốn ly hôn những tòa
án không thể tiến hành giải quyết được, có nhiều vụ kéo dài trong nhiều năm vớinguyên nhân là do người vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi dân sự4
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2019, tr.379.
2 Theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật HNGÐ 2014
3 Khoản 1 Điều 51 Luật HNGÐ 2014
4 Đối với trường hợp này, cha, mẹ, người thân thích khác của vợ hoặc chồng cần phải chứng minh được việc người chồng hoặc vợ bị mất năng lực hành vi dân sự phải là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
Trang 7- Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng
Trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi,chồng không có quyền yêu cầu ly hôn5 Việc hạn chế quyền ly hôn chỉ dành chongười chồng chứ không hạn chế yêu cầu ly hôn của người vợ trong mọi trườnghợp Được áp dụng ngay cả trong trường hợp người vợ đang mang thai với ngườikhác thì người chồng vẫn bị hạn chế quyền ly hôn Quy định này xuất phát từnguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em, là bộ phận yếu thế trong xã hội, nên đượcpháp luật và xã hội quan tâm, bảo vệ đặc biệt là người phụ nữ trong thời gianmang thai, sinh con hay nuôi con nhỏ, tâm lý họ không được ổn định, nhạy cảm và
dễ xúc động
I.2 Căn cứ ly hôn
1.2.1 Định nghĩa căn cứ ly hôn
“Căn cứ là cái làm chỗ dựa, làm cơ sở để lập luận” 6 Căn cứ ly hôn có thể hiểu
là tổng hợp các tình tiết, điều kiện do luật định, biểu hiện khách quan bản chất củaquan hệ hôn nhân đã tan vỡ Dựa vào những tình tiết, điều kiện đó để Tòa án giảiquyết vụ việc ly hôn của vợ chồng
Để Tòa án giải quyết việc ly hôn, điều kiện tiên quyết là phải xác định là có haykhông có căn cứ giải quyết ly hôn khi nhận hồ sơ yêu cầu ly hôn của đương sự Ýchí của vợ chồng không phải là điều kiện cần và đủ để tòa án chấp thuận giảiquyết yêu cầu ly hôn Việc giải quyết yêu cầu ly hôn phải được dựa trên các điềukiện cần và đủ về phương diện pháp lý của căn cứ ly hôn theo quy định trong LuậtHNGĐ 2014 Luật HNGĐ năm 2014 đã có sự lồng ghép quy định về căn cứ lyhôn vào quy định về thuận tình ly hôn cũng như ly hôn theo yêu cầu của một bên
1.2.2 Nội dung căn cứ ly hôn
1.2.2.1 Căn cứ ly hôn trong trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn
Theo điều 55 Luật HNGĐ thì trong trường hợp hai vợ chồng có yêu cầu thuậntình ly hôn, sự tự nguyện của hai vợ chồng có yêu cầu khi yêu cầu chấm dứt hônnhân là một căn cứ quyết định chấm dứt hôn nhân TTLH phải là sự tự nguyện ýchí của hai bên vợ chồng cùng chung ý chí mong muốn chấm dứt quan hệ hôn
nhân Bảo đảm “thật sự tự nguyện ly hôn” là cả hai vợ chồng đều được tự do bày
tỏ ý chí của mình, không bị cưỡng ép, không bị lừa dối trong việc thuận tình ly
6 Nguyễn Lân (2006), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, tr.243.
Trang 8hôn Việc thể hiện ý chí thật sự tự nguyện ly hôn của hai vợ chồng đều phải xuấtphát từ trách nhiệm đối với gia đình họ, phù hợp với yêu cầu của pháp luật vàchuẩn mực, đạo đức xã hội Ngoài ý chí thật sự tự nguyện, đòi hỏi hai vợ chồngcòn phải có sự thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trong nom, nuôi dưỡng, chămsóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con Để tòa
án công nhận TTLH thì sự đồng thuận ý chí của vợ chồng phải thống nhất từ thờiđiểm nộp đơn cho đến hết quá trình giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn
1.2.2.2 Căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên
Khi ly hôn theo yêu cầu của một bên thì tòa án cần dựa vào một trong ba căn cứsau đây:
Thứ nhất, đối với trường hợp khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại
Tòa án không thành thì tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ,chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của
vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung khôngthể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được Như vậy, điều kiện cần đểcho ly hôn là hành vi của vợ, chồng bạo lực gia đình theo quy định của Luật phòngchống bạo lực gia đình hoặc có vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng
Điều kiện đủ là sự thể hiện mức độ, hệ quả mâu thuẫn dẫn đến “hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Thứ hai, đối với trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tòa án tuyên bố mất
tích yêu cầu ly hôn thì tòa án giải quyết cho ly hôn Khoản 2 Điều 55 Luật HNGĐ
2014 quy định về căn cứ cho ly hôn có đề cập tới trường hợp yêu cầu ly hôn khimột trong hai người mất tích Trong quan hệ hôn nhân gia đình, việc chồng hoặc
vợ bị mất tích đã ảnh hưởng sâu sắc tới quan hệ vợ chồng và các thành viên tronggia đình Cần phải giải quyết cho họ thoát khỏi “hoàn cảnh đặc biệt” này khi họ cóyêu cầu ly hôn với người chồng hoặc vợ đã bị tòa án tuyên bố mất tích
Thứ ba, đối với trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định khoản 2 Điều 51
Luật HNGĐ 2014 thì tòa án cho giải quyết ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ
có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe,tinh thần của người kia Để chứng minh cần có các giấy tờ tài liệu do cơ sở y tếcấp, có kết luận, chẩn đoán cụ thể về tình trạng bệnh lý, nếu người đó bị tòa ántuyên bố mất NLHVDS thì cần cung cấp quyết định cho tòa án làm thủ tục ly hôn
Trang 9Người yêu cầu là người có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng, có dòng máu trực hệ
và có họ trong phạm vi ba đời yêu cầu tòa án cho ly hôn phải chứng minh có hành
vi bạo lực gia đình theo quy định Luật PCBLGĐ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đếnngười không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ LY
HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DH
2.1 Thực trạng ly hôn trên địa bàn huyện DH
Trong những năm qua, số vụ việc về ly hôn mà TAND huyện DH giải quyếtchiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số các loại án mà tòa đã thụ lý và giải quyết Theobáo cáo tổng kết các năm 2018, 2019, 2020 và 2021 (tính đến 31/10/2021) thìTAND huyện DH đã thụ lý và giải quyết tổng số 1269 vụ ly hôn Cụ thể số vụviệc ly hôn được thụ lý và giải quyết các vụ việc ly hôn sơ thẩm tại TAND huyện
DH được thống kê sau đây7:
Qua bảng số liệu thống kê cho thấy số vụ, việc ly hôn mà Tòa án thụ lý có biếnđộng, năm 2019 có tăng nhẹ so với năm 2018, và gần đây có xu hướng giảm nhẹ
Có thể thấy, yêu cầu công nhận TTLH và thỏa thuận của đương sự chiếm tỷ lệ caohơn, năm 2018, số việc Tòa án công nhận TTLH là 190/317 vụ, chiếm tỷ lệ59,94%; năm 2019 chiếm 64,47%, năm 2020 chiếm 63,6%; 10 tháng đầu năm
2021 chiếm 50% số vụ việc về ly hôn mà Tòa án đã giải quyết Hầu hết các việcTTLH ở huyện DH khi giải quyết, hai bên vợ chồng đã thực sự tự nguyện ly hôn,hai bên đã thỏa thuận được với nhau về tài sản và con chung Tòa án đã tiến hànhhòa giải nhưng không thành và trong thời hạn mà các bên không thay đổi ý kiến,Tòa án ra quyết định công nhận TTLH và lập biên bản ghi nhận sự thỏa thuận của
vợ chồng về chia tài sản, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Số vụ án lyhôn mà Tòa án huyện đã xét xử cho ly hôn là 56 vụ năm 2018, chiếm tỷ lệ17,67%; năm 2019 chiếm 18,73%; năm 2020 chiếm 16,33%, 10 tháng đầu năm
2021 chiếm 24,59% Trong quá trình giải quyết, tòa án đã căn cứ vào tình trạngkhách quan của quan hệ hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéodài, mục đích hôn nhân không đạt được để giải quyết cho đươg sự ly hôn
2.2 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng ly hôn
7 Bảng thống kê: phụ lục A
Trang 10Trên địa bàn huyện DH, nguyên nhân dẫn tới tình trạng quan hệ hôn nhân trầmtrọng, đời sống chung của các cặp vợ chồng không thể kéo dài rất đa dạng nhưngchủ yếu tập trung vào một số nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất, do mâu thuẫn tính tình không hợp Đây là mâu thuẫn mang tính
chất không rõ ràng nhưng lại là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ly hôn trên địa bànhuyện DH Ở địa phương, các cặp vợ chồng kết hôn ở độ tuổi rất trẻ cũng chiếmmột tỷ lệ tương đối nhiều Xuất phát từ thực trạng này dẫn đến quá trình tìm hiểugiữa vợ và chồng là ngắn ngủi Hơn nữa nhận thức của các cặp vợ chồng về xâydựng cuộc sống chung, xây dựng gia đình hạnh phúc còn rất mơ hồ, thiếu chínchắn Chính vì vậy trong quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn Tuy nhiên,nhiều cặp vợ chồng đã chung sống và có thời gian tìm hiểu nhau lâu ngày cũng vìnguyên nhân đã nêu mà ly hôn Mâu thuẫn không kịp thời hóa giải sẽ dẫn tới trởnên trầm trọng và giải pháp cuối cùng là yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn đểchấm dứt tình trạng trên
Điển hình là bản án số 16/2021/HNGĐ-ST ngày 13/04/2021 của TAND huyện
DH về tranh chấp HNGĐ giữa nguyên đơn Tống Thị Thái sinh năm 1986 và bịđơn Phạm Văn Khiêm sinh năm 1980 Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quátrình giải quyết vụ án, chị Thái cho biết chị và anh Thái tự nguyện đăng ký kết hôntại UBND xã Đông Sơn ngày 27/02/2004 Trong quá trình chung sống do chị vàanh Khiêm tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng chị hayxảy ra đánh cãi nhau; anh Khiêm còn tỏ thái độ coi thường chị và gia đình chị,không cho chị được tham gia vào bất cứ công việc gì của gia đình anh Khiêm Chị
đã cố gắng chịu đựng vì các con, nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căngthẳng Ngày 19/01/2019 anh Khiêm đánh chị quá đau, bản thân chị không chịuđựng thêm được nữa nên sáng hôm sau chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở huyện QuỳnhPhụ và ly thân với anh Khiêm Xác định cuộc sống chung không thể kéo dài nênchị đã nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Khiêm
Thứ hai, do bạo lực gia đình, bạo lực gia đình để lại hậu quả nghiêm trọng cho
con người, nó làm hạn chế sự tham gia của họ vào đời sống cộng đồng, gây hậuquả về thể chất, tâm lý cho nạn nhân, con trẻ Khi bạo lực xảy ra, sẽ gây ra nhiềusứt mẻ trong tình cảm, không thấy được sự hòa hợp mà chỉ còn sự ức chế, sợ hãidần dần họ không thể chịu đựng nữa và dẫn đến ly hôn
Trang 11Ví dụ: Bản án số 32/2021/HNGĐ-ST về tranh chấp hôn nhân gia đình ngày20/7/2021 của TAND huyện DH giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Hà và bị đơn BùiTrung Quân Chị Hà và anh Quân kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn tạiUBND xã Đông Kinh vào ngày 15/12/2013 Sau khi kết hôn vợ chồng chung sốnghạnh phúc đến tháng 3/2020 đã phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xảy ra xôxát cãi cọ nhau, anh Quân không tu chí làm ăn, mải chơi bời, cờ bạc không quantâm đến gia đình vợ con Chị và gia đình đã góp ý khuyên bảo nhiều lần nhưnganh Quân không thay đổi Ngày 06/3/2020 vợ chồng mâu thuẫn anh Quân đánhchị, chị Hà đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Khúc Mai, xã Thụy Thanh, huyện TháiThụy sinh sống cho đến nay Sau khi chị Hà bỏ đi anh Quân cũng không tìm chị
mà chỉ gọi nhắn tin đe dọa chị Nay chị Hà xác định vợ chồng không còn tình cảm,nên xin được ly hôn anh Quân
Thứ ba, do kết hôn khi còn quá trẻ, không phải ngẫu nhiên mà pháp luật về
hôn nhân và gia đình của các quốc gia đều có quy định riêng về độ tuổi kết hôn.Hôn nhân không đơn thuần chỉ là chuyện giữa hai người mà còn chi phối cả nhữngmối quan hệ xung quanh của hai vợ chồng Khi còn quá trẻ, họ thường không cóđược những suy nghĩ chín chắn để quyết định xem liệu đối phương có phải làngười thích hợp cùng mình chung sống cả đời hay không Những người trẻ tuổichưa từng trải đời thường không suy nghĩ nhiều về những yếu tố ảnh hưởng đếnđời sống hôn nhân Người chồng còn trẻ, chưa có suy nghĩ thấu đáo, còn mải chơibời, không chăm lo cho gia đình Người vợ kết hôn khi còn trẻ, thiếu kinh nghiệm,không biết chăm lo cho gia đình từ đó nảy sinh nhiều mâu thuẫn Hệ quả, họthường nhanh chóng nhận ra hôn nhân không phải là một việc dễ dàng và thường
ly hôn ngay sau đó Hầu hết độ tuổi của các vụ ly hôn mà Tòa án thụ lý là khoảng
vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, xô xát, chịMừng là người không biết chăm nom gia đình, hỗn láo với bố mẹ chồng, khi bốanh bị tai nạn chị Mừng không biết chăm lo mà coi thường xúc phạm bố mẹ anh
Trang 12Trong cuộc sống vợ chồng chị Mừng độc đoán không mang tính xây dựng chỉmuốn làm theo ý mình không nghĩ đến gia đình, vợ chồng không tìm được tiếngnói chung nên luôn xảy ra mâu thuẫn Vợ chồng đã sống ly thân được 01 năm, anhxét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh Tuấn làm đơn xin ly hôn với chịMừng8
Thứ tư, do ảnh hưởng của vấn đề kinh tế, các cặp vợ chồng sau khi lập gia
đình phải tự li cho mái ấm của mình, điều kiện kinh tế chưa đảm bảo cho cuộcsống riêng khiến vợ chồng sinh ra mâu thuẫn không thể tháo gỡ và kết cục là ly
hôn Không chỉ có những gia đình có kinh tế khó khăn mới phát sinh mâu thuẫn
dẫn đến việc ly hôn Mà ngay cả những gia đình có kinh tế khá giả cũng xuất hiệnmâu thuẫn gia đình dẫn đến tình trạng ly hôn Mâu thuẫn xuất hiện trong các giađình khó khăn xảy ra thường xuyên hơn
Ví dụ: Bản án số 55/2021/HNGĐ-ST ngày 27/9/2021 của TAND huyện DH
về tranh chấp hôn nhân gia đình giữa nguyên đơn Phạm Kim Đức và bị đơn Phạm Thị Thắm Anh Đức và chị Thắm kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn
tại UBND xã Đông Vinh vào ngày 10/12/1991 Sau khi kết hôn vợ chồng chungsống đến ngày 04/6/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đức giaocho chị Thắm quản lý cất giữ toàn bộ, tài sản trong gia đình, nhưng đến khi cóviệc anh cần tiền chi tiêu thì không có, anh hỏi chị Thắm thì chị Thắm nói khôngbiết tài sản đi đâu mất, từ đó anh Đức mất niềm tin, không còn tưởng chị Thắmnữa dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần Sau đó anh Đức bỏ đi làm ăn ở HàNội, vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2019 đến nay không còn quan tâm đếnnhau Nay anh Đức xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh xin được ly hônchị Thắm Theo lời khai của chị Thắm, sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuậnđến tháng 6/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đức đi làm gửi tiền
về cho chị Thắm quản lý, số tiền anh Đức đưa vợ chồng đã mua vàng tiết kiệm,nhưng sau đó chị đã trao đổi với anh Đức bán số vàng tiết kiệm đi đi để sửa chữanhà cửa, anh Đức đồng ý Chị đã bán đi sửa nhà cửa, làm sân, cổng dậu xây tườngbao, còn lại một phần tiền chị đã sử dụng chi tiêu nuôi các con và chữa bệnh chocháu Hạnh do cháu Hạnh phải mổ mắt nên không còn Khoảng 03 năm nay lại đâyanh Đức đi làm ăn xa, anh Đức không quan tâm đến mẹ con chị, anh cũng khônggửi tiền về cho chị Thắm chi tiêu sinh hoạt, nuôi các con, chị nghi ngờ anh Đức
8 Ví dụ, xem phụ lục D.