1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ôn tập kinh tế chính trị 2023

64 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối Tượng Nghiên Cứu Của Kinh Tế Chính Trị Mác – Lênin
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại Bài Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 110,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

những câu hỏi tự luận kinh tế chính trị hay ra trong ngân hàng đề thi được tổng hợp bởi giảng viên đại học UAH đảm bảo siêu uy tín như ronaldo đá pen ôn vào chỉ có b trở lên những câu trả lời đi vào lòng người

Trang 1

Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin

Theo nghĩa hẹp, kinh tế chính trị nghiên cưu quan hệ sản xuất và trao đổi trong một phương

thức sản xuất nhất dịnh Cách tiếp cận này được C.Mác khẳng định trong bộ Tư bản Cụ thể,C.Mác cho rằng, đối tượng nghiên cứu của bộ Tư bản là các quan hệ sản xuất và trao đổi củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và mục đích cuối cùng của tác phẩm Tư bản là tìm raquy luật vận động kinh tế của xã hội ấy

Theo nghĩa rộng, Ph.Ănghen cho rằng: ‘‘Kinh tế chính trị, theo nghĩa rộng nhất, là khoa học

về những quy luật chi phối sự sản xuất vật chất và sự trao đổi những tư liệu sinh hoạt vật chấttrong xã hội loài người… Những điều kiện trong đó người ta sản xuất sản phẩm và trao đổichúng đều thay đổi tùy từng nước, và trong mỗi nước lại thay đổi tùy từng thế hệ Bởi vậy,không thể có cùng có cùng một môn kinh tế chính trị duy nhất cho tất cả mọi nước và mọi thờiđại lịch sử…môn kinh tế chính trị, về thực chất; là một môn khoa học có tính lịch sử…nónghiên cứu trước hết là những quy luật đặc thù của từng giai đoạn phát triển của sản xuất vàcủa trao đổi, và chỉ sau khi nghiên cứu như thế xong xuôi rồi nó mới có thể xác định ra một vàiquy luật hoàn toàn có tính chất chung, thích dụng, nói chung cho sản xuất và trao đổi”

Như vậy, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị không phải làmột lĩnh vực, một khía cạnh của nền sản xuất xã hội mà phải là một chỉnh thể các quan hệ sảnxuất và trao đổi Đó là hệ thống các quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi,các quan hệ trong mỗi khâu và các quan hệ giữa các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội với

tư cách là sự thống nhất biện chứng của sản xuất, phân phối, lưu thông, trao đổi, tiêu dùng.Khác với các quan điển trước C.Mác, điểm nhấn khoa học về mặt xác định đối tượng nghiêncứu của kinh tế chính trị , theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, chính là ở chỗ, kinh tếchính trị không nghiên cứu biểu hiện kỹ thuật của sự sản xuất và trao đổi mà là hệ thống cácquan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi.Về khóa cạnh này, V.I.Lênin nhấn mạnh thêm “kinh tếchính trị không nghiên cứu sự sản xuất mà nghiên cứu những quan hệ xã hội giữa người vớingười trong sản xuất, nghiên cứu chế độ xã hội sản xuất” Sự giải thích này thể hiện sự nhấtquán trong quan điểm của V.I.Lênin với quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về đối tượngnghiên cứu của kinh tế chính trị

Mặc khác, chủ nghĩa duy vật về lịch sử đã chỉ ra, các quan hệ của sản xuất về trao đổi chịu sựtác động biện chứng của không chỉ bởi trình độ của lực lượng sản xuất mà còn cả kiến trúcthượng tầng tương ứng Do vậy, khi xác định đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác –Lênin tất yếu phải đặt mối quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi trong mối quan hệ biện ứngcủa phương thức sản xuất đang nghiên cứu Nghĩa là, kinh tế chính trị không nghiên cứu bảnthân lực lượng sản xuất, cũng không nghiên cứu biểu hiệu cụ thể của kiến trúc thượng tầng mà

Trang 2

là đặt các quan hệ của sản xuất và trao đổi trong mối quan hệ biện chưng với lực lượng sảnxuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng.

Với ý nghĩa như vậy, khái quát lại: Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác –Lênin

là các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên

hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực lượng sản suất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất nhất định.

Mục đích nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin

Mục đích nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là nhằm phát hiện ra các quy luật kinhtế chi phối quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi Từ đó, giúp cho các chủthể trong xã hội vận dụng các quy luật ấy nhằm tạo động lực cho con người không ngừng sángtạo, góp phần thúc đẩy văn minh và sự phát triển toàn diện của xã hội thông qua việc giảiquyết hài hòa các quan hệ lợi ích

Kết quả nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin tạo cơ sở lý luận khoa học cho việc xâydựng đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia phù hợp với những giaiđoạn phát triển nhất định

_ Quy luật kinh tế tồn tại khách quan,

không phụ thuộc vào ý chí của con

người, con người không thể thủ tiêu quy

luật kinh tế, nhưng có thể nhận thức và

vận dụng quy luật kinh tế để phục vụ lợi

ích của mình

_ Khi vận dụng không phù hợp, con

người phải thay đổi hành vi của mình

chứ không thay đổi được quy luật

_ Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan của con người được hình thành

trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế

Chính sách kinh tế vì thế có thể phù hợp,hoặc không phù hợp với quy luật kinh tế

khách quan

_ Khi chính sách không phù hợp, chủ thể

ban hành chính sách có thể ban hànhchính sách khác để thay thế

* Ý nghĩa của việc nghiên cứu:

Nhận thức đầy đủ về quy luật kinh tế, chính sách kinh tế giúp cho sinh viên hiểu rõ cơ sởkhách quan cùng các mục tiêu, biện pháp, công cụ của các chính sách kinh tế cụ thể, từ đó tintưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; đồng thời chủ động lựachọn hình thức tham gia thực hiện hiệu quả trong hoạt động thực tiễn

Ví dụ: Trong bối cảnh tác động của đại dịch Covid-19, các mặt trái của kinh tế thị trường biểu

hiện gay gắt hơn thông qua những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh vàđời sống xã hội, đòi hỏi các chính phủ phải có những chính sách kinh tế hỗ trợ phù hợp Ở ViệtNam, để giảm thiểu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, trong thời gian qua Đảng và

Trang 3

trong sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo an sinh xã hội Sự ủng hộ, tham gia tích cực của cộngđồng doanh nghiệp và người dân vào thực hiện các chính sách đó đã góp phần từng bước đẩylùi đại dịch và khôi phục sản xuất kinh doanh, đảm bảo đời sống cho nhân dân.

Phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin

Với tư cách là một môn khoa học, KTCT Mác – Lênin sử dụng phép biện chứng duy vật vànhiều phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội nói chung như: trừu tượng hóa khoa học, logickết hợp với lịch sử, quan sát thống kê, phân tích tổng hợp, quy nạp diễn dịch, hệ thống hóa,

mô hình hóa…

Tuy nhiên, khác với nhiều môn khoa học khác, đặc biệt là khoa học tự nhiên Ở đó, ngườinghiên cứu có thể thực hiện các thực nghiệm khoa học để rút ra những quy luật chi phối sựvận động và phát triển của đối tượng nghiên cứu

Kinh tế chính trị nghiên cứu các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi Đây là những quan hệtrừu tượng, khó có thể bộc lộ trong các thí nghiệm thực nghiệm, chỉ có thể bộc lộ ra trong cácquan hệ kinh tế trên bề mặt xã hội

Do đó, các thí nghiệm Kinh tế chính trị sẽ khó có thể được thực hiện trong quy mô phòng thínghiệm vì không có một phòng thí nghiệm nào mô phỏng được một cách đầy đủ các quan hệ

xã hội của quá trình sản xuất và trao đổi Cho nên, phương pháp quan trọng của Kinh tế chính trị Mác – Lênin là phương pháp trừu tượng hóa khoa học

Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: là cách thức thực hiện nghiên cứu bằng cách gạt bỏ

những yếu tố ngẫu nhiên, những hiện tượng tạm thời xảy ra trong các hiện tượng quá trìnhnghiên cứu để tách ra được những hiện tượng bền vững, mang tính điển hình, ổn định của đốitượng nghiên cứu Từ đó, mà nắm được bản chất, xây dựng được các phạm trù và phát hiệnđược tính quy luật và quy luật chi phối sự vận động của đối tượng nghiên cứu

Cùng với phương pháp trừu tượng hóa khoa học, KTCT Mác – Lênin còn sử dụng phươngpháp logic kết hợp với lịch sử Phương pháp này, cho phép nghiên cứu, tiếp cận bản chất, các

xu hướng và quy luật kinh tế gắn với tiến trình hình thành, phát triển của các quan hệ xã hộicủa sản xuất và trao đổi

Việc áp dụng phương pháp logic kết hợp với lịch sử cho phép rút ra những kết quả nghiên cứumang tính logic từ trong tiến trình lịch sử của các quan hệ giữa con người với con người trongquá trình sản xuất và trao đổi

Chức năng của Kinh tế chính trị Mác - Lênin

Kinh tế chính trị Mác - Lênin có các chức năng sau đây: chức năng nhận thức, chức năng thựctiễn, chức năng tư tưởng, chức năng phương pháp luận Các chức năng đó thể hiện tính khoahọc và cách mạng, sâu sắc của kinh tế chính trị Mác –Lênin

Chức năng nhận thức:

Trang 4

Đây là chức năng quan trọng của Kinh tế chính trị, cung cấp những tri thức khoa học để:

- Nhận thức lịch sử phát triển của sản xuất vật chất, lịch sử phát triển của xã hội loài người nói

chung và của CNTB nói riêng

- Giải thích các hiện tượng và các quá trình kinh tế đang diễn ra trong thực tiễn, phân tích

những nguyên nhân và dự báo triển vọng, chiều hướng phát triển kinh tế xã hội

Chức năng thực tiễn:

Trên cơ sở nhận thức các quy luật kinh tế để thực hiện nhiệm vụ cải tạo thế giới quan thôngqua định hướng và thực thi các giải pháp phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử:Đề ra đường lối, chính sách kinh tế tác động vào hoạt động kinh tế, định hướng cho sự pháttriển kinh tế và là cơ sở để nhận thức đường lối, chính sách kinh tế

Như vậy, chức năng nhận thức và chức năng thực tiễn của kinh tế chính trị có quan hệ mậtthiết với nhau Nhận thức cung cấp lý luận mở đường cho việc thực hiện các hoạt động thựctiễn và ngược lại thực tiễn là nơi kiểm nghiệm nhận thức và làm phong phú thêm lý luận kinhtế

Đối với sinh viên, kinh tế chính trị Mác - Lênin là cơ sở khoa học lý luận để nhận diệnvà định vị vai trò, trách nhiệm sáng tạo cao cả của mình Từ đó mà xây dựng tư duy và tầmnhìn, kỹ năng thực hiện các hoạt động kinh tế - xã hội trên mọi lĩnh vực ngành nghề của đờisống xã hội phù hợp với quy luật khách quan Thông qua đó đóng góp xứng đáng vào sự pháttriển chung của xã hội

Chức năng tư tưởng:

Kinh tế chính trị Mác - Lênin góp phần xây dựng nền tảng tư tưởng mới cho những người laođộng tiến bộ, biết quý trọng thành quả lao động của bản thân và của xã hội; yêu chuộng tự do,hòa bình, củng cố niềm tin cho sự phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh

Kinh tế chính trị Mác Lênin góp phần xây dựng lý tưởng khoa học cho những chủ thể có mongmuốn xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp, hướng tới giải phóng con người, xóa bỏ dần những ápbức, bất công giữa con người với con người

Chức năng phương pháp luận:

KTCT là nền tảng lý luận cho các môn khoa học kinh tế cụ thể vì chúng đều phải xuất phát vàdựa vào những kết luận về các phạm trù kinh tế và quy luật kinh tế mà kinh tế chính trị nêu ra

Điều kiện ra đời, đặc trưng, ưu thế của sản xuất hàng hóa.

Sản xuất hàng hóa: là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế mà ở đó, những người sản xuất ra sản

phẩm nhằm mục đích trao đổi, mua bán

Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa:

Trang 5

Thứ nhất, phân công lao động xã hội

Khái niệm phân công lao động xã hội: Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao độngtrong xã hội thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa củanhững người sản xuất thành những ngành, nghề khác nhau

Tác động của phân công lao động xã hội: Do phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sảnxuất một hoặc một vài sản phẩm nhất định Trong khi đó, nhu cầu của họ lại đòi hỏi nhiều loạisản phẩm khác nhau Để thỏa mãn nhu cầu, giữa những người sản xuất cần có sự trao đổi sảnphẩm với nhau

Như vậy, phân công lao động xã hội làm xuất hiện mối quan hệ trao đổi sản phẩm giữa nhữngngười sản xuất với nhau Phân công lao động xã hội càng phát triển thì sản xuất và trao đổi sảnphẩm càng mở rộng hơn, đa dạng hơn Vì vậy, phân công lao động xã hội đóng vai trò là cơ sởcho sự ra đời của sản xuất hàng hóa

Thứ hai, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất

Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất do quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệusản xuất

Sự tách biệt nêu trên làm cho giữa những người sản xuất độc lập với nhau có sự tách biệt về lợiích Trong điều kiện đó, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông quatrao đổi, mua bán sản phẩm, dựa trên nguyên tắc bình đẳng, ngang giá, hai bên đều có lợi Sựtách biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá là điều kiện đủ để nền sản xuấthàng hoá ra đời và phát triển

Tóm lại, khi còn sự hiện diện của hai điều kiện trên, con người không thể dùng ý chí chủ quanmà xoá bỏ nền sản xuất hàng hoá được Việc cố tình xoá bỏ nền sản xuất hàng hoá sẽ làm cho

xã hội đi tới chỗ khan hiếm và khủng hoảng Với ý nghĩa đó, cần khẳng định, nền sản xuấthàng hoá có ưu thế tích cực vượt trội so với nền sản xuất tự cấp, tự túc

Đặc trưng của sản xuất hàng hóa:

Sản xuất hàng hoá là sản xuất để trao đổi, mua bán

Lao động của người sản xuất hàng hoá vừa mang tính chất tư nhân, vừa mang tính xã hội Mâuthuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng trongkinh tế hàng hoá

Mục đích của sản xuất hàng hoá là giá trị, là lợi nhuận chứ không phải là giá trị sử dụng

Ưu thế của sản xuất hàng hóa so với kinh tế tự nhiên:

Sản xuất hàng hoá là sản xuất sản phẩm cho người khác, sản xuất để bán trên thị trường nênviệc mở rộng quy mô sản xuất không bị hạn chế bởi nhu cầu hạn hẹp của người sản xuất.Chính nhu cầu lớn và không ngừng tăng lên là một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của sảnxuất hàng hoá

Trang 6

Sản xuất hàng hoá gắn liền với cạnh tranh nên buộc người sản xuất phải năng động trong sảnxuất kinh doanh; phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất laođộng, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm bán được nhiều hàng hóa và thu được nhiều lợinhuận nhất; từ đó, tự phát thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Đây là một động lực mạnh

mẽ cho sự phát triển sản xuất xã hội

Sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sở phân công lao động và lại thúc đẩy sự phát triển của phâncông lao động, phát triển chuyên môn hóa, tạo điều kiện để phát huy thế mạnh, phát huy lợi thế

so sánh của mỗi cá nhân, mỗi đơn vị sản xuất cũng như các khu vực, các vùng kinh tế

Sản xuất và trao đổi hàng hóa gắn với tính chất mở của các quan hệ kinh tế, các quan hệ hànghóa tiền tệ, làm cho không gian giao lưu kinh tế giữa các khu vực, các nước, các địa phươngngày càng mở rộng Tính chất mở là đặc trưng của các quan hệ hàng hóa tiền tệ, mở trong quanhệ giữa những người sản xuất, giữa các doanh nghiệp, các địa phương, giữa các vùng và vớinước ngoài Từ đó, quan hệ hàng hóa tiền tệ tạo nên sự “sống động” của nền kinh tế, tạo điềukiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Mặt trái của sản xuất hàng hóa:

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên, sản xuất hàng hoá cũng còn tồn tại nhiều mặt tráivà cả những tác động tiêu cực đối với đời sống kinh tế, xã hội như phân hóa giàu nghèo giữanhững người sản xuất; chạy theo lợi ích cá nhân làm tổn hại đến các giá trị đạo đức truyềnthống; sản xuất không kiểm soát được tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối, khủng hoảng kinh tế, pháhoại môi trường sinh thái Những tác động tiêu cực đó có thể hạn chế được nếu có vai tròquản lý, điều tiết từ một chủ thể chung của toàn bộ nền kinh tế là nhà nước

Hàng hoá Hai thuộc tính của hàng hoá.

Khái niệm hàng hóa:

Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông quatrao đổi, mua bán

Hàng hóa có hai loại: dạng vật thể hữu hình (hàng hóa thông thường) hoặc dạng phi vật thể(hàng hóa dịch vụ)

Hai thuộc tính của hàng hóa:

 Thuộc tính 1: Giá trị sử dụng của hàng hóa

- Khái niệm giá trị sử dụng của hàng hoá: là công dụng của sản phẩm, có thể thỏa mãn nhu cầunào đó của con người

- Đặc điểm giá trị sử dụng của hàng hoá:

Giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quyết định và là nội dung vậtchất của của cải Vì vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa là phạm trù vĩnh viễn Nền sản xuất hàng

Trang 7

hoá phát triển, khoa học, công nghệ càng tiên tiến, càng giúp cho con người phát hiện ra nhiềuvà phong phú các giá trị của hàng hoá khác nhau.

Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa

Giá trị sử dụng là thuộc tính gắn liền với hàng hóa, nhưng không phải là giá trị sử dụng chobản thân người sản xuất hàng hóa, mà là giá trị sử dụng cho người khác, cho người mua, tức làgiá trị sử dụng xã hội

 Thuộc tính 2: Giá trị của hàng hoá

- Khái niệm giá trị của hàng hoá: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh tronghàng hoá

- Đặc điểm giá trị của hàng hoá:

Giá trị chỉ được biểu hiện ra bên ngoài thông qua giá trị trao đổi Giá trị trao đổi chỉ là hìnhthức biểu hiện của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sở của trao đổi

Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, một tỷ lệ trao đổi giữa những giá trị sử dụng khácnhau Ví dụ: 1 m vải = 20 kg thóc Về mặt vật chất, không thể so sánh giữa giá trị sử dụng củavải với giá trị sử dụng của thóc được vì chúng khác nhau về chất Giữa vải và thóc có thể sosánh, trao đổi được với nhau bởi chúng có điểm chung đều là sản phẩm của lao động Trongmối quan hệ trao đổi đó, hao phí lao động để làm ra 1 m vải bằng với hao phí lao động để sảnxuất ra 20 kg thóc Ở đây, lao động của người sản xuất vải và lao động của người sản xuất thócđược quy thành lao động chung, đồng nhất của con người làm cơ sở để so sánh, trao đổi vải vàthóc với nhau

Giá trị hàng hóa là biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất và trao đổi hànghóa Giá trị là phạm trù lịch sử; chỉ khi nào có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì mới có giá trịhàng hóa

Vì sao hàng hóa có hai thuộc tính.

Hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hoá có tính hai mặt C.Máclà người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa là lao động cụthể và lao động trừu tượng

Lao động cụ thể:

Khái niệm lao động cụ thể: Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của

những nghề nghiệp chuyên môn nhất định

- Đặc điểm của lao động cụ thể:

Mỗi lao động cụ thể có mục đích lao động riêng, đối tượng lao động riêng, công cụ lao độngriêng, phương pháp lao động riêng và kết quả riêng

Trang 8

Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá Các loại lao động cụ thể khác nhau về chấtnên tạo ra những sản phẩm cũng khác nhau về chất và mỗi sản phẩm có một giá trị sử dụngriêng.

Lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn Trong bất cứ xã hội nào thì lao động cụ thể cũng là điềukiện không thể thiếu được của đời sống con người, đó là sự kết hợp giữa tự thể nhiên và conngười Các hình thức lao động cụ phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật và sựphát triển của lực lượng sản xuất Khoa học kỹ thuật, phân công lao động càng phát triển, xãhội càng nhiều ngành, nghề khác nhau, các hình thức lao động cụ thể càng phong phú, đa dạng,càng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau

Lao động trừu tượng:

- Khái niệm lao động trừu tượng: Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất

hàng hoá không kể đến hình thức cụ thể của nó Đó là sự hao phí sức lao động nói chung củangười sản xuất hàng hoá về cơ bắp, thần kinh, trí óc

- Đặc điểm của lao động trừu tượng:

Lao động trừu tượng chính là lao động chung, đồng nhất của con người Tuy nhiên, không phảisự tiêu hao sức lao động nào cũng là lao động trừu tượng; chỉ sự tiêu phí sức lao động củangười sản xuất hàng hoá mới là lao động trừu tượng

Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá Vì vậy, giá trị hàng hóa là lao động trừu tượngcủa người sản xuất kết tinh trong hàng hoá

Lao động trừu tượng là phạm trù lịch sử, chỉ có trong sản xuất và trao đổi hàng hóa vì, chỉtrong sản xuất và trao đổi hàng hóa mới cần quy các lao động khác nhau thành lao động chung,đồng nhất làm cơ sở để so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau

- Ý nghĩa:

Việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá có ý nghĩa rất to lớn, giúpcho lý luận giá trị lao động của C.Mác có một cơ sở khoa học thực sự Phát hiện về tính chấthai mặt của lao động sản xuất hàng hoá đã giải thích được những hiện tượng phức tạp diễn ratrong thực tiễn như sự vận động trái ngược khi khối lượng của cải vật chất ngày càng tăng lên,

đi liền khối lượng giá trị của nó giảm xuống hay không thay đổi

Lao động cụ cụ thể và lao động trừu tượng là hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá, phản ánhtính chất tư nhân và tính chất xã hội của một lao động thống nhất Lao động thể phản ánh tínhchất tư nhân của lao động sản xuất hàng hoá bởi việc sản xuất cái gì, ở đâu, bao nhiêu, bằngcông cụ nào là việc riêng của mỗi người Ngược lại, lao động trừu tượng phản ánh tính chất

xã hội của lao động sản xuất hàng hoá, bởi lao động của mỗi người là một bộ phận của laođộng xã hội, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội tạo rasự liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất thông qua trao đổi Việc trao đổi

Trang 9

hàng hóa không thể căn cứ vào lao động cụ thể mà phải quy về lao động chung đồng nhất làlao động trừu tượng.

Mâu thuẫn giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng xuất hiện khi sản phẩm do nhữngngười sản xuất hàng hoá riêng biệt tạo ra không phù hợp với nhu cầu xã hội, hoặc khi mức haophí lao động cá biệt cao hơn mức hao phí mà xã hội có thể chấp nhận được

Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là mầm mống của mọi mâu thuẫn trongnền sản xuất hàng hoá Chính những mâu thuẫn đó làm cho sản xuất hàng hoá vừa vận độngphát triển lại vừa tiềm ẩn khả năng khủng hoảng “sản xuất thừa”

Lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa

Thước đo lượng giá trị của hàng hóa:

Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa là lượng thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết đểsản xuất ra hàng hóa đó quyết định Lượng lao động đã hao phí đó được đo bằng thời gian laođộng xã hội cần thiết

Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị sử dụng nàođó trong những điều kiện bình thường của xã hội với trình độ thành thạo trung bình, cường độlao động trung bình

Trong thực hành sản xuất, người sản xuất thường phải tích cực đổi mới, sáng tạo nhằm giảmthời gian hao phí lao động cá biệt tại đơn vị sản xuất của mình xuống mức thấp hơn mức haophí trung bình cần thiết Khi đó sẽ có được ưu thế trong cạnh tranh

Xét về mặt cấu thành, lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá được sản xuất ra bao hàm: hao phílao động quá khứ (chứa trong các yếu tố vật tư, nguyên nhiên đã tiêu dùng để sản xuất ra hànghoá đó) + hao phí lao động mới kết tinh thêm

Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa:

Về nguyên tắc, nhân tố nào ảnh hưởng tới lượng thời gian hao phí xã hội cần thiết để sản xuất

ra một đơn vị hàng hoá tất sẽ ảnh hưởng tới lượng giá trị của đơn vị hàng hoá Có ba nhân tốảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa là năng suất lao động, cường độ lao động và tínhchất phức tạp hay giản đơn của lao động

Thứ nhất, năng suất lao động Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động,

được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thờigian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Tăng năng suất lao động là tăng năng lực sảnxuất của người lao động Tức là trong cùng một đơn vị thời gian, người lao động làm nhiều sảnphẩm hơn trước, hay thời gian hao phí lao động để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm ít hơntrước

Trang 10

Năng suất lao động có tác động tỷ lệ nghịch với giá trị của một hàng hóa Khi năng suất laođộng tăng, số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian nhiều hơn nên haophí lao động để sản xuất ra một sản phẩm ít hơn, lao động kết tinh trong một sản phẩm giảmxuống, do đó giá trị của một sản phẩm giảm nhưng tổng giá trị không đổi.

Thứ hai, cường độ lao động Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt

động lao động trong sản xuất Cường độ lao động được đo bằng mức độ hao phí lao động trongmột đơn vị thời gian, hay hao phí lao động sống trong một đơn vị thời gian

Hao phí lao động sống là hao phí về sức lực, sức cơ bắp, sức thần kinh của người lao độngtrong quá trình sản xuất; thường được đo bằng số calo (đơn vị đo năng lượng) hao phí trongmột thời gian nhất định Cường độ lao động nói lên mức độ khẩn trương, nặng nhọc, căngthẳng của lao động Do đó, tăng cường độ lao động là tăng mức độ hao phí lao động trong mộtđơn vị thời gian Tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài ngày lao động

Cường độ lao động có tác động tỷ lệ thuận với tổng giá trị hàng hóa được sản xuất ra trong mộtđơn vị thời gian nhất định Khi cường độ lao động tăng, hao phí lao động cũng tăng lên, khốilượng hàng hóa cũng tăng tương ứng Vì vậy, hao phí lao động để làm ra một sản phẩm khôngđổi nhưng tổng giá trị hàng hóa tăng lên

Thứ ba, tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động Căn cứ vào mức độ phức tạp của lao

động mà chia thành lao động giản đơn và lao động phức tạp

Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệ thống, chuyênsâu về chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ cũng có thể thao tác được Lao động phức tạp là nhữnghoạt động lao động phải trải qua một quá trình đào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu củanhững nghề nghiệp chuyên môn nhất định Đây là lao động phải được đào tạo, huấn luyệnthành lao động lành nghề

Trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp sẽ phải vận dụng các

kỹ năng về thể chất và tinh thần nhiều hơn so với một lao động giản đơn nên mức độ hao phílao động sẽ nhiều hơn Vì vậy trong cùng một đơn vị thời gian, một lao động phức tạp sẽ tạo ranhiều giá trị hơn so với một lao động giản đơn Sản phẩm của lao động phức tạp vì vậy sẽ cógiá trị cao hơn sản phẩm của lao động giản đơn

Dịch vụ và một số loại hàng hóa đặc biệt

Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, phát triển các nghiên cứu của C.Mác trongtình hình thực tế hiện nay, chúng ta sẽ nghiên cứu thêm một số hàng hoá đặc biệt như: dịch vụ;tiền tệ; sức lao động; quyền sử dụng đất đai; thương hiệu; chứng khoán, chứng quyền và cácloại giấy tờ có giá khác

Trang 11

Dịch vụ: Trong các nền kinh tế hiện đại, bên cạnh những hàng hóa vật thể hữu hình còn có

những hàng hóa phi vật thể, vô hình, được trao đổi, mua bán trên thị trường Những loại hànghóa này được gọi là dịch vụ

Dịch vụ được xem là một hàng hoá vì người ta cũng phải hao phí sức lao động để tạo ra dịch

vụ và mục đích của việc cung cấp dịch vụ cũng là nhằm thỏa mãn nhu cầu của người có nhucầu về loại hình dịch vụ đó Nhưng dịch vụ được coi là hàng hóa đặc biệt do: dịch vụ là hànghóa vô hình không thể cầm nắm được; hàng hóa dịch vụ không thể tách rời nhà cung cấp dịchvụ; chất lượng dịch vụ mang tính không đồng nhất, không ổn định và khó xác định; dịch vụ làhàng hóa không thể tích lũy lại hay lưu trữ; dịch vụ tạo ra lợi ích nhưng không bao gồm sởhữu

Tiền tệ:

Tiền tệ là kết quả của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa, là sản phẩm của sựphát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao, từ hình thái giản đơn đến hình thái phát triển caonhất là hình thái tiền tệ

Bản chất của tiền là một loại hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò vật ngang giá chung cho các hànghóa; tiền thể hiện lao động xã hội và quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa Khi tiềnxuất hiện, thế giới hàng hóa được chia thành hai cực Một bên là tất cả các hàng hóa thôngthường và một bên là hàng hóa tiền tệ được dùng để đo lường giá trị của các hàng hóa còn lại.Năm chức năng cơ bản của tiền:

(1) Thước đo giá trị: Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền dùng để đo lường và biểuhiện giá trị của các hàng hóa khác Lúc này, giá trị của hàng hóa được biểu hiện bằng một sốlượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hóa

(2) Phương tiện lưu thông: Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền được dùng làmmôi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa Khi tiền xuất hiện, việc trao đổi hàng hóa không phảitiến hành trực tiếp hàng lấy hàng (H - H) mà thông qua tiền làm môi giới (H - T - H) Để thựchiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đầy đủ giá trị, mà chỉ cầntiền ký hiệu giá trị, tức tiền giấy Điều này ít gây tốn kém và giúp cho trao đổi được tiến hành

dễ dàng, thuận lợi hơn, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển hơn nữa

(3) Phương tiện cất trữ: Tiền là đại diện cho giá trị, đại diện cho của cải nên khi tiền xuất hiện,thay vì cất trữ hàng hóa, người dân có thể cất trữ bằng tiền Lúc này tiền được rút ra khỏi lưuthông để đi vào cất trữ dưới hình thái vàng, bạc và sẵn sàng tham gia lưu thông khi cần thiết.(4) Phương tiện thanh toán: Khi thực hiện chức năng thanh toán, tiền được dùng để chi trả saukhi việc giao dịch, mua bán đã hoàn thành, tức thanh toán việc mua bán chịu Chức năngphương tiện thanh toán của tiền gắn liền với chế độ tín dụng thương mại, tức là mua bán thông

Trang 12

qua chế độ tín dụng, thanh toán không dùng tiền mặt mà chỉ dùng tiền trên sổ sách kế toán,hoặc tiền trong tài khoản, tiền ngân hàng, tiền điện tử

(5) Tiền tệ thế giới: Khi trao đổi hàng hóa mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia, tiền làm chứcnăng tiền tệ thế giới Lúc này tiền được dùng làm phương tiện mua bán, thanh toán quốc tếgiữa các nước với nhau Để thực hiện chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải là tiền vànghoặc những đồng tiền được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế

Hàng hóa sức lao động:

- Khái niệm sức lao động: C.Mác viết: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những

năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và đượcngười đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”

- Hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá:

(1) Điều kiện thứ nhất: Người lao động được tự do về thân thể

(2) Điều kiện thứ hai: Người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất cần thiết để tự kết hợpvới sức lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động

- Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động:

(1) Thuộc tính giá trị của hàng hóa sức lao động Giá trị hàng hóa sức lao động cũng được đobằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động

Do sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con người nên giá trị hàng hóa sức lao độngbao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử

Lượng giá trị hàng hoá sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:

Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất, tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động,duy trì đời sống của bản thân người công nhân

Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân

Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất, tinh thần cần thiết cho con cái của người côngnhân

(2) Thuộc tính giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động Giá trị sử dụng của hàng hóa sức laođộng chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động

Tuy nhiên, tính đặc biệt về giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động so với giá trị sử dụng cáchàng hóa khác thể hiện ở chỗ, khi tiêu dùng sức lao động sẽ tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trịcủa bản thân hàng hóa sức lao động Nói cách khác, hàng hóa sức lao động có khả năng tạo ragiá trị, là nguồn gốc của giá trị Đây là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng hàng hóa sứclao động khác biệt so với các hàng hóa khác

Quyền sử dụng đất đai:

Đất đai theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ đất sản xuất (đất canh tác), đất xây dựng, làm giaothông, tài nguyên khoáng sản

Trang 13

Đất đai là một trong những yếu tố cơ bản của sản xuất, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thểthay thế trong sản xuất nông - lâm nghiệp Đất đai cũng là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốcgia quý báu; là địa bàn để phân bố dân cư và các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng

- an ninh và là thành quả lao động, chiến đấu của nhiều thế hệ tạo lập nên, gắn với chủ quyềnquốc gia

Sự phát triển của sản xuất làm xuất hiện nhu cầu cần mặt bằng để kinh doanh; sự gia tăng quy

mô dân số thúc đẩy nhu cầu về mặt bằng cư trú Trong khi quyền sử dụng đất đai lại được ấnđịnh cho một chủ thể nhất định Cho nên, xuất hiện nhu cầu mua, bán quyền sử dụng đất đai.Đó là giá cả của quyền sử dụng đất

Quyền sử dụng đất đai được coi là một hàng hoá đặc biệt vì:

- Quyền sử dụng đất đai có giá trị sử dụng, có giá trị nhưng không do hao phí lao động tạo ratheo cách của hàng hoá thông thường Thực tế, giá cả của quyền sử dụng đất xuất hiện là dotính khan hiếm của bề mặt vỏ quả địa cầu và do trình độ phát triển của sản xuất

Quyền sử dụng đất đai có vị trí cố định nên là loại hàng hóa không thể di dời được Với cáchàng hóa khác, người bán, người mua có thể dễ dàng đem hàng hóa đến nơi nào tùy ý; nhưngvới đất đai thì chủ nhân của nó phải chuyển đến nơi có đất đai

- Hàng hóa quyền sử dụng đất đai không thể đem ra thị trường để trưng bày như các loại hànghóa khác mà phải giới thiệu thông qua mô tả bằng hình ảnh, bản vẽ hoặc các mô tả khác

- Giá cả quyền sử dụng đất đai phụ thuộc vào thu nhập (hoặc lợi ích) mà đất đai mang lại Khảnăng mang lại lợi ích của đất đai lại phụ thuộc vào mục đích sử dụng chúng, phụ thuộc vào sựtác động của con người đến khả năng sinh lời của đất Khi đất đai được sử dụng vào sản xuấtnông nghiệp hoặc lâm nghiệp thường có giá cả thấp hơn so với cũng đất đai đó được sử dụngđể phát triển nhà ở hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại

Quyền sử dụng đất đai là hàng hóa có số lượng hữu hạn và chất lượng (độ màu mỡ, phì nhiêu)biến động theo thời gian, phụ thuộc vào việc sử dụng của con người Quyền sử dụng đất đãđược đầu tư, thâm canh có giá cao hơn quyền sử dụng đất mới khai phá; quyền sử dụng đất đãđược quy hoạch có giá cả cao hơn quyền sử dụng đất chưa có quy hoạch sử dụng

Chứng khoán, chứng quyền và một số loại giấy tờ có giá khác:

Ngày nay, chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) do các công ty, doanh nghiệp cổ phần pháthành, chứng quyền do các công ty kinh doanh chứng khoán chứng nhận và một số giấy tờ cógiá (tín phiếu, ngân phiếu, thương phiếu) cũng có thể mua bán, trao đổi và mang lại lượng tiềnlớn hơn cho người mua bán

Cổ phiếu là giấy chứng nhận quyền sở hữu của một cổ đông về số tiền đã góp vào một công tycổ phần Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằngnhau gọi là cổ phần Người mua cổ phần gọi là cổ đông Cổ đông được cấp một giấy chứng

Trang 14

nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu Số tiền ghi trên cổ phiếu gọi là mệnh giá cổ phiếu hay giátrị danh nghĩa của cổ phiếu.

Như vậy, cổ phiếu là một loại chứng khoán có giá, bảo đảm cho người sở hữu chúng đượcquyền lĩnh một phần thu nhập từ kết quả hoạt động của công ty Thu nhập từ cổ phiếu được gọilà lợi tức cổ phiếu (cổ tức) Lợi tức cổ phiếu không cố định mà phụ thuộc vào kết quả hoạtđộng của công ty Thông thường, lợi tức cổ phiếu phải cao hơn lợi tức gửi ngân hàng; nếukhông, người có tiền sẽ gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lợi tức an toàn hơn mà không mạohiểm đầu tư vào việc mua cổ phiếu

Trên thực tế có nhiều loại cổ phiếu khác nhau tùy theo cách phân chia Cổ phiếu có ghi tên cổđông gọi là cổ phiếu ghi danh; không ghi tên gọi là cổ phiếu vô danh Dựa vào quyền hạn vàtrách nhiệm đối với công ty có thể chia ra cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Dựa vào vai tròtrong hoạt động công ty có thể chia ra cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu sáng lập

Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền)phải trả cho người sở hữu trái phiếu (người cho vay) một khoản tiền cụ thể, trong một thời gianxác định với một lợi tức quy định Người phát hành trái phiếu có thể là doanh nghiệp, trongtrường hợp này gọi là trái phiếu doanh nghiệp; có thể là một tổ chức chính quyền như kho bạcnhà nước thì gọi là trái phiếu kho bạc; nếu chính phủ phát hành gọi là trái phiếu chính phủ.Như vậy, trái phiếu là khoản vay của một công ty Số tiền vay ghi trên trái phiếu là mệnh giácủa trái phiếu Người mua trái phiếu là trái chủ Trái chủ là người cho nhà phát hành vay đểhưởng lợi tức cố định Khác với người mua cổ phiếu là người chủ sở hữu công ty, trái chủkhông chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả sử dụng vốn của người vay Thu nhập từ tráiphiếu là tiền lãi, là khoản thu cố định không phụ thuộc vào kết quả sản xuất của công ty Tráiphiếu là chứng khoán nợ, vì vậy khi công ty phát hành trái phiếu bị giải thể hoặc phá sản thìtrước hết công ty phải có nghĩa vụ thanh toán cho các chủ trái phiếu trước, sau đó mới chia chocác cổ đông Với những điều kiện trên, trái phiếu có tính ổn định và ít rủi ro hơn cổ phiếu.Thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá này gọi là thị trường chứng khoán Khi mua bán cổphiếu, trái phiếu, chứng quyền và các loại giấy tờ có giá, người ta không dựa vào giá trị danhnghĩa ghi trên những giấy tờ này, mà dựa vào lợi tức mà chúng mang lại cho người sở hữu.Thông thường giá mua bán cổ phiếu, trái phiếu được xác định bằng số tiền mà nếu đem gửivào ngân hàng sẽ thu được lãi suất bằng với lợi tức mà cổ phiếu, trái phiếu mang lại

Ví dụ, một cổ phiếu mỗi năm đem lại lợi tức là 50 USD và lãi suất gửi ngân hàng tại thời điểmđó là 5%/năm; trên thị trường, cổ phiếu đó sẽ được bán với giá là:

50 x 100 = 1.000 USD 5

Trang 15

Cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán có giá được gọi là tư bản giả bởi tự bản thânchúng không có giá trị Giá trị danh nghĩa ghi trên cổ phiếu, trái phiếu chỉ là bản sao, là sự ghichép lại giá trị thật của chúng đã đầu tư vào sản xuất Tư bản thật được đầu tư vào sản xuấtdưới hình thức nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu Sự vận động của tư bản thậtgắn liền với sự vận động của sản xuất, còn các tư bản giả tồn tại bên ngoài sản xuất, khôngtham gia vào quá trình sản xuất, chỉ là một tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu và quyền đượchưởng thu nhập sau một thời gian nhất định.

Thương hiệu (danh tiếng):

Thương hiệu là tên gọi, thuật ngữ, thiết kế, hình tượng hoặc các dấu hiệu khác giúp phân biệtmột tổ chức hoặc một sản phẩm với đối thủ trong mắt của người tiêu dùng

Trong thực tế ngày nay, thương hiệu của một doanh nghiệp hay danh tiếng của một cá nhâncũng có thể được trao đổi, mua bán, được định giá, tức chúng có giá cả, thậm chí có giá cả cao.Đây là những yếu tố có tính hàng hóa và gần với lý luận hàng hóa của C.Mác Bởi lẽ, thươnghiệu hay danh tiếng không phải tự nhiên mà có được, nó phải là kết quả nỗ lực của sự hao phísức lao động của người nắm giữ thương hiệu, thậm chí là của nhiều người

Vai trò và các chức năng của thị trường.

Khái niệm về thị trường:

Thị trường ra đời, phát triển gắn liền với sự phát triển của sản xuất hàng hoá Cùng với sự pháttriển nhanh chóng của sản xuất, khái niệm thị trường cũng có nhiều thay đổi

Theo nghĩa hẹp, thị trường là nơi diễn ra hành vi trao đổi, mua bán hàng hoá giữa các chủ thể

kinh tế với nhau Tại đó, người có nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ sẽ nhận được thứ mà mình cầnvà ngược lại, người có hàng hoá, dịch vụ sẽ nhận được một số tiền tương ứng Như vậy, thịtrường có thể là chợ, cửa hàng, quầy hàng lưu động, văn phòng giao dịch hay siêu thị; cũng cóthể, thị trường là chỗ ta đang ngồi gọi điện thoại hỏi giá cả, thỏa thuận đặt hàng, yêu cầu chởhàng đến một nơi nào đó Theo nghĩa này, thị trường là hữu hình, phù hợp giai đoạn thị trườngmới hình thành

Theo nghĩa rộng, thị trường là tổng hòa các mối quan hệ liên quan đến trao đổi, mua bán hànghóa, dịch vụ trong xã hội, được hình thành do những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội nhấtđịnh Theo nghĩa này, thị trường là tổng thể các mối quan hệ kinh tế gồm cung, cầu, giá cả;quan hệ hàng - tiền; quan hệ giá trị, giá trị sử dụng; quan hệ hợp tác, cạnh tranh; quan hệ trongnước, ngoài nước Cùng với đó là các yếu tố kinh tế như nhu cầu (người mua hàng); ngườibán; tiền - hàng; dịch vụ mua bán Tất cả các quan hệ và yếu tố kinh tế này được vận độngtheo quy luật của thị trường

Vai trò của thị trường:

Trang 16

Trong sản xuất, trao đổi hàng hóa nói chung và trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, thịtrường có vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện trên các mặt cơ bản sau:

- Thị trường vừa là điều kiện, vừa là môi trường cho sản xuất phát triển

Thị trường phát triển cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa Sản xuất hànghóa càng phát triển, sản xuất ra càng nhiều hàng hóa và dịch vụ thì thị trường cũng phát triểnvà mở rộng theo Sự mở rộng thị trường đến lượt nó lại thúc đẩy trở lại sản xuất phát triển Vìvậy, thị trường là môi trường kinh doanh, là điều kiện không thể thiếu được của quá trình sảnxuất kinh doanh

- Thị trường là đầu ra của sản xuất, là cầu nối của sản xuất và tiêu dùng

Thị trường đặt ra các nhu cầu tiêu dùng, buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại phải luôn nắmbắt được các nhu cầu đó; việc định hướng mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp cũng phải xuấtphát từ những nhu cầu đó Không có thị trường thì sản xuất và trao đổi hàng hóa không thể tiếnhành được Vì vậy, thị trường là lực lượng hướng dẫn, định hướng nhu cầu cho sản xuất kinhdoanh - Thị trường là nơi quan trọng để đánh giá, kiểm nghiệm, chứng minh tính đúng đắn củachủ trương, chính sách, biện pháp kinh tế

Thị trường cũng kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các phương án hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệpluôn phải có sự tính toán, cân nhắc trước khi ra quyết định Thị trường có chấp nhận, kháchhàng có ưa chuộng sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp thì mới chứng minh được phương ánkinh doanh đó là có hiệu quả và ngược lại Vì vậy, thị trường là thước đo hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp

- Thị trường điều chỉnh sản xuất, gắn sản xuất với tiêu dùng, liên kết nền kinh tế thành một thểthống nhất, gắn các quá trình kinh tế trong nước với các quá trình kinh tế thế giới

Để sản xuất hàng hoá, xã hội phải bỏ ra các chi phí sản xuất và chi phí lưu thông Thông quahệ thống giá cả thị trường, người sản xuất có thể nhận biết được sự phân bố các nguồn lực đãhợp lý chưa Vì vậy, thị trường là nơi kiểm nghiệm các chi phí và thực hiện yêu cầu quy luậttiết kiệm lao động xã hội Thị trường phá vỡ ranh giới sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc để tạothành hệ thống nhất định trong nền kinh tế quốc dân, làm cho nền kinh tế trong nước gắn liềnvới nền kinh tế thế giới

Thị trường là khách quan, các chủ thể kinh tế không có khả năng làm thay đổi thị trường màngược lại, phải tiếp cận để thích ứng với thị trường nhằm xác định thế mạnh kinh doanh trên

cơ sở đòi hỏi của thị trường Tuân theo các quy luật thị trường, phát huy khả năng sẵn có làphương châm hoạt động hiệu quả của người sản xuất trong cơ chế thị trường

Các chức năng chủ yếu của thị trường:

Trang 17

- Chức năng thừa nhận: Thị trường là nơi thừa nhận công dụng, tính có ích hay giá trị sử dụng

của hàng hoá, thừa nhận chi phí lao động để sản xuất ra hàng hoá Nếu sản phẩm của người sảnxuất tiêu thụ được trên thị trường, tức là hàng hóa đã được thị trường thừa nhận giá trị và giátrị sử dụng Khi đó, quá trình tái sản xuất mới tiếp tục diễn ra bình thường Chức năng này đòihỏi các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phải tìm hiểu kỹ thị trường,đặc biệt là nhu cầu thị trường; phải xác định cho được thị trường cần gì, khổ lượng bao nhiêu để hàng hóa sản xuất ra có thể tiêu thụ được

- Chức năng thực hiện: Thông qua các hoạt động trao đổi trên thị trường, người mua, người

bán thực hiện được các mục đích của mình Người bán nhận tiền và chuyển quyền sở hữu chongười mua Đổi lại, người mua trả tiền cho người bán để có được giá trị sử dụng của hàng hoá

Vì vậy, thị trường là nơi thực hiện các hành vi trao đổi hàng hóa, thực hiện giá trị hàng hóa vàthực hiện cân bằng cung, cầu từng loại hàng hóa thông qua giá cả thị trường

- Chức năng thông tin: Thị trường là nơi phát tín hiệu, thông tin về tình hình cung, cầu trên thị

trường, thông tin về sự biến động của nền kinh tế Căn cứ thông tin trên thị trường, người sảnxuất kinh doanh đưa ra được các quyết định, hành vi ứng xử cụ thể của mình nhằm thu đượclợi ích lớn nhất Vì vậy, thị trường là nơi cung cấp thông tin cho người sản xuất lẫn người tiêudùng Chức năng này đòi hỏi người sản xuất phải tổ chức tốt hệ thống thông tin của mình, cóphương pháp thu thập, xử lý thông tin kịp thời để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, kếhoạch phát triển thị trường phù hợp

- Chức năng điều tiết và kích thích: Do cạnh tranh, người sản xuất phải không ngừng cải tiến

kỹ thuật, đổi mới công nghệ để hạ giá thành Người nào có sản phẩm chất lượng cao, giá cảthấp sẽ được thị trường lựa chọn; ngược lại, người nào đưa ra thị trường sản phẩm kém phẩmchất, giá thành cao sẽ bị đào thải Thị trường hoạt động như một trọng tài khách quan, dân chủtrong việc chọn lọc các yếu tố tiến bộ, có ích cho xã hội Với chức năng trên, thị trường thựchiện việc chọn lọc, đào thải, kích thích hoặc hạn chế sản xuất, tiêu dùng, bảo đảm cho sản xuấtphù hợp với nhu cầu xã hội

Phân loại thị trường:

Phân loại thị trường là việc sắp xếp thị trường theo những tiêu thức nhất định để các nhà sảnxuất kinh doanh nhận biết những đặc điểm chủ yếu của từng loại thị trường; từ đó nghiên cứuvà có chiến lược kinh doanh cho phù hợp Có nhiều cách khác nhau để phân loại thị trường,tuỳ theo mục đích nghiên cứu, hoặc theo các tiêu thức khác nhau Có thể nêu một số cách phânloại chủ yếu sau:

Căn cứ vào đối tượng hàng hóa đưa ra trao đổi, mua bán trên thị trường, ta có thị trường

tư liệu sản xuất và thị trường tư liệu tiêu dùng.

Trang 18

- Thị trường tư liệu sản xuất là thị trường mua bán các loại tư liệu sản xuất, các yếu tố sản xuấtnhư máy móc, nguyên nhiên vật liệu, công nghệ, vốn, lao động, thị trường ngoại tệ, thị trườngchứng khoán

- Thị trường tư liệu tiêu dùng là thị trường ở đó người ta mua bán hàng tiêu dùng hay dịch vụcho tiêu dùng như lúa gạo, quần áo, thực phẩm, thủy sản Tính đa dạng, phong phú về nhucầu của người tiêu dùng sẽ quyết định tính phong phú, đa dạng của thị trường tư liệu tiêu dùng

Căn cứ vào vai trò của người mua, người bán trên thị trường, ta có thị trường người bán và thị trường người mua.

- Thị trường người bán là thị trường mà vai trò quyết định thuộc về người bán Giá cả bị áp đặt,cạnh tranh bị thủ tiêu hoặc không đủ điều kiện để hoạt động; nhiều mặt hàng, loại hàng cungứng ra thị trường không theo yêu cầu của thị trường, vai trò của người mua bị thủ tiêu Thịtrường người bán thường xuất hiện ở những nền kinh tế sản xuất hàng hoá kém phát triển, hoặcở nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, ở thị trường này người mua đóng vai trò thụđộng

- Thị trường người mua là thị trường mà vai trò quyết định trong quan hệ mua bán thuộc vềngười mua; người mua là yếu tố quyết định của quá trình tái sản xuất hàng hoá Trong nền kinhtế thị trường, vai trò của người mua là trung tâm, khách hàng là “thượng đế” và luôn quán triệtquan điểm bán cái mà thị trường cần chứ không chỉ bán cái mà mình có Tức là sản xuất phảinghiên cứu nhu cầu của thị trường, nhu cầu của khách hàng để đáp ứng Thị trường người mualà môi trường khách quan cho sự hoạt động của các quy luật kinh tế thị trường

Căn cứ vào phạm vi hoạt động, ta chia ra thị trường trong nước (thị trường dân tộc) và thị trường thế giới.

- Thị trường trong nước là nơi diễn ra các hoạt động mua bán của những người trong cùng mộtquốc gia Các quan hệ kinh tế diễn ra trong mua bán chỉ ảnh hưởng đến các vấn đề kinh tế -chính trị - xã hội trong phạm vi nước đó

- Thị trường thế giới là nơi diễn ra hoạt động mua bán giữa các nước với nhau Quan hệ kinh tếdiễn ra trên thị trường thế giới ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế của mỗi nước

Căn cứ vào tính chất và cơ chế vận hành của thị trường có: thị trường tự do, thị trường có điều tiết, thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo (độc quyền).

- Thị trường tự do là thị trường hoàn toàn do các quy luật kinh tế trên thị trường quyết định,không có bất cứ sự can thiệp nào của nhà nước -

- Thị trường có điều tiết là thị trường có sự can thiệp, điều tiết của nhà nước đối với các quanhệ trao đổi, mua bán

Trang 19

- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có nhiều người mua, nhiều người bán; khi họtham gia hay rút khỏi thị trường thì không ảnh hưởng đến thị trường.

- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo (cạnh tranh mang tính độc quyền hoặc độc quyềnmang tính cạnh tranh) là thị trường có nhiều người bán, người mua cạnh tranh lẫn nhau Sảnphẩm có sự chênh lệch nhất định; các doanh nghiệp có thể rút khỏi thị trường một cách dễdàng; nếu doanh nghiệp nào có uy tín trên thị trường thì sẽ có lợi

Tóm lại, thị trường là lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm Sự hình thành và phát triển thị trường gắnliền với phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội càng phát triển thì các quan hệthị trường càng đa dạng, phong phú Quan hệ giữa các chủ thể kinh tế trên thị trường là quanhệ bình đẳng, thuận mua vừa bán theo giá cả thị trường

Ưu thế của nền kinh tế thị trường

- Một là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự hình thành ý tưởng mới

của các chủ thể kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường các chủ thể luôn có cơ hội để tìm ra động lực cho sự sáng tạo củamình Thông qua vai trò của thị trường mà nền kinh tế thị trường trở thành phương thức hữuhiệu kích thích sự sáng tạo trong hoạt động của các chủ thể kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi chohoạt động tự do của họ, qua đó, thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất, làmcho nền kinh tế hoạt động năng động, hiệu quả Nền kinh tế thị trường chấp nhận mọi ý tưởngsáng tạo mới trong thực hiện sản xuất kinh doanh và quản lý Nền kinh tế thị trường tạo môitrường rộng mở cho các mô hình kinh doanh mới theo đà phát triển của xã hội

- Hai là, nền kinh tế thị trường luôn thực hiện phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ thể, các

vùng miền cũng như lợi thế quốc gia trong quan hệ với thế giới

Trong nền kinh tế thị trường, mọi tiềm năng, lợi thế đều có thể được phát huy, đều có thể trởthành lợi ích đóng góp cho xã hội Thông qua vai trò gắn kết của thị trường mà nền kinh tế thịtrường trở thành phương thức hiệu quả hơn hẳn so với nền kinh tế tự cấp tự túc hay nền kinh tếkế hoạch hóa để phát huy tiềm năng, lợi thế của từng thành viên, từng vùng miền trong quốcgia, của từng quốc gia trong qian hệ kinh tế với phần còn lại của thế giới

- Ba là, nền kinh tế thị trường tạo luôn tạo ra phương pháp để thỏa mãn tối đa nhu cầu của con

người, từ đó thúc đẩy tiến bộ, văn minh xã hội

Trong nền kinh tế thị trường, các thành viên của xã hội luôn có thể tìm thấy cơ hội tối đa đểthỏa mãn như cầu của mình Nền kinh tế thị trường với sự tác động của các quy luật thị trườngluôn tạo ra phù hợp giữa khối lượng, cơ cấu nhu cầu tiêu dùng của xã hội Nhờ đó nhu cầu tiêudùng về các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau được đáp ứng kịp thời, người tiêu dùng được

Trang 20

thỏa mãn nhu cầu cũng như đáp ứng mọi chủng loại hàng hóa, dịch vụ Thông qua đó, nền kinhtế thị trường trở thành phương thức để thúc đẩy văn minh, tiến bộ xã hội.

Khuyết tật của nền kinh tế thị trường

Bên cạnh những ưu thế kinh tế thị trường cũng như những khuyết tật vốn có

Những khuyết tật chủ yếu của kinh tế thị trường bao gồm:

Một là, xét trên phạm vi toàn bộ nền sản xuất xã hội, nền kinh tế thị tường luôn tìm ẩn những

rủi ro khủng hoảng

Trong kinh tế thị trường, rủi ro về khủng hoảng luôn tìm ẩn, khủng hoảng có thể diễn ra cục bộcó thể diễn ra trong phạm vi tổng thể Khủng hoảng có thể xảy ra với mọi loại hình thị trường,với mọi nền kinh tế thị trường Sự khó khăn đối với các nền kinh tế thị trường thể hiện ở chỗcác quốc gia rất khó dự báo chính xác thời điểm xảy ra khủng hoảng nền kinh tế thị trườngkhông tự khắc phục được những rủi ro tìm ẩn này do sự vận động tự phát của các quy luật kinhtế Tính tự phát này bên cạnh ý nghĩa tích cực, còn gây ra các rủi ro tìm ẩn dẫn đến khủnghoảng Đây là thách thức với nền kinh tế thị trường

Hai là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được xu hướng cạn kiệt tài nguyên không

thể cải tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội

Do phần lớn các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn đặt mục tiêu tìmkiếm lợi nhuận tối đa nên luôn tạo ra ảnh hưởng tiềm ẩn đối với nguồn lực tài nguyên, suythoái môi trường Cũng vì động cơ lợi nhuận các chủ thể sản xuất kinh doanh có thể vi phạmnguyên tắc đạo đức để chạy theo mục tiêu làm giàu thậm chí phi pháp, góp phần gây ra sự xóimòn đạo đức kinh doanh, thậm chí cả đạo đức xã hội Đây là những mặt trái mang tính khuyếttật của bản thân nền kinh tế thị trường Cũng vì mục tiêu lợi nhuận, các chủ thể hoạt động sảnxuất kinh doanh có thể không tham gia vào các lĩnh vực thiết yếu cho nền kinh tế nhưng có lợinhuận kì vọng thấp rủi ro cao, quy mô đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài Tự nền kinh tế thịtrường không thể khắc phục được các khuyết tật này

Ba là, nền kinh tế thị trường không khắc phục được hiện tượng phân hóa sâu sắc trong xã hội.

Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng phân hóa xã hội về thu nhập, về cơ hội là tất yếu Bảnthân nền kinh tế thị trường không thể tự khắc phục được khía cạnh phân hóa xu hướng sâu sắc.Các quy luật thị trường luôn phân bổ lợi ích theo mức độ và loại hình hoạt động tham gia thịtrường, cộng với các tác động cạnh tranh mà dẫn đến sự phân hóa như một tất yếu Đây làkhuyết tật của nền kinh tế thị trường cần phải có sự bổ sung và điều tiết bởi vai trò của nhànước

Do những khuyết tật của kinh tế thị trường nên trong thực tế không tồn tại một nền kinh tế thịtrường thuần túy, mà thường có sự can thiệp của nhà nước để sửa chữa những thất bại của cơ

Trang 21

chế thị trường Khi đó, nền kinh tế được gọi là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhànước hay nền kinh tế hỗn hợp.

Quy luật giá trị.

Là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ởđó có sự hoạt động của quy luật giá trị

Về nội dung: Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được tiến hành

trên cơ sở của hao phí lao động xã hội cần thiết

Yêu cầu của quy luật giá trị: Trong sản xuất, người sản xuất muốn bán được hàng hóa trên thị

trường, muốn được xã hội thừa nhận thì lượng giá trị của một hàng hoá cá biệt phải phù hợpvới thời gian lao động xã hội cần thiết Vì vậy, họ phải luôn luôn tìm cách hạ thấp hao phí laođộng cá biệt xuống nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết Trong lĩnh vực traođổi, phải tiến hành theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị xã hội làm cơ sở, không dựa trên giátrị cá biệt

Cơ chế hoạt động của quy luật giá trị: Quy luật giá trị hoạt động và phát huy tác dụng thông

qua sự vận động của giá cả xung quanh giá trị dưới sự tác động của quan hệ cung - cầu Giá cảthị trường lên xuống xoay quanh giá trị hàng hóa trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị.Thông qua sự vận động của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị.Những người sản xuất và trao đổi hàng hóa phải tuân theo mệnh lệnh của giá cả thị trường

Tác động của quy luật giá trị:

Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa

Trong sản xuất, thông qua sự biến động của giá cả, người sản xuất sẽ biết được tình hình cung

- cầu về hàng hóa đó và quyết định phương án sản xuất Nếu giá cả hàng hóa bằng giá trị thìviệc sản xuất là phù hợp với yêu cầu xã hội; hàng hoá này nên được tiếp tục sản xuất Nếu giácả hàng hóa cao hơn giá trị, sản xuất cần mở rộng để cung ứng hàng hoá đó nhiều hơn vì nóđang khan hiếm trên thị trường; tư liệu sản xuất và sức lao động sẽ được tự phát chuyển vàongành này nhiều hơn các ngành khác Nếu giá cả hàng hóa thấp hơn giá trị, cung về hàng hoánày đang thừa so với nhu cầu xã hội; cần phải thu hẹp sản xuất ngành này để chuyển sang mặthàng khác

Trong lưu thông, quy luật giá trị điều tiết hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao,từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu Thông qua mệnh lệnh của giá cả thị trường,hàng hoá ở nơi có giá cả thấp được thu hút, chảy đến nơi có giá cả cao hơn, góp phần làm chocung - cầu hàng hoá giữa các vùng cân bằng, phân phối lại thu nhập giữa các vùng, miền, điềuchỉnh sức mua của thị trường (nếu giá cao thì mua ít, giá thấp thì mua nhiều)

Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất nhằm tăng năng suất lao động.

Trang 22

Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội Người sản xuất có giá trị cá biệtnhỏ hơn giá trị xã hội, khi bán theo giá trị xã hội sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn Ngược lại,người sản xuất có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội sẽ gặp bất lợi hoặc thua lỗ Để đứngvững trong cạnh tranh và tránh không bị phá sản, người sản xuất phải luôn tìm cách làm chogiá trị cá biệt hàng hóa của mình nhỏ hơn hoặc bằng giá trị xã hội Muốn vậy, phải cải tiến kỹthuật, áp dụng công nghệ mới, đổi mới phương pháp quản lý, thực hiện tiết kiệm Kết quả, lựclượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động xã hội tăng lên, chi phí sản xuất hànghóa giảm xuống.

Trong lưu thông, để bán được nhiều hàng hóa, người sản xuất phải không ngừng tăng chấtlượng phục vụ, quảng cáo, tổ chức tốt khâu bán hàng làm cho quá trình lưu thông được hiệuquả cao hơn, nhanh chóng, thuận tiện với chi phí thấp nhất

Thứ ba, phân hoá những người sản xuất thành những người giàu, người nghèo một cách

tự nhiên.

Trong quá trình cạnh tranh, những người sản xuất nhạy bén với thị trường, trình độ năng lựcgiỏi, sản xuất với hao phí cá biệt thấp hơn mức hao phí chung của xã hội nên lãi nhiều Nhữngngười này sẽ mở rộng quy mô sản xuất, trở nên giàu có, phát triển thành ông chủ Ngược lại,những người do hạn chế về vốn, kinh nghiệm sản xuất thấp kém, trình độ công nghệ lạc hậu thì giá trị cá biệt sẽ cao hơn giá trị xã hội Những người này dễ lâm vào tình trạng thua lỗ, dẫnđến phá sản, thậm chí phải đi làm thuê Trong nền kinh tế thị trường thuần túy, chạy theo lợiích cá nhân, dầu cơ, gian lận, khủng hoảng kinh tế là những yếu tố có thể làm tăng thêm tácđộng phân hóa sản xuất cùng những tiêu cực về kinh tế - xã hội khác Những tác động tiêu cựcnày có thể hạn chế nếu có sự điều tiết, can thiệp của nhà nước

Tóm lại, quy luật giá trị vừa có tác dụng đào thải cái lạc hậu, lỗi thời, kích thích sự tiến bộ, làmcho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ; vừa có tác dụng lựa chọn, đánh giá người sản xuất,bảo đảm sự bình đẳng đối với người sản xuất; vừa có cả những tác động tiêu cực Các tác độngđó diễn ra một cách khách quan trên thị trường nên cần có sự điều tiết của nhà nước để hạn chếtiêu cực, thúc đẩy tác động tích cực

Quy luật cung - cầu

Là quy luật kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường Quy luật này đòihỏi cung - cầu phải có sự thống nhất, nếu không có sự thống nhất giữa chúng thì sẽ có các nhântố xuất hiện điều chỉnh chúng

Cung phản ánh khối lượng sản phẩm hàng hoá được sản xuất và đưa ra thị trường để bán Cung

do sản xuất quyết định song không đồng nhất với sản xuất Chỉ những sản phẩm hàng hóađược đưa ra thị trường mới tạo thành cung

Trang 23

Cầu phản ánh nhu cầu tiêu dùng có khả năng thanh toán của xã hội Cầu không đồng nhất vớitiêu dùng, vì nó không phải là nhu cầu tự nhiên, nhu cầu bất kỳ theo nguyện vọng tiêu dùngchủ quan của con người, mà phụ thuộc vào khả năng thanh toán Chỉ những nhu cầu có khảnăng thanh toán mới tạo thành cầu trong kinh tế.

Mối quan hệ cung - cầu: Trên thị trường, cung - cầu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thường

xuyên tác động lẫn nhau theo hướng cầu xác định cung và ngược lại cung thúc đẩy, kích thíchcầu Cầu xác định khối lượng, chất lượng và chủng loại cung về hàng hoá vì những hàng hoánào tiêu thụ được thì mới được tái sản xuất Ngược lại, cung tạo ra cầu, kích thích tăng cầuthông qua phát triển số lượng, chất lượng, mẫu mã, chủng loại hàng hoá, hình thức, quy cáchvà giá cả của nó

Cung - cầu tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả Nếu cung lớn hơn cầu thì giácả thấp hơn giá trị; ngược lại, nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị; nếu cung bằngcầu thì giá cả bằng với giá trị Đây là sự tác động phức tạp theo nhiều hướng và nhiều mức độkhác nhau

Tác dụng của quy luật cung - cầu: Quy luật cung - cầu có tác dụng điều tiết quan hệ sản xuất

và lưu thông hàng hoá; làm thay đổi cơ cấu và quy mô thị trường, quyết định giá cả thị trường.Căn cứ quan hệ cung - cầu có thể dự đoán xu thế biến động của giá cả; khi giá cả thay đổi, cầnđưa ra các chính sách điều tiết giá cho phù hợp nhu cầu thị trường

Quy luật cung cầu tác động khách quan và rất quan trọng Ở đâu có thị trường thì ở đó quy luậtcung - cầu tồn tại và hoạt động một cách khách quan Nếu nhận thức được chúng thì có thể vậndụng để tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi cho quá trình sản xuất.Nhà nước có thể vận dụng quy luật cung - cầu thông qua các chính sách, các biện pháp kinh tếnhư giá cả, lợi nhuận, tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cơ cấu tiêu dùng để tác độngvào các hoạt động kinh tế

Quy luật cạnh tranh

Quy luật cạnh tranh là quy luật kinh tế nói lên mối quan hệ cạnh tranh tất yếu giữa những chủthể trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá

Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa những chủ thể trong sản xuất kinhdoanh nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hànghoá để thu nhiều lợi ích nhất cho mình

Mục đích của người sản xuất là thu được lợi nhuận tối đa Tuy nhiên, mỗi người lại có điềukiện sản xuất khác nhau (khác nhau về trình độ, số lượng vốn, nguồn nguyên liệu, thị trường,thời gian, không gian ) Để giành giật các điều kiện thuận lợi cho mình, họ phải cạnh tranh.Hơn nữa, những điều kiện sản xuất lại luôn thay đổi, biến động; do đó cạnh tranh lại không

Trang 24

ngừng tiếp diễn Vì vậy, cạnh tranh là một hoạt động chủ yếu, tất yếu của mỗi chủ thể kinh tếtrên thị trường nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của mình với mục đích tối đa hoá lợi ích,chống lại hoạt động của các đối thủ cạnh tranh.

Quan hệ cạnh tranh bao gồm cạnh tranh giữa người bán và người mua, người bán với ngườibán, người mua với người mua; cạnh tranh trong nội bộ ngành, giữa các ngành; cạnh tranhtrong nước và quốc tế; cạnh tranh giữa các tổ chức có liên quan Các mối quan hệ cạnh tranhnày có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp

Các chủ thể cạnh tranh bao gồm người sản xuất, người tiêu dùng, người mua, người bán, ngườicung ứng các dịch vụ, cung ứng nguyên vật liệu, các tổ chức, các trung gian Nội dung củacạnh tranh là chiếm các nguồn nguyên liệu, giành các nguồn lực sản xuất, khoa học kỹ thuật,chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ, giành nơi đầu tư, giành hợp đồng, đơn đặt hàng

Tác động tích cực của cạnh tranh: Cạnh tranh là động lực thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ khoa học

và sự phát triển lực lượng sản xuất Cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén,thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, thay đổi phương thức tổ chức quản lýhiệu quả hơn, đổi mới sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường và xã hội tốt hơn Ở đâu cóđộc quyền, thiếu cạnh tranh thì ở đó trì trệ, bảo thủ, kém hiệu quả vì mất đi cơ chế có tác dụngđào thải lạc hậu, bình tuyển tiến bộ

Mặt trái của cạnh tranh: là phân hoá người sản xuất; gây rối, phá hoại thị trường; cạnh tranh

bằng các thủ đoạn phi đạo đức, vi phạm luật pháp để thu lợi cá nhân, gây tổn hại lợi ích tập thểvà xã hội Điều này đòi hỏi nhà nước phải có biện pháp để hạn chế, ngăn chặn mặt trái củacạnh tranh

Nguồn gốc của giá trị thặng dư.

- Công thức chung của tư bản:

Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, do đó có biểuhiện giống như nền kinh tế hàng hóa thông qua sự vận động của các yếu tố cơ bản là hàng hóavà tiền, những hoạt động kinh tế cơ bản là mua và bán, những quan hệ kinh tế cơ bản là giữangười mua và người bán Tuy nhiên, nếu như lưu thông hàng hóa, biểu hiện qua công thức H -

T - H, có mục đích chủ yếu là giá trị sử dụng thì mục đích của lưu thông tư bản lại là giá trị,biểu hiện qua công thức T - H – T’, và đặc biệt là giá trị thặng dư với tư cách là nguồn làmgiàu cho chủ tư bản, do đó công thức chung của lưu thông tư bản phải là T - H – T’, trong đóT’ = T + t C.Mác gọi t là giá trị thặng dư

Để có được giá trị thặng dư mà vẫn tuân thủ các quy luật khách quan của nền kinh tế hàng hóa,đặc biệt là quy luật giá trị, thì trên thị trường cần xuất hiện phổ biến một loại hàng hóa có giá

Trang 25

trị sử dụng đặc biệt là tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Hàng hóa đó là hànghóa sức lao động.

- Hàng hóa sức lao động:

Sức lao động: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinhthần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụngmỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”

Hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:

Một là, người lao động có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức laođộng của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một thứ hàng hoá

Hai là, người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất để tự kết hợp với sức lao động củamình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường hiện đại, sức lao động vẫn là một trong những hàng hóaphổ biến và quan trọng, tuy nhiên những điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa có sựthay đổi lớn Người lao động có thể bán sức lao động khi lao động làm thuê có thể mang lại lợiích cao hơn

Hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính:

Giá trị của hàng hoá sức lao động: “Giá trị của sức lao động, cũng như của mọi hàng hóa khác,được quyết định bởi số thời gian lao động cần thiết để sản xuất, và do đó, để tái sản xuất ra thứsản phẩm đặc biệt ấy” Quá trình đó chỉ có thể thực hiện với một lượng tư liệu sinh hoạt nhấtđịnh, vì vậy “thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian laođộng cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy, hay nói một cách khác, giá trị của sứclao động là giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của con người cósức lao động ấy”

Giá trị hàng hóa sức lao động không những bao gồm giá trị của những tư liệu sinh hoạt cầnthiết để tái sản xuất sức lao động ở mức giản đơn, mà còn bao gồm giá trị những tư liệu sinhhoạt cho con cái những người công nhân và chi phí đào tạo, đồng thời chịu ảnh hưởng lớn củacác yếu tố tinh thần và lịch sử Cho nên, cấu thành giá trị của hàng hoá sức lao động sẽ baogồm:

Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái sản xuất ra sức lao động.Hai là, phí tổn đào tạo người lao động

Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần) để nuôi con của người laođộng

Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng là để thỏa mãn nhu cầu của người mua, chỉ thểhiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa,

“quá trình tiêu dùng sức lao động đồng thời cũng là quá trình sản xuất ra hàng hóa và giá trị

Trang 26

thặng dư” Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có tính năng đặc biệt mà không hàng hoáthông thường nào có được, đó là khi sử dụng nó không những giá trị của nó được bảo tồn màcòn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn Đây chính là chìa khoá chỉ rõ nguồn gốc của giá trị lớnhơn cho nhà tư bản.

Sự sản xuất giá trị thặng dư

Sản xuất giá trị thặng dư trước hết là sản xuất hàng hóa, là quá trình kết hợp sức lao động với

tư liệu sản xuất để tạo ra một giá trị sử dụng với quy cách, phẩm chất nhất định nhằm đáp ứngnhu cầu thị trường Tuy nhiên, đó là quá trình kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuấtmà nhà tư bản đã mua được, nên có những đặc điểm khác biệt so với sản xuất hàng hóa giảnđơn: công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sản phẩm làm ra thuộc sở hữucủa nhà tư bản Đồng thời đó là quá trình sản xuất giá trị và giá trị thặng dư dựa trên cơ sở củaquy luật giá trị

Ví dụ quá trình sản xuất giá trị thặng dư:

Giả sử sản xuất giá trị thặng dư được thực hiện dưới hình thái sản xuất cụ thể là sản xuất sợi.Để tiến hành sản xuất sợi, nhà tư bản phải ứng ra số tiền là 20 USD để mua 1 kg bông, 3 USDchi phí hao mòn máy móc để kéo 1 kg bông thành sợi, 5 USD mua hàng hoá sức lao động đểsử dụng trong 1 ngày làm việc 8 giờ Tổng cộng mất 28 USD Trong quá trình sản xuất sợi,bằng lao động cụ thể, người công nhân kéo bông thành sợi, theo đó giá trị của bông và haomòn máy móc được chuyển vào giá trị của sợi; bằng lao động trừu tượng người công nhân tạo

ra giá trị mới, giả định, trong 4 giờ lao động công nhân đã chuyển toàn bộ 1 kg bông thành sợi.Giá trị sợi gồm:

Giá trị 1 kg bông chuyển vào: 20 USD

Hao mòn máy móc: 3 USD

Giá trị mới bằng giá trị sức lao động: 5 USD

Tổng cộng: 28 USD

Nhà tư bản ứng ra 28 USD, bán sợi thu về 28 USD Nếu quá trình lao động dừng lại tại điểmnày thì không có giá trị thặng dư, tiền ứng ra chưa trở thành tư bản Do đó, để có giá trị thặng

dư thời gian lao động phải vượt quá cái điểm bù lại giá trị sức lao động Nhà tư bản mua sứclao động của công nhân để sử dụng trong 8 giờ chứ không phải 4 giờ Công nhân phải tiếp tụclàm việc trong 4 giờ nữa, nhà tư bản chỉ phải tốn thêm 20 USD để mua 1 kg bông và 3 USDhao mòn máy móc Quá trình lao động 4 giờ sau diễn ra như quá trình đầu Số sợi được tạo ratrong 4 giờ lao động sau cũng có giá trị 28 USD Tổng cộng, nhà tư bản ứng ra 40 USD + 6USD + 5 USD = 51 USD, trong khi đó số sợi sản xuất ra có giá trị 56 USD Do đó, nhà tư bảnthu được lượng giá trị thặng dư là 56 USD – 51 USD = 5 USD

Trang 27

Như vậy, giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhânlàm thuê tạo ra và thuộc về nhà tư bản Quá trình sản xuất giá trị thặng dư không chỉ là sựthống nhất giữa sản xuất giá trị sử dụng và giá trị, mà còn là sự thống nhất giữa sản xuất giá trịsử dụng và giá trị thặng dư Đó là quá trình sản xuất giá trị, nhưng kéo dài quá một điểm, mànếu dừng lại ở điểm đó thì giá trị mới do công nhân làm thuê tạo ra mới chỉ đạt mức ngangbằng giá trị sức lao động Xét theo phương diện tạo ra giá trị mới và giá trị thặng dư, ngày laođộng được chia thành hai phần: thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư Từđó có thể khẳng định, nguồn gốc của giá trị thặng dư cũng như giá trị phải là lao động sản xuất

đã kết tinh trong hàng hóa, song đó là lao động được thực hiện bởi công nhân làm thuê nhưngngười nhận được là nhà tư bản

Tư bản bất biến, tư bản khả biến; Tuần hoàn, chu chuyển của tư bản; Tư bản cố định và

tư bản lưu động

- Tư bản bất biến, tư bản khả biến:

Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được lao động cụ thể của côngnhân làm thuê bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm, tức là giá trị không biến đổitrong quá trình sản xuất, được C.Mác gọi là tư bản bất biến (ký hiệu là c) Tư bản bất biếnkhông tạo ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện hết sức cần thiết để tạo ra giá trị thặng dư

Bộ phận tư bản khả biến thành sức lao động thì khác Giá trị của nó được chuyển cho côngnhân làm thuê, biến thành tư liệu sinh hoạt cần thiết và mất đi trong quá trình tái sản xuất sứclao động của công nhân làm thuê

Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất, công nhân làm thuê bằng lao động trừu tượng tạo ra giá trịmới với lượng lớn hơn giá trị sức lao động Bộ phận tư bản đó không tái hiện ra, nhưng thôngqua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về số lượng trongquá trình sản xuất, được C.Mác gọi là tư bản khả biến (ký hiệu là v)

Để có giá trị thặng dư, nhà tư bản không những cần phải thực hiện quá trình sản xuất giá trịthặng dư, mà còn cần phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình đó và thực hiện giá trị,giá trị thặng dư chứa đựng trong những hàng hóa đã được sản xuất ra Tổng thể những hoạtđộng đó biểu hiện sự vận động tuần hoàn của tư bản

Tuần hoàn, chu chuyển của tư bản:

Tuần hoàn của tư bản là sự vận động của tư bản lần lượt trải qua ba giai đoạn dưới ba hình tháikế tiếp nhau (tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất, tư bản hàng hóa) gắn với thực hiện những chứcnăng tương ứng (chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư, thực hiện giátrị thặng dư) và quay trở về hình thái ban đầu cùng với giá trị thặng dư

Trang 28

Chu chuyển của tư bản là tuần hoàn của tư bản được xét với tư cách là quá trình định kỳ,thường xuyên lặp đi lặp lại và đổi mới theo thời gian Chu chuyển của tư bản được đo lườngbằng thời gian chu chuyển hoặc tốc độ chu chuyển của tư bản Thời gian chu chuyển của tưbản là khoảng thời gian mà một tư bản kể từ khi được ứng ra dưới một hình thái nhất định chođến khi quay trở về dưới hình thái đó cùng với giá trị thặng dư Tốc độ chu chuyển của tư bảnlà số lần mà một tư bản được ứng ra dưới một hình thái nhất định quay trở về dưới hình thái đócùng với giá trị thặng dư tính trong một đơn vị thời gian nhất định.

Tư bản cố định và tư bản lưu động:

Tư bản cố định là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái tư liệu lao động tham gia toànbộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó chỉ chuyển dần dần, từng phần vào giá trị sảnphẩm theo mức độ hao mòn Hao mòn của tư bản cố định bao gồm hao mòn hữu hình (sự mấtmát về giá trị sử dụng và giá trị) do sử dụng và tác động của tự nhiên gây ra và hao mòn vôhình (sự mất giá thuần túy) do sự tăng lên của năng suất lao động sản xuất tư liệu lao động vàsự xuất hiện của những thế hệ tư liệu lao động mới có năng suất cao hơn

Tư bản lưu động là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái sức lao động, nguyên, nhiênvật liệu, vật liệu phụ , giá trị của nó được chuyển một lần, toàn phần vào giá trị sản phẩm khikết thúc từng quá trình sản xuất Để thu được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, các nhà tư bảnphải nỗ lực rút ngắn thời gian chu chuyển hay đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tư bản trên cơ sởnắm vững các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian chu chuyển tư bản, đồng thời sử dụng hiệu quả

tư bản cố định và tư bản lưu động

Bản chất của giá trị thặng dư:

Giá trị thặng dư có bản chất kinh tế - xã hội là quan hệ giai cấp, trong đó giai cấp các nhà tưbản làm giàu dựa trên cơ sở lao động làm thuê

Mục đích của nhà tư bản trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không những chỉ dừnglại ở mức có được giá trị thặng dư, mà quan trọng là phải thu được nhiều giá trị thặng dư, dođó cần có thước đo để đo lường giá trị thặng dư về lượng C.Mác đã sử dụng tỷ suất và khốilượng giá trị thặng dư để đo lường giá trị thặng dư

Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

Để có khối lượng giá trị thặng dư ngày càng lớn, nhà tư bản dùng nhiều phương pháp khácnhau tùy theo điều kiện kinh tế – kỹ thuật trong từng giai đoạn phát triển của CNTB Có haiphương pháp cơ bản sản xuất giá trị thặng dư: tuyệt đối và tương đối

Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:

Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quáthời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian laođộng tất yếu không thay đổi

Trang 29

Ví dụ:

- Lúc ban đầu: Một ngày có 8 tiếng lao động Trong đó có:

4 tiếng là thời gian lao động tất yếu (t)

4 tiếng là thời gian lao động thặng dư (t’)

 m’ = (t’/t) x100% = (4/4) x 100% = 100%

- Sau đó vì muốn có nhiều giá trị thặng dư hơn, các nhà tư bản đã kéo dài thời gian làm việc từ

8 tiếng/ ngày lên 10 tiếng/ ngày Trong đó:

4 tiếng là thời gian lao động tất yếu (t)

6 tiếng là thời gian lao động thặng dư (t’)

 m’ = (6 /4) x 100% = 150%

Bản chất của phương pháp này:

Chỉ là kéo dài thời gian lao động, tăng cường độ lao động làm tăng hao phí sức lao động củacông nhân mà không có cải tiến gì trong sản xuất

Giới hạn của phương pháp này:

Giới hạn về mặt sinh học: (vì người công nhân còn phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, … đểphục hồi sức khỏe)

Giới hạn về mặt xã hội: người công nhân cần có thời gian để thõa mãn những nhu cầu về mặttinh thần

Giai cấp công nhân đã đấu tranh ngày càng mạnh mẽ đòi tăng lương, giảm giờ làm buột cácchủ tư bản không thể kéo dài ngày lao động theo ý chủ quan của họ Đồng thời cùng với sựphát triển của CNTB, khoa học – kỹ thuật – công nghệ ngày càng tiên tiến giúp cho các nhà tưbản có thể sử dụng phương pháp mới Đó là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Sản xuất giá trị thặng dư tương đối:

Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu;

do đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi hoặcthậm chí rút ngắn

Ví Dụ:

Lúc ban đầu: ngày lao động là 8 tiếng Trong đó:

Thời gian lao động cần thiết là 4 tiếng

Thời gian lao động thặng dư là 4 tiếng

 m’ = 100%

Nếu giá trị sức lao động giảm đi 2 tiếng thì thời gian lao động tất yếu còn 2 tiếng và thời gianlao động thặng dư tăng lên 6 tiếng/ ngày  m’ = (6/2) x 100% = 300%

Bản chất của phương pháp này :

Dựa trên sự cải tiến trong sản xuất

Trang 30

Dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội

Giới hạn của phương pháp này

Phương pháp này không có giới hạn bởi vì nó dựa trên cơ sở cải tiến trong sản xuất, tăng năngsuất lao động xã hội Phương pháp này tạo ra rất nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản, lớn hơnrất nhiều so với phương pháp tuyệt đối

Giá trị thặng dư siêu ngạch:

Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ mới sớmhơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.Trong từng xí nghiệp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, nhưng trongphạm vi xã hội thì nó lại thường xuyên tồn tại Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnhnhất để thúc đẩy các nhà tư bản đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động cá biệt, đánh bạiđối thủ của mình trong cạnh tranh Các Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biếntướng của giá trị thặng dư tương đối

Kết luận:

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối thường được sử dụng trong thời kỳ đầu củaCNTB Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối thường sử dụng trong thời kỳ sau củaCNTB (Khi khoa học – kỹ thuật – công nghệ phát triển) nhưng điều này chỉ có ý nghĩa tươngđối, trên thực tế các nhà tư bản thường kết hợp chặt chẽ cả hai phương pháp trên

Muốn có thêm lao động thặng dư, sản phẩm thặng dư phải khai thác triệt để trên 3 mặt sau:thời gian lao động, cường độ lao động và năng suất lao động

Sự giống và khác nhau giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận:

Giống nhau:

m và p giống nhau ở chỗ: đều có chung một nguồn gốc là kết quả của lao động của công nhân Khác nhau:

_ Về mặt chất:

Phạm trù giá trị thặng dư (m) phản ánh đúng nguồn gốc và bản chất của nó là kết quả của sựchiếm đoạt lao động không công của công nhân (m phản ánh nguồn gốc sinh ra từ V)

Còn phạm trù lợi nhuận (p) thì được xem như kết quả của toàn bộ tư bản ứng trước ( k = C +V) sinh ra

P che dấu quan hệ bóc lột TBCN, che dấu nguồn gốc thực sự của nó

_Về mặt lượng:

Giữa m và p có sự không nhất trí về lượng :

Cung = cầu → giá cả = giá trị → p = m

Cung > cầu → giá cả < giá trị → p < m

Cung < cầu → giá cả > giá trị → p > m

Trang 31

Nhưng trong một thời gian nhất định, xét trên bình diện toàn bộ nền kinh tế thì :

Tổng giá cả = Tổng giá trị → Tổng P = tổng M

Chính sự không nhất trí về lượng giữa p và m, nên càng che giấu thực chất bóc lột của CNTB

Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:

Như đã chỉ ra trong chương 2, kinh tế của thị trường là sản phẩm văn minh của nhân loại, làkết quả phát triển lâu dài của lực lượng sản xuất và xã hội hóa các quan hệ về kinh tế, trải quacác giai đoạn của nền kinh tế thị trường sơ khai, kinh tế thị trường tự do và nền kinh tế thịtrường hiện đại Tuy nhiên không có mô hình kinh tế thị trường chung cho mọi quốc gia vàmọi giai đoạn phát triển

Mỗi nước có những mô hình kinh tế thị trường khác nhau như mô hình kinh tế thị trường tự domới ở Hoa Kỳ, kinh tế thị trường xã hội ở Cộng hòa Liên bang Đức, kinh tế thị trường ở NhậtBản, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc Điều đó có nghĩa, mỗi nền kinh tế thịtrường vừa có những đặc trưng tất yếu không thể thiếu của nền kinh tế thị trường nói chunganh vừa có những đặc trưng phản ánh điều kiện lịch sử chính trị, kinh tế xã hội của quốc giađó Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một kiểu nền kinh tế thịtrường phù hợp với Việt Nam, phản ánh trình độ phát triển và điều kiện lịch sử của Việt Nam

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội mà ở đó dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, có sự điều tiết của Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Thực chất, giá trị dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh là những giá trị

xã hội tương lai mà loài người còn tiếp tục phải phấn đấu Bởi lẽ,nhìn từ thế giới hiện nay màxét ,có quốc gia dân rất giàu nhưng nước chưa mạnh ,xã hội thiếu văn minh, có quốc gianước rất mạnh, dân chủ song lại thiếu công bằng

Như vậy, một hệ giá trị toàn diện gồm cả dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,vănminh, là hệ giá trị của xã hội tương lai mà loài người còn cần phải phấn đấu mới

có thể đạt được một cách đầy đủ trên hiện thực xã hội do đó,định hướng xã hội chủ nghĩathực chất là hoạt động kinh tế của các chủ thể, hướng tới góp phần xác lập được các giá trị xãhội thực tế với hệ giá trị toàn diện như vậy là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa

Để đạt được hệ giá trị như vậy, nền kinh tế thị trường Việt Nam ,cũng như các nền kinh tế thịtrường khác, cần có vai trò điều tiết của Nhà nước, nhưng đối với Việt Nam, nhà nước phảiđặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam là đảng cầmquyền do lịch sử quy định

Trang 32

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa phải bao hàm đầy đủ các đặc trưngchung của nền kinh tế thị trường nói chung(đã được nghiên cứu tại chương 2), vừa có nhữngđặc trưng riêng của Việt Nam đây là kiểu mô hình kinh tế thị trường phù hợp với đặc trưnglịch sử, trình độ phát triển, hoàn cảnh chính trị- xã hội của Việt Nam Muốn thành công phải

do nhân dân nỗ lực xây dựng mới có thể đạt được

Quá trình hình thành nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

- Khi bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới (năm 1986), Đảng ta quan niệm kinh tế hàng hóa cónhững mặt tích cực cần vận dụng cho xây dựng chủ nghĩa xã hội

- Trong quá trình đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng ta đã nhận thức rõhơn, kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường là phương thức, điều kiện tất yếu để xây dựng chủnghĩa xã hội; từ áp dụng cơ chế thị trường đến phát triển kinh tế thị trường; đưa ra quan niệmvà từng bước cụ thể hóa mô hình và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Tổng kết thực tiễn đổi mới kinh tế, Đại hội IX của Đảng khẳng định: Kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta

- Đại hội XI của Đảng khẳng định: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lýcủa Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

- Đại hội XII của Đảng có sự phát triển mới bằng việc đưa ra quan niệm: Nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ | |nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ | |theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm | | định hướng xã hội chủ nghĩa phùhợp với từng giai đoạn phát | | triển của đất nước Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hộinhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sảnViệt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đạihội XIII khẳng định: Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội

Nguồn: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII,

IX, X, XI, XII, XIII

Tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là

mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Sự tất

Ngày đăng: 26/06/2023, 17:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w