Câu 1 Vận dụng lý luận về sản xuất hàng hóa của C Mác để giải thích vì sao Việt Nam phải phát triển nền kinh tế hàng hóa? Từ đó đề xuất một số giải pháp để tiếp tục phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong giai đoạn hiện nay? Nền Kinh tế hàng hóa là nền kinh tế có sự phân công lao động và trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa người này với người khác Nó trái với nền kinh tế tự cung tự cấp trong đó người ta tự sản xuất sản phẩm và tự tiêu dùng Nền kinh tế hàng hóa ra đời và tồn tại với h.
Trang 1Câu 1: Vận dụng lý luận về sản xuất hàng hóa của C.Mác để giải thích vì sao Việt Nam phải phát triển nền kinh tế hàng hóa? Từ đó đề xuất một số giải pháp để tiếp tục phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong giai đoạn hiện nay?
-Nền Kinh tế hàng hóa là nền kinh tế có sự phân công lao động và trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa người này với người khác Nó trái với nền kinh tế tự cung tự cấp trong đó người ta tự sản xuất sản phẩm và tự tiêu dùng Nền kinh tế hàng hóa ra đời
và tồn tại với hai điều kiện tiền đề: một là có sự phân công lao động xã hội, hai là
có sự tách biệt về mặt kinh tế của những người sản xuất Ưu thế của nền kinh tế hàng hóa: thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, kích thích tính năng động của chủ thể hàng hóa, tự phát thúc đẩy lực lượng sản xuất, mở rộng nền giao lưu kinh tế làm xã hội hóa nền kinh tế
-Việt Nam phải phát triển nền kinh tế hàng hóa là vì:
+Việt Nam đi lên từ một nước phong kiến thuộc địa lạc hậu, chiến tranh kéo dài Khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam đã tụt hậu lại rất nhiều về kinh tế so với thế giới Xuất phát từ nhu cầu thực tế đời sống xã hội, để ổn định kinh tế trong nước và hội nhập quốc tế ta phải xây dựng một nền kinh tế mở, một nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hóa các hình thức sở hữu
+Nền kinh tế sản xuất tự nhiên chỉ phục vụ cho nhu cầu bản thân người sản xuất nhưng nền kinh tế hàng hóa thì đặc trưng của nó là sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho xã hội, sản phẩm được phục vụ theo cơ chế T-H-T +Thực tế trong giai đoạn 1975-1986 Việt Nam đã cho thấy sự yếu kém của nền kinh tế kế hoạch so với nền kinh tế hàng hóa, do đó việc Nhà nước ta quyết định phát triển nền kinh tế hàng hóa là một điều dễ hiểu
+Thị trường Việt Nam là một nền thị trường rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, lực lượng sản xuất dồi dào, cơ chế thị trường cũng đang trong quá trình chuyển biến vậy nên rất thích hợp để phát triển nền kinh tế hàng hóa
Đề xuất 1 số giải pháp để tiếp tục phát triển nền kinh tế thi trường định hướng XHCH trong giai đoạn hiện nay
● Xây dựng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường
- Xây dựng quan hệ sản xuất hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Trang 2- Vận dụng đầy đủ, linh hoạt cơ chế thị trường để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực, tăng cưòng đồng thuận xã hội hướng tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"
- Phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã hội
- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững, tăng cường tính độc lập,
tự chủ của nền kinh tế Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, xã hội
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế
vĩ mô, tạo lập, phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị
trường, cải thiện môi trường kinh doanh, phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt trái, tiêu cực của cơ chế thị trường
● Phát triển các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp
- Tiếp tục thể chế hoá quan điểm về phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp
- Thường xuyên đổi mới, sửa đổi, cụ thể hóa, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về sở hữu đối với đất đai, tài nguyên, vốn và các loại tài sản công khác
- Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; tiếp tục cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước, tập trung vào một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh
● Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường
- Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh doanh phù hợp với điều kiện Việt Nam
- Phát triển đa dạng, đồng bộ, ngày càng văn minh, hiện đại các loại thị trường hàng hoá, dịch vụ Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, đồng thời chú trọng mở rộng và
Trang 3chiếm lĩnh thị trường trong nước, bảo vệ lợi ích của cả người sản xuất và người tiêu dùng, nhất là về giá cả, chất lượng hàng hoá, vệ sinh, an toàn thực phẩm
- Phát triển mạnh thị trường khoa học và công nghệ gắn với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
- Đẩy mạnh phát triển thị trường lao động; xây dựng chế độ tiền lương, tiền công theo cơ chế giá cả sức lao động, được hình thành theo cơ chế thị trường có sự quản
- Nâng cao vai trò của các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và của nhân dân trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
● Tiếp tục nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiến, cụ thể hóa và đưa vào thực tiển các chủ trương, chính sách bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay
Câu 2: Giả định rằng tại một công ty tư bản, ban đầu người công nhân làm việc 8 giờ/ngày, tiền công một giờ lao động là 2 USD Sau đó nhà tư bản cắt giảm 20 % tiền công theo giờ
Hỏi để có thể nhận được mức tiền công như cũ trong một ngày, thì thời gian lao động trong ngày của công nhân phải thay đổi như thế nào?
Giải
Tiền lương một ngày lao động của công nhân ban đầu là: 8h x 2 USD/h = 16 USD Tiền lương một giờ lao động của công nhân sau cắt giảm tiền công là:
2 USD/h – (2 USD x 20%)/h = 1,6 USD/h
Sau khi tư bản cắt giảm tiền công theo giờ thì để nhận được mức tiền công như cũ trong một ngày, thì thời gian lao động trong ngày của công nhân là:
16 USD : 1,6 USD/h = 10h
Trang 4Vậy để có thể nhận được mức tiền công như cũ trong một ngày, thì thời gian lao động trong ngày của công nhân là 10 giờ
Trang 5Câu 1: Vận dụng lý luận giá trị thặng dư của C.Mác đề xuất giải pháp phát triển một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất mà anh ( chị ) biết?
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Quan điểm về giá trị thặng dư
• Giá trị thặng dư là một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác và theo như V.I.Lênin nhận xét thì Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác Tuy nhiên, lịch sử nhân loại không ngừng phát triển theo dòng thác của thời gian, xu thế phát triển đó gắn với những thách thức
và cơ hội không lường trước.Vì vây, học thuyết về giá trị thặng dư cần có quá trình nghiên cứu và tìm hiểu để có thể áp dụng vào hoàn cảnh mới hiện nay
• Nhờ phân biệt được phạm trù lao động và tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, C.Mác đã chứng minh một cách khoa học rằng trong quá trình sản xuất hàng hóa lao động cụ thể của công nhân chuyển giá trị của tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng sang sản phẩm, đồng thời lao động trừu tượng của người đó thêm vào sản phẩm một giá trị mới lớn hơn sức lao động của mình Khoản lớn hơn đó, tức là số dư ra ngoài khoản bù lại giá trị sức lao động
• Công thức: W = c + v + m
2 Tư bản bất biến và Tư bản khả biến
• Tư bản bất biến (c) là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm; tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất, được gọi là tư bản bất biến
Trang 6• Tư bản khả biến (v) là bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động Trong quá trình sản xuất bộ phận tư bản này không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân mà tăng lên; tức là biến đổi về lượng
3 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
• Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi
• Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động, cường độ lao động không đổi
• Giá trị thăng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư thu được do các xí nghiệp sản xuất có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, khi bán hàng hoá theo giá trị xã hội,
sẽ thu được một số giá trị thặng dư vượt trội so với các xí nghiệp khác
4 Hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư
• Lợi nhuận
• Lợi nhuận của tư bản thương nghiệp
• Lợi tức của tư bản cho vay và lợi nhuận ngân hàng
• Địa tô
5 Ý nghĩa
• Xét thuần túy trong lĩnh vực kinh tế, công thức trên cho thấy bất kỳ cá nhân hay
tổ chức nào có tiền (vốn) được đưa vào trong quá trình sản xuất và kinh doanh trực tiếp hay gián tiếp như thông qua đầu tư chứng khoán, thậm chí gửi ngân hàng sẽ sinh lời Đồng tiền chỉ trở thành công cụ sinh lời nếu đầu tư vào sản xuất hay kinh doanh
Trang 7• Trong bất kì xã hội nào cũng cần phải tìm cách tăng giá trị thặng dư, nếu áp dụng được các công nghệ sản xuất tiên tiến, sử dụng được tri thức, trí tuệ vào trong quá trình sản xuất sẽ làm tăng giá trị thặng dư mà không cần phải kéo dài thời gian lao động hay cường độ lao động ảnh hưởng đến những người sản xuất
• Công thức cũng chỉ ra cách thức tích lũy làm tăng số tiền, là cơ sở để tái sản xuất mở rộng, phát triển quy mô sản xuất, tăng trưởng kinh tế
II ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VỚI DOANH NGHIỆP VINAMILK
❖ Khái quát về Doanh nghiệp Vinamilk
- Vinamilk là Công ty cổ phần sữa Việt Nam được thành lập trên quyết định số 155/2003QD-BCN năm 2003 của Bộ Công nghiệp về chuyển doanh nghiệp Nhà nước Công ty sữa Việt Nam thành Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
- Tên giao dịch là Vietnam Dairy Products Joint Stock Company Cố phiếu của Công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Tp Hồ Chí Minh ngày 28/12/2005
- Tính theo doanh số và sản lượng, Vinamilk là nhà sản xuất sữa hàng đầu Việt Nam Danh mục sản phẩm gồm: sữa nước và sữa bột; sản phẩm có giá trị cộng thêm như sữa đặc, yoghurt ăn và uống, kem và pho mát
1 Thực tế của việc vận dụng giá trị thặng dư
1.1 Thực tế áp dụng lý luận giá trị thặng dư
- Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, nên phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối không được áp dụng ( thời gian lao động không quá 8 tiếng 1 ngày và 48 tiếng 1 tuần)
Trang 8- Do đó, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư dược doanh nghệp áp dụng là giá trị thặng dư tương đối và biến tấu của nó - giá trị thặng dư siêu ngạch Khi đó, DN bắt đầu chuyên môn hóa trong việc sản xuất các sản phẩm, phân chia công đoạn chi tiết, đầu tư lại việc mua lại công nghệ và máy móc, áp dụng các phương pháp quản lý mới
+ Đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất sữa bột sấy phun từ công nghệ
“gỗ” sang công nghệ “thổi khí”
+ Công nghệ và thiết bị thu mua sữa tươi của nông dân, đảm bảo thu mua hết lượng sữa bò, thúc đẩy ngành chăn nuôi bò sữ trong nước + Công nghệ tiệt trùng nhanh nhiệt độ cao để sản xuất sữa tươi tiệt trùng
+ Đầu tư và đổi mới sản xuất vỏ lon 2 mảnh
+ Đổi mới công nghệ chiết lon sữa bột,…
1.2 Ưu điểm
- Lý luận giá trị thặng dư của C.Mác là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp hiểu rõ bản chất và xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản và chỉ ra con đường tạo ra LLSX của chủ nghĩa xã hội, từ đó đưa ra những phương hướng hoạt động và chiến lược phát triển phù hợp với
sự biến đổi của thế giới
- Mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng kỹ thuật - công nghệ hiện đại làm tăng khối lượng GTTD, tích lũy thêm giá trị thặng dư của DN, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thúc đẩy LLSX phát triển và nâng cao mức sống của người lao động
1.3 Nhược điểm
- Việc đổi mới, áp dụng KHKT vào sản xuất -> tăng năng suất lao động, giảm giá trị sức lao động, giảm giá trị tư liệu sinh hoạt, số lượng công
Trang 9nhân được thuê giảm, số lượng thất nghiệp tăng Yêu cầu về trình độ học vấn, kinh nghiệm của công nhân tăng lên
- Máy móc hiện đại được áp dụng, các lao động chân tay bị cắt giảm nhưng điều đó không đi đôi với giảm nhẹ cường độ lao động của người công nhân, mà trái lại do việc áp dụng máy móc không đồng bộ nên khi máy móc chạy với tốc độ cao, có thể chạy với tốc độ liên tục buộc người công nhân phải chạy theo tốc độ vận hành máy làm cho cường độ lao động tăng Đồng thời máy móc không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư mà chỉ là bộ phận hỗ trợ cho người lao động trong quá trình sản xuất tạo ra giá trị thặng dư
- Chênh lệch giàu nghèo: tuy
2 Giải pháp phát triển
2.1 Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực tối đa, đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao, thường xuyên thay đổi công nghệ -> nâng cao năng suất lao động, tích cực hợp lý hóa quá trình sản xuất, tiết kiệm các yếu
tố đầu vào, đưa ra thị trường những sản phẩm sữa có chất lượng cao, hợp thị hiếu và giá bán hạ
- Hiện nay dân số Thế giới đông, tỷ lệ sinh cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế về cơ bản là ổn định, thu nhập dần được cải thiện, đời sống vật chất ngày càng được nâng cao, vấn đề sức khỏe ngày càng được nâng cao -> tìm hiểu kỹ về thị hiếu khách hàng, tận dụng nguồn nguyên vật liệu có sẵn trong nước từ các hộ chăn nuôi với giá rẻ, chất lượng tốt 2.2 Hợp tác có chiều sâu với DN trong nước, sử dụng nguồn vốn có hiệu
quả
- Hội nhập ngày càng sâu, đối thủ ngày càng mạnh, tâm lý sùng ngoại cuat người dân vẫn còn rất cao thì với vai trò là “anh cả” của thị trường sữa Việt Nam, DN Vinamilk cần dẫn dắt các công ty sữa nhỏ Việt Nma cùng chung
Trang 10tay góp sức trong quá trình hội nhập, tạo thành một vòng liên kết để giữ vững
vị thế trên trường quốc tế
2.3 Khai thác lý luận của C Mác về quy trình tổ chức sản xuất, phân phối
- Củng cố hệ thống và chất lượng phân phối nhằm giành thêm thị phần tại ccs thị trường mà vinamilk có thị phần chưa cao
- Tiếp tục nâng cao năng lực quản lý hệ thống cung cấp tiếp tục mở rộng và phát triển hệ thống phân phối chủ động, vững mạnh và phát triển nguồn nguyên liệu về đảm bảo nguồn cung cấp sữa ổn định, chất lượng cao với giá cạnh tranh và đáng tin cậy
Câu 2: Trong một nhà máy, cứ 1 giờ 1 công nhân tạo ra lượng giá trị mới là 5 USD, tỷ suất giá trị thặng dư là 300%, giá trị sức lao động 1 ngày của 1 công dân
là 10 USD Hãy xác định độ dài chung của ngày lao động trong trường hợp này?
Theo đề bài, giá trị sức lao động của mỗi công dân trong một ngày là 10 USD
m/v = 3 ⟷ m=3v ⟷ thời gian lao động thiết yếu =1/4 ∑ thời gian lao động
Lưu ý : ∑ thời gian lao động = tg lao động tất yếu + tg lao động thặng dư
Đặt tổng giá trị một công nhân làm ra trong một ngày là: a
Trang 11Câu 1 :
I Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
1.1 Lượng giá trị hàng hóa
Giá trị của hàng hóa là do lao động xã hội, trừu tượng của người sản xuất ra hàng
hóa kết tinh trong hàng hóa Vậy lượng giá trị của hàng hóa do lượng lao động tiêu hao để làm ra hàng hóa quyết định
Lượng lao động đã hao phí được tính bằng thời gian lao động Thời gian lao động
này phải được xã hội chấp nhận, không phải là thời gian lao động của đơn vị sản xuất cá biệt, mà là thời gian lao động xã hội cần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị sử
dụng nào đó trong những điều kiện trung bình của xã hội với trình độ thành thạo trung bình, trình độ trang thiết bị trung bình, cường độ lao động trung bình
Trong thực tế, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa thường trùng hợp với thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất cung cấp đại bộ phận loại hàng hóa đó trên thị trường Người sản xuất thường phải tích cực đổi mới, sáng tạo nhằm giảm thời gian hao phí lao động cá biệt tại đơn vị sản xuất của mình xuống mức thấp hơn mức hao phí trung bình cần thiết Khi đó sẽ có được ưu thế trong cạnh tranh
Xét về mặt cấu thành, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa được sản xuất ra bao hàm: hao phí lao động quá khứ (chứa trong các yếu tố vật tư, nguyên nhiên liệu đã tiêu dung để sản xuất ra hàng hóa đó) và hao phí lao động mới kết tinh thêm
II Yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của một hàng hóa từ đó liên hệ đến thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở VN
Trang 12Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa tùy thuộc vào những nhân tố sau:
2.1 Năng suất lao động:
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đợn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Năng suất lao động tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống từ đó lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm Do
đó, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội
Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình của người công nhân; Mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ; Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; Trình độ tổ chức quản lý; Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất; Các điều kiện tự nhiên
Kết luận: Sự thay đổi của Năng suất lao động tác động theo tỷ lệ nghịch đến lượng
GT của MỘT đơn vị hàng hóa NHƯNG KHÔNG tác động đến TỔNG lượng giá trị của TỔNG số hàng hóa được sản xuất ra trong cùng một đơn vị thời gian
Liên hệ:
Trong kinh tế thị trường, cạnh tranh về giá cả là quan trọng nhất Để cạnh tranh về giá cả với nhà sản xuất khác thì phải tăng năng suất lao động cá biệt vì nó làm giảm lượng giá trị cá biệt của một đơn vị hàng hoá xuống thấp hơn lượng giá trị xã hội của nó > giá cả bán hàng hóa có thể rẻ hơn của người khác mà vẫn thu lợi nhuận ngang, thậm chí cao hơn
+ Các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ, tác động theo chiều THUẬN đến NSLĐ:
Một: Trình độ khéo léo (thành thạo) của người lao động
Trình độ, mức độ khéo léo của lao động không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của riêng cá nhân mà còn ảnh hưởng đến khả năng áp dụng tiến bộ khoa học
kĩ thuật vào sản xuất Việc nâng cao trình độ, mức độ khéo léo của người lao động
sẽ giúp tăng năng suất lao động, giảm thời gian lao động xã hội cần thiết, từ đó
Trang 13giảm lượng giá trị của sản phâm, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm Việt Nam trên thị trường thế giới
Thực tế ở Việt Nam, theo số liệu sơ bộ của Tổng cục thống kê năm 2020, nghề là 4,71%, trung cấp chuyên nghiệp 4,7%, cao đẳng 3,82%, đại học trở lên 11,12% Ta
có thể thấy tỉ lệ lao động qua đào tạo và lao động có trình độ cao vẫn còn khá thấp, năng suật lao động chưa cao Từ đó cần thực hiện một số giải pháp sau:
Hai: Mức độ phát triển của khoa học – kỹ thuật, công nghệ và mức độ ứng dụng những thành tựu đó vào sản xuất
Mức độ phát triển của khoa học – kỹ thuật, công nghệ giúp tăng đáng kể năng suất lao động cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm làm tăng sức cạnh
• Công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk) đưa vào hoạt động siêu nhà máy ở bình dương với việc áp dụng robot từ chăn nuôi bò sữa, chuẩn bị thúc ăn cho bò đến việc vắt sữa và đóng gói sản phẩm Hiện nay các sản phẩm sữa của Vinamilk
đã được xuât khẩu đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ và ngày càng được khẳng định thương hiệu, uy tín trên trường quốc tế
Ba: Trình độ tổ chức quản lý sản xuất
Nâng cao trình độ quản lí cũng là một trong những biện pháp quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động Hiệu quả trong quản lí người lao động, trong việc tổ chức sản xuất, quản lí doanh nghiệp cùng với việc quảng bá sản phẩm, marketing
sẽ đem lại hiệu quả lớn trong việc cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường Trong thời đại công nghệ hiện nay, việc chuyển đổi số doanh nghiệp là một việc làm rất cần thiết để các doanh nghiệp không bị tụt lại phía sau
Bốn: Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất
Việc nâng cao quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động
Nổi bất nhất là việc sử dụng các nhà máy sản xuất có quy mô lớn như nhà máy Samsung Electronic Vietnam Thái Nguyên, nhà máy sản xuất điều hoà Daikin ở Hưng Yên có quy mô 210000m2, nhà máy Intel ở khu công nghệ cao Thành phố
Hồ Chí Minh có quy mô 16000m2… Cùng với đó là việc đưa vào sử dụng máy móc hiện đại có hiệu suất cao đem lại năng suất sản xuất rất lớn như nhà máy lọc dầu Nghi Sơn hoạt động với công suất 200000 thùng dầu thô/ngày Từ đó đem lại hiệu quả rất lớn trong việc giảm lượng giá trị sản phẩm, tăng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Trang 14Năm: Các điều kiện tự nhiên
Ngoài ra việc cải tạo điều kiện tự nhiên cũng là một trong những nhân tố hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, nhất là trong sản xuất nông nghiệp Việc cải tạo các đồng cỏ có năng suất thấp sẽ giúp nâng cao giá trị dinh dưỡng của sữa bò, tăng hiệu quả chăn nuôi; cải tạo đất phèn đất mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ giúp đưa diện tích lớn đất vào sản xuất lúa 2-3 vụ…
2.2 Cường độ lao động:
Cường độ lao động là mức độ hao phí lao động của người lao động trong một đơn
vị thời gian, được tính bằng số calo hao phí trong 1 đơn vị thời gian
Cường độ lao động là đại lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian, nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động Cường độ lao động tăng lên tức là mức hao phí sức cơ bắp, thần kinh trong một đơn vị thời gian tăng lên, mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động tăng lên
Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hóa sản xuất
ra tăng lên, tuy nhiên thời gian lao động xã hội cần thiết không đổi vì vậy giá trị của một đơn vị hàng hóa vẫn không đổi Như vậy, sự thay đổi của cường độ lao động không tác động đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa
Cường độ lao động phụ thuộc theo chiều thuận vào: Thể chất, tinh thần, kỹ năng, tay nghề, ý thức của người lao động; Trình độ tổ chức quản lý; Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất
Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau là đều dẫn đến lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên Nhưng chúng khác nhau là tăng năng suất lao động làm cho lượng sản phẩm (hàng hóa) sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, nhưng làm cho giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm xuống Tăng năng suất lao động có thể phụ thuộc nhiều vào máy móc, kỹ thuật, do đó nó gần như là một yếu tố có “sức sản xuất” vô hạn, còn tăng cường độ lao động, làm cho lượng sản xuất ra tăng lên trong một đơn vị thời gian, nhưng giá trị của một đơn vị hàng hóa không đổi Tăng cường độ lao động phụ thuộc nhiều vào thể chất và tinh thần của người lao động, do đó, nó là yếu tố của “sức sản xuất”
có giới hạn nhất định Chính vì vậy, tăng năng suất lao động có ý nghĩa tích cực hơn đối với sự phát triển kinh tế
Trang 15Kết luận: Như vậy, sự thay đổi của CĐLĐ KHÔNG tác động đến lượng GT của
MỘT đơn vị hàng hóa NHƯNG NÓ tác động theo tỷ lệ THUẬN đến TỔNG lượng giá trị của tổng số hàng hóa được sản xuất ra trong cùng một đơn vị thời gian
Liên hệ:
Trong thực tế SX hàng hoá TBCN, việc các nhà tư bản áp dụng tăng CĐLĐ đối với người làm thuê (trong khi không trả công tương xứng) KHÔNG nhằm làm giảm lượng giá trị của 1 đơn vị hàng hoá, không tạo ra khả năng cạnh tranh về giá
MÀ là NHẰM tăng MỨC ĐỘ BÓC LỘT lao động làm thuê
+ Cường độ lao động phụ thuộc theo chiều thuận vào:
Thể chất, tinh thần, kỹ năng, tay nghề, ý thức của người lao động
Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không cần phải
trải qua đào tạo cũng có thể làm được
Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện mới có thể
làm được
Vì lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau Vì thế các nhà làm kinh tế cần phải chú trọng đầu tư vào những ngành lao động phức tạp đòi hỏi nhiều chất xám Do
đó mức độ phức tạp của lao động tỷ lệ THUẬN đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa và TỔNG lượng giá trị của tổng số hàng hóa được sản xuất ra trong cùng
1 đơn vị thời gian Mức độ phức tạp trong lao động cũng mang ý nghĩa to lớn đối với khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam đây là yếu tố quyết định tới sản lượng và cả chất lượng của hàng hóa mức độ phức tạp càng cao thì lượng giá trị cũng càng tăng Muốn làm được điều này thì phải nâng cao trình độ công nhân, nâng cao tay nghề và áp dụng những biện pháp tiên tiến
Trang 16Câu 2 :
Tư bản đầu tư là:
Cấu tạo hữu cơ là 4/1
Trang 17Câu 1 (5 điểm): Chứng minh sức lao động là một hàng hóa đặc biệt từ đó liên hệ đến
việc học tập của bản thân để sau khi tốt nghiệp có thể gia nhập thị trường lao động một cách thuận lợi hoặc khởi nghiệp thành công
BÀI LÀM
A Lý thuyết
I Sức lao động là một loại hàng hóa
1 Khái niệm hàng hóa
- Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
2 Khái niệm sức lao động
- Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và năng lực tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem
ra vận động mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó
3 Điều kiện để sức lao động trở thành một hàng hóa
- Không phải tự nhiên mà sức lao động được gọi là một loại hàng hóa đặc biệt Để trở thành hàng hoá, sức lao động bắt buộc phải đạt điều kiện cụ thể sau:
+ Thứ nhất, người lao động phải tự do về thân thể Tự do ở đây nghĩa là không phải phụ thuộc vào bất kỳ ai, người lao động có thể chi phối, sử dụng sức lao động của mình Người lao động sẽ trao đổi, bán sức lao động của mình như một loại hàng hoá thông thường
+ Thứ hai, người có sức lao động phải không có tư liệu sản xuất Họ trở thành người “vô sản” Để tồn tại họ buộc phải bán sức lao động để sống
Hai điều kiện trên buộc phải tồn tại đồng thời sức lao động mới trở thành hàng hoá Nếu không có một trong hai điều kiện bắt buộc kia, sức lao động chỉ là sức lao động mà thôi Tuy nhiên hàng hóa sức lao động bước đến sự phát triển vượt bậc khi chủ nghĩa tư bản đang ở thời kỳ đỉnh cao Đó là nền tảng quan trọng để đánh dấu sự vượt bậc của văn minh nhân loại Khi mà cả hai điều kiện ở trên cùng tồn tại một cách song hành thì sức lao động sẽ tạo thành một loại hàng hóa tất yếu và hiển nhiên Xét trên thực tế thì hàng
Trang 18hóa sức lao động đã có mặt từ trước thời điểm xã hội tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên chỉ đến lúc tư bản chủ nghĩa đã được hình thành thì chúng mới được khẳng định và trởnên phổ biến Cũng tại thời điểm này thì sự bóc lột lao động cũng không còn mà thay vào đó chính là sự thỏa thuận theo dạng “thuận mua - vừa bán” - đánh dấu một bước ngoặt cực văn minh ra đời
- Dưới chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó Một mặt, cách mạng tư sản đa giải phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể vào chủ nô và chúa phong kiến Mặt khác, do tác động của quy luật giá trị và các biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản đã làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành vô sản và tập trung tư liệu sản xuất vào trong tay một số ít người Việc mua bán sức lao động được thực hiện dưới hình thức thuê mướn Quan hệ làm thuê đã tồn tại khá lâu trước chủ nghĩa tư bản,nhưng không phổ biến và chủ yếu được sử dụng trong việc phục
vụ nhà nước và quốc phòng Chỉ đến chủ nghĩa tư bản nó mới trở nên phổ biến, thành hệ thống tổ chức cơ bảncủa toàn bộ nền sản xuất xã hội
- Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hoá tiền thành tư bản
II Hàng hóa sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt
1 Thuộc tính giá trị của hàng hóa sức lao động
- Giá trị hàng hóa sức lao động được xác định dựa trên thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động Giá trị hàng hóa sức lao động có thể được đo lường gián tiếp bằng giá trị của các tưliệu sinh hoạt cần thiết như: lương thực, thực phẩm, quần áo, điện, nước, tiền đi lại, tiền thuê nhà, tiền thuốc men… để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, để duy trì đời sống của công nhân làm thuê và gia đình họ
- Là hàng hóa đặc biệt, giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó bao gồm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử của từng quốc gia, từng phong tục tập quán trong từng thời kỳ, trình độ văn minh, điều kiện địa lý, khí hậu, quá trình hình thành giai cấp công nhân Điều này thể hiện ở chỗ ngoài nhu cầu về vật chất, công nhân còn có những nhu cầu về tinh thần như vui chơi, giải trí, học tập, tiếp nhận thông tin, giao lưu văn hóa được phân tích rất rõ trong tháp nhu cầu của Maslow Tuy
Trang 19nhiên, tại một quốc gia và thời kỳ lịch sử nhất định tư liệu sinh hoạt cần thiết có thể được xác định dựa trên 3 thành tố:
+ Thứ nhất, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết đủ để duy trì sức lao động của một người lao động
+ Thứ hai, chi phí đầu tư vào việc học cho lao động
+ Thứ ba, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu gia đình của người lao động
2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Nếu tính đúng theo nguyên tắc ngang giá trong nền kinh tế thị trường thì giá cả của hàng hóa sức lao động phải phản ánh lượng giá trị của hàng hóa sức lao động
- Giá trị sử dụng của sức lao động là để thỏa mãn nhu cầu của người mua
- Khác với nhu cầu thông thường, khi sử dụng hàng hóa sức lao động, người mua hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị lớn hơn, giá trị tăng thêm Giá trị sử dụng của sức lao động là công dụng của sức lao động và nó được thể hiện trong quá trình tiêu dùng sản xuất của nhà tư bản
- Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, nó mang yếu tố tinh thần và lịch
sử Hơn thế, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt mà các khóa thông thường không có được,đó chính là trong khi sử dụng, không những giá trị của nó được bảo tồn mà còn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn Đây chính là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị lớn hơn nêu trên do đâu mà có Nguồn gốc của giá trị thặng dư là
do hao phí sức lao động mà có
KẾT LUẬN PHẦN LÝ THUYẾT
Sức lao động chính là một loại hàng hóa đặc biệt Bởi trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng đều là yếu tố hàng đầu của quá trình lao động sản xuất Tuy nhiên không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá Sức lao động chỉ biến thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau: Một là: người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sức lao động của mình Hai là: người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao động sản xuất Chỉ trong điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động của mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống Sự tồn
Trang 20tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá đặc biệt
Hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá - sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng Nhưng, sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của con người Nó đặc biệt ở chỗ để sản xuất và tái sản xuất
ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất định
Số lượng giá trị sức lao động được xác định bằng số lượng giá trị những tư liệu sinh hoạt
để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ở trạng thái bình thường khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử
Tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể hiện đó là:
+ Thứ nhất, sự khác biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với giá trị sử dụng của các hàng hoá khác là ở chỗ, khi tiêu dùng hàng hoá sức lao động, nó tạo
ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của thân giá trị sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư Như vậy, hàng hoá sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng hoá khác Nó là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hoá
+ Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hoá sức lao động vì vậy, việc cung ứng sức lao động phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, xa hội của người lao động Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những đặc điểm của họ, nhưng đối với thị trường lao động thì con người lại có ảnh hưởng quyết định tới cung
B Liên hệ thực tế
I Thực trạng thị trường lao động Việt Nam hiện nay
1 Thị trường lao động Việt Nam
- Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, tháp dân số tương đối trẻ với nguồn nhân lực dồi dào Nhìn chung thì mỗi năm Việt Nam tăng khoảng gần 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động, đây là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài góp phần phát triển kinh tế - xã hội
Trang 21- Việt Nam có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN
- Xét cơ cấu lực lượng lao động theo giới tính, tỷ lệ lao động nam lại nhiều hơn nữ với trên 50% lao động là nam giới
- Hiện nay, lực lượng lao động vẫn tập trung đông nhất ở khu vực Đồng bằng sông Hồng (chiếm trên 22%), tiếp đến là khu vực Bắc trung bộ, Duyên hải miền Trung (trên 21%) và Đồng bằng sông Cửu Long
- Nguồn lao động phân bố chưa đồng đều chưa hợp lý giữa các vùng và giữa các ngành kinh tế nói chung trong đó đại bộ phận lao động cả nước phân bố ở đồng bằng trong các ngành nông nghiệp Ở đồng bằng thì thừa lao động và thiếu việc làm nhưng miền núi trung du thiếu lao động, thừa việc làm ở các vùng miền núi trung du không những thiếu lao động về số lượng mà thiếu lao động về chất lượng cao cho nên sự phân
bố lao động bất hợp lý → các nguồn TNTN ở trung du và miền núi chưa được lôi cuốn vào quá trình sản xuất → nền kinh tế kém phát triển
- Cơ cấu lực lượng lao động phân theo 2 khu vực thành thị và nông thôn cũng có
sự chênh lệch lớn Nhìn chung, lực lượng lao động ở nước ta chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn (69,3%) cao gấp đôi ở thành thị (30,7%), cơ cấu lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao (70,1%) con số này có xu hướng giảm qua các năm nhưng vẫn ở mức cao
- Nguồn lao động nước ta vốn có bản chất cần cù, năng động, khéo tay, có khả năng tiếp thu KHKT nhanh và trình độ lao động liên tục được nâng cao Nhưng về chất lượng thì nhìn chung nguồn lao động nước ta với trình độ chuyên môn kỹ thuật tay nghề còn thấp, lao động thủ công là chính và vẫn còn thể hiện rất rõ sự thiếu tác phong
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên năm 2020 là 24,1%, cao hơn 1,3% so với năm 2019, tuy nhiên vẫn còn thấp Tỷ lệ qua đào tạo của lao động khu vực thành thị đạt 39,9%, cao hơn 2,5 lần khu vực nông thôn (16,3%) Cơ cấu lao động đã qua đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu thực tiễn Các định chế trung gian, chính sách an sinh và bảo hiểm của thị trường lao động còn yếu, độ bao phủ thấp, chưa đạt hiệu quả cao
- Từ năm 2010 đến nay, tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước duy trì dưới 3%, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4% Tuy nhiên, thị trường lao động vẫn tồn tại những
Trang 22hạn chế, bất cập như: chất lượng việc làm, chất lượng lao động còn thấp, còn thiếu nhiều lao động kỹ thuật trình độ cao, lao động trong một số ngành công nghiệp mới Đến nay, tỉ
lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mặc dù đã có sự gia tăng nhưng vẫn còn rất thấp, mới chỉ đạt trên 24,1%
- Bên cạnh đó, lực lượng lao động tại Việt Nam ngày một già hóa với lao động cao tuổi tăng mạnh, lao động trẻ giảm và không đủ thay thế lực lượng lao động đang già hóa Năm 2019 tuổi bình quân là 41 tuổi, tuổi trung vị là 40 tuổi
2 Thực trạng thị trường lao động VN giai đoạn 2019-2022
* Năm 2019
- Quy mô và phân bố lực lượng lao động: Lực lượng lao động trung bình cả nước năm 2019 là 55,77 triệu người, tăng so với năm trước 413 nghìn người (0,75%) Lực lượng lao động bao gồm 54,66 triệu người có việc làm và hơn 1,1 triệu người thất nghiệp
- Nữ giới (47,3%) chiếm tỷ trọng thấp hơn nam giới (52,7%) Mặc dù có sự tăng lên về tỷ trọng lực lượng lao động ở khu vực thành thị trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn 67,6% lực lượng lao động nước ta tập trung ở khu vực nông thôn
- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2019, có hơn ba phần tư (chiếm 76,8%)dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực l lượng lao động Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa nam (81,9%) và nữ (71,8%) và không đồng đều giữa các vùng
- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị tới 11,0 điểm phần trăm Cả nam giới và nữ giới đều có sự chênh lệch này, song mức độ chênh lệch của nữ giới (khoảng 12,0 điểm phần trăm) lớn hơn của nam giới (khoảng 8,9 điểm phần trăm)
* Năm 2020
- Đại dịch Covid-19 khiến thị trường lao động Việt Nam năm 2020 gặp nhiều sóng gió, lần đầu tiên trong 10 năm qua, nền kinh tế Việt Nam chứng kiến sự sụt giảm nghiêm trọng về số người tham gia thị trường lao động và số người có việc làm Thu nhập bình quân của người lao động cũng theo đó bị thâm hụt Các chỉ tiêu về tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm đều tăng cao trái ngược hẳn với xu thế giảm trong các năm gần đây
Trang 23- Quy mô và phân bố lực lượng lao động: Lực lượng lao động trung bình cả nước năm 2020 là 54,84 triệu người, giảm so với năm trước 924 nghìn người (tương đương giảm 1,66% so với năm 2019) Lực lượng lao động bao gồm 53,6 triệu người có việc làm
và hơn 1,2 triệu người thất nghiệp Nữ giới (47,4%) chiếm tỷ trọng thấp hơn nam giới(52,6%) Mặc dù có sự tăng lên về tỷ trọng lực lượng lao động ở khu vực thành thị trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn 66,9% lực lượng lao động nước ta tập trung ở khu vực nông thôn
- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động Năm 2020, có gần ba phần tư (chiếm 74,4%) dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, giảm 2,4 điểm phần trăm so với năm 2019 Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa nam (79,9%) và
nữ (69,0%) và không đồng đều giữa các vùng Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân
số khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị tới 15,1 điểm phần trăm Cả nam giới và
nữ giới đều có sự chênh lệch này, song mức độ chênh lệch của nữ giới (khoảng 16,1 điểm phần trăm) lớn hơn của nam giới (khoảng 13,5 điểm phần trăm)
* Năm 2021
- Tổng cục Thống kê nhận định do tình hình dịch bệnh kéo dài và phức tạp hơn, trong năm 2021 có hàng triệu người mất việc, lao động trong các ngành tiếp tục giảm, đặc biệt là khu vực dịch vụ
- Cũng theo Tổng cục Thống kê, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2021 đạt 50,5 triệu người, giảm 791.600 người so với năm trước Trong đó số lao động có việc làm là 49 triệu người, giảm 1 triệu người so với năm 2020
- Số lao động thiếu việc làm trong độ tuổi lao động năm 2021 được Tổng cục Thống kê ghi nhận hơn 1,4 triệu người, tăng 370.800 người so với năm trước Tỉ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 3,1%, tăng 0,71% so với cùng kỳ năm trước
- Diễn biến phức tạp của đợt dịch COVID-19 lần thứ 4 đã đẩy tỉ lệ thiếu việc làm
ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn Điều này trái với xu hướng thị trường lao động thường được quan sát ở nước ta những năm qua, Tổng cục Thống kê đánh giá
Trang 24- Số lao động thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2021 là hơn 1,4 triệu người, tăng 203.700 người so với năm 2020 Tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 3,22%, tăng 0,54% so với năm trước
* 4 tháng đầu năm 2022:
- Cụ thể, lực lượng lao động, số người có việc làm quý I năm 2022 tăng so với quý trước và so với cùng kỳ 2021, đặc biệt lao động trong ngành dịch vụ tăng đáng kể so với quý trước Thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với quý trước và so với cùng kỳ 2021 Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động mặc dù cao hơn
so với cùng kỳ 2021 nhưng đều giảm so với quý trước
- Báo cáo của Tổng cục Thống kê nêu rõ, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I năm 2022 là 51,2 triệu người, tăng hơn 0,4 triệu người so với quý IV 2021 và tăng khoảng 0,2 triệu người so với cùng kỳ 2021
- Cũng theo số liệu thống kê, trong những tháng đầu năm, tình hình kinh tế - xã hội nói chung và tình hình lao động việc làm nói riêng có nhiều chuyển biến tích cực Số người từ 15 tuổi trở lên có việc làm là 50,0 triệu người, tăng 962,6 nghìn người so với quý IV 2021 và tăng 132,2 nghìn người so với cùng kỳ 2021
- Báo cáo của Tổng cục Thống kê còn chỉ ra, thu nhập bình quân tháng của người lao động quý I là 6,4 triệu đồng, tăng 1 triệu đồng so với quý trước và tăng 110 nghìn đồng so với cùng kỳ 2021
- Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2022 là khoảng 1,1 triệu người, giảm 489,5 nghìn người so với quý trước và tăng 16,7 nghìn người so với cùng kỳ
2021
- Số lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý I năm 2022 là 4,8 triệu người (thấp hơn 0,1 triệu người so với quý trước nhưng vẫn cao hơn 1,1 triệu người so với cùng kỳ 2021), số lao động này chủ yếu biến động ở khu vực nông thôn Gần hai phần ba số lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý I năm 2022 là nữ giới (chiếm 62,4%)
Trang 25II Liên hệ đến việc học tập của bản thân
(Mẫu 1)
1 Nhận thức
- Sau khi tìm hiểu về bộ môn Kinh tế chính trị - Mác Lênin, bản thân em đã có cái nhìn khách quan hơn về thị trường lao động Việt Nam nói riêng và thị trường quốc tế nói chung Trong thời đại nền kinh tế toàn cầu hóa cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay, việc gia nhập thị trường lao động sẽ ngày càng khó khăn bởi yêu cầu về trình độ lao động ngày một cao hơn để có thể đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường Chính vì vậy, việc chuẩn bị cho mình một hành trang đầy đủ, một tư thế chuẩn bị sẵn sàng để gia nhập thị trường lao động một cách thuận lợi là vô cùng cần thiết
- Là một sinh viên học chuyên ngành Quản trị kinh doanh, em sẽ có nhiều sự lựa chọn nghề nghiệp sau khi ra trường, tuy nhiên em mong muốn sau này mình có thể làm việc trong lĩnh vực logistics và quản lý chuỗi cung ứng Để làm được điều đó, em cần phải có được sự nhận thức rõ ràng về nhu cầu lao động về logistics và quản lý chuỗi cung ứng, những cơ hội và thách thức đối với vấn đề việc làm trong chuyên ngành của mình, những chỉ tiêu mà một nhà quản lý chuỗi cung ứng phải có,cuối cùng là mục đích và ý nghĩa của nghề đối với cá nhân và xã hội
- Trong bối cảnh nền kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ thì sự ra đời của ngành Logistics đã giải quyết được nhu cầu sản xuất và phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng Khi Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, nhất là trong khu vực cộng đồng kinh tế ASEAN và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tuy nhiên, nguồn nhân lực có thể đảm nhiệm tốt công việc mới chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu Đây thực sự là cơ hội tốt cho các bạn sinh viên trẻ năng động, giỏi ngoại ngữ và có đam
mê về Logistics và quản lý chuỗi cung ứng Hơn nữa, rất nhiều vị trí trong ngành Logistics và quản lý chuỗi cung ứng yêu cầu bạn phải dịch chuyển liên tục Mặc
dù những chuyến công tác nước ngoài này nhằm mục đích phục vụ cho công việc nhưng cũng là cơ là cơ hội tốt để bạn nuôi dưỡng sự mới mẻ trong cách nhìn, tìm hiểu về văn hóa, đất nước mới và học hỏi lĩnh vực kinh doanh quốc tế Những kinh nghiệm, kỹ năng
Trang 26trong ngành kinh doanh quốc tế thu lượm sau mỗi chuyến đi chính là bước đệm tốt mở ra nhiều cơ hội mới, giúp bạn thăng tiến nhanh, tiến xa trong nghề nghiệp Bởi vậy, khi theo học ngành này, bản thân em cũng cần phải chuẩn bị hành trang thật cẩn thận với những yêu cầu của ngành học.Tiếng trung thương mại là một ngành đòi hỏi nỗ lực, không ngừng học hỏi; kỹ năng giao tiếp tốt; sự nhạy bén, linh hoạt, lòng kiên trì với công việc;và một
số kỹ năng quan trọng khác như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng sắp xếp công việc, sự tự tin trước đám đông,
- Đối với bản thân em, lựa chọn sau khi ra trường chính là gia nhập vào nền kinh
tế thị trường, trở thành một hàng hóa sức lao động đúng nghĩa Để có thể trở thành một nhà quản lý chuỗi cung ứng, trước tiên em phải hoàn thiện thật tốt quá trình học tập ở giảng đường Đại học Trong quá trình học tập phải cố gắng tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, trau dồi những kỹ năng cần thiết để làm hành trang cho mình, tích cực tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa để mở mang tri thức Sau khi ra trường, với một hành trang
đủ tốt, em có thể xin được làm việc vào một công ty hoặc doanh nghiệp nào đó và tại đây
em lại tiếp tục phát huy tinh thần học hỏi của mình để khối kiến thức, kinh nghiệm ngày một dày hơn, nâng cao giá trị bản thân trở thành một người sâu sắc và nhạy bén với công việc chuyên ngành của mình Dần dần bản thân ngày một tự tin, mạnh mẽ hơn, lúc đó những bước chân bước vào thị trường lao động có thể dễ dàng hơn, vững vàng hơn và cứ như vậy cho đến khi đạt được vị trí mà mình mong muốn.
Trang 27- Đi học đầy đủ, tích cực tham gia phát biểu trong giờ, làm bài tập đầy đủ, thảo luận tích cực để đạt kết quả học tập tốt, cố gắng để điểm mỗi học phần thấp nhất là B Đọc sách giáo trình và nhiều sách khác liên quan đến chuyên ngành;
- Thi lấy bằng HSK 9 và bằng IELTS 6.0 vào cuối năm 3
- Mỗi ngày: học từ vựng tiếng Trung, luyện khẩu ngữ, luyện nghe bằng các ứng dụng trên internet
- Hoàn thành chứng chỉ tin học
- Lên youtube học thêm về word, excel, powerpoint,…
- Cải thiện các kỹ năng khác như:
+ Kỹ năng thuyết trình nói giao tiếp: Tích cực tham gia phát biểu trong giờ học, trao đổi với thầy cô, bạn bè; các giờ thảo luận tích cực tham gia, nhận thuyết trình nhiều hơn
+ Kỹ năng quản lý thời gian: Lập thời gian biểu cho mỗi ngày và tuân thủ nghiêm ngặt Luôn để ý deadline và hoàn thành đúng hạn
+ Rèn luyện sự tự tin: Tham gia các câu lạc bộ, các hoạt động do lớp, trường phát động Chủ động tìm việc làm thêm từ sớm để trau dồi kỹ năng, mở rộng mối quan hệ
- Rèn luyện phẩm chất, thói quen tốt của một nếp sống văn minh như: tôn trọng kỷ luật, có trách nhiệm với tập thể, tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân
- Rèn luyện sức khỏe cũng rất quan trọng, bởi có sức khỏe là có tất cả, có sức khỏe thì mới làm tốt mọi việc Hiện tại em vẫn có thói quen xấu là thức khuya, bỏ bữa ăn sáng,… Điều này gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và năng suất làm việc Vì vậy, em cần phải có một chế độ rèn luyện sức khỏe một cách khoa học hơn:
+ Ngủ đủ 8 tiếng mỗi ngày, ngủ trước 23h và dậy trước 6h30
+ Ăn uống đầy đủ, đúng bữa, hạn chế đồ ăn nhanh, ăn nhiều rau củ quả và đặc biệt không bỏ bữa sáng
+ Tập thể dục 15 phút vào mỗi buổi sáng
- Và cuối cùng quan trọng nhất đó chính là luôn giữ ngọn lửa đam mê và một thái
độ nghiêm túc, tích cực trong công việc để có thể đạt được vị trí mình mong muốn sau
Trang 28này trước tiên là để thỏa mãn niềm đam mê công việc của mình, sau đó là phục vụ cho bản thân, gia đình và xa hơn nữa là có thể góp sức mình cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn
(Mẫu 2)
1 Nhận thức
- Thế giới đang đổi thay nhanh chóng với tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Chúng ta chưa hình dung được về thị trường lao động sẽ phát triển ra sao với các ứng dụng và kinh tế nền tảng Máy móc và công nghệ rô-bốt với trí tuệ nhân tạo sẽ thay đổi gần như mọi ngành, nghề trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Nhiều người sẽ thất nghiệp nếu không được đào tạo kịp thời và đào tạo phù hợp,
đi kèm với giới thiệu việc làm và kết nối việc làm mới.Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa đoán định được việc làm sẽ thay đổi ra sao; việc làm gì sẽ mất đi và việc làm gì sẽ được tạo ra; yêu cầu về kỹ năng và trình độ để tìm kiếm việc làm mới là gì; quan hệ việc làm giữa người lao động và người sử dụng lao động thay đổi như thế nào, Thị trường lao động trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ rất khác
- Chính vì vậy mà bản thân em cần phải tìm hiểu và định hướng một con đường học tập mà không bị robot hay công nghệ thay thế, hoặc ít nhất là không bị lạc hậu và đi theo những lối mòn của những ngành nghề truyền thống
+ Ra trường đúng hạn với bằng Giỏi
+ Làm việc trong các doanh nghiệp đúng chuyên ngành Quản trị kinh doanh
+ Rèn luyện tính kiên trì, bền bỉ
Trang 29+ Mở rộng và xây dựng mối quan hệ xã hội
+ Rèn luyện sức khỏe
3 Kế hoạch thực hiện
- Thực hiện mục tiêu 700 TOEIC vào cuối năm 3 Đại học:
+ Thời gian thi: Kỳ hè năm 3
+ Thời gian bắt đầu học: Từ bây giờ học từ vựng hàng ngày: Mỗi ngày 5 từ, luyện phát âm hoặc nghe Post card Tiếng Anh5-10p, ôn lại 1 cấu trúc ngữ pháp
+ Bắt đầu từ năm 3 ngoài chế độ học như trên thì bắt đầu tự cày đề TOEIC, mỗi tuần 1-2 đề
+ Khi nghỉ dịch kết thúc sẽ tìm một trung tâm T.A uy tín để học T.A giao tiếp căn bản
- Thực hiện mục tiêu bằng giỏi:
+ Chuẩn bị đủ tài liệu slide, giáo trình của các môn học, trên lớp chú ý nghe và ghi chép những ý không có trong giáo trình, ví dụ mà thầy cô đưa ra
+ Trước khi thi ôn lại tổng quan kiến thức, đọc lại giáo trình, chú ý những phần giảng viên nhắc là trọng tâm
+ Riêng những môn liên quan đến chuyên ngành, học và hiểu Cố gắng không để môn nào dưới B bằng cách đi học lấy điểm chuyên cần, phát biểu lấy điểm cộng mỗi môn
ít nhất 2 lần, tích cực làm thảo luận cùng nhóm
- Đăng ký làm thành viên của CLB…:
+ Thời gian: Năm nhất Đại học (đã đạt được)
+ Tích cực tham gia các hoạt động của CLB
+ Đi làm thêm, trải nghiệm
+ Dự định đi làm thực tập offline ở các nơi có chức vụ tương tự với ngành học vào năm 3 Đại học cụ thể là kỳ 2 năm 3 Trước khi làm được điều đó em cần tạo một bảng
CV và một số kỹ năng nhất định, kinh nghiệm nhất định và một chiếc Laptop mới có chức năng phù hợp hơn
Trang 30- Học các kỹ năng PPT: nhận làm powerpoint trong các lần thảo luận, xem youtube học làm powerpoint tuần ít nhất 1 lần; Photoshop, AI: Xem youtube, tiktok, các trang FB chia sẻ kiến thức và làm các ấn phẩm cho CLB
Có sự học tập và tích lũy kiến thức về ngành Quản trị kinh doanh: Tôi nhận thấy rằng, để thuận lợi gia nhập thị trường, các sinh viên cần chăm chỉ và chịu khó tìm hiểu về ngành nghề mình đang theo học Việc học tốt chuyên ngành chính là chìa khóa giúp mọi người đạt được kết quả cao trong học tập, bên cạnh đó còn giúp các cá nhân nắm vững kiến thức và sở hữu tấm bằng có giá trị
Hoàn thành các chứng chỉ ngoại ngữ, tin học: Ngày nay trong bối cảnh hiện đại hóa, toàn cầu hóa thì việc hoàn thành chứng chỉ tin học và ngoại ngữ chính là những thứ thiết yếu đối với các sinh viên Các chứng chỉ ngoại ngữ như HSK, IELTS, và các chứng chỉ tin học trở nên có giá hơn bao giờ hết
Năng động nhiệt tình trong các hoạt động phong trào thanh niên tình nguyện: Đây cũng là một cách giúp bạn trẻ chúng ta trau dồi những kỹ năng mềm khá tốt, bên cạnh đó
nó còn mang đến những điểm cộng hơn thế nữa
Tích lũy kinh nghiệm trong ngành nghề mình chọn: Sinh viên cũng chẳng lạ lùng
gì về việc đi làm thêm, và đó là một điều rất tốt Tuy nhiên nếu như có thể tìm cho mình
Trang 31một công việc liên quan đến chuyên ngành học thì quá tuyệt vời, dù tiền lương không được đánh giá cao đi chăng nữa nhưng đó là một cách vừa học vừa làm rất hiệu quả Kinh nghiệm đối với một sinh viên vừa tốt nghiệp ra trường chính là cách bản thân tăng tốc hơn những gì so với người khác
2 Về mặt định hướng
Đối với sinh viên, ước mơ lớn lao của hầu hết mọi người chính là có thể tìm kiếm được công việc tốt, phù hợp với năng lực và niềm yêu thích của bản thân Tuy nhiên, để gia nhập thị trường việc làm vốn đầy cạnh tranh và sự biến động thì điều đó còn đòi hỏi mỗi người đã định hướng cho bản thân điều gì
Đối với nhiều bạn trẻ, khởi nghiệp chính là mảnh đất vàng cho để các bạn có thể khẳng định bản thân, không đi theo lối mòn mà đột phá ở những lĩnh vực mới Tất nhiên, mang bản chất của những startup, khởi nghiệp sáng tạo cũng mang đầy tính rủi ro và không chắc chắn, nhưng sức thu hút của những startup thành công vẫn không ngừng trở thành động lực thúc đẩy các bạn trẻ lên đường
Đối với bản thân em và nhiều người khác, lựa chọn sau khi ra trường chính là gia nhập vào nền kinh tế thị trường, trở thành một sức hàng hóa lao động đúng nghĩa Vậy nên trong quá trình nhận thức và định hướng, tôi thấy được những cơ hội về việc làm của ngành nghề này Có thể làm ở nhiều bộ phận khác nhau tại các tập đoàn và công ty như :
bộ phận kinh doanh, bộ phận quản lý sản xuất, bộ phận marketing Thực hiện tốt những công việc nêu trên chính là định hướng công việc tương lai mà tôi đang theo đuổi
Trang 32cho từng năm học Còn về ngắn hạn, khi lên lớp em cố gắng chăm chú nghe giảng, ghi chép một cách ngắn gọn và hiệu quả, khi làm việc nhóm tôi luôn nỗ lực để hoàn thành các các nhiệm vụ được giao đúng thời gian Xác định mục tiêu học tập, cố gắng hết mình trong tích lũy tri thức chính là điều mà bất kỳ ai cũng phải làm để biến bản thân trở thành một hàng hóa sức lao động có ích
Đối với những chứng chỉ tiếng Trung, Anh và tin học, kế hoạch của bản thân em chính là sẽ hoàn thiện các chính chỉ trên vào năm 3 đại học Để hoàn thiện mục tiêu ấy, mỗi ngày tôi dành ít nhất 2 tiếng để học ngoại ngữ, kết hợp giữa tự học và trao đổi cùng bạn bè để xây dựng nền móng vững chắc cho bản thân Bên cạnh đó, tôi cũng thường xuyên lên mạng tra cứu và thực hành những bài học tin học để có thể tiếp cận công nghệ tốt hơn
Về việc tích lũy những kinh nghiệm nghề nghiệp: em đã cố gắng thử những việc làm gần gũi với các sinh viên QTKD như xử lý số liệu, làm việc nhóm teamwork, việc
có thêm kiến thức lẫn kỹ năng và cả những kinh nghiệm công việc cũng khiến tôi có chút hài lòng và ngày càng cố gắng, nỗ lực hơn nữa
Có thể khẳng định, để gia nhập thị trường thành công thì không chỉ cần đến trí lực, học tập thông thường mà còn đòi hỏi cả thể lực và sức khỏe nữa
Sau những giờ học dài trên lớp, tôi luôn cố gắng tập những bài thể dục đơn giản để thư giãn cơ thể và thả lỏng các cơ Bên cạnh đó, việc học online trong khoảng thời gian dài cũng ảnh hưởng ít nhiều tới mắt nên em lựa chọn những bài mát-xa mắt đơn giản và thường xuyên tra thuốc nhỏ mắt để giúp cho mặt được thư giãn và bớt nhức mỏi Thêm nữa em cũng kết hợp giữa lao động, nghỉ ngơi và ăn uống dinh dưỡng một cách hợp lý nhất bằng cách tham khảo mọi người xung quanh cũng như trên mạng xã hội Về lâu dài, các bạn sinh viên nói chung và em nói riêng đều đóng bảo hiểm y tế hằng năm, đồng thời
có những đợt khám sức khỏe định kỳ, việc này giúp cho các bạn và cả em đều có thể yên tâm thêm phần nào về cơ thể của mình
Chú ý đến sức khỏe bản thân là cần thiết, nhưng như vậy vẫn chưa đủ Hiện nay dịch bệnh Covid vẫn diễn ra một cách phức tạp và khó lường, mỗi người chúng ta cũng cần theo dõi tình hình sức khỏe của cộng đồng nữa Bản thân em luôn nghiêm túc thực hiện
Trang 33các thông báo và chỉ thị của chính phủ, thực hiện nguyên tắc 5K Không ra ngoài khi không cần thiết; luôn đeo khẩu trang ở những nơi tập trung đông người như: bến xe, chợ, siêu thị, khu vui chơi, các quán ăn uống phục vụ tại chỗ; thường xuyên sát khuẩn tay bằng dung dịch hoặc gel sát khuẩn; giữ khoảng cách an toàn, tránh tiếp xúc gần và khai báo y tế kịp thời, đúng lúc đúng thời điểm
(Mẫu 4)
1 Nhận thức
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, lao động là điều kiện cơ bản về sự tồn tại của con người; nhờ lao động, con người đã tách khỏi giới động vật, có thể chế ngự tự nhiên và bắt nó phục vụ lợi ích của mình; quá trình đó, con người biết chế tạo công cụ lao động, có thể phát huy khả năng và kiến thức của mình ngày càng cao để đạt năng suất lao động cao hơn Tất cả những điều đó đã quyết định sự phát triển, tiến bộ của loài người và của xã hội Trong xã hội văn minh, các cá nhân thường thể hiện lao động sáng tạo, có kỷ luật, mang tính tự do, tự giác, tức là, mỗi người lao động là để cho mình, cho tập thể, cho toàn xã hội Và nếu mỗi người có nhận thức đúng đắn về lao động thì sẽ làm việc với chất lượng và hiệu quả cao hơn, có ích nhiều hơn Chính vì vậy, bản thân sinh viên phải nắm rõ về tầm quan trọng của sức lao động, để từ đó có những định hướng và kế hoạch đúng đắn trong học tập và rèn luyện, chuẩn bị sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động cạnh tranh khắc nghiệt như hiện nay
Trong thời đại hiện nay, cuộc CMCN 4.0 mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt
ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân Không thể phủ nhận những hiệu quả mà AI đem lại cho lợi nhuận và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Đối với chuyên Ngành Quản trị kinh doanh-Tiếng Trung thương mại mà e đang theo học cũng đón nhận những hiệu ứng tích cực từ các cải tiến công nghệ Vậy nên, là một nhà Quản trị kinh doanh tương lai, em cần phải không ngừng cải thiện kỹ năng và chuyên môn của mình để sánh ngang với các cộng sự thông minh”
Không chỉ vậy, chúng ta vẫn thường lo lắng rằng các doanh nghiệp sẽ không tuyển dụng sinh viên vừa ra trường vì thiếu kinh nghiệm và tốn kém chi phí đào tạo Tuy nhiên,
Trang 34thực trạng này sẽ được cải thiện đối với những ứng viên năng động, tự tin và đủ năng lực
để đáp ứng được những tiêu chí khắt khe từ các nhà tuyển dụng 4.0 Do đó, em sẽ phải tìm hiểu các nhà tuyển dụng đang cần gì ở ứng viên để chủ động hơn cho tương lai nghề nghiệp của bản thân
2 Định hướng
Đầu tiên, muốn có sức lao động, ta cần phải tiêu dùng 1 lượng tư liệu sinh hoạt (TLSH) nhất định bao gồm: năng lực và tinh thần của cơ thể ( ăn, uống, ngủ nghỉ, rèn luyện, học tập) Vì vậy, điều kiện cần để em có thể gia nhập thị trường lao động trước tiên cần phải có đủ kiến thức cần thiết và một tinh thần sẵn sàng Về năng lực, cần phải nắm chắc kiến thức, kĩ năng cơ bản đã được học ở Đại học; bổ sung khả năng ngoại ngữ; tích lũy kinh nghiệm thực tế từ công việc thực tập; mở rộng networking từ việc tham gia các hoạt động, CLB của trường Về tinh thần, em phải luôn tự học một cách chủ động, sáng tạo chứ không mang tính đối phó hay chạy theo thành tích Việc trau dồi kiến thức không chỉ loanh quanh ở điểm số, giấy khen, bằng cấp mà nằm ở giá trị con người và sự đóng góp những điều có ích cho xã hội Nhất là với trí tuệ của thế hệ trẻ như chúng ta, cần phải có sự thông minh trong quá trình tự học ở mọi lúc mọi nơi Học để biết, rồi kế thừa cái biết sau khi học để tiếp tục đổi mới, sáng tạo, phát triển thêm thành tri thức mới
Để có thể gia nhập thị trường lao động một cách thành công hay có một công việc tốt, thì không chỉ có những tiêu chí trên mà còn phải có nhiều hơn, vượt trội hơn để có thể vượt qua các ứng viên tài năng khác, như:
• Định hướng nghề nghiệp rõ ràng sẽ giúp bạn tạo được niềm tin với nhà tuyển dụng
• Tinh thần ham học hỏi, thái độ tích cực là điểm sáng cho CV
• Sinh viên thời đại 4.0 không thể thiếu kỹ năng mềm
• Biết được 2 ngôn ngữ trở lên là một ưu thế
• Linh hoạt, bắt trend tốt, năng động, sáng tạo
• Tự tin và biết tạo dấu ấn
• Một sức khỏe bền bỉ và tinh thần chịu áp lực tốt
Trang 35+ Có kỹ năng mềm tốt:
Cải thiện kỹ năng thuyết trình trước đám đông bằng cách chủ động tham gia thuyết trình các bài thảo luận trên lớp; tích cực xây dựng bài và trao đổi với thầy cô và các bạn
Nâng cao trình độ ngôn ngữ: Thành thạo tiếng trung và thi đạt chứng chỉ HSK 5;
tự học và rèn luyện thêm Tiếng anh, ôn tập và thi lấy các chứng chỉ quốc tế như Ielts, Toeic,
Nắm chắc các kĩ năng tin học văn phòng: sử dụng thành thành các công cụ phục
vụ trong công việc như word, excel, powerpoint,
Cải thiện kỹ năng làm việc nhóm: cải thiện cách làm việc nhóm qua những nhóm thảo luận, tham gia các câu CLB tình nguyện, chuyên ngành của trường
+ Tư duy sáng tạo, tự tin: thường xuyên tham gia các buổi talk show, workshop của nhà trường và các doanh nghiệp lớn; tham gia những sự kiện, chương trình để tiếp xúc với nhiều khía cạnh của ngành
- Về sức khỏe
+ Sức khỏe thể chất: rèn luyện sức khỏe bền bỉ bằng cách tập thể dục 30p mỗi ngày; ăn đủ bữa và ngủ đúng giờ, hạn chế ngủ muộn Sức khỏe tinh thần: Biết nhìn nhận
và đánh giá nỗ lực của chính mình; Sắp xếp lại những suy nghĩ tiêu cực; Biết nhìn nhận
và đánh giá nỗ lực của chính mình; suy nghĩ tích cực về bản thân,
Trang 36Câu 2 (5 điểm): Tổng tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp là 16 triệu EUR
với tỉ suất lợi nhuận bình quân là 20%, lợi nhuận công nghiệp là 3 triệu EUR
Các nhà tư bản thương nghiệp cần phải mua và bán hàng hóa theo giá bao nhiêu để họ và các nhà tư bản công nghiệp đều thu được lợi nhuận bình quân?
BÀI LÀM
Tư bản công nghiệp là: 3.000.000 : 20% = 15.000.000 (EUR)
Tư bản thương nghiệp: 16.000.000 - 15.000.000 = 1.000.000 (EUR)
Lợi nhuận thương nghiệp = 1.000.000 x 20% = 200.000 (EUR) Vậy nếu là tư bản thương nghiệp, ta sẽ mua sản phẩm của tư bản công nghiệp bằng chi phí sản xuất sản phẩm cộng với lợi thuận công nghiệp:
15.000.000 + 3.000.000 = 18.000.000 (EUR) Nhà tư bản thương nghiệp sẽ bán sản phẩm cho người tiêu dùng với mức giá mua của tư bản công nghiệp cộng với lợi nhuận thương nghiệp:
18.000.000 + 200.000 = 18.200.000 (EUR)
Trang 37Câu 1: Nhận thức của anh (chị) về thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Lấy ví dụ để làm rõ các nội dung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
sự điều tiết của Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Thể chế là những quy tắc, luật pháp, bộ máy quản lý và cơ chế vận hành nhằm điều chỉnh các hoạt động của con người trong một chế độ xã hội
Thể chế kinh tế là hệ thống quy tắc, luật pháp, bộ máy quản lý và cơ chế vận hành nhằm điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế Theo đó, các bộ phận cơ bản của thể chế kinh tế bao gồm: hệ thống pháp luật về kinh tế của nhà nước và các quy tắc xã hội được nhà nước thừa nhận; hệ thống các chủ thể thực hiện các hoạt động kinh tế; các cơ chế, phương pháp, thủ tục thực hiện các quy định
Lý do phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Trang 38tế thị trường bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công
cụ khác nhằm giảm thiểu các thất bại của thị trường, thực hiện công bằng xã hội Do đó, cần phải xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt tiêu cực và khuyết tật của nó
Thứ hai, hệ thống thể chế chưa đầy đủ
Xuất phát từ yêu cầu nâng cao năng lực quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Bởi vì, thể chế kinh tế thị trường là sản phẩm của nhà nước, nhà nước với tư cách là tác giả của thể chế chính thức nên đương nhiên là nhân tố quyết định số lượng, chất lượng của thể chế cũng như toàn bộ tiến trình xây dựng và hoàn thiện thể chế Với bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do vậy thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam phải là thể chế phục vụ lợi ích, vì lợi ích của nhân dân Trình độ
và năng lực tổ chức và quản lý nền kinh tế thị trường của Nhà nước thể hiện chủ yếu ở năng lực xây dựng và thực thi thể chế Do vậy, Nhà nước phải xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu của nền kinh tế
Thứ ba, hệ thống thể chế còn kém hiệu lực, hiệu quả, thiếu các yếu tố thị
trường và các loại thị trường
Trên thực tế, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn nhiều khiếm khuyết, hệ thống thể chế vừa chưa đủ mạnh, vừa hiệu quả thực thi chưa cao Các yếu tố thị trường, các loại hình thị trường mới ở trình độ sơ khai Do đó, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là yêu cầu khách quan
Ví dụ làm rõ các nội dung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
a) Hoàn thiện thể chế về sở hữu và phát triển các thành phần kinh tế
Hoàn thiện thể chế về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam cần thực hiện các nội dung sau:
Trang 39Một là, thể chế hóa đầy đủ quyền tài sản (quyền sở hữu, quyền sử dụng,
quyền định đoạt và hưởng lợi từ tài sản) của Nhà nước, tổ chức và cá nhân Bảo đảm công khai, minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ công để quyền tài sản được giao dịch thông suốt; bảo đảm hiệu lực thực thi và bảo vệ có hiệu quả quyền sở hữu tài sản
Hai là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đai, tài nguyên để huy động,
phân bổ và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, khắc phục tình trạng sử dụng đất lãng phí
Ba là, hoàn thiện pháp luật về quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên
nhiên
Bốn là, hoàn thiện pháp luật về đầu tư vốn nhà nước, quản lý và sử dụng có
hiệu quả tài sản công; phân biệt rõ tài sản đưa vào kinh doanh và tài sản để thực hiện chính sách xã hội
Năm là, hoàn thiện thể chế về sở hữu trí tuệ theo hướng khuyến khích sáng tạo, bảo đảm tính minh bạch và độ tin cậy, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Sáu là, hoàn thiện pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp dân sự
theo hướng thống nhất, đồng bộ Phát triển hệ thống đăng ký các loại tài sản, nhất là bất động sản
Hoàn thiện thể chế phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp Cụ thể:
Một là, thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh cho các doanh
nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật
Hai là, hoàn thiện pháp luật về đầu tư, kinh doanh, bảo đảm đầy đủ
quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh của các chủ thể kinh tế đã được Hiến pháp quy định; xóa bỏ các rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh
Ba là, hoàn thiện thể chế về cạnh tranh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh; xử
lý dứt điểm tình trạng chồng chéo các quy định về điều kiện kinh doanh
Bốn là, rà soát, hoàn thiện pháp luật về đấu thầu, đầu tư công và các quy
định pháp luật có liên quan, kiên quyết xóa bỏ các quy định bất hợp lý
Trang 40Năm là, hoàn thiện thể chế về các mô hình sản xuất kinh doanh, nâng cao
hiệu quả của các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã, các đơn vị sự nghiệp, các nông lâm trường Trong đó chú ý các khía cạnh như: i) Thể chế hóa việc
cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước chỉ tập trung vào các lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn chiến lược và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư Quản lý chặt chẽ vốn nhà nước tại các doanh nghiệp ii) Hoàn thiện thể chế về huy động các nguồn lực đầu tư và đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước để các đơn vị sự nghiệp công lập phát triển có hiệu quả iii) Thể chế hóa nội dung và phương thức hoạt động của kinh tế tập thể Tăng cường các hình thức hợp tác, liên kết, hỗ trợ cho nông dân trong sản xuất, bảo quản, chế biến, tiêu thụ nông sản
Sáu là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, thúc đẩy các thành phần kinh tế, các khu
vực kinh tế phát triển đồng bộ để góp phần xác lập trình độ phát triển dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh; trong đó cần tạo thuận lợi để phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có công nghệ hiện đại và năng lực quản trị tiên tiến Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Bảy là, hoàn thiện thể chế thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài theo
hướng chủ động lựa chọn các dự án đầu tư nước ngoài có chuyển giao công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, có cơ sở nghiên cứu và phát triển công nghệ tại Việt Nam, có cam kết liên kết, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh
tế và các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế Trong quản lý và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, cần phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước; đồng thời kiểm tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực
VD: Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ,
ngành liên quan khẩn trương nghiên cứu, ban hành và trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong năm 2017 - 2018; xây dựng chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ phát triển thị trường; xây dựng Đề
án hoàn thiện thể chế quản lý đầu tư công;